Hà Văn Thịnh - Càng nhiều luật thì càng bó tự do?

  • Bởi Sapphire
    20/11/2014
    5 phản hồi

    Hà Văn Thịnh

    Việc ‘bổ sung’ văn bản luật do cuộc sống đòi hỏi khác xa hoàn toàn với việc phải ‘làm lại’, ‘sửa chữa’ những điều không đáng sai.

    Một trong những bộ luật quan trọng sắp được QH thảo luận tại hội trường tuần này là Bộ Luật Dân sự sửa đổi. Tuy nhiên, phát biểu tại thảo luận tổ cuối tuần trước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường ‘tâm tư’ rằng: không thể tiếp tục mãi câu chuyện buồn là một bộ luật lớn như Luật Dân sự mà cứ 10 năm lại thay đổi một lần và, dân sự càng nhiều luật, càng bó tự do (VietNamNet, 13/11)...

    Nếu tính đến năm 2015 thì, có lẽ, nước ta lập ‘kỷ lục’ thế giới vì liên tiếp trong ba thập niên, cứ 10 năm lại sửa Luật Dân sự một lần (1995, 2005, 2015). Cách làm đó quả là lạ. Câu hỏi đặt ra: Tại sao chuyện đó không xảy ra ở nhiều nước khác và, việc sửa đi sửa lại nhiều như thế có thể làm cho người dân hiểu nhầm không?

    Những cái sai không đáng xảy ra…

    luatdansu1.jpg

    Trước hết, phải xác định dứt khoát rằng ‘tuổi thọ’ của một bộ luật tùy thuộc hoàn toàn vào tài năng, sự cẩn trọng, tầm nhìn xa của các nhà lập pháp. Đừng đổ lỗi rằng do cuộc sống thay đổi quá nhanh, thường xuyên “đẻ’ ra các tình tiết, quan hệ mới, buộc luật pháp phải theo. Thực tế đó là điều hiển nhiên, chẳng hạn, cách đây 20 năm không có khái niệm về bí mật cá nhân, quyền riêng tư trong thư điện tử. Thế nhưng, việc ‘bổ sung’ văn bản luật do cuộc sống đòi hỏi khác xa hoàn toàn với việc phải ‘làm lại’, ‘sửa chữa’ những điều không đáng sai.

    Có một câu chuyện xảy cách đây 227 năm – năm 1787. Khi đó, 55 nhà lập pháp (phần lớn là trẻ tuổi) của một nhà nước đang hình thành- Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ- họp để bàn xem nên soạn thảo Hiến pháp như thế nào, A.Hamilton đã phát biểu rằng: Chúng ta có mặt ở đây để xây dựng một nền tảng pháp lý (tức Hiến pháp) cho một quốc gia và chúng ta muốn nền tảng đó tồn tại qua mọi thời đại. Vậy thì, chúng ta phải dự liệu những thay đổi mà các thời đại đó sẽ tạo ra cũng như phải xác định được những điều không bao giờ thay đổi.

    Nhưng dường như, nguyên tắc kinh điển đó ít khi được các nhà làm luật nước ta coi trọng. Chẳng hạn, độ tuổi bắt đầu hiểu biết - vị thành niên - trưởng thành của một đời người hầu như ít khi thay đổi (các nước xác lập tiêu chí “trưởng thành đầy đủ” trong khoảng từ 18-21 tuổi).

    Thế nhưng, nếu giở mấy trang đầu tiên của Luật Dân sự hiện hành, sẽ thấy ngay sự mâu thuẫn khó giải thích.

    Chẳng hạn, Điều 21 khẳng định trẻ đủ 06 tuổi là có “hành vi năng lực dân sự”; thế nhưng trong toàn bộ Luật Dân sự, không hề trao cho trẻ từ 06 đến trước 09 tuổi bất kỳ quyền gì. Phải chăng áp đặt 06 tuổi là căn cứ cảm tính theo tuổi bắt đầu đi học? Điều 20 cho rằng người chưa thành niên khi giao dịch dân sự “phải được người đại diện đồng ý”; thế nhưng, tại Điều 27 lại quy định rằng: “Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ 09 tuổi trở lên phải hỏi ý kiến người đó”(?)

    Câu hỏi đặt ra là, làm thế nào để phân biệt quyền của người đại diện và người chưa thành niên khi cứ phải hỏi ý kiến lẫn nhau?

    Công việc lập pháp đòi hỏi tính chặt chẽ của ngôn từ, không cho phép bất kỳ một sự mơ hồ nào trong cách thể hiện của ngôn ngữ. Thế nhưng, Luật Dân sự có không ít những sai sót trong chuyện này. Ví dụ, Điều 175 định nghĩa “Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại”(?) Chẳng lẽ tài sản nào cũng có khả năng sản sinh ra hoa lợi? Hoặc tại Điều 188, Luật Dân sự quy định về “Quyền chiếm hữu gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước” mà không hề nhắc đến các thứ không phải là gia súc, gia cầm. Chẳng hạn nuôi gấu lấy mật thì áp dụng vào điều luật nào?...

    Có phải “Dân sự càng nhiều luật thì càng bó tự do”?

    Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường, “dân sự càng nhiều luật, càng bó tự do”(?) Đây là vấn đề cần phải tranh cãi bởi vì thực tiễn cho thấy, càng có nhiều quy định cụ thể phù hợp với nguyên tắc của luật pháp càng tốt. Nó sẽ loại trừ các yếu tố mơ hồ, loại trừ những điều luật đa nghĩa mà quan tòa muốn suy biện thế nào cũng được. Nhất là, ở các lĩnh vực “cấm – không cấm” được diễn đạt đầy đủ, chi tiết thì người dân (thuộc tầng lớp không có điều kiện học hành) mới biết rõ để mà chấp hành, tránh được những vi phạm không đáng xảy ra.

    Chẳng hạn, sự kiện một cô giáo phải tự tử vì sự lộng hành, lạm quyền của hiệu trưởng (VietNamNet, 28/10) là một bằng chứng nhãn tiền: Không có bất kỳ một điều luật quy trách nhiệm hay có một chế tài nghiêm khắc nào đối với cấp trên khi cấp trên hành hạ cấp dưới. Cần nhấn mạnh rằng đây không hề là trường hợp đơn lẻ - ít nhất, theo hiểu biết của người này.

    Là một người có hàng ngàn cựu SV làm giáo viên các cấp, tôi đã nghe nhiều lần về các ‘lãnh chúa’ ở các trường tiểu học và THCS chính là các vị hiệu trưởng. Tuyệt đại đa số giáo viên không dám phản đối những sai trái bởi họ sợ rằng nặng thì chuyển đến nơi xa, nhẹ thì bị trù dập. Nhẹ nhất – riêng cái chuyện khi con nhỏ, bố trí dạy tiết 01 rồi bắt ngồi chờ đến tiết 5 đã là hình phạt “hợp pháp” mà thâm thúy vô cùng…

    Chính vì nguyên tắc cần phải cụ thể hóa các quan hệ dân sự nên đòi hỏi cái nhìn tổng thể về các quan hệ dân sự vừa … tổng thể, lại vừa phải cụ thể là vậy.

    Những tắc trách đó gây phiền hà cho người dân và mọi cơ quan tố tụng. Tác hại nhãn tiền là xã hội thiếu ổn định, mặc dù, ai cũng biết, Luật Dân sự không phải là bộ luật khó nhất.

    Hà Văn Thịnh

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    "Marx không "tố cáo" ai cả"

    Muốn tớ trích trực tiếp từ Marx không ? Nếu Marx không tố cáo, đả kích, phỉ báng ai chắc là ông ta có thói quen dùng những từ khá nặng đ/v những gì/ai không nằm trong diện cảm tình của mình . List những gì/ai Marx "không thích", chỉ tính theo văn bản, khá dài . Và những từ ngữ ông dùng cho các đối tượng trong danh sách đó không dễ chịu chút nào .

