Like No Other - Nếu Mỹ chịu nghe lời Hồ Chí Minh...

  • Bởi Admin
    06/11/2014
    34 phản hồi

    Like No Other

    (Trích) Với Chính phủ Mỹ, trong hai năm 1945 - 1946, Hồ Chí Minh đã có 8 thư và điện gửi Tổng thống Harry Truman, 3 thư và điện gửi Bộ trưởng Ngoại giao James Byrnes.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính là với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định trong sự ủng hộ nền độc lập của chúng tôi.

    Điều mà chúng tôi đề nghị đã được trao cho Philippines một cách quý báu. Cũng như Philippines, mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Mỹ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”.

    Trong thư gửi ông James Byrnes ngày 1/11/1945, Hồ Chí Minh đề nghị gửi 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ để “xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”, và theo Người, giới trí thức Việt Nam “tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam”. (Hết trích).

    http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/133287/thu-chu-tich-ho-chi-minh-gui-tong-thong-truman.html

    Chúng ta có thể rút ra những kết luận sau:

    1/ Nếu Mỹ chịu nghe lời Hồ Chí Minh (HCM), thì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) đã không theo cộng sản. Để rồi cuối cùng chính Mỹ lại phải nhảy vào nam VN “ngăn chặn cộng sản”.

    2/ Nếu Mỹ chịu nghe lời HCM, thì VNDCCH đã trở thành 1 nước dân chủ cộng hòa. Trí thức VN đã không phải học Mác, Ăng, Lê, đã không phải đội các vị ấy lên đầu, đã không phải xem học thuyết ấy như tôn giáo. Thay vào đó là những Adam Smith, Ricardo, Keynes… v.v… và VN đã mở cửa, đã phát triển nền kinh tế thị trường từ 1945.

    3/ Nếu Mỹ chịu nghe lời HCM, thì VN đã thống nhất từ lâu.

    4/ Nếu Mỹ chịu nghe lời HCM, thì VN đã không phải tốn 9 năm đánh Pháp, 21 năm đánh Mỹ, cộng lại 30 năm với vài triệu người chết, đất nước bị tàn phá, hậu quả không biết bao giờ mới khắc phục xong. 30 năm đó, nếu dùng để xây dựng, phát triển đất nước, dẫu VN có phát triển như rùa đi nữa, bây giờ cũng đã rất khá rồi.

    5/ Nếu Mỹ chịu nghe lời HCM, thì đã không còn quốc gia với cộng sản. Không còn “cưỡng chiếm”, “mất nước”, “tị nạn”, “tháng tư đen”, “quốc hận”… v.v… Không có lòng người li tán, không còn những cuộc tranh cãi bất tận trên các website, nam bắc 1 nhà từ đó đến giờ.

    Tóm lại, 96,69% là tại Mỹ.

    1017767_10152775173424286_7212609725731658982_n.jpg

    Một bức điện Hồ Chí Minh gửi Hoa Kỳ

    ___________________

    Dân Luận bổ sung tài liệu tham khảo:

    Chính sách của Hoa Kỳ về cuộc xung đột, 1947-1949

    Mỹ đã thể hiện mối quan tâm ngày càng tăng trong cuộc xung đột ở Đông Dương, nhưng cho đến 1949 chính sách của Mỹ tiếp tục coi chiến tranh cơ bản là một vấn đề do Pháp giải quyết. Rõ ràng đã có những ghi nhận rằng các nhà hoạch định chính sách của Mỹ ngày càng nhận thức có khoảng trống về các chính sách của Pháp trong năm 1946 và 1947. Hoa Kỳ, qua những đại diện của họ ở Pháp, luôn than phiền về triển vọng của cuộc chiến tranh kéo dài ở Việt Nam, và kêu gọi nhượng bộ có ý nghĩa đối với dân Việt. Tuy nhiên, Mỹ - luôn luôn không ủng hộ Hồ Chí Minh, bị cản trở bởi quá trình dính líu với cộng sản của ông Hồ. Do đó, chính sách của Mỹ bị hút vào giải pháp Bảo Đại của Pháp. Không có lúc nào Mỹ có ý công khai can thiệp vào chuyện đời [ở Việt Nam]. Làm như thế sẽ đụng độ với quan điểm của Anh cho rằng Đông Dương là chuyện độc quyền của Pháp, và sẽ bị lợi dụng bởi bàn tay của các đảng cực đoan chính trị của Pháp cả phe tả lẫn phe hữu. Hoa Kỳ đặc biệt e ngại rằng việc can thiệp sẽ tăng cường vị trí chính trị của Cộng sản Pháp. Hơn nữa, trong năm 1946 và 1947, Pháp và Anh đang hướng tới một liên minh chống Liên Xô ở Âu Châu, và Mỹ rất ngần ngại đưa ra một chính sách có tiềm năng gây chia rẽ. So với việc [lo] phục hồi Âu Châu và [lo] thoát khỏi sự thống trị của cộng sản, Hoa Kỳ đã xem số phận của Việt Nam tương đối không đáng kể. Hơn nữa, tranh chấp trong năm 1946 và trong cả năm 1945 trên thuộc địa Hà Lan ở Indonesia đã tạo nên một tiền lệ: Mỹ đã hành xử một cách thận trọng, và chỉ sau khi những trì hoãn lâu dài, đã quốc tế hóa cuộc xung đột. Những đầu tư mạnh mẽ của Mỹ và Anh ở Indonesia, hơn nữa, là cơ sở chung để can thiệp. [Nhưng] không có cơ sở hợp lý hoặc chung để can thiệp vào Đông Dương, kể từ khi Đông Dương là một khu vực kinh tế chỉ dành riêng cho Pháp và là một bãi lầy chính trị mà Vương quốc Anh rõ ràng là quan tâm trong việc tránh nó.

    Các chính sách của Mỹ thường hay đưa đến nhiều nhất là kết luận gọi là "trung lập". Tuy nhiên điều đó cũng phù hợp với chính sách nhằm trì hoãn ý muốn của Pháp được Bộ trưởng Ngoại Giao thời Tổng thống Roosevelt tuyên bố ngày 03 tháng 4 năm 1945. Đó là một chính sách đặc trưng bởi sự do dự đánh dấu chính sách của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh. Hơn nữa, đó là một chính sách được xây dựng trên sự thờ ơ đến nhạt nhòa: vào thời đó, Đông Dương là một trong những khu vực mà Mỹ có thể tận hưởng sự thoải mái của việc mình không có mặt nơi đó.

    Khi chiến tranh nổ ra giữa Bắc Việt và Pháp trong Tháng Mười Hai, 1946, Johp Carter Vincent, Giám đốc Văn phòng Các Vấn Đề ở Viễn Đông, trong một bản ghi nhớ gửi Phó Bộ Trưởng Acheson ngày 23 tháng 12 năm 1946, đã yêu cầu ông này gọi Đại sứ Pháp để nêu bật những nguy hiểm vốn có. Biên bản ghi nhớ gồm những phân tích sâu sắc:

    “Mặc dù Pháp ở Đông Dương đã thực hiện nhiều nhượng bộ sâu rộng trên giấy đối với mong muốn của Việt Nam về quyền tự chủ, hành động của Pháp trên thực địa lại được hướng vào việc làm giảm các quyền hạn và phạm vi lãnh thổ của Việt Nam “tự do”. Một diễn tiến mà phía Việt Nam đã tiếp tục phản kháng. Đồng thời, bản thân Pháp cũng thừa nhận rằng họ không đủ sức mạnh quân sự để tái chiếm đất nước.Tóm lại, với các lực lượng không đầy đủ, bị dư luận chống đối mạnh, với một chính phủ rất không hiệu quả vì những chia rẽ nội bộ, những gì mà người Pháp đã cố gắng thực hiện ở Đông Dương là những gì mà một nước Anh mạnh mẽ và thống nhất đã thấy nó là không khôn ngoan khi họ cố làm ở Miến Điện. Với các yếu tố như trong tình hình hiện tại chiến tranh du kích có thể tiếp diễn vô thời hạn”

    Ngoại trưởng Acheson làm theo như ông Vincent đề nghị, và đã bày tỏ những quan điểm với ngài Đại sứ, tóm tắt như sau:

    “Chúng tôi đã dự đoán tình hình phát triển như thế vào tháng Mười và những sự việc [xảy ra] đã xác nhận những lo ngại của chúng tôi. Trong khi chúng tôi không có gì để làm trung gian trong điều kiện hiện nay, chúng tôi vẫn muốn chính phủ Pháp biết rằng chúng tôi đã sẵn sàng và muốn làm bất cứ điều gì xét ra hữu ích trong hoàn cảnh hiện nay. Chúng tôi hài lòng khi biết được nhiệm vụ của Moutet và có được niềm tin vào sự chừng mực và tầm nhìn rộng của ông. Tuy nhiên chúng tôi tin rằng tình hình là rất nóng bỏng và nếu những vấn nạn hiện nay vẫn tiếp tục chưa được giải quyết, có khả năng là các cường quốc khác sẽ cố gắng để đưa vấn đề ra trước Hội đồng Bảo An. Nếu điều này xảy ra, như trong trường hợp của Indonesia, câu hỏi đặt ra là vấn đề là một việc hoàn toàn nội bộ của Pháp hay một tình huống có khả năng gây hại cho hòa bình. Tương tự, các cường quốc khác sẽ đưa ra một số hình thức can thiệp như đã được đề xuất trên báo chí Trung Quốc. Chúng tôi sẽ chống các bước như vậy, nhưng qua tất cả mọi quan điểm dường như vấn đề phải được giải quyết càng sớm càng tốt. Ông Acheson nói thêm rằng ông tự hỏi liệu Pháp sẽ cố gắng để tái chiếm đất nước bằng quân sự, một bước đi mà người Anh đã thấy là không khôn ngoan khi muốn làm [tái chiếm] ở Miến Điện”

    Ngày 08 tháng 1 năm 1947, Bộ Ngoại Giao chỉ đạo Đại sứ Mỹ tại Paris rằng Hoa Kỳ sẽ chấp thuận bán vũ khí và khí tài chiến tranh cho Pháp "ngoại trừ trong trường hợp dính líu đến Đông Dương” 59 / Trong cùng ngày, 8 tháng 1 năm 1947, người Pháp chuyển cho Bộ Ngoại Giao Mỹ một thông điệp rằng:

    “... Chính phủ Pháp, đánh giá cao thái độ thông hiểu mà ông Acheson đã cho thấy trong khi thảo luận về các vấn đề Đông Dương, đã lưu ý về việc ông Acheson muốn giữ một vai trò “trung gian tốt” và đánh giá cao tinh thần mà đề nghị đã đưa ra; và rằng chính phủ Pháp không cảm thấy rằng họ có thể vận dụng đề nghị của quí ngài, nhưng sẽ một mình tiếp tục xử lý tình hình theo như những tuyên bố của Moutet. [Sứ giả] đã nói rằng mục tiêu chính của quân đội Pháp là khôi phục trật tự và mở lại các tuyến đường giao thông. Ông nói rằng sau khi những chuyện đó được hoàn tất Chính phủ Pháp sẽ sẳn sàng thảo luận về các vấn đề với Việt Nam. Ông nói rằng Chính phủ Pháp luôn trong mỗi ý định là tôn trọng thỏa ước ngày 06 tháng Ba và giữ nguyên hiện trạng ngày 15 tháng 9, một khi trật tự đã được khôi phục. [Được hỏi là]... liệu ông có nghĩ rằng quân đội Pháp có thể lập lại trật tự trong một thời điểm tương lai nào có thể thấy được không? Ông ra vẻ suy nghĩ, với không nhiều bằng chứng xác tín rằng là họ có thể [làm được chuyện ấy]…”

    Sau đó trong câu chuyện trao đổi đáng quan tâm giữa nhân viên Hoa Kỳ và đại diện Pháp, trong đó người Pháp đã phát thảo một luận điệu kết án Mỹ phạm tội với cuộc chiến [Đông Dương]

    “Trong lúc nói chuyện riêng, tôi nói với anh ta là tôi nghĩ rằng có một thiếu sót đáng nói đến trong cách tiếp cận vấn đề của Pháp. Trong ý nghĩ, trước đây tôi cho rằng đã có một sự bình đẳng về trách nhiệm giữa Pháp và Việt. Tôi đã nói rằng điều này dường như không phải là như thế, để đạt được một giải pháp cho vấn đề, trách nhiệm của Pháp là một cường quốc quốc tế lớn hơn nhiều hơn so với người Việt Nam, và rằng việc đang xảy ra không phải là một chuyện mà có thể xác định như thể là một chuyện hoàn toàn giữa Pháp và Việt Nam, mà là một vấn đề có thể ảnh hưởng một cách bất lợi trên tình thế khắp khu vực Đông Nam Á”

    “[vị sứ giả] đã nhanh chóng thay thế chữ 'quyền' cho chữ 'trách nhiệm' và nói rằng Pháp đang phải đối mặt với vấn đề tái khẳng định quyền hạn của họ và chúng ta phải chia sẻ trách nhiệm cho sự chậm trễ của họ khi làm điều đó bởi vì chúng ta đã không thỏa mãn yêu cầu hỗ trợ về vật chất của Pháp mùa thu năm 1945."

