Nelson Mandela – vị luật sư thắp lửa tự do

  • Bởi Admin
    05/11/2014
    2 phản hồi

    Hoàng Kim Phượng lược dịch và giới thiệu

    Dân Luận: Ngày 5/11/2014, Luật Khoa Tạp Chí đã ra mắt độc giả tại địa chỉ http://luatkhoa.org và Facebook: facebook.com/luatkhoa.org. Nhiều bài vở hấp dẫn về các vấn đề pháp lý ở Việt Nam và quốc tế đã được đưa lên đây. Dân Luận xin chọn đăng một số bài viết hay để giới thiệu cho trang.

    Luật Khoa Tạp Chí được khởi xướng bởi luật gia Trịnh Hữu Long, luật sư Vi K. Trần, nhà báo Đoan Trang và Alex Truong.

    Tạp chí Time của Mỹ mỗi năm đều công bố danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới. Họ nói rằng, tin vui cho dân luật là, tính trung bình, có tới hơn 10% số người trong danh sách này là luật sư. Tuy nhiên, tin không vui là phần lớn số người có bằng luật đó lại không hành nghề luật, mà hai ví dụ rõ ràng nhất là Barack Obama và Hillary Clinton (danh sách “Time 100” năm 2012).

    Ngày 5/12 tới đây, thế giới sẽ tưởng niệm một năm ngày mất đi một vị “luật sư” như thế: Một con người có ảnh hưởng lớn đến nhân loại, người có bằng luật (học trong tù) nhưng không hành nghề luật, tuy thế vẫn được thế giới tiến bộ vinh danh là chính trị gia, nhà hoạt động đi đầu trong cuộc đấu tranh vì nhân quyền trên khắp thế giới.

    Tuổi thơ và học vấn

    Nelson Mandela sinh ngày 18/7/1918, trong một gia đình quý tộc ở bộ lạc Thembu, nói tiếng Xhosa, tại làng Mvezo của Nam Phi. Bố ông, Gadla Henry Mphakanyiswa (1880-1927), là tù trưởng. Mẹ ông, Nosekeni Fanny, là vợ thứ ba trong bốn vợ của Mphakanyiswa, sinh được 9 con gái và 4 con trai. Sau khi bố ông mất vào năm 1927 khi ông mới 9 tuổi, Mandela – lúc đó vẫn mang tên khai sinh là Rolihlahla, nghĩa là “kẻ gây rắc rối” – được một vị quan nhiếp chính của bộ lạc Thembu nhận làm con nuôi và bắt đầu được chuẩn bị để lên làm một lãnh đạo bộ lạc trong tương lai.

    Mandela là người đầu tiên trong gia đình được học hành bài bản. Ông học xong tiểu học ở một ngôi trường truyền giáo địa phương, tại đó ông được cô giáo đặt tên là Nelson, theo thông lệ giáo viên phải đặt tên tiếng Anh cho các sinh viên châu Phi. Ông tiếp tục học lên Học viện Clarkebury Boarding và trường trung học Healdtown của Hội Giám lý, nơi ông xuất sắc cả về thể thao (quyền Anh và chạy bộ) lẫn các môn học hàn lâm. Năm 1939, Mandela vào Đại học Fort Hare, một trường cao cấp, cũng là cơ sở giáo dục theo đường lối phương Tây duy nhất dành cho người da đen ở Nam Phi thời gian đó. Năm 1940, ông và một số sinh viên khác, trong đó có người bạn và cũng là đối tác kinh doanh tương lai Oliver Tambo (1917-1993), bị đuổi học do tham gia một chiến dịch tẩy chay các chính sách của trường.

    Được biết chuyện nhiếp chính Jongintaba đã sắp xếp cho ông lấy vợ, Mandela bèn bỏ trốn đến Johannesburg, ở đây ông làm gác đêm, rồi làm thư ký tòa, trong khi đó vẫn tốt nghiệp bằng cử nhân hàm thụ. Ông học luật ở Đại học Witwatersrand, tại đây ông bắt đầu tham gia phong trào chống phân biệt chủng tộc, đồng thời mở rộng quan hệ với các nhà hoạt động người da đen và da trắng. Năm 1944, Mandela gia nhập đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC) và hợp tác với các đồng chí trong đảng, gồm cả Oliver Tambo, thành lập đoàn thanh niên của đảng, ANCYL. Cùng năm đó, ông gặp và cưới người vợ đầu tiên, Evelyn Ntoko Mase (1922-2004). Vợ chồng ông có bốn con. Họ ly dị năm 1957.

