Nguyễn Văn Tuấn - Bill Hayton và "Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu"

  • Bởi Admin
    27/10/2014
    7 phản hồi

    Nguyễn Văn Tuấn

    Có lẽ các bạn đã biết kí giả Bill Hayton vừa mới xuất bản một cuốn sách có tựa đề là "The South China Sea: The Struggle for Power in Asia" (Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu). Tôi chưa đọc cuốn sách (và chắc cũng không có thì giờ đọc trong tương lai gần) nhưng có nhận bài điểm sách của David Brown đăng trên Asia Sentinel (1). Đọc bài điểm sách này, tôi thấy sách có lẽ là nguồn thông tin tốt cho những ai còn quan tâm đến chủ quyền biển đảo và sự đe doạ của Tàu cộng đối với Việt Nam. Nhưng câu chuyện về mối liên hệ giữa cá nhân của tác giả với Chính phủ VN cũng thú vị.

    Trong sách, Bill Hayton chứng minh rằng những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Tàu cộng dựa trên chứng cứ lịch sử là rác rưởi. Ông chỉ ra rằng những chứng cứ đó không thể nào đứng vững khi xem xét đến các văn chứng của triều Nguyễn của Việt Nam. Từ 1750, triều Nguyễn đã điều các đội hải quân ra trấn giữ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đội quân triều Nguyễn còn có chức năng cứu vớt thuyền bị nạn, và mỗi chuyến hải hành, họ ghi lại trong sử sách rất cẩn thận.

    Thật ra, những cái gọi là chứng cứ lịch sử của Tàu cộng về chủ quyền Biển Đông thì những học giả nghiêm chỉnh đều bác bỏ và chẳng xem ra gì. Nhưng bác bỏ những chứng cứ đó một cách có hệ thống, có khoa học, và ghi thành một cuốn sách như Bill Hayton đã làm là một công lớn. Một số học giả VN ở trong nước suốt ngày này sang tháng nọ nói về chủ quyền, về văn bản triều Nguyễn, về "chứng cứ không thể chối cãi", nhưng chưa có ai hệ thống hoá chứng cứ thành một cuốn sách viết bằng tiếng Anh. Nói như thế để thấy cái công của Hayton là đáng kể.

    Ấy thế mà Việt Nam ngày nay ngưng "lải nhải" (chữ của bài điểm sách) về chủ quyền mang tính lịch sử của mình! Thay vào đó, Việt Nam cầu khẩn thế giới tuân thủ theo luật biển UNCLOS (1994). Thái độ đó gián tiếp nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền của Tàu cộng trên những quần đảo họ đã đánh chiếm bằng vũ lực từ VN. Còn Tàu cộng thì họ biết các yêu sách và chứng cứ của họ yếu, nên họ dùng vũ lực và tẩy não. Họ tẩy não người Tàu rằng chủ quyền của Tàu cộng ở Biển Đông là không thể chối cãi, rằng các nước nhỏ như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai đang chiếm biển đảo của Tàu!


    Nhưng đoạn tái bút của bài điểm sách mới là thú vị vì liên quan đến cá nhân tác giả. Bill Hayton là phóng viên của đài BBC và từng công tác ở Việt Nam trong thời gian 2007-2008. Dù Bill Hayton có quan điểm và phát biểu có lợi cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh duy trì chủ quyền biển đảo, nhưng ông không được Việt Nam chào đón. Thật ra, Chính phủ Việt Nam cấm không cho ông vào Việt Nam! Năm 2012, Hayton xin visa để vào VN dự hội nghị về biển đảo do Bộ Ngoại giao VN tổ chức, nhưng đơn của ông bị bác. Vài tháng sau, ông lại đệ đơn xin visa vào VN để phỏng vấn các quan chức cho cuốn sách này, và một lần nữa, Chính phủ VN không cho ông vào. Hệ quả là ông không có nhiều chất liệu để viết về VN trong cuộc đấu tranh chủ quyền về biển đảo. Do đó, phần liên quan đến Việt Nam trong cuốn sách này tương đối "mỏng" so với các phần khác.

    Phải nói thái độ của Chính phủ VN thật khó hiểu. Theo suy nghĩ bình thường, trong khi các học giả VN chưa viết được hay chưa đủ khả năng viết được một cuốn sách như Bill Hayton, thì đáng lẽ phải chào đón một người có quan điểm "gần" VN như Bill Hayton đến VN, hay ít ra là cung cấp dữ liệu cho ông ấy. Nhưng suy nghĩ bình thường đó có lẽ không ăn khớp với suy nghĩ của Nhà nước. Nghe nói trong thời gian làm kí giả ở VN, Hayton đã có những bài làm cho Chính phủ VN không hài lòng. Nhưng tôi nghĩ việc nào ra việc đó, có thể những bài đó không hợp gu với Chính phủ, nhưng về Biển Đông thì nên sử dụng mọi quan điểm và dữ liệu từ mọi nguồn để đem lại lợi ích cho chủ quyền quốc gia.

    Nếu Chính phủ VN chào đón các học giả Tàu vào VN tham dự hội nghị (và đó là quyết định hoàn toàn đúng) thì VN chẳng có lí do gì để từ chối không cho người bạn như như Bill Hayton vào VN.

    ____________________

    (1) http://www.asiasentinel.com/book-review/south-china-sea-struggle-power-a...

    Sách "The South China Sea: The Struggle for Power in Asia", xuất bản bởi Yale University Press, dày 320 trang, giá bán 28 USD.

    * * *

    David Brown - Điểm sách của Bill Hayton: Biển Đông và cuộc chiến tranh giành quyền lực ở châu Á

    Tác giả: David Brown
    Người dịch: Trần Văn Minh

    Trong những vấn đề nan giải toàn cầu, tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nên được đưa lên hàng đầu, cùng với thay đổi khí hậu, Thánh chiến và chống vi-rút Ebola. Vấn đề dường như không thể kiểm soát, vì thế giải quyết vấn nạn này đã trở thành sự thử nghiệm quan trọng, liệu trật tự quốc tế có thích hợp với một ‘Trung Quốc đang trỗi dậy’ hay không.

    Bất kể tính thận trọng của Tổng thống Barack Obama, biết rằng tham gia vào một cuộc chiến ở nước ngoài dễ hơn là giành chiến thắng, sự đe dọa của các chiến thuật mà Bắc Kinh đặt ra trước lợi ích sống còn của Hoa Kỳ, đang lôi kéo Washington vào một cuộc đối đầu khó tránh khỏi với Trung Quốc. Cho tới một vài năm trước, có thể thấy rằng vấn đề Biển Đông là một cuộc tranh cãi giữa các nước ven biển về nguồn cá và tài nguyên dưới đáy biển, bị làm trầm trọng thêm bởi tính dửng dưng của Trung Quốc. Bây giờ đã rõ ràng là Trung Quốc không muốn đàm phán chủ quyền lãnh thổ với các nước láng giềng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), mà chỉ quan tâm tới những điều có lợi cho họ. Washington đã phải gác lại giấc mơ về quan hệ đối tác toàn cầu với siêu cường mới trỗi dậy của châu Á, trong khi cân nhắc sự kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng của Trung Quốc trong tương lai. Theo Bill Hayton thì Biển Đông “là vị trí đầu tiên trong tham vọng của Trung Quốc đưa tới việc đối mặt với quyết tâm chiến lược của Mỹ”.

    Đây là một cuộc đối đầu mà chúng ta cần phải hiểu, và Hayton, phóng viên BBC đã từng có thời gian ở Myanmar và Việt Nam, đã cung cấp cốt truyện. Cuốn Biển Đông, với phụ đề Cuộc đấu tranh quyền lực ở châu Á mà ông nghiên cứu kỹ lưỡng và viết thật chải chuốt, đã được xuất bản tại Anh vào cuối tháng 9 và sẽ được Nhà xuất bản Yale Press xuất bản tại Mỹ vào ngày 28 tháng 10. (Cuốn sách được bán trên Amazon với giá 28 USD).