    Đầu vào tháng Hai, Đại sứ Hoa Kỳ ở Paris đã được chỉ thi trấn an Thủ Tướng Ramadier và [nói lên] "tình cảm rất thân thiện" của Mỹ đối với Pháp và lợi ích của Mỹ trong việc hỗ trợ Pháp phục hồi sức mạnh kinh tế, chính trị và quân sự:

    “Dù có bất kỳ sự hiểu lầm có thể đã phát sinh trong tâm trí, trước thái độ của chúng ta liên quan đến Đông Dương, Pháp đã phải đánh giá cao về việc chúng ta đã công nhận hoàn toàn chủ quyền của Pháp ở khu vực đó và chúng ta không muốn có bất kể tình huống nào xảy ra như thể là chúng ta đang nỗ lực làm suy yếu vị thế đó [của Pháp] và Pháp nên biết đó là mong muốn của chúng ta là giúp ích cho họ và chúng ta sẵn sàng hỗ trợ với bất kỳ phương cách thích hợp nào để có thể để tìm ra giải pháp cho vấn đề Đông Dương. Cùng lúc, chúng ta không thể nhắm mắt trước thực tế là có hai mặt cho vấn đề này và những báo cáo của chúng ta cho thấy cả một sự thiếu hiểu biết về Pháp ở phía bên kia (ở Sài Gòn hơn ở Paris) và tiếp tục tồn tại những cái nhìn lỗi thời và phương pháp nguy hiểm thời thuộc địa trong khu vực. Hơn nữa, ta không thoát khỏi một thực tế khác là xu hướng của thời đại đang chứng thực là các đế quốc thực dân theo kiểu thế kỷ XIX nay đã nhanh chóng trở thành chuyện của quá khứ. Hành động của Anh ở Ấn Độ và Miến Điện và của Hà Lan ở Indonesia là những ví dụ nổi bật xu hướng này và Pháp tự mình cũng đã nhận thức rõ nó trong Hiến Pháp mới và trong các hiệp định ký với Việt Nam. Mặt khác, chúng tôi không bị mất tầm nhìn thực tế rằng Hồ Chí Minh đã trực tiếp cấu kết với Cộng sản và rõ ràng là chúng ta không thích thú gì khi thấy chính quyền của đế chế thực dân nay được thay thế bởi ý thức hệ và các tổ chức chính trị khởi nguồn từ [Kremlin] và bị kiểm soát bởi điện Kremlin”

    “Thành thật mà nói, chúng tôi không có giải pháp để đề nghị cho vấn đề. Cơ bản là hai bên phải trực tiếp tự làm việc với nhau để tìm ra giải pháp và những báo cáo của quí bạn và từ Đông Dương, đã dẫn chúng tôi đến cảm tưởng rằng cả hai bên đều đã cố gắng để giữ cho cánh cửa mở để giải quyết một số vấn đề. Chúng tôi nhận định rằng sự kiện Việt Nam khởi sự tấn công ở Đông Dương vào ngày 19 tháng 12 và rằng hành động này đã làm cho Pháp trở nên khó khăn hơn trong việc đứng vào một vị thế rộng lượng và hoà giải. Tuy nhiên chúng tôi hy vọng rằng Pháp sẽ tìm mọi cách để trở nên rộng rãi hơn trong việc tìm ra một giải pháp.”

    Như vậy, Mỹ đã chọn ở bên ngoài cuộc xung đột, vị trí đựợc Mỹ công bố, qua những lời của Bộ Trưởng Ngoại Giao George C. Marshall hy vọng rằng "một cơ sở hòa bình để điều chỉnh những khó khăn có thể được tìm thấy." Tuy nhiên những gì xảy ra đã kình chống lại niềm hy vọng này, và như cuộc chiến cứ kéo dài, viễn ảnh một nhà nước Việt Nam bị Moscow kiểm soát dần kéo Mỹ đến gần hơn sự can thiệp. Ngày 13 tháng 5 năm 1947, Bộ Ngoại giao đưa ra những hướng dẫn đển các nhà ngoại giao Mỹ ở Paris, Sài Gòn và Hà Nội;

    “Chìa khóa trọng yếu của chúng ta là nhận thức của chúng ta đối với những gì đang xảy ra là có ảnh hưởng đến vị trí các cường quốc dân chủ phương Tây ở miền Nam Á, căn bản là chúng ta cùng hội cùng thuyền với Pháp, cũng như Anh và Hà Lan. Chúng ta không thể làm thất bại lợi ích về lâu dài của Pháp, mà không làm thất bại lợi ích chính của chúng ta. Ngược lại chúng ta nên coi việc liên mình với Liên Hiệp Pháp và các thành viên của Liên Hiệp không chỉ có lợi cho các dân tộc liên quan, mà còn gián tiếp có lợi cho chúng ta.

    “Theo quan điểm của chúng tôi, Nam Á trong giai đoạn lịch sử quan trọng này của nó với bảy quốc gia mới trong quá trình vừa đạt được hoặc đang đấu tranh dành độc lập hoặc quyền tự chủ. Các quốc gia này chiếm một phần tư dân số thế giới và tương lai của họ, với trọng lượng tuyệt đối về dân số, với các nguồn tài nguyên trong tay, và [nằm ở] vị trí chiến lược, họ sẽ là nhân tố trọng yếu cho ổn định thế giới. Sau khi vòng kiểm soát của [Thực Dân] Âu Châu bị giải thể, khác biệt về chủng tộc, tôn giáo, và các vấn đề nội bộ quốc gia có thể nhấn các quốc gia mới vào những xáo trộn có bạo lực, hoặc các xu hướng liên Á (Pan-Asiatic) chống phương Tây có thể biến thành lực lượng chính trị chi phối, hoặc cộng sản có thể lên nắm quyền kiểm soát. Chúng tôi đã xem cách tốt nhất để bảo vệ [mình] chống lại các tình huống này là tiếp tục một liên hiệp chặt chẽ giữa các dân tộc mới được tự trị và những chính quyền từ lâu đã chịu trách nhiệm về phúc lợi của dân họ. Đặc biệt là chúng tôi nhìn nhận là Việt Nam sẽ yêu cầu Pháp giúp những vật chất và hỗ trợ kỹ thuật trong một thời gian không xác định là bao lâu và giúp hướng dẫn những giác ngộ chính trị bởi vì Pháp là một nước ngập tràn truyền thống dân chủ và đã được xác tín trong việc tôn trọng tự do của con người và giá trị cá nhân.

    “Tuy nhiên chúng tôi không kém phần thuyết phục rằng một hiệp hội như thế phải trên cơ sở tự nguyện để được lâu dài và đạt được kết quả, và rằng tiến hành trước việc này [lập hội] trong tình hình Đông Dương hiện tại chỉ có thể làm phá hủy việc lập hội trên cơ sở hợp tác tự nguyện, để lại một di sản vĩnh viễn cay đắng và làm Việt Nam mãi mãi xa lánh Pháp và những giá trị đại diện bởi Pháp và các nền dân chủ phương Tây khác.

    “Trong khi hoàn toàn đánh giá cao những khó khăn về vị trí của Pháp trong cuộc xung đột này, chúng tôi cảm thấy có điều nguy hiểm khi bất kỳ sự sắp xếp nào có thể đem cơ hội đến cho Việt Nam có dịp so sánh một cách không thuận lợi, vị trí của chính họ và của các dân tộc khác ở miền Nam Á Châu mà đã có những bước tiến to lớn về quyền tự trị kể từ khi có chiến tranh

    “Trong khi chúng ta đã chuẩn bị và sẵn sàng làm bất cứ điều gì chúng ta có thể được coi là hữu ích thì Pháp có lẽ hiểu rằng chúng ta đã không cố gắng đưa ra bất kỳ giải pháp nào từ chính chúng ta hoặc không can thiệp vào tình hình. Tuy nhiên họ cũng sẽ hiểu rằng chúng ta không thể nào tránh khỏi liên quan với tình hình Viễn Đông nói chung, trên mọi biến chuyển ở Đông Dương có thể có những ảnh hưởng sâu sắc…

    “Để các bạn nắm thông tin, đã có những chứng cớ cho rằng Cộng sản Pháp đang được chỉ đạo đẩy mạnh vận động của họ ở thuộc địa Pháp thậm chí phải chịu mất nhiều hỗ trợ từ quần chúng Pháp (URTEL 1719 25 tháng 4). Có thể đây là dấu hiệu cho thấy điện Kremlin chuẩn bị gia tăng hy sinh tạm thời 40 triệu dân Pháp với chiến lược dài hạn [để nắm] vùng thuộc địa với 600 triệu người sống ở đó đã phát sinh ra cái nhìn khẩn cấp nói trên.... Bộ Ngoại Giao có nhiều lo nghĩ là sợ rằng những nỗ lực của Pháp nhằm tìm ra những "đại diện thực sự cho Việt Nam" kết quả lại là tạo ra những chính phủ bù nhìn kiểu như các chế độ ở Nam Kỳ hoặc việc phục hồi Bảo Đại [sic] để có thể được coi như là nền dân chủ để hạ bệ chế độ quân chủ là một vũ khí chống lại cộng sản. Bạn có thể tham khảo thêm những quan điểm sau đây nếu bản chất của cuộc thảo luận với bạn về Pháp là cần thiết”. 64

    Thái độ Mỹ có thể đã ảnh hưởng đến việc người Pháp sửa đổi Hiệp Định Hạ Long đầu tiên (Tháng 12 năm 1947) và khi thỏa thuận thứ hai được ký kết vào tháng 6 năm 1948. Mỹ ngay lập tức chỉ thị cho Đại sứ Mỹ " áp dụng những thuyết phục và / hay những áp lực với tính toán hay nhất để có thế nào đạt được kết quả mong muốn” về việc “Pháp phê chuẩn rõ ràng và nhanh chóng nguyên tắc một Việt Nam Độc Lập”. 65/ Tuy nhiên, một lần nữa Đại sứ chỉ tránh những gì có vẻ là can thiệp trong khi phải làm rõ là Mỹ đã nhìn thấy Pháp sẽ mất Đông Dương nếu họ cứ tiếp tục bỏ qua lời khuyên của Mỹ. Những chỉ thị này được lặp đi lặp lại vào cuối tháng 8 năm 1948 với khẳng định rằng Bộ Ngoại giao tin rằng không có gì được bỏ qua để tăng cường cho các nhóm thực sự quốc gia ở Đông Dương và làm cho những người ủng hộ Việt Minh chạy qua sát cánh cùng với nhóm [quốc gia] này.

    Những ý kiến đầu tiên cho rằng Hoa Kỳ cụ thể đã nhúng tay vào Việt Nam xuất hiện trong một báo cáo về cuộc trò chuyện giữa Đại sứ Hoa Kỳ với Bộ Ngoại giao Pháp vào tháng Chín năm 1948. Đại sứ Hoa Kỳ một lần nữa kêu gọi Quốc Hội Pháp có những hành động cụ thể khác để tiến tới sự thống nhất của Việt Nam và đàm phán ngay lập tức các bước cụ thể hướng tới quyền tự chủ như được dự kiến trong Hiệp Định Vịnh Hạ Long. Sau đó ông nói với người đại diện Pháp rằng:

    “…Mỹ hoàn toàn đánh giá cao những khó khăn mà Chính phủ Pháp phải đối mặt tại Đông Dương vào thời điểm này và Hoa Kỳ đã cho thấy sự sẵn sàng của mình nếu Chính phủ Pháp mong muốn đưa ra cho công chúng những chỉ dấu nhằm phê duyệt các bước cụ thể của Chính phủ Pháp để nắm vững những vấn đề chính trị cơ bản của Đông Dương. Tôi thông báo với ông rằng Hoa Kỳ cũng sẵn sàng trong những hoàn cảnh tương tự để xem xét việc giúp Chính phủ Pháp trong vấn đề hỗ trợ tài chính cho Đông Dương qua ECA nhưng không thể đưa ra xem xét để thay đổi chính sách hiện tại cho đến khi nào có những tiến bộ thực sự trong việc đạt được giải pháp không cộng sản cho Đông Dương trên cơ sở hợp tác của các nhóm thực sự quốc gia của nước đó

    Trong khi các cuộc đàm phán sơ bộ với Bảo Đại trước Hiệp định Elysee Bộ Ngoại giao chỉ đạo Đại sứ Mỹ tại Paris vào ngày 17 tháng Giêng năm 1949 rằng:

    “Trong khi Bộ mong muốn Pháp hoàn tất công việc với Bảo Đại hay bất kỳ nhóm Quốc Gia thực sự nào có cơ hội hợp lý để chiến thắng ở Việt Nam, trong thời điểm này chúng ta không thể cam kết vĩnh viễn về việc Hoa Kỳ hỗ trợ một chính phủ bản địa không được lòng dân mà hầu như là một chính phủ bù nhìn xa cách người dân mà sự hiện hửu chỉ là do sự hiện diện các lực lượng quân đội Pháp."

    Sau Hiệp định Elysee, Mỹ đã sẳn sàng hơn về việc cung cấp viện trợ cho Đông Dương. Ngày 10 Tháng 5, 1949, Lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn đã được thông báo rằng Mỹ mong muốn "thử nghiệm Bảo Đại " thành công khi mà xem ra không có giải pháp thay thế nào khác.

    “Vào thời điểm thích hợp và hoàn cảnh thích hợp, Bộ sẽ chuẩn bị làm về phần mình bằng cách đưa ra công nhận chính phủ Bảo Đại và bằng cách có thể chấp nhận bất cứ yêu cầu nào của chính phủ ấy về vũ khí Mỹ và hỗ trợ kinh tế. Tuy nhiên điều này phải được hiểu rằng chương trình viện trợ với tính chất như thế phải được Quốc hội phê duyệt. Tuy nhiên, khi mà Mỹ khó có thể đủ khả năng ủng hộ một chính phủ có thể có màu sắc và khả năng là một chế độ bù nhìn, rõ ràng là Pháp phải đưa ra tất cả những nhượng bộ cần thiết để làm cho giải pháp Bảo Đại hấp dẫn đối với các phe phái Quốc Gia. Đây là một bước đi mà Pháp phải tự thấy sự cấp bách và cần thiết. Cái viễn ảnh chỉ còn một thời gian ngắn còn lại trước khi Cộng sản có thể thành công ở Trung Quốc đã được cảm nhận ở Đông Dương. Hơn nữa chính phủ Bảo Đại phải thông qua những cố gắng riêng để chứng minh khả năng tổ chức và tiến hành công việc một cách khôn ngoan để đảm bảo cơ hội tối đa để gặt hái ủng hộ của nhân dân. Một chính phủ dựng lên ở Đông Dương tương tự như Quốc Dân Đảng sẽ là một thất bại được đoán trước.”

    Tuy nhiên, "chống cộng" lúc đầu đươc chứng minh rằng nó không phải là những chỉ đạo tốt hơn trong việc xây dựng các chính sách của Mỹ ở Đông Dương như đã được người Pháp [ứng dụng]. Trên thực tế, những cố gắng lúc đầu để phân biệt tính chất, mức độ ảnh hưởng của cộng sản tại Việt Nam đã đưa đến các nghịch lý là dường như rằng nếu Hồ Chí Minh là cộng sản, ông dường như không có mối quan hệ nào có thể thấy được với Moscow. Ví dụ như trong thẩm định của Bộ Ngoại giao về Hồ Chí Minh cung cấp cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc trong tháng 7 năm 1948 đã phải thừa nhận đó chỉ là suy đoán:

    "1. Nguồn tin của Bộ [Ngoại Giao Mỹ] cho thấy rằng Hồ Chí Minh là Cộng sản. Lý lịch lâu năm và nổi tiếng của ông ta trong Quốc Tế Cộng Sản trong những năm hai mươi và ba mươi, liên tục được tờ báo Nhân Đạo của đảng Cộng sản Pháp hỗ trợ từ năm 1945, lời khen ngợi mà đài phát thanh Moscow dành cho ông (sáu tháng qua đã được dành cho sự quan tâm ngày càng tăng về Đông Dương) và thực tế ông đã được gọi là “người cộng sản hàng đầu“ trong những ấn phẩm gần đây của Nga cũng như tờ “Lao Động Hàng Ngày” đã làm cho bất kỳ kết luận nào khác xuất hiện như một điều ước mơ.

    "2. Bộ cũng đã không có bằng chứng nào về sự gắn kết trực tiếp giữa Hồ và Moscow, nhưng vẫn cho rằng nó tồn tại, cũng không thể đánh giá mức độ về áp lực hay chỉ đạo mà Moscow hành xử [trên Hồ]. Chúng tôi có cảm tưởng rằng Hồ đã được hoặc tự mình duy trì một mức độ tự do hành động nào đó. Bộ xét rằng Liên Xô đang hoàn thành mục tiêu ngắn hạn của họ ở Đông Dương bằng cách (a) kềm chân một số lượng lớn của quân đội Pháp, (b) làm chảy máu nhanh chóng nền kinh tế Pháp do đó làm chậm lại sự phục hồi và làm tiêu tan hỗ trợ ECA cho Pháp, và (c) ngăn chận thế giới nói chung hưởng những thặng dư mà Đông Dương thường có để tạo điều kiện cho việc duy trì tình trạng rối loạn và thiếu hụt để tạo thuận lợi cho cộng sản phát triễn hơn nữa. Hơn nữa có vẻ như Hồ hoàn toàn có khả năng duy trì và thậm chí nắm chặt Đông Dương nhiều hơn nữa mà không có sự hỗ trợ bên ngoài nào khác hơn là việc các chính phủ bù nhìn thân Pháp liên tục tiếp nối”

    Mùa thu năm 1948, Văn phòng Nghiên Cứu Tình Báo Bộ Ngoại Giao đã tiến hành một cuộc khảo sát ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Nam Á. Những bằng chứng cho thấy Kremlin âm mưu đạo diễn đã được tìm thấy trong hầu như tất cả các nước ngoại trừ Việt Nam:

    “Từ ngày 19 Tháng Mười Hai 1946, nhiều xung đột đã liên tục xảy ra giữa các lực lượng Pháp và chính phủ dân tộc của Việt Nam. Chính phủ này là một liên minh [Việt Minh] mà những người cộng sản kiên trinh giữ các chức vụ có ảnh hưởng. Mặc dù người Pháp thừa nhận ảnh hưởng của chính phủ này, họ đã liên tục từ chối đối thoại với lãnh đạo của họ, Hồ Chí Minh, trên cơ sở rằng ông ta là một người cộng sản.

    "Cho đến nay, báo chí và đài phát thanh Việt Nam đã không chấp nhận vị trí chống Mỹ. Thay vào đó chính báo chí thuộc địa Pháp đã mạnh mẽ chống Mỹ và đã thoải mái cáo buộc chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở Đông Dương đến mức xấp xỉ vị trí chính thức của Moscow. Mặc dù các đài phát thanh Việt Nam đã được theo dõi chặt chẽ xem coi có vị trí gì mới đối với Hoa Kỳ, không có gì thay đổi cho đến nay và cũng không có vẻ gì như đã có sự phân hóa trong chính phủ liên minh của Việt Nam [Việt Minh]

    "Đánh giá. Nếu Moscow có âm mưu can thiệp vào khu vực Đông Nam Á thì Đông Dương lại là một sự bất thường cho đến nay. Có thể giải thích là:

    Không có chỉ thị cứng nhắc được ban hành bởi Moscow

    Chính phủ Việt Nam cho rằng nó không có thành phần thuộc cánh Hữu cần phải được thanh lọc.

    3. Cộng Sản Việt Nam không có lợi ích gì để theo đuổi các chính sách đối ngoại của Moscow.

    4. Một sự miễn trừ đặc biệt nào đó đã được Moscow dành cho chính phủ Việt Nam

    "Trong số này, những khả năng đầu tiên và thứ tư dường như rất có thể."

    Trích từ Bí Mật Ngũ Giác Đài, phần I, Việt Nam Thư Quán

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    34 phản hồi

    Khách-SJ viết:
    gửi lúc 15:59, 08/11/2014 - mã số 132757

    Riêng còm của độc giả dưới đây, xin đối chiếu phần dịch của ông với phần tôi trích ra trực tiếp từ tài liệu này và dịch lại để cho rõ chi tiết:

    ......

    Và phần thứ 2 của độc giả này, tôi thấy có phần giống với trang A-3 trong đoạn nói về tình trạng Đông Dương sau TC2, khi Đồng Minh kiểm soát Đông Dương để đưa quân Nhật về nước. Ông độc giả này đã “tự điền thêm” những chi tiết không có trong tài liệu!

    Cám ơn bác đã đưa nguyên bản và dịch lại. Đã chỉ rõ một số điểm đã được vo tròn, bóp méo.
    May mắn thay cho đọc giả VN.

    Nguyễn Jung

    Tôi không biết phải cười bể bụng vì bài này là một sự châm biến tiếu ngạo, dù dùng văn từ có vẻ nghiêm túc, hay phải nguyền rủa tác giả vì sự ngụy biện, chối bỏ mọi trách nhiệm, đổ lỗi cho kẻ khác 96,69% vì họ không theo ý mình!

    Đúng là thái độ của những kẻ chuyên độc tài bạo lực: không theo ý tao là mày sai, mày sẽ chết với tao; mọi tai hại chính là vì tại mày không nghe tao!

    Xem nào:

    Hồ Chí Minh vào thời 45-46 viết thư cho Hoa Kỳ thì đã là một đảng viên đảng CS Pháp từ 1920, làm việc cho Cominterm của Nga từ 1923, đã lập đảng CS Đông Dương sau đó, từng tham gia quân đội của đảng CS Mao vào 1938, đã từng thanh toán ngay cả các đồng chí CS của mình vì mọi lý do, và vào 1945 đã giết đi hàng ngàn thành viên các đảng phái quốc gia không-CS khác (và trong vài năm sau đó, con số này đã lên tới hàng trăm ngàn người). Tuy tình báo Âu Mỹ chưa biết mọi chi tiết của ông Hồ vào thời điểm đó, nhưng nhiều dữ kiện đã chứng minh lịch sử CS của Hồ rất rõ.

    Với thành tích như thế - hơn 20 năm kỳ cựu trong chủ nghĩa CS - ai có thể tin là Hồ và các đảng viên của ông sẽ sẵn sàng từ bỏ CNCS, đứng chung với mọi phe khác trong nước để sẽ tự quyết lập một nước VN độc lập không CS?

    Ai có thể tin tưởng con người như thế, ngoại trừ con nít và những kẻ bị bịt mắt, bị che tai với thông tin? Chắc chắn không thể chính phủ nước Mỹ!

    Riêng còm của độc giả dưới đây, xin đối chiếu phần dịch của ông với phần tôi trích ra trực tiếp từ tài liệu này và dịch lại để cho rõ chi tiết:

    một độc giả của Dân Luận viết:
    Cũng trong "Bí mật Ngũ Giác Đài Phần I" có 2 đoạn:

    "Tính bất nhất chính là đặc trưng của Hoa Kỳ về đường lối trong Thế Chiến II và đó là nguồn gốc của nhiều sự hiểu lầm tiếp theo sau đó. Một mặt người Mỹ đã nhiều lần lập đi lập lại với Pháp là tài sản của họ (ở ĐD) sau chiến tranh sẽ được trao trả lại cho họ. Một mặt khác Hoa Kỳ lại công khai ủng hộ Hiến Chương Đại Tây Dương về quyền Dân Tộc Tự Quyết và cá nhân TT Roosevelt đã cực lực cỗ võ cho một Đông Dương độc lập. TT Roosevelt đã xem Đông Dương là một thí dụ rõ ràng nhất là phải thay thế cái chủ nghĩa Thực Dân xấu xa bằng một Cơ Quan quốc tế được ủy nhiệm để quản lý, thay vì giao nó lại cho Pháp. TT Roosevelt đã thảo luận đề nghị trên với Đồng Minh ở Cairo, Teheran, ở Hội Nghị Yalta và đã được sự đồng ý của Tưởng Giới Thạch và Stalin; Thủ Tướng Churchill thì còn do dự.."

    Đây là phần trích từ trang A-1, phần Kết Luận của Tài Liệu Ngũ Giác Đài

    A-I TOP SECRET - Sensitive
    Declassified per Executive Order 13526, Section 3.3
    NND Project Number: NND 63316. By: NWD Date: 2011
    TOP SECRET – Sensitive

    U.S. POLICY, 1940-1950
    Summary

    Neither interpretation squares with the record; the United States
    was less concerned over Indochina , and less purposeful than either assumes.
    Ambivalence characterized U.S. policy during World War II, and was the
    root of much subsequent misunderstanding. On the one hand, the U.S.
    repeatedly reassured the French that its colonial possessions would be
    returned to it after the war. On the other hand, the U.S. broadly committed
    itself in the Atlantic Charter to support national self-determination,
    and President Roosevelt personally and vehemently advocated independence
    for Indochina . F.D.R. r egarded Indochina as a flagrant example of onerous
    colonialism which should be turned over to a trusteeship rather than
    returned to France. The President discussed this proposal with the Allies
    at the Cairo, Teheran, and Yalta Conferences and received the endorsement
    of Chiang Kai-shek and Stalin; Prime Minister Churchill demurred.

    Dịch:

    Không giải thích nào là thích hợp với hồ sơ đã ghi lại cả; Hoa Kỳ đã ít quan tâm về Đông Dương, và cũng chẳng có mục đích rõ ràng như cả hai phe dự đoán. Sự do dự trong mâu thuẫn là tính chất về đường lối của Hoa Kỳ trong Thế Chiến II, và là nguồn gốc của nhiều hiểu lầm sau đó. Một mặt, Hoa Kỳ đã liên tục trấn an với Pháp rằng tài sản của họ ở các thuộc địa sẽ được trao trả lại cho họ sau chiến tranh. Mặt khác, Hoa Kỳ đã chung chung tự cam kết với Hiến Chương Đại Tây Dương để ủng hộ quyền dân tộc tự quyết và chính cá nhân TT Roosevelt cũng đã cực lực cổ võ cho một Đông Dương độc lập. TT Roosevelt đã xem Đông Dương là một thí dụ rõ ràng nhất của chủ nghĩa thực dân tồi tệ và nên trao (Đông Dương) cho một cơ quan ủy nhiệm quốc tế để quản lý thay vì giao nó lại cho Pháp. TT Roosevelt đã thảo luận đề nghị trên với Đồng Minh ở Cairo, Teheran cũng như Hội Nghị Yalta và đã được sự tán thành của Tưởng Giới Thạch và Stalin; Thủ Tướng Churchill thì đã ngần ngại.

    Và một đoạn quan trọng đầu trang A-2 sau đó tôi cần đưa ra đây:

    Ultimately, U.S. policy was governed neither by the principles of
    the Atlantic Charter, nor by the President's anti-colonialism, but by
    the dictates of military strategy, and by British intransigence on the
    colonial issue.

    Dịch:

    Rốt cuộc, chính sách của Hoa Kỳ đã được điều chỉnh không theo các nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương, cũng không bởi thái độ chống chủ nghĩa thực dân của các của Tổng thống, nhưng bởi những đòi hỏi của chiến lược quân sự, và bởi vì sự không khoan nhượng của Anh về vấn đề thuộc địa.

    Và phần thứ 2 của độc giả này, tôi thấy có phần giống với trang A-3 trong đoạn nói về tình trạng Đông Dương sau TC2, khi Đồng Minh kiểm soát Đông Dương để đưa quân Nhật về nước. Ông độc giả này đã “tự điền thêm” những chi tiết không có trong tài liệu!

    một độc giả của Dân Luận viết:
    "Từ mùa thu năm 1945 qua đến mùa thu năm 1946, Hoa Kỳ đã nhận được một loạt các thư tín từ Hồ Chí Minh mô tả điều kiện tệ hại ở Việt Nam, nêu lên các nguyên tắc công bố trong Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến chương Liên Hợp Quốc, và xin Mỹ công nhận nền độc lập của nước VNDCCH, hoặc - như một phương sách cuối cùng - ủy trị Việt Nam cho Liên hợp quốc. "

    With British cooperation, French military forces were reestablished
    in South Vietnam in September, 1945. The U.S. expressed dismay at the
    outbreak of guerrilla warfare which followed, and pointed out that while
    it had no intention of opposing the reestablishment of French control,
    "it is not the policy of this government to assist the French to reestablish
    their control over Indochina by force, and the willingness of the
    U.S. to see French control reestablished assumes that the French claim
    to have the support of the population in Indochina is borne out by future
    events." Through the fall and winter of 1945-1946, the U.S. received a
    series of requests from Ho Chi Minh for intervention in Vietnam; these
    were, on the record, unanswered.
    Howlever, the U.S. steadfastly refused
    to assist the French military effort, e.g. forbidding American flag
    vessels to carry troops or war material to Vietnam. On March 6, 1946,
    the French and Ho signed an Accord in which Ho acceded to French reentry
    into North Vietnam in return for recognition of the DRV as a
    "Free State", part of the French Union. As of April 1946, allied occupation
    of Indochina was officially terminated, and the U. S. acknovlledged
    to France that all of Indochina had reverted to French control. Thereafter,
    the problems of U.S. policy toward Vietnam were dealt with in the
    context of the U. S. relationship with France. (Tab 1)

    Dịch:

    Với sự hợp tác của Anh, lực lượng quân sự Pháp đã được tái lập ở miền Nam Việt Nam trong tháng Chín năm 1945. Hoa Kỳ đã bày tỏ sự thất vọng khi chiến tranh du kích bùng nổ sau đó và đã nêu ra rằng, trong khi Hoa Kỳ không có ý định chống lại việc tái lập quyền hành của Pháp, "không phải chính sách của chính phủ này (Mỹ) là hỗ trợ Pháp để thiết lập lại quyền kiểm soát Đông Dương bằng vũ lực, và sự chấp thuận của Hoa Kỳ cho việc tái lập kiểm soát của Pháp sẽ giả định vào việc Pháp lấy được sự hỗ trợ của người dân Đông Dương là những sự kiện phát sinh trong tương lai sau này”. Qua mùa thu và mùa đông của 1945-1946, Mỹ nhận được một loạt các yêu cầu của Hồ Chí Minh xin can thiệp tại Việt Nam; các yêu cầu này, theo hồ sơ, đã không được trả lời. Dầu sao, Hoa Kỳ đã kiên quyết từ chối hỗ trợ các nỗ lực quân sự của Pháp, ví dụ cấm các tàu Mỹ đưa quân đội hoặc vật liệu chiến tranh đến Việt Nam. Ngày 6 tháng Ba 1946, Pháp và Hồ đã ký một hiệp định mà trong đó Hồ chấp nhận Pháp trở lại Bắc Việt Nam để đổi lấy sự công nhận VNDCCH là một Nước Tự Do, một phần của Liên hiệp Pháp. Vào tháng 4 năm 1946, lực lương đồng minh chiếm đóng Đông Dương đã chính thức chấm dứt, và Mỹ đã công nhận với Pháp rằng tất cả Đông Dương đã trở lại trong kiểm soát của Pháp. Từ sau đó, các vấn đề về chính sách của Mỹ đối với Việt Nam đã được giải quyết trong bối cảnh của mối quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Pháp.

    Trong đoạn cuối của trang A-3, về giai đoạn chiến tranh bùng nổ:

    … The U.S. during these years continued to regard
    the conflict as fundamentally a matter for French resolution. The U.S.
    in its representations to France deplored the prospect of protracted war,
    and urged meaningful concessions to Vietnamese nationalism. However,
    the U.S., deterred by the history of Ho's communist affiliation, always
    stopped short of endorsing Ho Chi Minh or the Viet Minh.
    Accordingly,
    U.S. policy gravitated with that of France toward the Bao Dai solution.
    At no point was the U.S. prepared to adopt an openly interventionist
    course.

    Dịch:

    … Hoa Kỳ trong những năm đó đã tiếp tục coi cuộc xung đột trên cơ bản là một vấn đề của riêng Pháp. Hoa Kỳ qua các đại diện chính quyền với Pháp đã than phiền về triển vọng kéo dài của chiến tranh, và kêu gọi nhượng bộ có ý nghĩa cho ước vọng dân tộc quốc gia của người Việt Nam. Tuy nhiên, Hoa Kỳ, vì đã thoái chí với lịch sử cộng sản của Hồ Chí Minh, luôn ngừng lại ở chỗ không thể ủng hộ Hồ Chí Minh hay Việt Minh. Và theo đó, chính sách của Hoa Kỳ đã dần ngả về hướng của Pháp về một giải pháp Bảo Đại. Hoa Kỳ đã chưa hề chuẩn bị áp dụng một đường lối can thiệp công khai vào thời điểm này.

    Nếu thực sự không cần theo CNCS, sau khi Pháp trở lại VN năm 46 qua thỏa hiệp với ông Hồ và công nhận VNDCCH là một Nước Tự Do trong Liên Hiệp Pháp, tại sao ông Hồ đã không tiếp tục tìm cách đàm thoại với Hoa Kỳ, dựa trên Hiến chương Đại Tây Dương, Hiến chương LHQ và thái độ chống chủ nghĩa thực dân của Tổng thống Mỹ mà đòi trao trả Đông Dương cho một cơ quan ủy nhiệm quốc tế để họ quản lý, và rồi lấy lại độc lập hoàn toàn trong hòa bình – thay vì gây chiến với Pháp vào cuối 46?

    Vào vài năm sau đó, tại sao ông Hồ không tiếp tục tìm hiểu con đường can thiệp này của Hoa Kỳ? Giữa Nga và Hoa Kỳ vào thời đó, dầu cả 2 đã là đồng minh trong cuộc chiến với Đức và Nhật, hai chủ nghĩa đã không thể có hòa hợp, nhưng có thể nói - trên căn bản về vấn đề thuộc địa trong giai đoạn này – thì dựa vào Hoa Kỳ để tìm tự do độc lập (vì họ ủng hộ chống chế độ thuộc địa) thì có khác biệt gì với dựa vào Nga? Lý do gì ông Hồ đã không chọn con đường này? Phải chăng vì nếu dựa vào Mỹ thì ông Hồ sẽ không thể giữ CNCS chống Tư Bản của Marx-Lenin và cũng sẽ phải mất Mao? Có thực sự rằng đã có những ý muốn chân thật nhằm hợp tác với Mỹ để tìm giải pháp cho VN qua LHQ? Hay đó chỉ là những đòi hỏi họ phải theo ý mình?

    Đây chỉ là những lý luận để bạch hóa những giả thuyết xét lại lịch sử của nhiều người cựu-CS nhằm biện luận cho con đường sai lầm mà họ đã chọn. Chứ thực ra đến năm 49, khi Nga nhờ điệp viên lấy được các tài liệu của Mỹ và thành công chế bom nguyên tử cho nổ thử vào tháng 8/49, rồi đến tháng 10/49 khi Mao thắng Tưởng chiếm trọn TQ, và đến tháng 6/50 khi Bắc Hàn tấn công Nam Hàn, thì ranh giới giữa khối CS và khối Tự Do đã thành cái hố quá sâu, hai phe đã thành thù địch không đội trời chung.

    Trong cán cân giữa sự độc lập của dân tộc qua con đường giảm thiểu chết chóc và chủ nghĩa CS, dân tộc VN đã thua to vì người CSVN đã thà giữ chủ nghĩa hơn là hy sinh bỏ con đường bạo lực mà chủ nghĩa đã vạch ra.

    Khách vn viết:
    PEKING DUCK NEWS AGENCY viết:
    Tình báo OSS chỉ tướng Giáp cách ném lựu đạn, và chữa bệnh cho ô. Hồ Chí Minh: http://www.nytimes.com/2013/04/18/world/asia/henry-a-prunier-army-operative-who-helped-trained-vietnamese-troops-dies-at-91.html?_r=0

    “Obeying regulations, the O.S.S. men declined, regretfully, Ho’s offer of pretty Vietnamese women and jungle aphrodisiacs, Mr. Prunier said.”

    Bác Hồ học được cái mánh này ở đâu hay vậy?

    Thảo nào hồi sang thăm Mỹ, chủ tịch Nguyễn Minh Triết quảng cáo với bọn tư bẩn đế quốc là gái Việt Nam đẹp lắm.

    Đúng là người học trò trung thành, xuất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh!

    TTS viết:
    Nhiều người cứ lo hão nước Mỹ sai lầm này nọ. Nên nhớ nước Mỹ là xứ dân chủ nhất thế giới, họ đã quyết định làm gì thì những bộ óc tốt nhất đều họp lại chọn phương án tối ưu nhất rồi. Không chơi với cộng sản Việt Nam ngày trước hay đưa quân vào Afghanistan, Iraq ngày nay đều có lý của họ vì nếu không làm thế thì còn nguy hại hơn. Ở Mỹ phe đối lập luôn mạnh miệng chỉ trích phe cầm quyền "sai lầm, sai lầm", những người bên ngoài nước Mỹ cũng a dua nói theo đến buồn cười.

    Tỉnh lại đi, hãy lo chuyện nước mình ấy, đừng rỗi hơi lo chuyện nước Mỹ sai lầm. Còn lâu nó mới lầm chứ đừng mơ nó sai.

    Đúng là như thế ! Sau khi Obama lên nắm hành pháp Mỹ thì bọn liberal ở Mỹ được thể đồng thanh quác quác kêu là chính quyền Bush 'sai lầm, sai lầm' khi tiến đánh Iraq, Afghanistan, nhâu nhâu đòi rút quân về ngay, thế là cả một lô lốc những đứa ất ơ khắp thế giới nhảy twist theo, miệng lẩm bẩm rằng Bush 'sai lầm, sai lầm'. Nay dân Mỹ vừa quay ngoắc sang bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa, đẩy Obama yếu đuối lừng khừng thành TT vịt què. Liệu sắp tới bọn hóng hớt kia có đổi lại bài ca rằng là cả nước Mỹ 'sai lầm, sai lầm' không nhỉ ? :)

    Con mụ nội nó, nếu Mỹ thời Bush mà không mạnh tay đập chết đám Taliban, Al Qaeda, Saddam Hussein thì nay có nguy cơ rất cao là chúng đã thành những tên độc tài bạo chúa như Bashar Al Assad làm tay sai nguy hiểm cho Nga để quậy phá, gây náo loạn cả vùng Trung Đông, tạo những điểm nóng bất ổn triền miên ở khu vực hòng kềm chân, phân tán lực lượng của Mỹ, NATO, tạo điều kiện cho Nga mặc sức khống chế các nước láng giềng, xâm lăng thâu tóm, mở rộng lãnh thổ, phục thù cho thảm bại của LX năm xưa !

    Sắp tới có nhiều khả năng là ông TNS John Mc Cain sẽ lên làm chủ tịch ủy ban đối ngoại thượng viện Mỹ. Bộ trưởng quốc phòng đương nhiệm lừ đừ như ông từ Chuck Hagel đang có nguy cơ cao sẽ bị cho về vườn sớm, thay bằng người khác mạnh mẽ, quyết đoán hơn . Ăt Mỹ sẽ có thêm nhiều 'sai lầm, sai lầm' nữa để các con giời tha hồ bàn luận, hehe :)

    TTS viết:
    Tỉnh lại đi, hãy lo chuyện nước mình ấy, đừng rỗi hơi lo chuyện nước Mỹ sai lầm. Còn lâu nó mới lầm chứ đừng mơ nó sai.

    Không chỉ lo hão mà người Việt Nam còn hay ăn cháo đá bát. Thời ông Bush làm được rất nhiều việc thúc đẩy dân chủ nhân quyền thế giới, một số lời phát biểu của ông trở thành kinh điển (Người ta có thể cưỡng lại tự do, có thể trì hoãn tiến trình tự do, nhưng không thể phủ nhận tự do...), tổng thống Gruzia ca ngợi Bush là người hành động nhiều nhất cho tự do, hai ông bà Bush tiếp đón chu đáo thanh niên Nguyễn Tiến Trung của Việt Nam... Người Việt Nam bằng cặp mắt thiển cận hạn hẹp của mình không biết nhìn thấu được bao nhiêu việc thầm lặng Bush làm đằng sau nhưng khi không đáp ứng được kỳ vọng, lập tức họ quay lưng dè bỉu Bush ra mặt, tâng bốc Obama hết lời.

    Đến nay, khi Obama thất thế, người Việt Nam không một lời cảm kích vì những gì Obama đã làm được cho nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng suốt những năm qua. Tiếp tục bổn cũ soạn lại, họ ngoác miệng chê bai Obama cùng cộng sự của ông hết lời. Một chu kỳ mới bắt đầu, người Việt Nam sẽ lại tâng bốc một ông ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa để rồi vài năm sau lại dìm người ta xuống bùn. Họ không hiểu rằng mọi thắng lợi, mọi thành quả để Việt Nam có một không gian thông tin cởi mở, một xã hội dân sự đang dần tiến triển như hiện nay đều là sự tích lũy và kế thừa những nỗ lực của một tiến trình hậu thuẫn lâu dài từ thời Bill Clinton qua thời Bush rồi đến Obama.

    Một dân tộc quen thói "mì ăn liền", luôn kỳ vọng người khác bưng đồ miễn phí đặt trước mặt, khi không được như mong đợi thì giở thói ăn cháo đá bát, vô tình vô nghĩa với những hành vi ngây thơ trẻ con, thiếu suy nghĩ, a dua bầy đàn. Có những "chiến sĩ dân chủ" Việt Nam còn chửi Clinton là tên trốn lính, Bush là tên cao bồi, Obama là tổng thống tệ nhất đen đủi nhất cho nước Mỹ như màu da của ông... Một dân tộc với tính cách mạt hạng như vậy liệu có khá nổi không, trong khi người Myanmar, Indonesia có thái độ và hành xử hoàn toàn khác nên số phận dân tộc họ đã khác.

    Cũng trong "Bí mật Ngũ Giác Đài Phần I" có 2 đoạn:

    "Tính bất nhất chính là đặc trưng của Hoa Kỳ về đường lối trong Thế Chiến II và đó là nguồn gốc của nhiều sự hiểu lầm tiếp theo sau đó. Một mặt người Mỹ đã nhiều lần lập đi lập lại với Pháp là tài sản của họ (ở ĐD) sau chiến tranh sẽ được trao trả lại cho họ. Một mặt khác Hoa Kỳ lại công khai ủng hộ Hiến Chương Đại Tây Dương về quyền Dân Tộc Tự Quyết và cá nhân TT Roosevelt đã cực lực cỗ võ cho một Đông Dương độc lập. TT Roosevelt đã xem Đông Dương là một thí dụ rõ ràng nhất là phải thay thế cái chủ nghĩa Thực Dân xấu xa bằng một Cơ Quan quốc tế được ủy nhiệm để quản lý, thay vì giao nó lại cho Pháp. TT Roosevelt đã thảo luận đề nghị trên với Đồng Minh ở Cairo, Teheran, ở Hội Nghị Yalta và đã được sự đồng ý của Tưởng Giới Thạch và Stalin; Thủ Tướng Churchill thì còn do dự.."

    "Từ mùa thu năm 1945 qua đến mùa thu năm 1946, Hoa Kỳ đã nhận được một loạt các thư tín từ Hồ Chí Minh mô tả điều kiện tệ hại ở Việt Nam, nêu lên các nguyên tắc công bố trong Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến chương Liên Hợp Quốc, và xin Mỹ công nhận nền độc lập của nước VNDCCH, hoặc - như một phương sách cuối cùng - ủy trị Việt Nam cho Liên hợp quốc. "

    Trí Luận viết:
    Đành rằng lịch sử không có chữ "nếu", nhưng "hồi niệm lịch sử là bản vị giúp con người kiến tạo tương lai." (Sử gia Israel, Daniel; được Thierse nhắc lại). Các tài liệu chung quanh việc này cho ta rõ thêm tình hình lúc đó và gợi nhiều để hiểu hiện trạng.

    Lạ nhỉ. Ai bảo lịch sử không được phép "nếu"? Chỉ có bọn duy vật lịch sử mới nhồi sọ trẻ con rằng lịch sử luôn đúng không được phép xét lại. Chữ "nếu" chẳng có gì sai cả, chỉ cần có logic. Trong cuộc sống đầy rẫy tình huống phải dùng chữ "nếu" với những gì đã qua, ví dụ: Nếu Ronaldo đệm lòng chân trái thì có thể bóng đã nằm gọn trong lưới vì góc xa đang hở; nếu Việt Nam có đa đảng thì có thể đã không xảy ra vụ tham nhũng 80 ngàn tỷ vì phe đối lập phát hiện sớm...

    Không được dùng chữ "nếu" với những gì đã qua thì làm sao loài người đúc rút được kinh nghiệm để đi tới văn minh như ngày nay? Hãy minh oan cho chữ "nếu", đừng mắc bẫy bọn duy vật biện chứng.

    PEKING DUCK NEWS AGENCY viết:
    Ai biết đọc tiếng Anh vào đây đọc tài liệu gốc tuyệt mật (nay đã giải mật - declassified) về đối ngoại của Mỹ đối với VN trong giai đoạn 1940-1950. Nếu có điều kiện, Dân Luận có thể dịch cho người đọc không thông thạo tiếng Anh để họ biết sự thật.
    http://media.nara.gov/research/pentagon-papers/Pentagon-Papers-Part-I.pdf

    Còn rất nhiều tài liệu declassified khác, vấn đề là có muốn biết sự thật hay không, hay là đã sẵn định hướng "trái" hoặc "phải" tự nhắm mắt bịt tai rồi.

    Gớm tưởng gì mới chứ cái Pentagon 1 này đã bàn nát bét trên Dân Luận rồi bác ơi.

    Mà cũng lạ, nhiều người cứ mất thì giờ lao vào chiến nhau chủ đề cũ mèm này. Đọc đi đọc lại thì thấy bài chủ của tác giả Like No Other có giọng châm biếm cười nhạo những kẻ không tự soi gương mình mà chỉ biết trâng tráo đổ lỗi cho người khác. Tại sao minh tinh Hathaway phải chơi với Thị Nở? Không thích chơi với ai đó thì có lỗi à?

    Nhiều người cứ lo hão nước Mỹ sai lầm này nọ. Nên nhớ nước Mỹ là xứ dân chủ nhất thế giới, họ đã quyết định làm gì thì những bộ óc tốt nhất đều họp lại chọn phương án tối ưu nhất rồi. Không chơi với cộng sản Việt Nam ngày trước hay đưa quân vào Afghanistan, Iraq ngày nay đều có lý của họ vì nếu không làm thế thì còn nguy hại hơn. Ở Mỹ phe đối lập luôn mạnh miệng chỉ trích phe cầm quyền "sai lầm, sai lầm", những người bên ngoài nước Mỹ cũng a dua nói theo đến buồn cười.

    Tỉnh lại đi, hãy lo chuyện nước mình ấy, đừng rỗi hơi lo chuyện nước Mỹ sai lầm. Còn lâu nó mới lầm chứ đừng mơ nó sai.

    PEKING DUCK NEWS AGENCY viết:
    Tình báo OSS chỉ tướng Giáp cách ném lựu đạn, và chữa bệnh cho ô. Hồ Chí Minh: http://www.nytimes.com/2013/04/18/world/asia/henry-a-prunier-army-operative-who-helped-trained-vietnamese-troops-dies-at-91.html?_r=0

    “Obeying regulations, the O.S.S. men declined, regretfully, Ho’s offer of pretty Vietnamese women and jungle aphrodisiacs, Mr. Prunier said.”

    Bác Hồ học được cái mánh này ở đâu hay vậy?

    Trí Luận gửi lúc 19:27, 06/11/2014 - mã số 132633 viết:
    ...Ngay sau Điện Biên Phủ, lãnh đạo CSVN nhận định: "Ta phải đánh nhau với Mỹ" - Điều đó đã đúng, dù "đáng tiếc"!...

    Sao tôi ngờ ngợ cái "Ta" hổng phải là của lãnh đạo CSVN quá! Hình như là ai nhét cái "Ta" ấy vào miệng của lãnh đạo CSVN thì phải?! Chứ "khẩu khí" của họ -như sau (1975) này tôi thấy- thì họ lẽ ra phải nói "Ta không cần phải đánh nhau với Mỹ" mới oai!

    @96,69% : Đa tạ đại huynh chỉ giáo, tại hạ mới lĩnh hội được cái lợi hại của chiêu 96,69% của tên ma giáo Cửu Chỉ Thần Phím. Thì ra trong địa hình 69 thì cái ngón tay dư không phải là dư mà chính là thành phần chủ lực dùng để điểm huyệt ngay chổ trọng yếu nhất của đối phương. Xin bái, bái fục. :)D

    Lê Văn Mọi viết:
    Cũng đừng quên tới việc sát sườn từng gia đình người dân Miền Bắc là nếu HCM KHÔNG NGHE LỜI Mao thì các gia đình miền Bắc không có thương binh hoặc liệt sĩ hoặc không có Bà Mẹ anh hùng neo đơn lúc tuổi già sức yếu.

    Hừ, tay Mọi nay đổ đốn thành phản động quá thể ! Nói rứa khác chi bôi xoá xịt rửa sạch trơn công lao, xương máu của biết bao chiến sĩ đồng bào ta đã hi sinh vì sự nghiệp cao cả giải phóng miền Nam, giành độc lập dân tộc, thống nhất tố quốc, đưa cả nước vọt thẳng lên cnxh vinh quang.

    Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước.
    Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước.
    Ôi xương tan máu rơi, lòng hận thù ngất trời.
    Sông núi bao nhiêu năm cắt rời ...

    Cuộc chiến thần thánh chống Mỹ Ngụy cứu nước đã diễn ra vô cùng vô cùng cam go, khốc liệt như rứa đó. Chính nhờ đ/c Mao chủ tịch hết lòng hỗ trợ, chi viện quân lương súng đạn dồi dào nên ta mới hạn chế được tổn thất sinh mạng của chiến sĩ đồng bào trong tầm dăm bảy triệu đổ lại. Nếu không nhờ tấm thịnh tình quí hoá của đ/c Mao có nhẽ ta đã toi mất cả chục triệu mạng như chơi ấy chứ ! Ơn nghĩa cao dày của đ/c Mao có trả cả mấy đời ông, cha, cháu, chít cũng chưa chắc xong đâu. Chớ vì người đời còn lắm bon chen, tình đời thay trắng đổi đen, mà tình mình bạc trắng như vôi, đổ thừa trách nhiệm vô chiến khu, í lộn, 'vô căn cứ' ! :)

    Đề nghị tên Mọi điều chỉnh lại quan điểm lập trường cho 'chuẩn' nhá !

    @TQVN

    Mỹ có rất nhiều operations ở châu Á suốt từ 45-54; Lào, Miến, Nhật, Trung Quốc ... để chống lại các lực lượng du kích Cộng Sản . Những phi vụ chiến đấu đầu tiên chống lại Cộng Sản của không quân Tưởng Giới Thạch là do phi công Mỹ lái . Nên không thể nói Mỹ bỏ châu Á cho Pháp .

    Chuyện gì đã xảy ra từ 44-46 là lúc Pháp kéo vào ? Hai điều; 1- Mỹ nhận ra mình bị Bác Hồ vĩ đại lừa . 2- Vụ chia đôi Berlin. Chính 2 điều đó đã làm Mỹ nhận ra chống lại sự lan tỏa của các lực lượng Cộng Sản trên thế giới quan trọng nhất lúc bấy giờ . Vả lại Truman là một hard-liner -từ bây giờ là chống cộng cực đoan- hơn Roosevelt, nên có một chuyển đổi tương đối dramatic từ thái độ không ủng hộ, thậm chí ngăn cản Pháp trở lại các thuộc địa cũ tới ủng hộ và giúp đỡ Pháp trở lại Việt Nam.

    Kết luận được gì; các nước thuộc địa dành lại độc lập có công của Mỹ trong đó, không phải chủ nghĩa Mác-Lê, và có thể tránh được chiến tranh . Đó là trường hợp Miến Điện và 1 số nước khác, tướng Aung San của Miến từ bỏ lý tưởng Cộng Sản của mình và Anh tin tưởng trao trả độc lập .

    Bác Hồ đầu tiên và trước hết là người rất kiên định với lý tưởng Cộng Sản của mình, và Bác Hồ cực kỳ thông minh, đã lợi dụng Mỹ để phục vụ cho lý tưởng Cộng Sản của mình . Đọc các tài liệu như vầy tớ càng tin Bác Hồ vĩ đại của chúng ta có khả năng là Hồ Tập Chương kinh nghiệm và lão luyện trên trường quốc tế hơn là Nguyễn Sinh Công ẻo lả và lãng mạn . Hay "Thượng Đế thì cười", ước muốn của Hai Lúa có thể đã trở thành sự thật; Nguyễn Sinh Công có thể chết dấm dúi ở xó xỉnh nào gòi .

    Bởi vì ngày ấy anh không nghe tôi nên tôi đành phải trở thành thằng chó chết.

    (hoặc)

    Tôi trở thành thằng chó chết như bây giờ là vì ngày ấy anh không nghe tôi.

    Ai biết đọc tiếng Anh vào đây đọc tài liệu gốc tuyệt mật (nay đã giải mật - declassified) về đối ngoại của Mỹ đối với VN trong giai đoạn 1940-1950. Nếu có điều kiện, Dân Luận có thể dịch cho người đọc không thông thạo tiếng Anh để họ biết sự thật.
    http://media.nara.gov/research/pentagon-papers/Pentagon-Papers-Part-I.pdf

    Còn rất nhiều tài liệu declassified khác, vấn đề là có muốn biết sự thật hay không, hay là đã sẵn định hướng "trái" hoặc "phải" tự nhắm mắt bịt tai rồi.

    Ý kiến ngắn (cảm nhận)

    +
    Trước hết, tôi cảm ơn Dân Luận đã mở mục "Điểm tin". Hơn 1 ngày nay, Trang Ba Sàm đã không vào được, nên mục này cung cấp tin nóng rất cần thiết.

    +
    Tôi đang khảo thêm bài của "Ngô Tùng Phong". Đi đến tận nguồn từ Aiviet Nguyen thì biết chủ trang cũng chỉ chép lại; các trang Vanhoanghean và Vanviet cũng sao y bản chính. Các bản này đều ghi "Ngô Tùng Phong" là nghiêng về ý cho rằng Ngô Đình Nhu là Tác giả. (Aiviet Nguyen có lẽ là du học sinh ở Ungarn?)
    Bài chính này cũng là bài "Like No Other" chép lại nên cần tìm đến gốc thì dễ bàn hơn.

    +
    Đành rằng lịch sử không có chữ "nếu", nhưng "hồi niệm lịch sử là bản vị giúp con người kiến tạo tương lai." (Sử gia Israel, Daniel; được Thierse nhắc lại). Các tài liệu chung quanh việc này cho ta rõ thêm tình hình lúc đó và gợi nhiều để hiểu hiện trạng.
    Không phải chỉ VN, mà cả cộng đồng loài người đã sai lầm không tránh khỏi là "chiến tranh lạnh" sau khi vượt qua đại chiến 2. Có những nước quanh VN được trả độc lập sau 1945; nhưng cứ ngồi mà đợi thì không nước nào tự bỏ các thuộc địa của họ. Ông Hồ xin học trường thuộc địa là ý tốt tìm học của ông. Sau này, khi có nước VNDCCH, ông chủ trương VN trong Liên hợp Pháp. Các thư mà ông Hồ gửi Mỹ chứng tỏ cái nhìn khá rõ của ông về xu thế Lịch sử; đáng tiếc, chính lập trường "ta-địch" cắm rễ trong não trạng các thủ lĩnh quốc gia thời đó không cho phép họ nhìn xa hơn. (viết thế, không phải ta thông minh hơn họ, mà là sự việc đã qua rồi.) Mỹ là nước ủng hộ và viện trợ chính cho Pháp trong chiến tranh Việt-Pháp 1945-1954. Ngay sau Điện Biên Phủ, lãnh đạo CSVN nhận định: "Ta phải đánh nhau với Mỹ" - Điều đó đã đúng, dù "đáng tiếc"!
    Đọc lại "Đèn Cù" để thấy thêm việc Trần Đĩnh "thất tình" với HCM là do biết ông Hồ theo quan điểm "thống nhất hoà bình" nhưng không dám phản đối phe đa số thì có thể tự hiểu thêm !
    ...

    +
    Tôi đã nhắn nhủ 1 "thân hữu" trên talawas:
    "...
    Văn kia viết mãi cũng mòn,
    Chữ kia viết mãi, nghĩa còn bao nhiêu ?
    Yêu nhau, xin nhắn 1 điều:
    Văn chương "bá ngọ", chợ chiều kém duyên.
    "
    Đọc là tìm cái mới để biết, cái hay để học.
    Tôi cảm ơn Dân Luận còn có nhiều tin MỚI và HAY.

    Thân mến, T.L.

    Khách Le Văn Mọi viết:
    Nếu Hồ Chí Minh KHÔNG NGHE LỜI Stalin và Mao Trạch Đông thì ngày nay nước ta chẳng kém gì Hàn Quốc, hay tối thiểu cũng không thua Thái Lan và dĩ nhiên không có cuộc chiến tranh "Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào" để rồi nước ta tụt hậu và đổi chiến lược từ "chống Mỹ cứu nước" sanh thành "mời Mỹ cứu dân". Cũng đừng quên tới việc sát sườn từng gia đình người dân Miền Bắc là nếu HCM KHÔNG NGHE LỜI Mao thì các gia đình miền Bắc không có thương binh hoặc liệt sĩ hoặc không có Bà Mẹ anh hùng neo đơn lúc tuổi già sức yếu.

    Hề hề, tôi xin dẫn chứng giùm bác Le Văn Mọi:

    Tại hội nghị chuẩn bị cho Đại Hội 2 năm 1950, Hồ phát biểu:

    “Các cô các chú nên biết rằng việc đổi tên đảng ta, Bác đã xin ý kiến các đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông rồi, các đồng chí ấy đã đồng ý. Các cô các chú nên biết rằng ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được.”

    Chỉ có chuyện đổi tên đảng mafia mà cũng phải nghe lời hai Bác bự, từ đó suy ra là Hồ cũng phải nghe lời hai Bác khi quyết định những chuyện quan trọng hơn.

    Admin viết:
    Bác slinkee, Mỹ - cụ thể là OSS - khuyên Hồ Chí Minh điều gì, bác thử nói cụ thể ra đây cho bà con thưởng thức xem? Nhớ dẫn chứng cho nó tôn trọng lịch sử một chút, đừng chứng tỏ rằng mình cũng giống cộng sản, ăn không nói có, ghét thì nói cho chết.

    CS nó còn có cái thói ỷ "sân nhà" của nó. Ghét ai thì nó không cho chơi.

    Nếu Mỹ chịu nghe lời Hồ Chí Minh thì cái mà Hồ làm "cho" Mỹ đối với Nga Tàu (hay phe CS) cũng giống như cái mà Phạm Xuân Ẩn làm "cho" VNCH đối với VNDCCH.

    Tình báo OSS chỉ tướng Giáp cách ném lựu đạn, và chữa bệnh cho ô. Hồ Chí Minh: http://www.nytimes.com/2013/04/18/world/asia/henry-a-prunier-army-operative-who-helped-trained-vietnamese-troops-dies-at-91.html?_r=0

    Tại sao OSS không giúp phe "quốc gia" giống vậy? Đơn giản là trong khi cả thế giới chống phe phát-xít Đức Ý Nhật, thì phe "quốc gia" lại cộng tác với phát-xít Nhật khi vừa mới chiếm Đông dương.

    Nếu Hồ Chí Minh KHÔNG NGHE LỜI Stalin và Mao Trạch Đông thì ngày nay nước ta chẳng kém gì Hàn Quốc, hay tối thiểu cũng không thua Thái Lan và dĩ nhiên không có cuộc chiến tranh "Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào" để rồi nước ta tụt hậu và đổi chiến lược từ "chống Mỹ cứu nước" sanh thành "mời Mỹ cứu dân". Cũng đừng quên tới việc sát sườn từng gia đình người dân Miền Bắc là nếu HCM KHÔNG NGHE LỜI Mao thì các gia đình miền Bắc không có thương binh hoặc liệt sĩ hoặc không có Bà Mẹ anh hùng neo đơn lúc tuổi già sức yếu.

    Nếu đặt bạn vào vị trí tổng thống Mỹ thời đó bạn có dám mạo hiểm chơi với một nhân vật cộng sản kỳ cựu đầy ẩn số như Hồ Chí Minh không? 96,69% đek ai dám, nhể.

    Tất nhiên nếu Truman chấp nhận chơi với Hồ Chí Minh thì lịch sử Việt Nam sẽ khác, có thể Hồ Chí Minh đã bị CIA giết vì chơi trò hai mang.

    Kịch bản này xác suất xảy ra rất lớn vì mọi tình tiết lịch sử sau này đều cho thấy bác Hồ không hề thật lòng muốn chơi với đế quốc Mỹ mà chỉ muốn lợi dụng Mỹ ngăn không cho Pháp trở lại Việt Nam, bác Hồ cần một mình một chợ độc quyền chính trị để thực hành chủ nghĩa cộng sản mà bác Hồ yêu thích từ lâu.

    Trần Dân Tiên aka Hồ Chí Minh viết:
    “Ông chú ý nhất đến chế độ xã hội của nước Nga. Ở đây mọi người ra sức học tập, nghiên cứu để tiến bộ. Chính phủ thì giúp đỡ khuyến khích nhân dân học tập. Ở đâu cũng thấy trường học. Các nhà máy đều có lớp học, ở đây con em thợ thuyền có thể học nghề... để trở nên kỹ sư... Đây là một chế độ rất hay.
    Trong nông trường tập thể, mọi người làm chung và chia sản phẩm theo công làm của mỗi người. Có một số nông trường tập thể rất giàu mà người ta gọi là nông trường triệu phú. Những nông trường này có trường học sơ cấp và trung cấp, thư viện, nhà chiếu bóng, sân vận động, nhà thương, phòng nghiên cứu nông nghiệp, nơi chữa máy móc... v.v. Những nông trường này đã biến thành những thành phố nhỏ. Những người đau ốm được săn sóc không mất tiền. Đây cũng là một điều ông Nguyễn hết sức phục... Vì ông Nguyễn rất yêu trẻ con nên ông nghiên cứu kỹ vấn đề nhi đồng ở Liên Xô.
    Lúc mới đẻ, mỗi đứa trẻ được giúp tiền may quần áo, được uống sữa lọc trong chín tháng không mất tiền. Mỗi tuần thầy thuốc đến thăm nhiều lần... Những đứa trẻ ngoài chín tháng có thể gửi ở những vườn trẻ, có thầy thuốc chăm sóc... Có thể gửi trẻ vào vườn cho đến tám tuổi. Đến tám tuổi, trẻ em bắt đầu đi học. Học sinh mỗi buổi sáng được một bữa ăn uống không mất tiền. Ngoài trường học thì có đội thiếu nhi chăm sóc các em... Nói tóm lại, cái gì tốt nhất đều để dành cho trẻ em. Nếu nước Nga chưa phải là thiên đường cho tất cả mọi người thì nước Nga đã là thiên đường của trẻ con...”

    Bác Hồ căm ghét đế quốc Mỹ từ lâu rồi, cuối 1945 cạn tình "đồng minh", qua 1946 là thù địch rồi. Chính bác Hồ xin thề "không hợp tác với Pháp" ở quảng trường Ba Đình rồi chính bác Hồ lại phản bội lời thề đó rước Pháp vào bất chấp nhân dân phản đối. Hành động phản bội lời thề của bác Hồ diễn ra ngay sau lá thư gửi Truman cuối tháng 2/1946, vậy mà lại đổ lỗi cho Truman sao ông không chịu chơi với tui thì kể cũng hài. Tại sao tui (Truman) phải chơi với ông, để bị ông dắt mũi à :D
    Bác Hồ chấp nhận ký hiệp ước 6/3/1946 đầy bất lợi vậy tại sao khi Bảo Đại ký hiệp ước Elysée tốt hơn bác Hồ không chúc mừng mà lại nhảy dựng lên chửi bới? Rõ ràng bác Hồ không vì Việt Nam, bác Hồ chỉ vì quyền lực của bác Hồ, kiểu gì bác Hồ cũng phải nắm độc quyền chính trị để thực hành chủ nghĩa cộng sản mà bác Hồ yêu thích từ lâu.

    T.L aka Hồ Chí Minh viết:
    Chính đế quốc Mỹ là kẻ cổ vũ thực dân Pháp phản bội Hiệp định 6-3-1946 và gây chiến tranh xâm lược trở lại; chúng đã thúc đẩy thực dân Pháp thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt". Tháng 8 nǎm 1947, một phái viên của Bộ Ngoại giao Mỹ đến gặp Bảo Đại ở Hương Cảng, lôi kéo tên vua bù nhìn thất thế này, lúc ấy đang lang thang ở những hộp đêm, để chuẩn bị đưa lên ngai vàng mục nát một lần nữa. Tháng 12-1947, tên đó xui giục thực dân Pháp dùng con bài "Bảo Đại". Tên phái viên Mỹ đó tuyên bố: "Nếu Pháp không dùng thì Mỹ sẽ trực tiếp nắm lấy".

    Nói chuyện ngày xưa làm gì...???

    Nói chuyện bây giờ đi:

    Nếu bây giờ Mỹ chịu nghe lời Hồ Chí Minh thì Hồ Chí minh phải nói gì nhỉ...???

    Con, cháu, hay đồng chí của Hồ Chí Minh nói gì vói mỹ đi....!!!!!

    Phọt phẹt, dở người ăn cám lợn...!!!

    Trích dẫn:
    tên blog là Cửu Chỉ Thần Phím, wào, wào cái tên nghe thật kêu, nôm na tiếng Việt là "chín ngón tay thần" nên động trí tò mò vào xem. Uạ, mà sao chỉ có 9 ngón tay thôi à cha nội? Cái thần chỉ còn lại ở nơi mô? Đang tự sướng (với cái "tự do"), hay đang ẩn núp phá hoại?...

    cái kết luận "Tóm lại, 96,69% là tại Mỹ." Wào, wào chính xác như thế này thì ngay cả Mỹ, Anh, Đức, Nhật...cũng giơ tay đầu hàng chịu thua. Tại sao không là 91,19%, 92,29%, 93,39%, 94,49%, 95,59% mà lại đúng boong 96,69% ?

    96,69% là vì đang chơi kiểu 69 rồi đổi chiều thành 96. Với kiểu này thì cái thần chỉ còn lại mắc bận chui hang Pac Bó nên chỉ còn thấy 9 ngón tay thôi (thần chỉ thay cho cái "tự do" vì hang Pac Bó không chấp nhận tự do :D )

    Tranh luận với bác slinkee thật là... hài hước.

    Bác nói: "Phải đặt câu hỏi ngược lại là nếu Hồ Chí Minh chịu nghe lời Mỹ ."

    Tôi hỏi: Mỹ nói gì, khuyên gì vào thời điểm 1945 mà Hồ Chí Minh không nghe?

    Trong bài chính, tác giả có chỉ ra là Hồ Chí Minh có gửi lời của mình nhờ Mỹ giúp đỡ can thiệp. Có nói thì mới có nghe.

    Còn lập luận của bác slinkee: Mỹ không nói gì thì Hồ Chí Minh lấy cái gì để nghe?

    Chứng minh không được thì bắt người ta đọc cả cuốn sách :( Sao không trích luôn đoạn nào mà OSS hay Hoa Kỳ khuyên Hồ Chí Minh xyz gì đó, mà Hồ Chí Minh không nghe đi. Đơn giản mà?

    Admin viết:

    Bác slinkee, Mỹ - cụ thể là OSS - khuyên Hồ Chí Minh điều gì, bác thử nói cụ thể ra đây cho bà con thưởng thức xem? Nhớ dẫn chứng cho nó tôn trọng lịch sử một chút, đừng chứng tỏ rằng mình cũng giống cộng sản, ăn không nói có, ghét thì nói cho chết.[

    Tôi đọc còm của độc giả slinkee chỉ thấy viết là "OSS, tiền thân của CIA . . . khuyên Pháp từ bỏ các thuộc địa của mình, trong đó có Việt Nam" và "nhảy dù xuống Việt Bắc để đào tạo cho lính ông Giáp" thì tôi thấy không có gì sai.

