Luật sư Trương Trọng Nghĩa - Quyền im lặng sẽ giảm án oan

  • Bởi Admin
    28/10/2014
    0 phản hồi

    Luật sư Trương Trọng Nghĩa

    Những vụ án oan gần đây khiến dư luận nghi ngờ do bức cung, nhục hình nên người ta nhắc nhiều đến quyền im lặng và quyền được có luật sư. Có lẽ đã đến lúc nước ta phải ghi nhận quyền này.

    LTS: Trong tố tụng hình sự, yếu tố cơ bản để giảm thiểu án oan là tránh việc bị can, bị cáo bị mớm cung, ép cung, nhục hình. ở các nước, ngay khi bị bắt, người bị tình nghi và bị can được hưởng quyền im lặng cho đến khi có luật sư.

    Quyền này đã hình thành trong pháp luật Việt Nam hay chưa và thể hiện như thế nào?... Pháp Luật TP.HCMtrân trọng giới thiệu bài viết của luật sư Trương Trọng Nghĩa- đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

    Tôi cho rằng quyền im lặng chỉ là cách nói vắn tắt và chúng ta không nên bó gọn trong ba từ này mà phải hiểu bản chất của nó là quyền không khai báo cho đến khi có mặt luật sư của mình. Theo đó, người bị tạm giữ, bị can được quyền không khai cho đến lúc có luật sư chứ không phải im lặng mãi. Nó cũng đồng nghĩa với chuyện nếu anh từ bỏ quyền im lặng thì những lời khai sau đó của anh sẽ được dùng để chống lại anh tại tòa.

    Gốc rễ là nguyên tắc suy đoán vô tội

    Về lý luận, gốc của quyền này chính là nguyên tắc suy đoán vô tội (presumption of innocence) - một nguyên tắc nhân đạo, tôn trọng quyền con người và có tính phổ quát ở nhiều hệ thống pháp luật từ xưa đến nay. Suy đoán vô tội nói gọn lại là việc thông qua cơ quan công tố, nhà nước có trách nhiệm chứng minh một người có phạm tội hay không, còn người bị tình nghi có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội. BLTTHS Việt Nam cũng quy định rõ như vậy.

    Nguyên tắc suy đoán vô tội bắt nguồn từ luật La Mã cổ đại, cách đây trên 15 thế kỷ nhưng nó gần như đã bị vô hiệu trong các tòa án vô nhân đạo suốt thời Trung cổ và chỉ được phục hưng kể từ các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu. Sự phục hồi nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự dẫn đến sự ra đời của một nguyên tắc khác chi phối toàn bộ pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của thế giới cho đến ngày nay, đó là quyền không tự tố giác (right against self-incrimination)…

    Quyền được suy đoán vô tội và quyền không tự tố giác đã được ghi nhận trong Công ước Quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam là thành viên (cùng với nhiều đặc quyền khác của nghi can, bị can, bị cáo như có quyền được biết mình bị buộc tội gì, quyền có luật sư, quyền không bị bức cung, nhục hình…). Quyền im lặng cho đến khi có luật sư của mình chính là sự rút gọn của các quyền trên đây, được quy định trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới. Ở Đức, quyền im lặng được bảo đảm rất rộng: Bị cáo có quyền không khai báo, không nhận tội từ khi bị tình nghi đến khi bị xét xử.

    Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cơ quan điều tra cũng tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền có luật sư. Do đặc thù của người cảnh sát là phải chứng kiến nhiều tội ác và luôn vất vả trong việc phòng, chống tội phạm, từ đó nảy sinh định kiến và nếp tư duy “suy đoán có tội” đối với người có dấu hiệu phạm tội. Vì thế, trong quá trình điều tra, họ thường mớm cung, gài bẫy, thậm chí bức cung trước khi người đó có luật sư.

    Sự cần thiết của quyền im lặng

    Gần đây nổi lên một số vụ bị kết tội oan, sai do bức cung, mớm cung nên người ta nhắc nhiều đến quyền im lặng và quyền được có luật sư. Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận và thực hiện những yêu cầu thuộc về nguyên tắc như trên để thực thi triệt để nguyên tắc suy đoán vô tội.

    Muốn vậy, chúng ta phải bổ sung quy định theo hướng cho nghi can, bị can được gặp luật sư ngay sau khi bị bắt, phải giảm thiểu tối đa thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa và nghiêm trị những hành vi cố tình trì hoãn quyền gặp luật sư của nghi can và bị can. Quyền có luật sư chỉ có ý nghĩa khi nghi can được gặp luật sư và quyền chưa khai báo nếu chưa có luật sư. Nếu các quyền này được bảo đảm thì nghiệp vụ điều tra được nâng lên. Khi hồ sơ điều tra đã “chuẩn” rồi thì quá trình truy tố, xét xử cũng nhanh và chính xác hơn. Khi ấy, tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung và án xử đi xử lại như hiện nay cũng được khắc phục đáng kể.