    Cuốn sách dày 320 trang của Hayton chắc chắn sẽ được so sánh với một cuốn sách gần đây của Robert Kaplan có cùng chủ đề, Vạc dầu châu Á: Biển Đông và sự kết thúc của Thái Bình Dương ổn định. Đó là hai cuốn sách khác nhau. Kaplan tung ra sự khái quát nhẹ nhàng về bản sắc, lợi ích quốc gia và nỗi ám ảnh có tham vọng của các nhà lãnh đạo châu Á. Kaplan cho biết, tất cả là sự cân bằng quyền lực, một cuộc cạnh tranh diễn ra “trong cảnh quan mới và có phần hoang vu này của thế kỷ 21″. Đông Nam Á trong mắt ông là một nơi mà Trung Quốc có sứ mệnh đưa những nước chư hầu ngày xưa trở lại quỹ đạo thích hợp của họ và là nơi, nếu Washington thực tế trong sự phân tích, thì phải vui vẻ nhường lại vị thế ưu tiên cho Bắc Kinh.

    Ngược lại, Hayton thì giải thích. Các chương mở đầu của ông đã dễ dàng dẫn độc giả đi qua năm ngàn năm trên Biển Đông, rằng đó là một khu vực chung bị chi phối bởi những nhà thám hiểm tiền-Mã Lai. Sau đó, các đế quốc thương mại trỗi dậy và suy tàn: Phù Nam, Champa, Majahapit và Malacca. Vào khoảng năm 1400, lần đầu tiên và duy nhất trước thời đại hiện nay, Trung Quốc trong một thời gian ngắn đã trở thành một cường quốc biển, gửi các đội tàu lớn tới Ấn Độ và Đông Phi trước khi chuyển sự chú ý của mình vào nội địa. Người Âu Châu trong việc tìm kiếm các loại gia vị, đồ gốm và lụa, đến vào những năm 1500. Tây Ban Nha thiết lập quyền thống trị trên quần đảo Philippines; ba thế kỷ sau đó, Pháp ở Đông Dương và Anh tại các bang Malay đã tạo ra các thuộc địa của họ và thậm chí bắt buộc Trung Quốc phải quy phục trước chính sách ngoại giao pháo hạm.

    Những người Âu Châu, với ý định phân định ranh giới và thiết lập độc quyền lãnh thổ, đã vô tình đặt nền móng cho ý thức tinh thần quốc gia mãnh liệt, vào giữa thế kỷ 20, trở thành cựu thuộc địa và nhượng địa của họ. Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Trung Hoa (cả chính phủ Đài Loan và Bắc Kinh) tất cả tuyên bố những mảng lớn và chồng chéo trên một vùng biển mở rộng mà trong quá khứ đã nối kết họ với nhau thay vì phân chia. Tất cả đã hối hả dựng quốc kỳ của họ trên các rạn san hô, đá và những đảo nhỏ (những ‘cụm’ tập hợp) rải rác trên vùng biển rộng lớn.

    Tấm thảm đắt giá mà Hayton dệt tự nó có sức hấp dẫn, nhưng tầm quan trọng đáng chú ý là sợi chỉ ông cẩn thận kéo ra: Đòi hỏi chủ quyền dựa trên chứng cứ lịch sử của Trung Quốc ở vùng biển phía nam Hồng Kông và đảo Hải Nam chủ yếu là rác vụn. Bằng chứng của Trung Quốc đơn giản là không đứng vững trước biên niên sử của các chúa Nguyễn ở Việt Nam, vào khoảng năm 1750, đã phái những cuộc thám hiểm hàng năm đến cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam chủ yếu khai thác các tàu đắm, chắc chắn như thế, nhưng họ đã để lại những dấu vết và lưu giữ hồ sơ cẩn thận.

    Trớ trêu thay, người Việt Nam đã ngưng dựa vào những bằng chứng lịch sử của riêng mình. Thay vào đó, họ dựa vào các quy định phân chia vùng biển được hệ thống hóa trong Công ước Quốc tế về Luật biển, có hiệu lực từ năm 1994. Philippines và Malaysia cũng như vậy. Luật pháp quốc tế là nơi trú ẩn của các quốc gia nhỏ và yếu hơn. Đối với các quốc gia mạnh có ý đồ gỡ bỏ những nỗi nhục trong quá khứ, thì luật pháp quốc tế thường là sự phiền toái bất tiện. Nhà cầm quyền Bắc Kinh có lẽ biết luận điểm pháp lý của họ yếu kém; họ có thể suy diễn rằng Trung Quốc lẽ ra đã thống trị các vùng biển lân cận nếu không bị Tây phương và Nhật Bản áp bức. Đối với một thường dân Trung Quốc vấn đề đó thật giản dị. Các giáo viên và truyền thông đại chúng đã thuyết phục ông ta rằng chủ quyền của Bắc Kinh trên các vùng biển phía Nam và các quần đảo là “không thay đổi” và “không thể tranh cãi.”

    Các nhà phân tích – trong số đó gồm có Hayton và tác giả bài viết này – khó có thể giải thích vì sao Bắc Kinh quá ngạo mạn, làm sứt mẻ sự kính trọng [của thế giới dành cho họ] để cho đến gần đây họ đã phải cố gắng hết sức để lấy lại. Hayton thử đưa ra quan điểm cho rằng giới lãnh đạo hải quân, các công ty dầu mỏ và chính quyền địa phương đã mạnh mẽ theo đuổi chính sách đối ngoại tự lập, kéo theo những nhà lãnh đạo cấp cao không muốn lộ vẻ yếu đuối. Lập luận trên không đứng vững trong thời đại Tập Cận Bình; trong những năm gần đây chiến thuật của Trung Quốc đã được phối hợp nhịp nhàng một cách đáng chú ý.

    Các nhà phân tích khác đổ lỗi cho cơn khát dầu hỏa và khí đốt dữ dội của siêu cường đang lên. Không nghi ngờ rằng sự tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung cấp phong phú của cả hai. Nhưng chắc phải có nghi ngờ rằng Biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ hai” thường được đề cập trong phương tiện truyền thông Trung Quốc. Hơn nữa, ngang bằng với tỷ giá hối đoái, Trung Quốc đã không có khó khăn tìm nguồn cung ứng dầu khí bên ngoài khu vực, cũng như không nước nào có lợi ích để can thiệp vào mối thương mại đó.

    Những quan sát viên phương Tây không cố gắng tìm hiểu vấn đề thường có xu hướng coi những yêu sách và tham vọng của Trung Quốc không kém giá trị hơn tất cả những nước khác. Kaplan đi xa hơn, xem luật pháp quốc tế thực ra không thích đáng trong tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, tầm mức to lớn của yêu sách lãnh thổ và chiến thuật được sử dụng trong việc theo đuổi mục tiêu của Trung Quốc, là rất quan trọng đối Mỹ và các quốc gia có lợi ích lớn trong việc duy trì một trật tự thế giới hòa bình, dựa trên luật pháp và tự do mậu dịch. Các nhà phân tích này cho rằng một “Trung Quốc đang trỗi dậy” sẽ chỉ chơi theo luật khi phù hợp với lợi ích của họ. Điều đó có nghĩa rằng, Hayton kết luận, khu vực rộng 3.5 triệu kilomet vuông này — vùng ‘biển kín’ lớn nhất thế giới — đã trở thành nơi mà bản chất khác biệt giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ có ngày xung đột.”

    Mỗi năm trôi qua, sự căng thẳng tăng cao hơn. Một động lực không ổn định khó tránh khỏi việc sẽ kéo Mỹ và đồng minh châu Á chủ yếu là Nhật vào, để hỗ trợ Việt Nam và Philippines. Trung Quốc không cho thấy có dấu hiệu dịu xuống. Chưa nhìn thấy một kết cuộc hài hòa.

    Tái bút: Trớ trêu thay, Bill Hayton không được chào đón tại Việt Nam. Ông là thông tín viên thường trú của BBC tại Hà Nội trong năm 2007-2008. Rõ ràng là các bài viết của ông vào thời điểm đó đã gây khó chịu cho nhà cầm quyền. Khi Hayton nộp đơn xin visa tham dự một cuộc hội thảo tháng 11 năm 2012 về các vấn đề Biển Đông do Học viện Ngoại giao Việt Nam tổ chức, ông đã bị từ chối. Vài tháng sau, Hayton nộp đơn một lần nữa, đặc biệt với yêu cầu phỏng vấn các quan chức Việt Nam cho cuốn sách sắp tới của mình. Một lần nữa ông lại bị từ chối. Kết quả là phần trong cuốn sách của Hayton nói về Việt Nam và Biển Đông tương đối “mỏng” — thiếu những chi tiết để thu hút độc giả mà cuộc nói chuyện với các chuyên gia Việt Nam có thể sẽ cung cấp. Đó là một điều đáng tiếc – và một câu chuyện khác (cho đến nay) có kết cuộc chẳng mấy hay ho gì!

    David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, là người viết về các chủ đề Đông Nam Á với sự quan tâm đặc biệt đến Việt Nam đương đại. Có thể liên lạc với ông tại địa chỉ [email protected].

    —–

    Ghi chú: Bản tiếng Anh đã được đăng trên trang Asia Sentinel: Book Review: The South China Sea: The Struggle for Power in Asia. Một bản khác, tác giả viết riêng cho các độc giả Việt Nam, có phần khác với bản này.

    Theo blog Anh Ba Sàm

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Phản hồi: 

    Tôi thấy chẳng có gì đáng chất vấn. Nguyên văn câu viết của David Brown trong bài điểm sách là:

    "Ironically, the Vietnamese have ceased to harp on their own historic claim. They appeal instead to the rules governing the division of seas that are codified in the UN Convention on the Law of the Sea, UNCLOS, which came into force in 1994."

    Bác Tuấn diễn giải lại rằng: " Ấy thế mà Việt Nam ngày nay ngưng "lải nhải" (chữ của bài điểm sách) về chủ quyền mang tính lịch sử của mình! Thay vào đó, Việt Nam cầu khẩn thế giới tuân thủ theo luật biển UNCLOS (1994)."

    Đó chỉ là một cách viết lại ý của David Brown mà không cần dùng chữ của ông ấy.

    Phản hồi: 

    [quote=Tuan34344][quote=PEKING DUCK NEWS AGENCY]
    Các cây viết "lề trái" luôn luôn bẻ cong ngòi bút để bóp méo sự kiện bất cứ lúc nào nếu có cơ hội. Chán![/quote]

    Còn các cây bút "lề phải" (dưới chế độ CS) sẵn sàng tự bẻ cong xương sống để luồn cúi, tìm cách trách bị phạt vạ. Is it fair? :D[/quote]

    hehe two wrongs make a right sai + sai = đúng

    Phản hồi: 

    Theo tác giả Âu Dương Thệ, http://www.danluan.org/tin-tuc/20141025/au-duong-the-khi-ong-thu-di-giai...