    Trong bài chủ nầy, tác giả viết theo quan điểm của tác giả là "Nếu Mỹ chịu nghe lời Hồ Chí Minh..." thì độc giả slinkee cũng viết theo quan điểm của độc giả ấy là "Phải đặt câu hỏi ngược lại là nếu Hồ Chí Minh chịu nghe lời Mỹ"!

    Tôi đọc phần "Dân Luận bổ sung tài liệu tham khảo: Chính sách của Hoa Kỳ về cuộc xung đột, 1947-1949", có lẽ là trích từ "Bí Mật Ngũ Giác Đài Phần I - Hoa Kỳ và Việt Nam 1940 - 1950" của dịch giả Nguyễn Quốc Sĩ. Phần quan trọng có lẽ là:

    " Nguồn tin của Bộ [Ngoại Giao Mỹ] cho thấy rằng Hồ Chí Minh là Cộng sản. Lý lịch lâu năm và nổi tiếng của ông ta trong Quốc Tế Cộng Sản trong những năm hai mươi và ba mươi, liên tục được tờ báo Nhân Đạo của đảng Cộng sản Pháp hỗ trợ từ năm 1945, lời khen ngợi mà đài phát thanh Moscow dành cho ông (sáu tháng qua đã được dành cho sự quan tâm ngày càng tăng về Đông Dương) và thực tế ông đã được gọi là “người cộng sản hàng đầu“ trong những ấn phẩm gần đây của Nga cũng như tờ “Lao Động Hàng Ngày” đã làm cho bất kỳ kết luận nào khác xuất hiện như một điều ước mơ."

    Tuy nhiên, dù Mỹ biết ông Hồ Chí Minh là cộng sản nhưng "không có bằng chứng nào về sự gắn kết trực tiếp giữa Hồ và Moscow".

    Phần quan trọng kế tiếp là sau WW II (Thế chiến II), Mỹ bận lo tái thiết ở Châu Âu và lo chống sự bành trướng của cộng sản nên xem việc ở Đông Dương là thứ yếu và để cho Pháp lo liệu nhưng khuyên Pháp là nên tìm cách chấm dứt chính sách thuộc địa:

    Hơn nữa, trong năm 1946 và 1947, Pháp và Anh đang hướng tới một liên minh chống Liên Xô ở Âu Châu, và Mỹ rất ngần ngại đưa ra một chính sách có tiềm năng gây chia rẽ. So với việc [lo] phục hồi Âu Châu và [lo] thoát khỏi sự thống trị của cộng sản, Hoa Kỳ đã xem số phận của Việt Nam tương đối không đáng kể. Hơn nữa, tranh chấp trong năm 1946 và trong cả năm 1945 trên thuộc địa Hà Lan ở Indonesia đã tạo nên một tiền lệ: Mỹ đã hành xử một cách thận trọng, và chỉ sau khi những trì hoãn lâu dài, đã quốc tế hóa cuộc xung đột. Những đầu tư mạnh mẽ của Mỹ và Anh ở Indonesia, hơn nữa, là cơ sở chung để can thiệp. [Nhưng] không có cơ sở hợp lý hoặc chung để can thiệp vào Đông Dương, kể từ khi Đông Dương là một khu vực kinh tế chỉ dành riêng cho Pháp và là một bãi lầy chính trị mà Vương quốc Anh rõ ràng là quan tâm trong việc tránh nó.".

    Lại chử "nếu"!!!!!. Tớ chỉ đọc cái tựa là đã không muốn vào xem, nhưng thấy tên blog là Cửu Chỉ Thần Phím, wào, wào cái tên nghe thật kêu, nôm na tiếng Việt là "chín ngón tay thần" nên động trí tò mò vào xem. Uạ, mà sao chỉ có 9 ngón tay thôi à cha nội? Cái thần chỉ còn lại ở nơi mô? Đang tự sướng (với cái "tự do"), hay đang ẩn núp phá hoại? Mà cái tên người viết tự đặt cũng hay là "like no other" tức là không giống ai cả. Nếu tự đặt "like all others" tức là giống mọi ngưới thì có nguy cơ chúng xúm vào đánh bỏ mẹ vì cái tội méo mó, chỉ có 9 ngón mà nói giống người có 10 ngón.

    Bài dài quá nên tớ không đủ kiên nhẫn lẫn trình độ (tớ chỉ mới học qua lớp 3 trường làng) đọc hết nên chỉ đọc cái kết luận "Tóm lại, 96,69% là tại Mỹ." Wào, wào chính xác như thế này thì ngay cả Mỹ, Anh, Đức, Nhật...cũng giơ tay đầu hàng chịu thua. Tại sao không là 91,19%, 92,29%, 93,39%, 94,49%, 95,59% mà lại đúng boong 96,69% ? Wào, với cái xác xuất chính xác như thế thì sau này Việt Nam có mất vào tay Tàu thì đó là 98,899889% lỗi của Mỹ nhé. Mỹ đừng hòng mà tránh 0,00001% tội nhé.

    Thấy tác giả bỏ công ra viết một bài dài như thế nên tớ cũng còm vài câu cho chú nó vui. Nếu ngày xưa anh ba Tất Thành không đi tìm đường hại nước, hay được nhận vào trường Thuộc Địa, nếu anh ba phụ bếp trên tàu đi Pháp bị sóng đánh văng xuống biển, nếu đồng chí Lý Thụy aka Nguyễn Ái Quốc chết trong tù Hương Cảng hay chết dấm dúi nơi nào đó, nếu cụ Trần Trọng Kim nghe lời toàn quyền Nhật đi tóm cổ cả đám CS, nếu trong trận Điện Biên Phủ trên không, Mỹ thả bom ngay trên đầu đám Ba Đình...(nếu, nếu, nếu và cả ngàn cái nếu) thì nước Việt đúng là có hồng phúc 1000 đời và cái chử nếu này sẽ chẳng bao giờ được nhắc đến.

    Tớ chỉ trích ra 2 đoạn trong cả 1 bài dài . Bác muốn biết 2 đoạn đó liên hệ với nhau như thế nào thì nên đọc cả bài, hoặc nhờ người nào đó dịch cả bài cho bà con biết rõ . Từ bi giờ tới hết tháng 12, tớ không có thời giờ rảnh để dịch hết bài đó .

    Còn chuyện Mỹ khuyên Bác Hồ vĩ đại cái gì, tớ chỉ biết Mỹ khẳng định Bác Hồ vĩ đại là cộng sản thứ thiệt, kiên định không gì lay chuyển nổi sau vụ OSS. Thật ra đã có hints rồi, nhưng có lẽ bị overlooked. Chuyện sĩ quan OSS có khuyên Bác Hồ vĩ đại rằng Cộng Sản là xấu không ? Hồi ký của một số sĩ quan trong The Deer Team có phớt qua, và khó có thể tin được là không. Chưa kể từ 2/9/45 cho tới cuộc họp điều đình với Pháp bị hỏng và Pháp quyết định trở lại Việt Nam, Bác Hồ vĩ đại đã hơn 1 lần gặp bí mật lẫn chính thức 1 số nhân vật cả chính trị lẫn quân sự của Mỹ . Một số tài liệu thoáng qua cho thấy Truman có được hỏi về vấn đề này từ những người được/bị gặp Bác Hồ vĩ đại, và ra điều kiện Bác Hồ rời bỏ lý tưởng Cộng Sản cao quý của mình. Nhưng Bác Hồ vẫn kiên định lý tưởng của mình, tức là thà đẩy VN vào cuộc chiến tranh đẫm máu (rất không cần thiết) chứ không bao giờ Bác Hồ vĩ đại từ bỏ lý tưởng Cộng Sản cao quý .

    Tranh luận với Admin, tớ có kinh nghiệm . Tớ ngừng ở đây .

    Claude G. Berube, viết: "As U.S. Army Major Allison Thomas sat down to dinner with Ho Chi Minh and General Vo Nguyen Giap on September 15, 1945, he had one vexing question on his mind. Ho had secured power a few weeks earlier, and Thomas was preparing to leave Hanoi the next day and return stateside, his mission complete. He and a small team of Americans had been in French Indochina with Ho and Giap for two months, as part of an Office of Strategic Services (OSS) mission to train Viet Minh guerrillas and gather intelligence to use against the Japanese in the waning days of World War II. But now, after Ho's declaration of independence and Japan's surrender the previous month, the war in the Pacific was over. So was the OSS mission in Indochina. At this last dinner with his gracious hosts, Thomas decided to get right to the heart of it. So many of the reports he had filed with the OSS touched on Ho's ambiguous allegiances and intents, and Thomas had had enough. He asked Ho point-blank: Was he a Communist? Ho replied: "Yes. But we can still be friends, can't we?"

    Claude G. Berube, sinh năm 1966, có nghĩa Claude không thể có mặt trong bữa ăn tối 15/9/1945, nên Claude phải lấy từ nguồn gốc nào, nhưng không dẫn.

    Muốn tìm sự thật, phải luôn tìm đọc nguồn gốc khả tín (reliable primary sources), không ai đi tìm đọc nguồn thứ cấp (secondary sources), nhất là khi nguồn thứ cấp ấy lại không trích sự kiện kiểm chứng được (verifiable facts) từ nguồn gốc khả tín nào như trong bài viết http://www.historynet.com/ho-chi-minh-and-the-oss.htm

    Bác vẫn chưa trả lời vào câu hỏi của tôi: OSS hay Hoa Kỳ khuyên ông Hồ Chí Minh cái gì mà bảo ông ấy không nghe lời? OSS hỏi ông Hồ rằng ông có phải cộng sản không, ông ấy trả lời: Có, nhưng chúng ta vẫn có thể là bạn, phải không? Vậy thì sao? OSS sau đó có khuyên ông Hồ đừng làm cộng sản nữa không hở bác?

    Bài bác trích dẫn ý sau đá ý trước. Ngay ý trước ông Hồ khẳng định ông ấy là Cộng Sản, ý sau lại nói OSS bị lừa, không phát hiện ra Hồ Chí Minh là cộng sản???

    Trên thực tế, nếu đọc tài liệu Bí Mật Lầu Năm Góc phần I, bác slinkee sẽ thấy rằng tình báo Mỹ biết rõ Hồ Chí Minh có liên hệ với Moscow nhưng không thấy có chứng cứ nào (tại thời điểm 1945-46) cho thấy Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của Moscow (thời điểm sau này khi Mỹ từ chối giúp đỡ thì khác nhé!).

    slinkee viết:
    "At this last dinner with his gracious hosts, Thomas decided to get right to the heart of it. So many of the reports he had filed with the OSS touched on Ho's ambiguous allegiances and intents, and Thomas had had enough. He asked Ho point-blank: Was he a Communist? Ho replied: "Yes. But we can still be friends, can't we?"

    http://www.historynet.com/ho-chi-minh-and-the-oss.htm

    "Was America, through the OSS, responsible for the rise of Ho Chi Minh and his subsequent war against the United States? No, but neither was it completely free of such responsibility. Ho manipulated the inexperienced leader of the Deer Team as well as U.S. diplomatic officials in Kunming to serve his unstated needs. Having a personal photo of Chennault or having OSS agents stand by his side demonstrated his international standing among the Vietnamese. Also, the failure to identify Ho Chi Minh as Soviet-trained and a Communist ideologue was a major American intelligence shortcoming that smoothed the way for Ho's emergence as a national leader and in the end, an enemy of the United States."

    "In later interviews Patti explained that his mission in Vietnam was to establish an intelligence network but not to assist the French in any way as they attempted to re-gain control over their former colony, a policy choice he believed to be linked to U.S. President Franklin D. Roosevelt's belief in the self-determination of all peoples."

    Bác Hồ vĩ đại đã lợi dụng Mỹ muốn đưa lại độc lập cho các nước thuộc địa cũ cho mục đích cộng sản của mình, chứ thật sự không muốn ngả theo phía tư bản .

    Pages