    Về việc gắn camera trong phòng hỏi cung, tôi cho rằng nó chỉ có tác dụng hạn chế chứ không loại trừ hẳn việc ép cung, nhục hình. Bởi chuyện ép cung, nhục hình không chỉ xảy ra lúc lấy lời khai và một khi điều tra viên đã muốn ép cung thì camera cũng vô hiệu.

    (Theo tôi biết, ở Trung Quốc, bên cạnh chuyện có mặt luật sư họ còn quy định cách thức gặp bị can, bị cáo để tư vấn mà không bị nghe lén. Cụ thể, việc tiếp xúc đó bị giám sát về hình ảnh nhưng không bị kiểm soát về nội dung.)

    Theo tôi, các biện pháp trên sẽ góp phần hạn chế án oan, sai. Muốn dần loại bỏ chúng thì đòi hỏi phải đổi mới về nhận thức, cơ quan điều tra không được coi những người tình nghi là tội phạm. Quá trình điều tra là câu hỏi mở vì phải tìm hiểu xem họ có tội hay không chứ không phải chỉ tìm chứng cứ để chứng minh người đó có tội.

    Nguồn gốc của quyền im lặng

    Những năm 1960 ở Mỹ xuất hiện một án lệ mang tên cảnh báo Miranda. Đó là một vụ án mà thủ phạm là Ernesto Miranda, sinh năm 1941 (13 tuổi đã bị bắt và sau đó liên tục phạm tội). Năm 1962, có một số vụ bắt cóc và cưỡng dâm các cô gái trẻ. Sau khi cảnh sát đưa đi nhận dạng tiếng nói của nạn nhân, Miranda thừa nhận mình là thủ phạm. Miranda viết bản tự thú và trên đầu mỗi tờ giấy đều có in sẵn những dòng chữ rằng người khai hoàn toàn tự nguyện, không bị đe dọa, lừa dối hay được hứa sẽ được giảm tội. Nhưng Miranda không được thông báo rằng mình có quyền mời luật sư.

    Tháng 6-1963, Miranda phải ra tòa với tội danh cướp và cưỡng dâm. Luật sư Alvin Moore được chỉ định biện hộ đã phản đối tòa kết án dựa trên việc sử dụng lời khai của Miranda để chống anh ta. Tháng 4-1965, Tòa án Tối cao bang Arizona xử phúc thẩm tuyên y án.

    Giữa năm 1966, Chánh án Tòa án Tối cao Mỹ Earl Warren ra phán quyết với nội dung: Một người bị bắt giữ trước khi bị thẩm vấn phải được thông báo một cách rõ ràng rằng họ có quyền giữ im lặng và bất kỳ điều gì người đó nói ra sẽ được sử dụng để chống lại người đó trước tòa án. Người đó phải được thông báo anh ta có quyền tư vấn và có luật sư ở bên cạnh trong khi thẩm vấn (nếu nghèo sẽ được chỉ định luật sư). (Sau này, tòa tuyên Miranda phạm tội do có những bằng chứng khác.)

    Luật sư gặp bị cáo: Chuyện trần ai!

    Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa quy định quyền im lặng. Nhưng quyền có luật sư thì luật quy định: Khi bị tạm giữ, trong vòng 24 giờ người tạm giữ có quyền có luật sư, nếu là tạm giam thì trong ba ngày. Nội việc quy định như trên đã không thể bảo đảm cho việc phải có luật sư ngay sau khi bị bắt do thời hạn quá lâu (trong khi ở các nước, chỉ cần một cú điện thoại là luật sư có mặt và được tiếp xúc ngay với người bị bắt). Đã vậy, thực tế thời hạn này cũng không cơ quan điều tra nào tuân thủ, nhiều vụ án chỉ khi kết thúc điều tra thì luật sư mới được gặp bị can.

    Muốn quyền có luật sư được bảo đảm thì điều kiện cần và đủ là người bị bắt phải có quyền được gặp luật sư. Vướng mắc lớn nhất của chúng ta hiện nay là luật quy định người bị tạm giam, tạm giữ không được gặp luật sư trước khi luật sư có giấy chứng nhận bào chữa. Nói dễ hiểu, luật sư không được tiếp xúc riêng với người bị bắt để hỏi xem anh có cần tôi hay không. Nhưng luật lại quy định muốn có giấy chứng nhận bào chữa thì phải có sự đồng ý của người bị bắt. Quy định này tạo ra vòng luẩn quẩn như chuyện “con gà quả trứng”.

    Gần đây, Thông tư số 70 năm 2011 của Bộ Công an có mở rộng quy định điều tra viên phải giải thích cho người bị bắt quyền có luật sư và cho phép người nhà của họ cũng được yêu cầu luật sư. Thế nhưng thực tế cơ quan điều tra hay chìa ra tờ giấy từ chối luật sư của nghi can, khi gặp trực tiếp hỏi thì các nghi can nói họ không được điều tra viên phổ biến về quyền của mình.

    Luật sư TRƯƠNG TRỌNG NGHĨA

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi