Trò chuyện với Nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn: Cứ kiên trì, rồi mùa hoa trái sẽ tới!

  • Bởi Admin
    04/11/2014
    12 phản hồi

    Sau khi kinh tế xã hội rơi vào vòng khó khăn, chúng ta cần nhìn lại để biết đâu là “gót chân Achilles” của chính mình. Sự phát triển và trưởng thành của một dân tộc luôn từ những cuộc tự vấn. Qua câu chuyện với nhà báo Lê Ngọc Sơn, nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn có những tâm sự đầu năm với các bạn sinh viên, theo ông, có nhìn lại bản thân mình thì mới sinh tồn được qua những khó khăn phía trước.

    CHUYỆN “HẠ TẦNG KIẾN THỨC”

    Lê Ngọc Sơn: Thưa ông, vì sao ông đi dịch những cuốn sách triết học đồ sộ và kinh điển của thế giới?!

    Bùi Văn Nam Sơn: Thực ra tôi già rồi, thời gian của tôi không còn nhiều nữa, tôi chỉ cố gắng làm cái gì trong khả năng của tôi thôi. Tôi tự đặt ra cho mình nhiệm vụ chính bây giờ là dịch một số các tác phẩm kinh điển sang tiếng Việt. Vì lẽ, thứ nhất, những quyển sách dạng này khô khan chẳng ai thèm dịch; thứ hai, nếu không dịch những quyển này thì không biết bao giờ người ta mới dịch… trong khi đó là những nền tảng cho các anh em trong chuyên ngành. Nhìn vào thư viện của Việt Nam mình, chưa thấy có mấy sách kinh điển của nhân loại, tôi thấy buồn lắm. Thành thực mà nói, không thể đòi một bạn sinh viên đọc tiếng Anh hay các ngoại ngữ khác vèo vèo như đọc tiếng Việt được. Vả lại, quả là không công bằng! Một người cùng trang lứa với các bạn sinh viên của ta, như những sinh viên ở Pháp, Mỹ, Đức, Nhật… thì họ dùng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, họ đỡ vất vả hơn nhiều lắm. Bây giờ đòi hỏi những bạn cử nhân mới 23 tuổi ngồi đọc một cuốn sách kinh điển dày cộp bằng tiếng Anh, thậm chí bằng tiếng Đức… làm sao mà đọc nổi… Đâu phải sinh viên Mỹ nào cũng đọc được tiếng Đức, hay sinh viên Pháp nào cũng đọc được tiếng Anh thông thạo… Thế mà họ vẫn thành công, vì họ sử dụng các bản dịch có chất lượng, và các công trình nghiên cứu của họ vẫn đạt được trình độ quốc tế.

    Ở Việt Nam, ít ai làm việc dịch thuật, thế nên gánh nặng đè lên vai những anh em trẻ. Lứa tuổi 18-25 phải gánh cả một gánh nặng, vừa học kiến thức, vừa học ngoại ngữ. Do trở ngại về ngôn ngữ, mình khó có thể nắm vững vấn đề và tra cứu đến nơi đến chốn. Điều đó không phải lỗi của thế hệ trẻ, đó là lỗi của thế hệ đi trước, như chúng tôi, không kịp chuẩn bị tư liệu nền cho các bạn. Thật là quá cực, quá tội cho các bạn! Còn việc chúng ta phải nỗ lực học ngoại ngữ lại là chuyện khác! Khi tiếng Anh đã trở thành một lingua franca trong khoa học, việc đọc, viết, nói thành thạo tiếng Anh trong các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật là một yêu cầu hiển nhiên. Trong các ngành khoa học xã hội-nhân văn, còn cần thêm nhiều ngoại ngữ lẫn cổ ngữ khác nữa, nhưng vấn đề nói ở đây là không thể đòi hỏi những gì bất khả thi và quá sức…

    Lê Ngọc Sơn:Thời sinh viên của ông ắt hẳn thấm thía nỗi vất vả này lắm?

    Bùi Văn Nam Sơn: Đúng. Thời sinh viên, tôi cũng đã rất “đau khổ” vì thiếu sách tiếng Việt. Năm 21 tuổi, tôi sang Đức học, sau khi học xong cử nhân ngành Triết ở Sài Gòn, lúc đó tự thấy vốn liếng chữ nghĩa cũng kha khá rồi... Khi sang đó thì từ bậc cử nhân cho đến tiến sĩ, từ người mới vào trường đến người sắp ra trường đều có thể học chung một lớp. Lớp của tôi có mấy ông bạn người Nhật Bản, người Hàn Quốc… Lúc đó các bạn Hàn Quốc cũng khổ sở, vật vã như mình, vì nước họ có rất ít những bản dịch ra tiếng Hàn, và cũng như tôi, chưa thể đọc tiếng Đức thành thạo được. Trong khi đó mấy chàng Nhật Bản còn trẻ măng, mới 19 tuổi, vừa học xong tú tài, lại tỏ ra am hiểu và tự tin lắm! Tôi kinh ngạc, thì các bạn ấy mới mở túi cho xem một đống sách toàn tiếng Nhật: những bản dịch Hegel, Kant, Heidegger…, sách tham khảo, từ điển. Mình mất cả năm vật lộn với một cuốn sách, họ chỉ cần vài tháng là đọc xong. Thời gian mình đầu tư cho chuyện đọc đã quá mất sức rồi, làm sao có thể suy nghĩ hay tìm tòi thêm được cái gì mới nữa. Khoảng cách về điều kiện nghiên cứu giữa mình với người Nhật thật rõ rệt!

    Riêng trong lĩnh vực triết học, sách vở mênh mông, còn số dịch giả thì đếm trên đầu ngón tay… Lẽ ra cần cả một thế hệ chuẩn bị nền móng, cho các bạn trẻ sau này đỡ cực hơn. Tất nhiên, ý nghĩa của việc dịch thuật không phải chỉ có thế. Nó còn góp phần xây dựng ngôn ngữ khoa học cho một đất nước, đem ánh sáng khai minh đến cho số đông để cải hóa xã hội, như nhiều bài viết mới đây của quý Thầy Nguyễn Xuân Xanh, Nguyễn Văn Tuấn, Trần Văn Thọ… đã nhấn mạnh.

    Lê Ngọc Sơn: Vậy cho đến nay, so với các nước trong khu vực, chúng ta đang thế nào, thưa ông?

    Bùi Văn Nam Sơn: Cách đây chừng 5-7 năm, chính ông bạn người Hàn Quốc ngày xưa học chung với tôi, về dạy ở Đại học Seoul, viết thư kể cho tôi nghe: ông và thế hệ trước đó, từ những năm 1970 trở đi đã bắt tay vào dịch sách vở cho Hàn Quốc. Hầu hết những tác phẩm kinh điển quan trọng từ tiếng Đức đã được dịch sang tiếng Hàn, hết toàn tập này đến toàn tập khác, mà mỗi toàn tập của một tác giả thì có đến 40-50 tập. Tôi rất kinh ngạc về sức làm việc của họ. 40 năm thôi, nhưng với trách nhiệm với đất nước và đàn em, họ quyết tâm làm được việc lớn như thế. Vậy thì ngày hôm nay, làm sao sinh viên của ta có thể “đấu” lại được một sinh viên Hàn Quốc, trong khi cách đây 40 năm, anh sinh viên này cũng vất vả y như mình. Khoảng cách đó thật khủng khiếp!