    Nelson Mandela và đảng Đại hội Dân tộc Phi

    Nelson Mandela dấn thân vào chính trị và hoạt động mạnh mẽ hơn trong đảng ANC kể từ sau khi đảng Quốc gia mà thành viên chủ yếu là người Phi gốc châu Âu (da trắng) chiến thắng trong một cuộc bầu cử năm 1948. Từ đây, đảng này chính thức thiết lập một hệ thống phân biệt chủng tộc – apartheid – hạn chế các quyền cơ bản của người da đen và ngăn cấm họ tham chính, đồng thời duy trì sự cai trị của thiểu số da trắng. Năm sau đó, ANC thông qua chương trình hành động của ANCYL, nhằm đòi quyền làm công dân cho tất cả người Nam Phi, thông qua các hoạt động tẩy chay, đình công, bất tuân dân sự và các phương pháp phi bạo lực khác. Mandela tham gia lãnh đạo Chiến dịch Chống Các Đạo Luật Bất công của đảng ANC năm 1952. Ông đi khắp nước, tổ chức biểu tình chống các chính sách phân biệt, và xúc tiến cho ra một tuyên ngôn được gọi là Hiến chương Tự do, được Quốc hội Nhân dân phê chuẩn năm 1955. Cũng vào năm 1952, Mandela và Tambo mở công ty luật đầu tiên của người da đen ở Nam Phi, trợ giúp pháp lý miễn phí hoặc lấy phí rất thấp cho những người chịu tác động của các đạo luật phân biệt chủng tộc.

    Ngày 5/2/1956, Mandela và 155 nhà hoạt động khác bị bắt giữ. Họ bị đưa ra tòa vì tội phản quốc. Tất cả các bị cáo đều được tuyên trắng án năm 1961, nhưng trong những năm họ ngồi tù, căng thẳng, mâu thuẫn trong nội bộ ANC đã gia tăng, với việc thành phần chủ chiến ly khai vào năm 1959 để hình thành đảng Đại hội Toàn Phi (PAC). Năm 1960, cảnh sát xả súng vào một cuộc biểu tình ôn hòa của người da đen ở thị trấn Sharpeville, giết chết 69 người. Hậu quả của vụ thảm sát là không khí sợ hãi, phẫn nộ và bạo loạn lan tràn khắp đất nước; chính quyền apartheid cấm cả ANC lẫn PAC hoạt động. Bị buộc phải rút vào bí mật và phải cải trang để tránh bị phát hiện, Mandela quyết định: Đã đến lúc phải theo đuổi một đường lối cứng rắn hơn là phản kháng thụ động.

    Nelson Mandela và phong trào đấu tranh vũ trang

    Năm 1961, Nelson Mandela đồng sáng lập và trở thành lãnh đạo đầu tiên của Umkhonto we Sizwe (“Ngọn giáo của dân tộc”), còn được gọi là MK, nhánh vũ trang của ANC. Vài năm sau, tại cái phiên tòa tuyên án bỏ tù ông gần ba thập kỷ, ông trình bày lý do phải có một sự ly khai dứt khoát khỏi giáo lý ban đầu của đảng ANC: “Sẽ là sai lầm và hão huyền nếu các nhà lãnh đạo châu Phi tiếp tục rao giảng về hòa bình và phi bạo lực vào thời điểm mà chính quyền chỉ đáp trả những yêu cầu ôn hòa của chúng tôi bằng vũ lực. Chỉ khi nào tất cả các cố gắng khác đều đã thất bại hết, khi tất cả các kênh phản đối ôn hòa đều đã bị cấm đoán, thì mới phải quyết định bắt đầu các hình thức bạo lực của đấu tranh chính trị”.