    Trích 1 câu nhá "các ông chỉ muốn nói đến người tư sản, người tư hữu tư sản mà thôi. Mà cái cá nhân ấy thì chắc chắn cần phải thủ tiêu đi."

    Việc những nhà tư bản donate những số lượng tiền của lớn vào các chương trình tranh cử không chứng minh được chính quyền "chỉ" bảo vệ họ, hay đúng hơn, nhiệm vụ của chính quyền là tạo ra khung luật để họ có thể cảm thấy an toàn, cạnh tranh lành mạnh để càng ngày càng xuất hiện những nhà tư bản lớn. Nhưng không có nghĩa giới tư bản nắm toàn bộ và thao túng chính quyền

    slinkee viết:
    Luật ở ngoài này được hiểu như là bộ quy ước, thỏa thuận giữa các thành viên trong xã hội với nhau theo J Mill, "tự do của cá nhân bị giới hạn ở well-being của người khác" tức là miễn không làm hại đến người khác, anh có tự do . Nhà nước chỉ là lực lượng hòa giải và enforcer. Vì vậy ở bên đây, luật cho phép "lợi dụng dân chủ" tức là có thể bẻ chữ làm tư, hoặc chẻ sợi tóc làm 8, nếu cần chẻ thêm lần nữa thành 16, miễn là có lợi cho người phải ra tòa. Và việc chứng minh một người có tội hay không không phải là nghĩa vụ của bản thân người đó .

    Có nhiều quan điểm về luật pháp đưọc chia làm ba loại chính: quan điểm marxist (Marxist perspective on law), quan điểm nữ quyền (feminist perspective on law) và quan điểm chức năng (functionalist perspective on law). Quan điểm của Mills về luật pháp nằm trong nhóm functionalist perspective.

    slinkee viết:
    Mác tố cáo luật của tư bản chỉ để bảo vệ tầng lớp cầm quyền aka nhà nước tư bản . Tất nhiên cáo buộc đó sai lầm và không có cơ sở, các đời tổng thống Mỹ, tỷ lệ là 50/50 tư bản vs vô sản . Obama, Clinton, Lincoln, Washington ... xuất phát từ vô sản hoặc humble beginnings. Sau đó, Mác hứa hẹn các hình thức nhà nước cộng sản sẽ không tái diễn trò luật như là phương tiện bảo vệ chính quyền . Khốn nỗi, nếu không áp dụng luật tư bản thì chỉ còn lại thứ Mác tố cáo bậy để dùng, aka luật để bảo vệ chính quyền .

    Đoạn bôi đậm ở trên không phải là quan điểm của Marx về luật pháp. Cần nhớ rằng tất cả quan điểm của Marx chủ yếu về hệ thống kinh tế (economic system) và các hệ quả chính trị của nó. Marx không "tố cáo" ai cả, Marx chỉ đưa ra cái nhìn về luật pháp là nó phản ảnh quan điểm của tầng lớp lãnh đạo (ruling class) và đươc dùng để bảo vệ hệ thống kinh tế trong mỗi xã hội. Quan điểm này không chỉ áp dụng cho xã hội có hệ thống kinh tế tư bản, mà còn áp dụng cho các xã hội với các hệ thống kinh tế khác nhau, kể cả phong kiền, nông nô, hay xã hội chủ nghĩa.