    Việc học hành nghiêm chỉnh, tiếp thu có hệ thống đã là thách đố ghê gớm, và cái đó cần nhiều thế hệ mới vượt qua được, ít nhất cũng là 30-40 năm như Hàn Quốc. Chúng ta đừng vội nói gì cao xa, sách vở đàng hoàng là nền móng cơ bản nhất của nền học vấn và của nền đại học.

    Lê Ngọc Sơn:Vì sao chúng ta không làm được như những nước ở gần mình như Nhật, như Hàn? Và ông có thấy được cuộc đua tranh trên thế giới về mặt tri thức đang diễn ra rất quyết liệt?

    Bùi Văn Nam Sơn: Chúng ta thiếu tính tổ chức, thiếu khả năng làm việc tập thể và một kế hoạch trường kì của cả một tầng lớp, của cả một thế hệ. Mỗi thế hệ phải thấy trách nhiệm lịch sử của mình, thấy tình trạng khách quan đặt ra cho mình gánh nặng nào, và họ phải giải quyết một cách thông minh nhất, ít tốn sức nhất, với sự bền bỉ và quyết tâm. Thế hệ sau thừa hưởng và nối tiếp thành quả của những người đi trước, thì nền học thuật cứ thế đi lên thôi.

    Tôi được cho biết rằng ở Nhật, những tạp chí khoa học chuyên ngành trên thế giới hầu như lập tức được dịch sang tiếng Nhật, vì họ có nhu cầu cạnh tranh. Nếu không theo kịp thông tin mới, làm sao có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, làm sao bắt kịp trình độ quốc tế để đi dự hội thảo khoa học?

    Trở lại tình cảnh của ta, cơ sở hạ tầng về kiến thức là phần rất chểnh mảng. Cái cơ bản nhất thì lại bị xem nhẹ… Bây giờ cứ hô hào sinh viên sáng tạo đi, có công trình đột phá đi, hãy phản biện đi… Nhưng phải biết người ta đã viết gì, nghĩ gì, ta mới phản biện và có ý kiến riêng được chứ!

    SỬA SOẠN TINH THẦN, CHUẨN BỊ YÊN CƯƠNG

    Lê Ngọc Sơn:Trong quan niệm của ông, một bạn sinh viên phải thế nào?

    Bùi Văn Nam Sơn: Theo tôi, thời gian được học đại học là quãng thời gian đẹp nhất, quý nhất của một đời người. Khi ta đang ở trong quãng thời gian đó, thường không thấy quý đâu, nhưng sau này nhìn lại mới thấy đây là thời gian quý nhất, “sướng” nhất. Được trở thành sinh viên là một bước ngoặt. Chữ “sinh viên” khác về chất với chữ “học sinh”. Ngay bản thân chữ “sinh viên” đã cho thấy sự khác biệt ấy: Sinh viên trong tiếng Anh và tiếng Đức là “student”, trong tiếng Pháp là “étudiant”, liên quan đến 3 động từ: to study, studieren, étudier ít nhiều đều mang hàm nghĩa là “nghiên cứu”. Sinh viên là phải nghiên cứu, chứ không chỉ thụ động tiếp thu kiến thức... Trong tiếng Việt, “sinh viên” có chữ “viên”, nghĩa là đã có một vị trí nào đó... Do vậy, cần ý thức được điều này để cả người dạy lẫn người học ở bậc đại học nhận thức được trách nhiệm của chính mình. Dạy và học ở đại học không chỉ là truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà chủ yếu là gợi hứng cho nghiên cứu.

    Ngay cả ở trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông cũng có vấn đề. Những năm 1970 về trước, mang tấm bằng tú tài của Việt Nam sang Tây Âu là được chấp nhận hầu như tương đương, còn những bằng tú tài của Thái Lan, Malaysia, Indonesia… thì buộc phải học lại một năm, tức chỉ bằng đầu lớp 12 bên đó. Bây giờ thì như thế nào? Chúng ta phải nghiêm túc tự vấn về mình...

    Lê Ngọc Sơn: Ở các nước phát triển, khoa học trú ngụ ở đại học, tại sao ở các đại học ở ta thì chưa thấy gì, thưa ông?

    Bùi Văn Nam Sơn: Theo tôi là do không phân biệt rạch ròi giữa đại học và trung học. Trường đại học dứt khoát không phải là trường phổ thông cấp 4. Nó khác về chất trong hệ thống giáo dục quốc gia. Đại học cũng không phải là trường dạy nghề, trường dạy nghề lẽ ra cần có một hệ thồng khác, cũng cao cấp và sáng giá không kém gì đại học. Ở Đức, sau khi đỗ tú tài, ta có hai con đường để lựa chọn, một là các trường kỹ thuật, trường dạy nghề chuyên nghiệp dành riêng cho những kỹ sư thực hành, rất hay và thiết thực, ra trường dễ kiếm việc làm và lương cao. Hoặc hướng thứ hai là nghiên cứu: cũng có thể là khoa học-kỹ thuật nhưng nặng về lý thuyết. Do có hai hướng rõ ràng như vậy, dựa vào việc phân định khách quan về nhiệm vụ, nên khi vào đâu, ta sẽ biết làm cái gì, biết rõ tính chất của trường mình. Việc “liên thông” giữa hai loại trường này lại là chuyện khác nữa!

    Do đó, đại học đương nhiên mang tính chất nghiên cứu, dù ở năm thứ nhất cũng là nghiên cứu, ở bậc tiến sĩ, hay sau tiến sĩ cũng là nghiên cứu. Từ sinh viên đến giáo sư đều làm nghiên cứu. Không khí của đại học là nghiên cứu. Thành ra, cái mà ta đang nhầm lẫn ở đây là nhẫm lẫn tính chất của đại học, dẫn đến hệ quả rất trầm trọng là biến đại học thành trường dạy nghề, và biến trường dạy nghề thành ra cái gì đó rất là yếu kém và yếu thế. Đã đi học để nghiên cứu thì phải toát ra tinh thần nghiên cứu, tức là toàn bộ giáo sư và sinh viên là một cộng đồng nghiên cứu, người đi trước hướng dẫn, dìu dắt người đi sau, không ngừng hình thành những chuyên ngành mới, những trường phái mới… Nghiên cứu có nhiều cấp độ, cấp thấp/ cấp cao, dễ/ khó… Cũng tránh hướng suy nghĩ rằng, nghiên cứu là cái gì đó cao xa lắm, thực ra đâu phải vậy: ngay năm thứ nhất, bạn cũng đã phải có tư duy nghiên cứu rồi, tự tìm tòi phương hướng và phương tiện nghiên cứu của mình với sự giúp đỡ của người đi trước.

    Vì thế, hình thức Sêmina ngày càng chiếm ưu thế. Sêmina là lao động tập thể của sinh viên lẫn giáo sư, của thầy và trò, cùng nhau tìm tòi tài liệu, tổng kết, nhận định, đánh giá những gì đã có, đó là những hình thức ban đầu của nghiên cứu ngay từ năm thứ nhất.

    Lê Ngọc Sơn: Theo ông, sinh viên phải chuẩn bị những gì cho một tương lai đầy thử thách trước mặt?

    Bùi Văn Nam Sơn: Người Pháp có câu ngạn ngữ: “muốn đi xa phải chăm sóc yên cương” (“Qui veut aller loin, ménage sa monture”/Racine), nghĩa là, phải biết dưỡng sức và chuẩn bị phương tiện. Đi mười dặm thì đơn giản, nhưng đi trăm dặm, nghìn dặm, vạn dặm… thì lại khác. Công việc học cũng vậy thôi, nếu chỉ nghĩ lấy cái bằng ra để kiếm việc làm, nuôi sống bản thân thì khá đơn giản, nhưng nếu muốn tiến xa trong chuyên ngành của mình thì phải chuẩn bị cho 30, 40 năm sau về cả ý thức lẫn sức lực.

    Chắc bạn biết rằng trên 30 tuổi rất khó học ngoại ngữ, do nguyên nhân sinh lý thôi, trên 30 tuổi thì các nơ-ron thần kinh già đi, giảm thiểu khả năng tiếp thu. Vậy thì phải luyện rèn ngoại ngữ trước 30 tuổi. Người làm nghiên cứu cần trang bị cho mình nhiều ngoại ngữ. Đối với các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, cần phải có hai ngoại ngữ thông dụng. Đối với người làm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội-nhân văn, thì càng nhiều càng tốt, cả cổ ngữ nữa. Đó là vốn liếng tối thiểu để nghiên cứu.

    Lê Ngọc Sơn: Cần tạo cảm hứng ham hiểu biết của anh chị em sinh viên như thế nào, thưa ông?

    Bùi Văn Nam Sơn: Theo quan sát của tôi, hiện nay, anh chị em sinh viên đang chịu nhiều áp lực thi cử quá mức. Cần tạo một khoảng hở để anh chị em sinh viên vui chơi, và có… chơi nhiều thì mới thấy việc học là thú vị, không học thì tiếc, và thế là lao vào học. Học trong sự say mê. Hãy tạo không gian tự do để anh chị em cảm thấy hứng thú nghiên cứu, chứ suốt ngày bị áp lực thi cử, hay sợ tương lai của mình phụ thuộc vào thi cử…thì những việc đó làm hao tổn năng lượng của anh em trẻ một cách quá đáng! Thể lực và thể thao đại học cũng là hiện tượng rất đáng lo ngại, chưa nói đến những hình thức tiêu cực phản giáo dục…

    Lê Ngọc Sơn: Chúng ta nên bắt đầu lại thế nào để xây dựng lại tinh thần đại học một cách tử tế?

    Bùi Văn Nam Sơn: Hình như ta đang có cao vọng là phấn đấu đứng vào hàng ngũ những đại học tiên tiến trên thế giới. Tôi nghĩ là khó vô cùng! Với những gì hiện có, tôi e chuyện đó là ảo tưởng. Nhiều thập kỷ nữa chưa chắc mình đã vào được hàng ngũ những đại học trung bình ở khu vực, chứ đừng nói đại học đẳng cấp quốc tế. Và để có cơ may làm được điều đó thì việc trước tiên là phải thay đổi tính chất của đại học hiện nay.

    Điều đáng lo là chúng ta không lo những chuyện bình thường, coi nhẹ những chuyện bình thường. Chuyện lẽ ra ai cũng phải làm, nước nào cũng phải làm thì mình lại xem thường, mình chỉ muốn làm những gì khác thường, phi thường. Làm sao làm những chuyện khác thường, phi thường khi cái bình thường, ta chưa làm được? Hãy là cái gì bình thường trước đã. Những đại học, học viện trên thế giới người ta là cái gì thì mình là đúng cái đó đi đã: đầu tư cho sách vở đầy đủ, đầu tư cho con người, không gian học thuật, v.v...

    ĐI XA CẦN CÓ BẠN ĐƯỜNG VÀ TẬP HIỂU NHỮNG ĐIỀU KHÁC BIỆT

    Lê Ngọc Sơn: Như vậy, sẽ phải bình tĩnh để nhìn lại năng lực tự thân và hướng đi của mình?

    Bùi Văn Nam Sơn: Vâng. Một nền giáo dục lạc hậu thì đuổi mãi chắc rồi cũng bắt kịp, nhưng lạc hướng thì chịu thua. Chúng ta thường mong làm những điều phi thường, nhưng đôi khi thực chất nó lại là nghịch thường. Những cách làm của mình hiện nay là trái với bình thường, không giống ai và không có ai làm như thế cả. Trên thế giới, nền giáo dục quốc gia được định hình tư lâu lắm rồi. Những định chế khoa học cũng đã định hình từ xa xưa với hơn 700 năm kinh nghiệm. Họ làm gì, ta làm nấy cho giống đại học cái đã, rồi phát triển dần lên.

    Lê Ngọc Sơn: Phía trước là cả chặng đường dài, theo ông, các bạn sinh viên nên làm gì?

    Bùi Văn Nam Sơn: Theo tôi các bạn trẻ cần hình thành ý thức tự học và xác định tinh thần đi xa phải có bạn đường. Thứ nhất,sinh viên cần có tinh thần tự học trọn đời, nghiên cứu trọn đời. Ngay cả khi đã “bỏ nghề”, nhưng nếu còn tha thiết với nó, ta vẫn tìm sách mà đọc, cố gắng hết sức trong thời gian eo hẹp để làm giàu tri thức cho mình, nâng chất lượng cuộc sống mình lên. Đó là tinh thần tự học. Thứ hai, đã có tinh thần tự học, thì hoàn cảnh nào đi nữa vẫn có thể tham gia làm việc từng nhóm với nhau. Bạn có thể sinh hoạt với nhau trong một nhóm bạn hữu tâm giao, có thể theo đuổi một công việc tình nguyện, không ăn lương, thậm chí không dính đến bộ máy hay tổ chức nào cả. Chúng ta cần những nhóm người nhiệt huyết, không lệ thuộc vào đồng lương nhà nước, cơ quan… Cái có sức sống nhất chính là những nhóm nghiên cứu độc lập, tự nguyện, vô vị lợi, chủ yếu là vì lòng say mê, tình tri kỉ… được hình thành ngay thời sinh viên. Cho nên tình bạn trong đại học không chỉ là vui chơi, chính tình bạn có tính tự nguyện này là mầm mống cho những hoạt động khoa học bền bỉ. Trong lịch sử khoa học, có những nhóm nghiên cứu kết bạn với nhau từ hồi sinh viên cực kì khăng khít, đã tạo ra những công trình phi thường.

    Lê Ngọc Sơn: Theo ông, làm sao để người trẻ kiên trì trên con đường nghiên cứu?

    Bùi Văn Nam Sơn: Đã là sinh viên đúng nghĩa thì ta phải ham chuyên môn của mình ngay từ khi bước chân vào trường đại học. Bước vào giảng đường, thư viện hay phòng thí nghiệm, ta cảm thấy linh thiêng, hào hứng, thì mới có hi vọng thành tựu. Ít ra là cũng ham đọc sách, chứ cầm cuốn sách mà đọc vài trang là lăn ra ngủ thì không thể nào đi xa được đâu. Phải mê sách vở, mê nghiên cứu, mê chữ nghĩa,... thì mới có triển vọng. Dần dần thành thói quen, trong đó có thói quen tập đọc, tập chịu đựng: cái khó nhất trong học tập, nghiên cứu là chịu đọc những cái mà mình không thích. Đọc một cách nghiêm chỉnh, không thành kiến những gì không giống mình. Nghiên cứu là để hiểu vấn đề và hiểu người khác một cách nghiêm chỉnh, trung thực. Đừng vì ghét quan điểm của tác giả nào đó, rồi chưa đọc kỹ về họ đã bác bỏ hay xuyên tạc họ. Cố tình hạ thấp họ để nghĩ mình thắng họ, thì thực chất họ cũng chẳng thấp hơn được. Phải hiểu một cách chân thực, phản bác họ bằng luận cứ. Và để làm được điều đó thì, như đã nói, phải chịu khó đọc những cái mình không thích, học những môn mình không ưa. Tập thói quen này khó lắm đó, nhưng hoàn toàn có thể làm được.

    Dù có nhiều khó khăn đón chờ phía trước, nhưng xin hãy cứ kiên trì, rồi mùa hoa trái sẽ tới!

    Xin cảm ơn ông!

    Lê Ngọc Sơn (Thực hiện)

    Rải băng: Tạ Thương

    (Bài đăng trên báo SVVN số Xuân Quý Tỵ 2013)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    12 phản hồi

    Phản hồi: 

    Trả lời bác Tuấn 33344 từng điểm một :

    1) Định nghĩa "triết gia(nhân)", "triết học gia" (nhà triết học) không phải tôi tự đặt ra mà tôi lấy trong cuốn Hán Việt Từ điển của cụ Đào Duy Anh. Ngoài chữ Hán cụ Đào còn chua tiếng Pháp tuy cùng một chữ "Philosophe" (philosopher). Bởi vậy tôi mới nói tiếng Việt giầu hơn tiếng Tây phương về danh xưng (hão).

    2) Những người như ông BVNS chuyên "nghiên cứu di sản triết học sẵn có" thì tiếng Pháp gọi theo di sản ấy: Chẳng hạn như người chuyên nghiên cứu Phénomenologie (Hiện tượng luận) thì gọi là phénomenologue (nhà Hiện tượng luận học). Ông BVNS chuyên nghiên cứu triết lý Kant thì được gọi là "le kantien BVNS" v.v...

    3) Như tôi đã nói: mục đích của khoa học là khám phá và người làm khoa học phải chứng minh sự khám phá của mình, tức là phải chứng minh được công trình của mình trước một cơ quan có thẩm quyền (một tạp chí khoa học có uy tín) thì công trình của mình mới có giá trị. Trái lại một suy nghĩ triết lý là một sáng tác tự trong đầu óc mình, không một quyền hành nào có thể phê duyệt định đoạt giá trị của nó được và cũng không cần phải có bằng tiến sĩ mới có quyền suy nghĩ sáng tác. Bởi vậy một "thí sinh" triết gia là một người tự công bố một công trình, một sáng tác của mình được cho là mới mẻ trong lãnh vực tư duy hệt như một người viết văn. Được tôn là một triết gia hay là một nhà văn là tùy sự đánh giá của công luận. Trong số các triết gia của Pháp có người chỉ là kỹ sư hàng hải trở thành giáo sư triết lý danh tiếng ở Mỹ và có người như Michel Onfray chỉ có bằng cao học Triết. Đó cũng là lí do vì sao những triết gia được giải thưởng Nobel lại lãnh giải dưới hình thức Nobel văn chương. Tôi cũng xin nói thêm là Hội Triết học Pháp (Société française de Philosophie) ra đời từ năm 1901, nơi hội họp của những nhà khoa học, những triết gia danh tiếng nhất thế giới như Einstein, Bergson, Husserl... mà chỉ tụ tập được 350 nhà triết học so với 11 ngàn nhà triết học Mỹ như bác Tuấn kể thì cái hội của Pháp chả là cái gì cả; Tại sao vậy? tại vì người Pháp không muốn bị gò bó trong lãnh vực tư tưởng. Nên nhớ là ở Pháp không có Hội Nhà Văn và mỗi năm xuất bản hơn 700 cuốn chuyện.

    Phản hồi: 

    Thấy bạn Phong Uyên nêu định nghĩa rạch ròi giữa "nhà triết học" và "triết gia", thấy buồn cười quá! Đến chuyện chữ nghĩa mà chưa thông thế này mà bàn đến Triết thì lấy gì mà bàn đây?

    Phản hồi: 

    Tôi xin bổ sung điều này:

    Bác Phong Uyên, tôi hiểu tại sao bác phân biệt ra học giả chỉ nghiên cứu về triết học và "triết gia", đấy là chuyện hiển nhiên, nhưng cách dùng từ ngữ nhà triết học và triết gia để minh định sự khác biệt ấy có cái gì không được suôn sẻ, vì như bác biết, người ta có thể gọi Archimedes là nhà toán học, mặc dù ông ta không phải chỉ là người nghiên cứu lại toán của người khác (theo kiểu Euclid). Bác có thể biện luận là tại vì không có chữ toán gia, nên đành chịu vậy, nhưng thế sao người ta có thể gọi Einstein là nhà khoa học, hay là khoa học gia, cả hai từ đều được dịch từ chữ scientist mà ra, có sự khác biệt gì ở đây không?

    Ngoài ra còn điều này nữa: ta cần phân biệt việc "nghiên cứu" triết của các ông Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Hiến Lê với công việc nghiên cứu và công bố công trình triết học của các philosophe/philosopher. Đây là hai chuyện khác nhau, các người công bố qua các tạp chí chuyên ngành có uy tín đã đưa công trình của mình lên trước quốc tế, còn các ông BVNS, NHL thì nghiên cứu di sản triết học sẵn có và cống hiến cho văn học trong nước. Không phải ai có kiến thức cao về triết học thì chỉ cần viết bài công bố gởi lên để được duyệt phê (*) là sẽ được chấp thuận đâu, quá trình vượt qua được ngưỡng cửa duyệt phê rất gian lao, bài nghiên cứu mà không có tính cách mới lạ hay độc đáo thì khó mà được chọn đăng. Thế nhưng theo cách bác đã viết trong đoạn 1/ thì người "có những công trình nghiên cứu của mình được đăng trên các tạp chí triết học chuyên nghiệp" cũng chưa đáng gọi là triết gia. Điều đó có thể đúng với các tiến sĩ triết của VN viết bài gởi cho các tạp chí của VN, chứ không đúng với giới học thuật của phương Tây.
    Nếu bác tưởng là chế độ duyệt phê (peer-reviews) không có giá trị thì bác cứ nhìn lại trong nước thì thấy VN có cả chục ngàn người được gọi là "làm khoa học", nhưng mỗi năm VN chỉ công bố được vài ngàn bài nghiên cứu khoa học đã là may lắm rồi.

    (*) Tất nhiên là ở đầu thế kỷ 20 hay trước ấy thì việc duyệt phê qua giới chuyên môn có thẩm quyền chưa được phát triển mạnh như ngày nay, nên, các ông "dead philosophers" có thể biên lại tư tưởng của mình qua việc ấn hành sách vở.

    Phản hồi: 

    Bác Phong Uyên có cách định nghĩa về (và phân biệt giữa) triết gia và nhà triết học thật thú vị (không phải viết mỉa bác đâu), đây là lần đầu tiên mà tôi được nghe, có thể vì tôi chú ý đến triết học Anh Mỹ nhiều hơn là triết học Lục địa nên không biết điều ấy. Trong tiếng Anh chỉ có từ philosopher, chẳng có danh hiệu nào phân biệt giữa nhà triết học và triết gia. Tôi có thắc mắc này: như vậy, người Pháp gọi nhà triết học là gì?

    Bác có nhận xét là "Tiếng Việt rất giầu những từ ngữ về danh hiệu", nhưng tôi để ý là Việt Nam rất nghèo nàn về triết học, rất ít người Việt đọc triết dù chỉ là ở mức độ phổ thông (tôi xin thú thực là cố tình viết hơi mỉa bác ở chỗ này, để dùng trong khuôn khổ lập luận, xin bác thứ lỗi, tôi đáng tội :)
    Nói cách khác, người Việt giỏi chữ nghĩa, nhưng nghèo kiến thức và hiểu biết về triết, như vậy thì cách định nghĩa của người Việt về triết có đáng tin cậy không, tức là có dựa vào cảm nghĩ và nhận thức chủ quan nhiều hơn là dựa vào các chuẩn mực khách quan không?

    Tuy vậy, tôi nghĩ ngôn ngữ người Việt sử dụng và lưu hành ra sao thì là chuyện thuộc về văn học và thói quen, nên xin gác chuyện ấy sang một bên, tôi chỉ muốn bàn thêm về hai điểm mà bác đã nêu lên trong lời còm, vì tôi thấy chưa được ổn lắm:

    - Thứ nhất:
    "Số những triết gia hiện đại Pháp từ nửa thế kỷ thứ 20 đến nay chỉ đếm trên đầu ngón tay."

    Nếu bác lướt sơ qua danh sách các triết gia của Pháp này, bác sẽ thấy các tên in mầu đỏ - tức là các triết gia còn sống - không phải ít; nếu đánh các tên ấy vào cái ô Search ở góc phải trên cùng trang ấy, bác sẽ đọc được tiểu sử cùng với sự nghiệp của cá nhân, và bác sẽ thấy các vị ấy có được gọi là "philosophe" hay không, và họ có bằng tiến sĩ triết hay không.
    Và đấy chỉ mới là danh sách các triết gia có tiếng tăm trong giới triết học Pháp mà thôi.


    - Thứ nhì:
    "Nói tóm lại [le philosophe] là người được báo chí, giới truyền thông phong cho vì đã đưa ra một ý kiến triết học độc đáo và biết dấn thân theo ý kiến đó, có một đời sống phản ánh ý kiến đó, chứ không phải có bằng tiến sĩ, đăng ký tên mình trên một danh sách cả vạn người hay có những công trình nghiên cứu của mình được đăng trên các tạp chí triết học chuyên nghiệp"

    Tại sao báo chí và giới truyền thông - chứ không phải là một định chế chuyên ngành triết học - lại có "thầm quyển" định danh ai mới xứng là triết gia.

    Tôi xin lấy thí dụ này: nếu ta mà tin vào báo chí và giới truyền thông thì nhà vật lý tài ba nhất thế kỷ 20 sau Eistein là Stephen Hawking, nhưng sự thật không phải vậy, nếu bạn đem điều ấy đi hỏi các nhà vật lý thuyết có lẽ bạn sẽ được nghe những cái tên khác, mà rất ít khi nào giới TT đề cập đến. Tại sao? Vì báo chí và truyền thông thích nói những chuyện gì người đọc báo và theo dõi TT thích nghe.
    Nếu báo mà đăng danh sách "50 người đàn ông sexy nhất hành tinh", liệu bạn có tin đấy là 50 người đàn ông sexy nhất hành tinh không?

    Triết học Lục địa, dĩ nhiên có phương pháp luận và cách phẩm định về giá trị triết học khác với triết của Anh-Mỹ, nhưng không phải vì vậy mà họ không thiết lập các tiêu chuẩn mang tính khách quan để định danh ai là "philosophe".

    Phản hồi: 

    1) Tiếng Việt rất giầu những từ ngữ về danh hiệu nên tôi thấy cần phải phân biệt :

    Nhà triết học: Người bỏ cả đời hay một phần lớn của cuộc đời học hỏi hay nghiên cứu một lý thuyết triết học nào. Bùi Văn Nam Sơn xứng đáng mang danh "Nhà triết học" vì ông bỏ cả đời học hỏi và nghiên cứu triết học Kant. Người thứ hai ở VN đáng mang danh "nhà triết học" là học giả Nguyễn Hiến Lê, nghiên cứu về triết học Trung Quốc.

    Triết gia : Dịch từ chữ "le philosophe" trong tiếng Pháp. Trần Đức Thảo được báo chí Pháp gọi là "Le philosophe Tran Duc Thao" ngay từ năm 1945 khi tranh luận với Sartre về Hiện tượng luận, trước đó với Kojeve, và khi xuất bản cuốn "Phénoménologie et matérialissme dialectique" (Hiện tượng luận và Duy vật Biện chứng). Được báo chí Pháp phong cho danh vị "triết gia" không phải là dễ vì phải là người được công chúng biết đến qua những tác phẩm hay qua những bài viết, những phát biểu về những tư duy độc đáo của mình. Số những triết gia hiện đại Pháp từ nửa thế kỷ thứ 20 đến nay chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nói tóm lại "le philosophe" là người được báo chí, giới truyền thông phong cho vì đã đưa ra một ý kiến triết học độc đáo và biết dấn thân theo ý kiến đó, có một đời sống phản ánh ý kiến đó, chứ không phải có bằng tiến sĩ, đăng ký tên mình trên một danh sách cả vạn người hay có những công trình nghiên cứu của mình được đăng trên các tạp chí triết học chuyên nghiệp. Đó có thể là ở Mỹ chứ không ở những nước Âu châu có truyền thống triết học như Đức và Pháp. Theo định nghĩa (của Pháp), có thể coi thi sĩ Bùi Giáng là triết gia thứ hai của Việt Nam tuy ông chỉ có Tú tài Triết và viết ít nhiều về Heidegger.

    Nhà hiền triết : Danh hiệu này chỉ nên dùng đối với những triết gia Cổ Hi Lạp, nghĩa là những người đã đưa ra những tư tưởng triết học kết hợp với đạo đức như Socrate, Plato, Aristote... Tôi cũng không đồng ý với bác Tuấn 34344 cho những nhà hiền triết, nền móng của triết học Tây phương, này " nói nhiều điều mà ngày nay chúng ta biết là bậy hay là đúng một cách hời hợt" Tôi chỉ nhắc lại với bác Tuấn là chỉ có thể chứng minh được những lý thuyết về khoa học bậy hay không bậy, chứ không bao giờ chứng minh được những lý thuyết về triết học cũng như về đạo giáo. Nhờ vậy mới có được tự do tư tưởng và chỉ có những chế độ độc tài toàn trị mới tự cho mình quyền quyết định lý thuyết triết học nào là đúng, biến nó thành chủ nghĩa bắt mọi người phải theo hay ngược lại, cho nó là tà thuyết, cấm mọi người phải nói đến nó.

    2) Bác Tuấn 34344 nói : "bằng cấp tiến sĩ không bắt buộc, nhưng đa số các triết gia đều có bằng tiến sì Triết". Tôi nghĩ câu này có thể đúng ở Mỹ và cũng có thể chỉ đúng với các giáo sư dạy Triết ở các trường Đại học chứ ở Pháp thì khác hẳn : Đa số những triết gia Pháp nổi tiếng trên thế giới từ hơn 100 năm nay, từ Bergson (được giải thưởng Nobel) qua Sartre (Nobel) tới Althusser, Deleuze, Derida... mới đây, đều chỉ có bằng thạc sĩ Triết của trường Sư phạm Ulm. Nhưng cái bằng thạc sĩ này có giá trị gấp trăm cái bằng tiến sĩ Triết của bất cứ một đại học nào của Pháp vì rắt là khó khăn để được trúng tuyển : trung bình hơn 1000 người thi chỉ trúng tuyển chừng 40 người. Người đứng đầu được cả nước Pháp biết đến như được mề đay vàng Thế vận không bằng! Trần Đức Thảo đậu đầu ngay kỳ thi đầu. Sartre phải lần thứ 2 mới đậu đầu. Hiện nay ở Pháp có một người được báo chí tôn là triết gia tên là Onfray, con 1 người thợ cầy và mẹ là ôsin, viết 24 tác phẩm được dịch ra 30 thứ tiếng, mỗi lần diễn thuyết cả ngàn người đi nghe, vậy mà chỉ có bằng Cao học Triết !

    Phản hồi: 

    [quote=Bằng Hữu ]Không hiểu tại sao ông Bùi Văn Nam Sơn lại được gọi là "nhà triết học"?
    Trước 1975, Việt Nam (nhất là miền Nam) có rất nhiều tiến sĩ triết học hay thạc sĩ triết học tốt nghiệp từ nước ngoài, nhưng chỉ duy nhất có một người được gọi là "nhà triết học", đó là ông Trần Đức Thảo. Ông Thảo được coi là một nhà triết học vì ông có viết một vài cuốn sách qua đó người ta thấy ông có sự sáng tạo nhất định mặc dù chỉ là diễn giảng chủ nghĩa Marx, chứ chưa thật sự là độc đáo.Đáng tiếc là ông Thảo lại trở về Hà Nội, phục vụ cho ĐCS nên đầu óc bị thui chột, không sáng tác được gì thêm. Còn những người khác chỉ được coi là nhà nghiên cứu triết học chứ không phải là nhà triết học.

    Không biết ông BVNS có tác phẩm độc đáo nào mà được xem là nhà triết học? Đề nghị quý vị nào am hiểu cho biết tư duy triết học độc đáo của ông BVNS là gì? Không lẽ chỉ dịch được một số tác phẩm triết học từ tiếng Đức thì được gọi là "nhà triết học"?[/quote]

    Tôi không nghĩ là VN chỉ có một nhà triết học duy nhất (Trần Đức thảo), đó chỉ là ý kiến cá nhân, do ông Trần Văn Giàu phát biểu, được ghi lại trong cuốn Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo của Phạm Thành Hưng, Đại học Quốc gia Hà Nội.
    Triết gia đâu có phải là một cái chức năng gì thật hiếm hoi, rất khác thường, như kiểu giáo chủ Mohammed hay Moses mà cả nước chỉ có một người. Để được gọi là triết gia cũng đâu cần gì phải có tác phẩm độc đáo, hay phải đề xướng ra một triết thuyết riêng biệt, vì nếu áp dụng hai tiêu chuẩn này thì nước Mỹ chỉ có không quá 100 triết gia, nhưng chỉ riêng Hiệp Hội Triết Học Hoa Kỳ không đã liệt kê danh sách của 11,000 triết gia (chỉ có khoảng 150 triết gia người da đen trong số này). Theo nghĩa thông dụng hiện thời, triết gia chỉ là một người nghiên cứu triết học, và công bố các công trình nghiên cứu của mình trên các tạp chí triết học chuyên nghiệp, được duyệt phê hẳn hoi (peer-reviewed). Qua định nghĩa này, bằng cấp tiến sĩ Triết không phải là điều kiện bắt buộc, nhưng đa số các triết gia đều có bằng tiến sĩ Triết. Ngược lại, nếu vị nào đó chỉ lấy bằng tiến sĩ Triết mà không công bố kết công trình cho thế giới (tự do) biết (như là đa số các TS Triết của nước CHXHXNVN) thì không ai gọi là triết gia cả. Và như vậy, một người có tư tưởng thật thâm thuý mà chỉ cà lê đi nói chuyện cho một nhóm người nào đó đến nghe, hay là lúc đi nhậu thì xổ "triết" thật là cao siêu cũng không thể gọi là triết gia được: anh phải biên xuống giấy trắng mực đen hay gõ bàn phím viết ra việc nghiên cứu của mình rồi gởi tới các định chế nghiên cứu Triết học để người ta phẩm định.
    Cái hay của lối định nghĩa này là nó ứng dụng luôn cho cách nhận định người nào thì được gọi là nhà khoa học, hay nhà toán học, chằng có gì quá phức tạp hay bí mật như người ta tưởng tượng.

    Đừng nghĩ triết gia là phải như Socrates, Plato hay Aristote, ba ông này mà còn sống và đi thuyết giảng thì người ta chỉ vì tính hiếu kỳ mà đi nghe vài lần, rồi đưa họ lên các TV show làm trò kiếm tiền, vì họ nói nhiều điều mà ngày nay chúng ta biết là "bậy", hay là đúng một cách hời hợt :)

    Phản hồi: 

    Ý Kiến Nhỏ

    Thưa Ban Biên tập Dân Luận cùng quý vị.
    Tôi đã lướt đọc, nhưng ghi cảm nhận nơi đây vì là bài tôi chú ý từ khi "đăng nhập"; Xin gom chung lại.

    1.
    Tôi hoan nghênh mục "Dân Luận Điểm tin". Mục này tương tự trên Ba Sàm cũ và tiếp tục phát huy BS phần cập nhật nhanh "Phản hồi". Điểm hay của BS là từ 1 bài có dẫn link, người đọc đọc tiếp thì được hiển thị nối kết mà Trang chủ vẫn giữ trạng thái cũ để theo dõi tiếp. Do "Điểm tin", nên cũng như BS là ghi tiêu đề bài "điểm" vì nội dung đã có trong tiêu đề và người đọc có thể lướt để có cái mình cần biết và cần đọc kỹ. BS đọc khá nhanh các phản hồi và tôi luôn ngạc nhiên, khâm phục sức làm việc của anh.

    2.
    Từ bài về Đào Tiến Thi, tôi theo dõi 2 Trang Dân Luận và Tễu-Blog thì thấy số phản hồi tương đương. Blog Tễu là Trang khá tốt và có chế độ kiểm duyệt, nhưng nhanh như thế cũng là đáng khen. Nội dung khá "văn hoá". Có thể do "kiểm duyệt" mà văn phong không ... như ta (DL); Ngay sau ý kiến có dùng chữ lỗ mãng thì phản hồi sau đã góp ý. Các điểm nhận xét về ĐTT được đồng thuận là "nhầm, hiểu sai, gà mắc tóc", kể cả ý kiến nhắc: "Sao bác không hăng hái trả lời nữa ?"
    Tại Dân Luận, tôi rất lý thú khi đọc ý kiến của anh Phương Uyên và chị Trần Thị Ngự. Anh PU khẳng định "Điếu Cày không cầm cờ vàng ba sọc đỏ" đã giúp tôi giải toả thắc mắc: Một người nhanh ý và thông minh như ĐC không thể vô tình bỏ qua cử chỉ "đưa cờ". Người "đưa cờ", sau đó cũng tự giải thích là "do hoàn cảnh và người bảo vệ đã ngăn cách anh và ĐC". Điều này gọi là tế nhị cũng được, nhưng nhìn cho rõ thực chất để kiến giải đúng và hành xử không sai là điều rất nên minh bạch.
    Ý kiến chị Ngự là suy diễn logic về cách nghĩ đáng bàn của anh ĐTT và các trí thức trong nước. Thực tế này cũng cho thấy cón những khoảng cách trong tư tưởng trên con đường "Hoà giải, hoà hợp" không hề dễ dàng. Cần nhớ là sau khi nước Đức thống nhất, khoảng cách tư duy Đông và Tây cũng còn khá lớn; Nhưng ngay lúc đó, lời kêu gọi lập "liên minh Hồi niệm" đã được nói ra như nền tảng kiến tạo tương lai từ cơ sở "Thuộc Về Nhau". Bản thân tôi thuộc về "XHCN" và sỹ quan "tổng động viên 79 chống Tàu" nhưng cũng không hề có cản trở khi giao tiếp với các "thiện hữu Phật tử" từ miền Nam trong tất cả các chi hội ở Đức. Tôi vui khi bác Hồ Gươm nói: TL sẽ vui khi thấy 2 lá cờ đỏ và vàng cùng đi trong cuộc biều tình mới ở M. ... - Cũng vui, nếu thấy 1 hình thái như vậy, nhưng cũng chỉ là HÌNH THỨC. Lá cờ của Quốc gia Việt Nam, lá cờ mỗi thành viên Dân tộc yếu quý và tự hào sẽ còn là điếu phải tranh đấu. ...

    3.
    Tôi chia sẻ với bài chủ về sự cần thiết của sách dịch và nền tảng triết học trong giáo dục; Nhưng viết học Đại học là "gợi hứng" thì chưa đúng. Thực ra là "gợi mở các phương pháp tư duy".
    Các bậc học, theo tôi, như sau:
    + Học trò phổ thông học các kỹ năng đọc, viết và có 1 lượng tri thức tối thiểu ("phổ thông") làm vốn. Hết phổ thông đã phân ngành để học trò đi làm thợ hay học tiếp, tùy khả năng tự nhiên. (Trong xã hội, các ngành đều cần thiết như nhau).
    + Học đại học (sinh viên) là tiếp nhận thêm tri thức mở rộng qua các giờ học và bằng cách (phương pháp) tư duy và làm việc của người "tự lập": Nhận 1 hướng công việc, tổng quan tri thức lĩnh vực hẹp để có cái nhìn và lập ra kế hoạch thực hiện. Kết quả cuối cùng thể hiện trong luận văn tốt nghiệp mà qua đó người sinh viên học bài cuối cùng là "cách viết và trình bày 1 vấn đề". Tôi nêu điểm này vì khi đọc nhiều bài viết trên Trang nhà cá nhân thì thấy không có nhiều người tốt nghiệp ĐH đã "biết viết".
    + Tiến sỹ ở VN ngày nay thữc chất là "phó TS" cũ (Kandidat). Người có bằng cấp này, thực chất là người giúp việc cho "Tiến sỹ Khoa học" trong việc thực hiện 1 hướng nghiên cứu của Tiến sỹ KH.
    + Tiến sỹ Khoa học là những người đi tiên phong, mũi nhọn của 1 ngành khoa học, kỹ thuật nào đó. Những người này có trình độ tri thức cao rộng đủ nhìn và vạch ra hướng và các bước đi cho cộng đồng.

    4.
    Tôi đồng ý kiến anh Phong Uyên về nền học thuật Việt Nam Cộng Hoà là trên nền tảng giáo dục của Pháp. Chẳng những thế, các ngành khác cũng tương tự. Tôi biết 1 vị cao niên ở FrF/M là người làm trong bộ Tư pháp VNCH. Ông là người đã làm thời Việt Minh. Theo ông, các văn bản pháp luật đều được biên dịch từ các bộ luật của Pháp; Việc chỉ là đợi lúc nào cần dùng và công bố thôi. (Tất nhiên ban hành luật không đơn giản như vừa viết).
    Sau khi nước Đức thống nhất, các du học sinh VN sang Đức đều được tiếp nhận vào học ngay; Đó chính là nề nếp từ thời quan hệ VNCH - CHLB Đức. Sau đó 2 năm thì thủ tục thay đổi: Các du học sinh phải qua các lớp dự bị và kiểm tra. - Đó chẳng qua là sự thay đổi của chính sách sát với thực tế là trình độ đào tạo của VN "thống nhất" đã không như xưa. ...

    5.
    Stalin lại là chuyện dài: Ông ta chẳng từ Marx hay từ Lenin. Stalin học trường dòng và sau khi Lenin chết, ông ta lập lý thuyết và nền thống trị riêng của mình. "Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử" là cuốn sách được viết dưới thời ông, theo ý kiến ông ta. "Bàn đá chông chênh dịch sử đảng" chính là dịch cuốn này.

    Tạm kết:
    Lịch sử sang trang khi con người lật tới trang "tri thức" mới mà mình tự tìm ra và tạo dựng nên. Con đuờng tri thức mở ra trên đại lộ thông tin mà tự học là mỗi bước đi tới của từng người trong sự đồng hành cùng cộng đồng.

    Thân mến, T.L.

    Phản hồi: 

    Ông Bùi Văn Nam Sơn không nhớ lại là cái thời ông học trung học ở miền Nam, chương trình trung học vẫn là chương trình trung học Pháp, chỉ có cái khác là được dạy bằng tiếng Việt thôi. Triết học là môn bắt buộc được dạy ở lớp 12 và học sinh thi Tú tài bắt buộc phải thi môn đó. Học sinh học Triết thời đó là để biết thế nào là suy nghĩ tự do qua tư tưởng của các nhà hiền triết Hy Lạp Platon, Socrate.. và sau này, Descartes, Spinoza, Kant, Hegel, Heidegger, Sartre... chứ không phải chỉ được biết triết học Mác-Lênin được bịa ra từ cái đầu bệnh hoạn của Staline. Sách triết ở bậc trung học hồi đó đã có nhiều, và tôi chắc chắn là hơn hẳn ở những nước mà ông BVNS kể như Hàn Quốc, Thái Lan..., chưa chắc đã có môn Triết ở bậc trung học như ở các nước Tây Âu. Bởi vậy tôi không lạ gì ông đem bằng Tú tài toàn phần của Nam Việt Nam qua Đức thì được nhận ngay. Và chắc chắn với vốn sinh ngữ mà ông có được khi học trung học ở Sài Gòn, ông cũng không đến nỗi vất vả lắm đâu. Cái mà ông có thể giúp ích được cho những thế hệ trẻ Việt Nam sau này là làm sao thuyết phục được chính quyền CSVN vứt bỏ được cái môn "thày không muốn dạy, trò không muốn học" là cái gọi là "Triết học Chính trị học Kinh tế học Mác-Lênin" và khôi phục lại môn Triết ở bậc trung học như thời ông học.

    Phản hồi: 

    [quote]Dù có nhiều khó khăn đón chờ phía trước, nhưng xin hãy cứ kiên trì, rồi mùa hoa trái sẽ tới![/quote]

    Vâng. Mùa hoa trái may ra sẽ tới vào cuối thế kỷ này! Xin hãy cứ kiên trì.

    Phản hồi: 

    Ông Bùi là lãnh đạo hàng đầu của giới trí thức cánh tả thân cộng ở Châu Âu, ông giữ lý tưởng của mình đến cùng. Trở về quê hương phục vụ cho chế độ cộng sản và bị ném vào sọt rác như miếng chanh héo nhưng ông vẫn không thay đổi lập trường. Trong điều kiện vật chất khó khăn có lúc chỉ toàn sống nhờ lòng hảo tâm của bạn bè, ông lặng lẽ chuyển sang công việc dịch thuật, mà ông là một thiên tài, cũng chỉ nhằm phục vụ cho cái thứ hai (sau Đảng CS) là nhân dân. Dù sao ông vẫn là người đáng tôn trọng hơn quý ngài thân cộng ngồi mát ăn bát tư bản ở hải ngoại, các đại trí thức mù tiếp tục tôn thờ CNCS, chỉ lo rình rập xỉa xói các hoạt động chống cộng của người Việt hải ngoại khác chính kiến. Bao giờ các đại trí thức thành đạt rủng rẻng tiền Eu ở xứ tư bản bóc lột, những người đã tiếp tay xây dựng nên chế độ thống trị tàn bạo trên quê hương, mới có được chút ăn năn tội lỗi để thực sự nhìn lại nỗi khổ của những người đồng bào trong nước dưới chế độ CS thối nát.
    Trở lại chuyện ông Bùi, tôi vẫn thắc mắc, ông có cái nhìn bao quát và cái tư duy triết học, ông biết so sánh từng hoàn cảnh xã hội của nước này với nước khác. Tại sao trong thời điểm trước 1975, thường xuyên có điều kiện sang thăm miền Đông nước Đức, có dịp tiếp cận những tài liệu cũng như nhân chứng về một chế độ CS phi nhân quyền, ông và các đồng chí của mình vẫn giả mù tiếp tục rầm rộ phong trào ủng hộ CS. Cả đến bây giờ, các đồng chí thân cộng yêu bơ sữa của ông vẫn là những thằng người vật vờ bám theo bóng ma của Bác và Đảng. Một người trí thức bình thường cũng phải có chút tư duy hơn nông dân, một triết gia tầm cỡ lẽ nào chỉ tư duy những cái gì xa xa, như cái vườn cây ăn trái nào đó rồi sẽ đơm hoa kết quả? Hoa quả đó ai hái, ai hưởng? Một nửa nước Đại Hàn bỏ xa cả cái nước VN thống nhất của ta, vì sao?
    Bao giờ đám trí thức tôn thờ CS mới nói lời sám hối như Lê Hiếu Đằng, để thế hệ sau mình đừng "lạc hướng".

    Phản hồi: 

    Không hiểu tại sao ông Bùi Văn Nam Sơn lại được gọi là "nhà triết học"?
    Trước 1975, Việt Nam (nhất là miền Nam) có rất nhiều tiến sĩ triết học hay thạc sĩ triết học tốt nghiệp từ nước ngoài, nhưng chỉ duy nhất có một người được gọi là "nhà triết học", đó là ông Trần Đức Thảo. Ông Thảo được coi là một nhà triết học vì ông có viết một vài cuốn sách qua đó người ta thấy ông có sự sáng tạo nhất định mặc dù chỉ là diễn giảng chủ nghĩa Marx, chứ chưa thật sự là độc đáo.Đáng tiếc là ông Thảo lại trở về Hà Nội, phục vụ cho ĐCS nên đầu óc bị thui chột, không sáng tác được gì thêm. Còn những người khác chỉ được coi là nhà nghiên cứu triết học chứ không phải là nhà triết học.

    Không biết ông BVNS có tác phẩm độc đáo nào mà được xem là nhà triết học? Đề nghị quý vị nào am hiểu cho biết tư duy triết học độc đáo của ông BVNS là gì? Không lẽ chỉ dịch được một số tác phẩm triết học từ tiếng Đức thì được gọi là "nhà triết học"?