    Dưới sự lãnh đạo của Mandela, MK tổ chức một chiến dịch phá hoại nhằm vào chính quyền – khi ấy chính quyền đã vừa tuyên bố Nam Phi là một nước cộng hòa, và rút khỏi Khối Thịnh vượng Chung thuộc Anh. Tháng 1/1962, Mandela trốn ra nước ngoài để dự một hội nghị của các nhà lãnh đạo dân tộc Phi ở Ethiopia, thăm Oliver Tambo lúc đó đang lưu vong ở London, và theo học một khóa huấn luyện về chieensh tranh du kích ở Algeria. Ngày 5/8, gần như ngay sau khi trở về, ông bị bắt giam và sau đó bị kết án 5 năm tù vì tội trốn khỏi đất nước bất hợp pháp và kích động một cuộc đình công của công nhân vào năm 1961. Tháng 7 năm sau đó, cảnh sát bố ráp một nơi trú ẩn của ANC ở Rivonia, ngoại ô Johannesburg, bắt giữ một nhóm lãnh đạo MK gồm cả người da đen và da trắng, đang họp đánh giá kế hoạch tổ chức một cuộc chiến tranh du kích. Bằng chứng tìm được đã chống lại Mandela và các nhà hoạt động khác – tất cả đều bị đưa ra tòa vì tội phá hoại, tội phản quốc và âm mưu kích động bạo lực.

    Mandela và 7 bị cáo khác may mắn thoát khỏi giá treo cổ. Thay vì thế, họ bị kết án tù chung thân, tại phiên xử án được gọi là Phiên Tòa Rivonia, kéo dài 8 tháng và thu hút sự chú ý lớn của cộng đồng quốc tế. Trong một bài phát biểu rất xúc động, đã khiến cho ông trở thành một biểu tượng trên toàn thế giới, Mandela thừa nhận mình phạm tội phá hoại, song ông bác bỏ tội phản quốc (âm mưu tiếp tay cho thế lực nước ngoài xâm lược Nam Phi). Ông cũng mạnh mẽ lên tiếng bảo vệ cho các hoạt động của ANC và tố cáo sự bất công của chế độ apartheid. Những lời cuối cùng của ông là: “Tôi yêu lý tưởng về một xã hội dân chủ và tự do, nơi tất cả mọi người chung sống hòa hợp và bình đẳng về cơ hội. Đó là một lý tưởng mà tôi hy vọng có thể sống vì nó và đạt được nó. Nhưng nếu cần, đó là một lý tưởng mà tôi sẵn sàng chết vì nó”.

    Điều ít người biết là: Cho đến tận tháng 7/2008, Mandela và các đảng viên ANC vẫn bị hạn chế xuất cảnh đến Hoa Kỳ – ngoại trừ đến trụ sở Liên Hiệp Quốc và nếu được Ngoại trưởng cấp giấy phép đặc biệt – vì họ bị quy là khủng bố trong thời kỳ đấu tranh chống chính quyền apartheid. Bản thân Nelson Mandela, mặc dù chịu án chung thân và cuối cùng phải ngồi tù tới 27 năm, cũng không được coi là tù nhân lương tâm. (Theo định nghĩa của Ân xá Quốc tế, tù nhân lương tâm là những người bị tù chỉ vì đã thực thi một cách ôn hòa quyền tự do biểu đạt của họ, và là người không sử dụng bạo lực hay cổ súy bạo lực, hận thù).

    Những năm tháng trong tù

    18 năm đầu, Nelson Mandela ở nhà tù trên đảo Robben, một nơi rất khắc nghiệt ngoài khơi Cape Town, vốn trước kia là nơi dành cho người hủi (cùi). Ông bị nhốt trong một xà lim nhỏ, không giường chiếu, và phải lao động khổ sai ở một mỏ đá vôi. Là một tù nhân chính trị da đen, ông chỉ được khẩu phần ăn rất nghèo nàn và không có được quyền lợi như các tù nhân khác. Ông chỉ được phép gặp vợ sáu tháng một lần. Vợ ông là Winnie Madikizela-Mandela (1936 –), cưới ông năm 1958 và có với ông hai con gái. Mandela và các bạn tù thường xuyên bị ngược đãi chỉ vì những lỗi nhỏ; theo các báo cáo để lại, trong các hình thức đối xử tàn ác này, có chuyện quản giáo chôn tù xuống hố, đất ngập đến cổ, rồi tiểu lên đầu họ.

    Bất chấp điều kiện lao tù khắc nghiệt, trong thời gian bị giam cầm, Mandela vẫn tốt nghiệp bằng luật từ xa, Đại học London, và ông đã đóng vai trò như giảng viên luật cho các bạn tù của mình. Bằng kiến thức có được, ông khuyến khích họ đấu tranh phi bạo lực để đòi quyền được đối xử tốt hơn. Ông cũng bí mật viết các bài chính trị và bản thảo của cuốn tự truyện của ông, “Một bước dài đến tự do”, xuất bản 5 năm sau khi ông ra tù.

    Mặc dù buộc phải rút khỏi sân khấu chính trị, nhưng Mandela vẫn là một vị lãnh tụ mang tính biểu tượng của phong trào chống phân biệt chủng tộc. Năm 1980, Oliver Tambo tung ra chiến dịch “Tự do cho Nelson Mandela”, đưa nhà lãnh đạo bị cầm tù thành một tên tuổi lừng lẫy và càng làm tăng thêm cơn phẫn nộ của cộng đồng quốc tế đối với chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Khi áp lực tăng lên, chính quyền mặc cả với Mandela là sẽ trả tự do cho ông, đổi lại ông phải chấp nhận một loạt thỏa hiệp chính trị khác nhau, gồm cả việc từ bỏ bạo lực và công nhận Transkei Bantustan “độc lập”, nhưng ông thẳng thừng từ chối những thỏa thuận này.

    Năm 1982, Mandela được di lý đến nhà tù Pollsmoor trên đất liền, và vào năm 1988, ông bị quản thúc tại gia. Năm sau đó, Tổng thống mới lên F. W. de Klerk (1936 –) dỡ bỏ lệnh cấm ANC hoạt động, đồng thời kêu gọi xây dựng một nước Nam Phi không phân biệt chủng tộc, từ bỏ đường lối bảo thủ của đảng. Ngày 11/2/1990, ông ra lệnh thả người tù nổi tiếng mang số hiệu 46664 – Nelson Mandela.

    Nelson Mandela làm Tổng thống Nam Phi

    Sau khi được trả tự do, Nelson Mandela đã lãnh đạo ANC trong các cuộc đàm phán với đảng Dân tộc đang cầm quyền và nhiều tổ chức chính trị khác ở Nam Phi, nhằm chấm dứt chế độ apartheid và thành lập một nhà nước đa chủng tộc. Mặc dù rất căng thẳng và diễn ra trong bối cảnh bất ổn về chính trị, nhưng các cuộc đàm phán đã đem lại cho Mandela và de Klerk giải Nobel Hòa bình vào tháng 12/1993. Ngày 26/4/1994, hơn 22 triệu người dân Nam Phi đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử quốc hội đa chủng tộc đầu tiên trong lịch sử đất nước. Đa số áp đảo chọn ANC làm đảng cầm quyền, và vào ngày 10/5, Mandela tuyên thệ làm tổng thống da đen đầu tiên trong lịch sử Nam Phi, de Klerk làm phó tổng thống thứ nhất của ông, Thabo Mbeki là phó tổng thống thứ hai.

    Trên cương vị tổng thống, Mandela thành lập Ủy ban Sự thật và Hòa giải để điều tra về các vi phạm nhân quyền và chính trị của cả những người ủng hộ lẫn người chống chế độ apartheid, trong giai đoạn từ năm 1960 đến 1994.

    Cần nhớ là trong thời gian Mandela ngồi tù, vào những năm 1980, nhánh vũ trang của ANC là MK, hay “Ngọn giáo của dân tộc”, quả thật đã tổ chức nhiều trận đánh du kích nhằm chống lại chính quyền apartheid, thể hiện một đường lối cứng rắn đúng như cái tên của họ. Nhiều dân thường trở thành nạn nhân của bạo lực. Khi lãnh đạo Ủy ban Sự thật và Hòa giải, Tổng thống Mandela đã công khai thừa nhận ANC từng vi phạm nhân quyền.

    Ông cũng đưa ra vô số chương trình cải cách xã hội và kinh tế, nhằm gia tăng mức sống của cộng đồng da đen ở Nam Phi. Năm 1996 Mandela chủ trì việc ban hành hiến pháp mới của Nam Phi, lập nên một chính quyền trung ương mạnh, dựa trên nguyên tắc đa số cai trị, cấm phân biệt đối xử với người thiểu số, kể cả người da trắng.

    Thúc đẩy quan hệ giữa các chủng tộc, kiềm chế người da đen để họ không trả thù thiểu số da trắng, và xây dựng một hình ảnh quốc tế mới cho một nước Nam Phi thống nhất – đó là các trọng tâm trong chương trình hành động của Tổng thống Mandela. Để đạt các mục tiêu này, ông lập nên “Chính phủ Thống nhất Quốc gia” đa chủng tộc, và tuyên bố đất nước này là “một quốc gia bảy sắc cầu vồng, hòa bình với chính mình và với thế giới”. Trong một cử chỉ được coi là một bước tiến lớn đến hòa hợp hòa giải, ông khuyến khích người da đen và da trắng cùng diễu hành xung quanh đội tuyển rugby quốc gia của Nam Phi, mà thành viên phần lớn là người gốc Âu, trong sự kiện Nam Phi tổ chức Cup Rugby Thế giới, năm 1995.

    Vào sinh nhật 80 tuổi (năm 1998), Mandela làm lễ thành hôn với chính trị gia, nhà hoạt động nhân đạo Graça Machel (1945 –) – vợ góa của cựu tổng thống Mozambique. (Ông đã chia tay bà Winnie năm 1992). Năm sau đó, khi nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của ông kết thúc, Mandela rút lui khỏi chính trường. Phó tổng thống Thabo Mbeki (1942-), đảng viên ANC, trở thành Tổng thống kế nhiệm ông.

    Những năm cuối đời của huyền thoại Nelson Mandela


    Nelson Mandela trong sinh nhật thứ 90.

    Sau khi nghỉ hưu, Nelson Mandela vẫn là một người cổ súy không ngừng nghỉ cho hòa bình và công lý xã hội ở Nam Phi và trên toàn thế giới. Ông thành lập một loạt tổ chức, trong đó có Quỹ Nelson Mandela rất có ảnh hưởng, và Người Cao Tuổi – một tổ chức độc lập, thành viên là các nhân vật nổi tiếng hoạt động để giải quyết các vấn nạn của toàn cầu cũng như giảm bớt sự thống khổ của con người. Năm 2002, Mandela trở thành một nhà vận động mạnh mẽ cho việc nâng cao nhận thức về AIDS và các chương trình điều trị AIDS, trong một nền văn hóa mà các nạn nhân của đại dịch này chìm trong sự thiếu hiểu biết và nhục nhã. Căn bệnh AIDS về sau đã lấy đi sinh mạng của Makgatho (1950-2005), con trai của Mandela. AIDS cũng đe dọa cuộc sống của người dân Nam Phi nhiều hơn ở bất kỳ nước nào khác trên thế giới.

    Số tù của Nelson Mandela, 46664, trở thành biểu tượng của chiến dịch chống AIDS ở Nam Phi.

    Năm 2001, Mandela phải trải qua một đợt điều trị bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Sức khỏe của ông ngày càng kém đi trong những năm cuối đời và ông phải hạn chế xuất hiện trước công chúng. Năm 2009, Liên Hợp Quốc tuyên bố ngày 18/7 là “Ngày Quốc tế Nelson Mandela”, nhằm tôn vinh những đóng góp của nhà lãnh đạo Nam Phi cho sự nghiệp dân chủ, tự do, hòa bình và nhân quyền trên toàn thế giới. Nelson Mandela mất ngày 5/12/2013 vì viêm phổi tái phát.

    Lược dịch từ History.com

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Nhiên Tuệ viết:
    "Luật Khoa Tạp Chí"? Sao ai đó lại dùng thứ ngữ pháp đặc Tàu này thế nhỉ?

    Chuyện nhỏ mà bác. Nội dung và ý nghĩa của tờ tạp chí mới là quan trọng.