    Muốn biết giá trị một quan điểm thì cần nhìn xem quan điểm ấy có phù hợp với thực tế hay không. Lấy Hoa Kỳ làm thí dụ, một số học giả theo quan điểm Marxist về luật pháp cho rằng luật pháp được dùng để bảo vệ hệ thống kinh tế tư bản(structural Marxist perspective). Các bằng chứng để đánh giá quan điểm này là các luật về thương mại và tài chánh được làm ra để thúc đầy phát triển kinh tế một cách lành mạnh, ngăn cản các trường hợp tự do kinh doanh bằng những cạnh tranh bất chính có thể dưa đến sự xụp đổ nền kinh tế tư bản. Luật anti-trust cấm cạnh tranh bất chính ra đời từ cuối thế kỷ 19 là một thí dụ của quan điểm structural Marxist vì cạnh tranh bất chính sẽ đưa đến nguy cơ sụp đổ của hệ thống kinh tế tư bản. Các luật lệ quản lý tài chánh và ngân hàng ngày nay cũng có mục đích tương tự.

    Một số học giả thuộc môn phái instrumental Marxist lại cho rằng luật được làm ra để bảo vệ quyền lợi của các nhà tư bản (capitalists). Nhìn vào các hoạt động lobby với quốc hội hội của giới tài phiệt kỹ nghê ỏ Mỹ và đặt câu hỏi tại sao các doanh nghiệp bỏ ra hàng trăm triêu đô la để đóng góp vào quỹ tranh cử cho các ứng viên vào chức vụ dân cử trong quốc hội, và các hoạt động lobby với quốc hội, đó là chưa kể các sinh hoat lobby nhộn nhịp trong khi quốc hội thảo luận và biểu quyết các dự luật.

    Quan điểm về luật pháp (cũng như các học thuyết hay quan điểm trong các lãnh vực khác) chỉ đúng một cách tương đối, như trường hợp quan điểm Marxist được chứng minh đúng trong những trường hợp kể trên, và có thể không đúng trong các trường hợp khác. Hiện nay chưa có một quan điểm nào có thể dùng để giải thích mọi hiện tượng trong xã hội. Nếu có một quan điểm nào có giá trị "vạn năng" như vậy, nghiên cứu khoa học sẽ ngưng lại vì không còn cần thiết nữa. Đó là quan điểm mác lê nin bách chiến bách thắng, đỉnh cao của trí tuệ nhân loại. Đó là lý do ở VN nguời ta không có hay không cần nghiên cứu khoa học nữa.

    Luật ở ngoài này được hiểu như là bộ quy ước, thỏa thuận giữa các thành viên trong xã hội với nhau theo J Mill, "tự do của cá nhân bị giới hạn ở well-being của người khác" tức là miễn không làm hại đến người khác, anh có tự do . Nhà nước chỉ là lực lượng hòa giải và enforcer. Vì vậy ở bên đây, luật cho phép "lợi dụng dân chủ" tức là có thể bẻ chữ làm tư, hoặc chẻ sợi tóc làm 8, nếu cần chẻ thêm lần nữa thành 16, miễn là có lợi cho người phải ra tòa. Và việc chứng minh một người có tội hay không không phải là nghĩa vụ của bản thân người đó .

    Mác tố cáo luật của tư bản chỉ để bảo vệ tầng lớp cầm quyền aka nhà nước tư bản . Tất nhiên cáo buộc đó sai lầm và không có cơ sở, các đời tổng thống Mỹ, tỷ lệ là 50/50 tư bản vs vô sản . Obama, Clinton, Lincoln, Washington ... xuất phát từ vô sản hoặc humble beginnings. Sau đó, Mác hứa hẹn các hình thức nhà nước cộng sản sẽ không tái diễn trò luật như là phương tiện bảo vệ chính quyền . Khốn nỗi, nếu không áp dụng luật tư bản thì chỉ còn lại thứ Mác tố cáo bậy để dùng, aka luật để bảo vệ chính quyền .

    Hà Văn Thịnh viết:
    Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường, “dân sự càng nhiều luật, càng bó tự do”(?) Đây là vấn đề cần phải tranh cãi bởi vì thực tiễn cho thấy, càng có nhiều quy định cụ thể phù hợp với nguyên tắc của luật pháp càng tốt. Nó sẽ loại trừ các yếu tố mơ hồ, loại trừ những điều luật đa nghĩa mà quan tòa muốn suy biện thế nào cũng được. Nhất là, ở các lĩnh vực “cấm – không cấm” được diễn đạt đầy đủ, chi tiết thì người dân (thuộc tầng lớp không có điều kiện học hành) mới biết rõ để mà chấp hành, tránh được những vi phạm không đáng xảy ra.

    Để thảo luận về đoạn bôi đậm ở trên, trước hết cần xác định mục tiêu và bản chất của luật pháp nói chung. Về mặt lý thuyết, có nhiều quan điềm về mục tiêu của luật pháp. Marx cho rằng luật mang tính giai cấp, do đó luật pháp trong một xã hội có mục đích bảo vệ cơ chế chính trị của xã hội đó. Thuyết chức năng (functionalism) cho rằng luật pháp được dùng để giúp cho xã hội đươc ổn đinh bằng cách đặt ra các tiêu chuẩn hướng dẫn hành vi của các thành viên trong xã hội, giữ gìn trật tự và giải quyết các bất đồng.

    Trên lý thuyết, chế độ chính trị ở Việt Nam được đặt trên nền tảng của chủ nghiã Mác Lê nên mục tiêu của luật pháp là bảo vệ nền tảng chính trị đó. Khi có những dấu hiệu người dân muốn đi ra ngoài định hướng Mác Lê, luật pháp đươc dùng để hướng dẩn hay ép buộc hành vi của con người theo định hướng.

    Tại các nước tư bản theo nguyên tắc dân chủ, tự do cá nhân được quan niệm là quyền tự nhiên nên về nhiều phương diện bản chất luật pháp có tính giới hạn, mặc dù sự giới hạn có khi để giúp cho xã hội phát triển theo chiều hướng tích cực nhằm đưa đến một xã hội nhân bản hơn bằng cách giảm thiểu các bất công do tình trạng tự do cạnh tranh hay mạnh được yếu thua.

    Tại nhiều quốc gia, như Hoa Kỳ, luật pháp cũng đươc dùng để bảo vệ sự phát triển của hệ thống kinh tề tư bản, đưa ra các luật lệ để ngăn cấm các hành vi có hai cho sự vận hành và phát triển của nền kinh tế quốc gia, như luật anti-trust chống độc quyền bất chính, hay luật cấm mua bán trái phiếu bất hợp phát (insider trading). Ngoài luật hình sự ngăn cấm một số hành vi đươc coi là có hại cho xã hội, các luật lệ nhằm hướng dẩn tổ chức cũng có tính giới hạn tự do vì nó giới hạn những hành vi đi ra ngoài hướng dẫn.

    Nói tóm lại, bản chất của luật pháp là giới hạn tự do, nhưng sự giới hạn mang tính tiêu cực hay tích cực còn tùy vào hành vi bị giới hạn và mục đích của việc giới han.

    Chẳng kỳ họp quốc hội nào mà không đưa vấn đề luật ra bàn, nào là sửa đổi luật này, nào là ban hành thêm luật khác. Nhiều người có cảm tưởng rằng hình như quốc hội không còn việc gì làm thì đưa vấn đề luật ra bàn để có cớ ngồi lâu và hưởng nhiều. Chẳng biết mỗi ngày thì phải chi cho các vị đại biểu quốc hội là bao nhiêu? Điều này thì có lẽ cũng thuộc bí mật quốc gia nên không thấy công bố rõ ràng. Đến nay thì ta có cả một rừng luật trên lý thuyết, rất phức tạp, thế nhưng việc thi hành luật thì rất đơn giản, chỉ theo nguyên tắc là một là tùy tiện hai là dùng luật rừng.
    Người mình đã bị biết bao tai nạn, chiến tranh cũng có thiên tai cũng nhiều, nay còn thêm một tai nạn nữa, đó là tai nạn do luật gây ra.