    Nhà Sản đến Âu Châu tháng 10/2014 nhưng đã thất bại vì không kí kết được Hiệp định Tự do Thương mại giữa EU-VN (EVFTA). Sau đó, họ đi lăng xăng từ Bruxelles, Berlin, Rome và Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi các nhà lãnh đạo Châu Âu kết án chính sách đe dọa an ninh hàng hải quốc tế trên biển Đông của TQ. Đặc biệt, NTD dành 3 ngày ở Đức (13-15/10/2014) để khoe tài về điều hành kinh tế và các tiến bộ ở VN, và "trong cuộc họp báo tại Berlin với Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 15.10, Thủ tướng Đức Merkel cho biết, vấn đề biển Đông sẽ được nêu ra tại Hội nghị ASEM 10 và Đức ủng hộ lập trường của VN".

    Nhưng qua hôm sau, sáng ngày 16.10, khi đặt chân tới Milano để tham dự Hội nghị cấp cao ASEM 10, thì Nguyễn Tấn Dũng đã vội vàng xin gặp Thủ tướng Trung quốc Lý Khắc Cường cũng đang có mặt ở đây. Và trong hội nghị ngày 16-10, Nguyễn Tấn Dũng đã không đề cập và không thảo luận gì tới vấn đề hàng hải ở Biển Đông! Các lãnh đạo 10 nước Âu Châu rất ngạc nhiên về thái độ bất nhất và tráo trở của Nguyễn Tấn Dũng.

    "Dĩ nhiên các nguyên thủ của 50 nước có mặt tại Hội nghị ASEM thấy quá rõ lời nói và việc làm khác nhau như trắng với đen, ngày với đêm (của Nguyễn Tấn Dũng) người cầm đầu chính phủ chế độ toàn trị ở VN đối với Bắc Kinh như thế nào. Người ngoài làm sao có thể cứu họ, khi chính họ lại không dám mở miệng và đứng thẳng trước bá quyền Bắc Kinh!" Âu Dương Thệ - http://www.danluan.org/tin-tuc/20141025/au-duong-the-khi-ong-thu-di-giai...

    Ngay cả một quốc gia giàu có và hùng mạnh như Nhật và Nam Hàn, mà còn phải liên minh quân sự với Mỹ để giữ chủ quyền biển đảo. Vậy mà một nước nghèo và yếu như VN thì từ thủ tướng cho đến bộ trưởng ngoại giao đi lăng xăng khắp thế giới tuyên bố (thiệt ra là Hà Nội nói để cho riêng Trung Quốc nghe): phương châm đối ngoại của Việt Nam là “ba không”: không liên minh quân sự với nước nào hết, không có căn sự quân sự của nước ngoài ở Việt Nam và không liên minh với nước này chống lại nước kia. Và Không dựa vào luật pháp để kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. http://biengioihaidao.wordpress.com/2014/09/29/pho-thu-tuong-pham-binh-m...

    Tóm lại, chuyến đi Âu châu của NTD tháng 10/2014 nói về chính sách 4 không của Hà Nội, bài của David Brown - Điểm sách của Bill Hayton: Biển Đông và cuộc chiến tranh giành quyền lực ở châu Á, ý kiến của FB Nguyễn Văn Tuấn về cuốn sách của Bill Haydon là bênh vực cho chủ quyền biển đảo của VN, nhưng Hà Nội, ngược lai, đã coi Bill Haydon như một kẻ thù, không cho ông ta nhập cảnh tham dự hội nghị Biển Đông..., tất cả "thái độ đó gián tiếp nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền của Tàu cộng trên những quần đảo họ đã đánh chiếm bằng vũ lực từ VN".

    Phản hồi: 

    [quote=Mường Mán]"Các cây viết "lề trái" luôn luôn bẻ cong ngòi bút để bóp méo sự kiện bất cứ lúc nào nếu có cơ hội. Chán!"

    Bác viết câu này lầm. Bài của bác NVT không phải là dịch mà là ý kiến của bác ấy. VN không lên tiếng về chủ quyền Hoàng Sa mà kêu gọi tuân thủ UNCLOS thì cũng có nghĩa là chấp nhận Trung cộng chiếm đóng hợp pháp HS rồi.

    Trong bản gốc có câu "ceased to harp" thì đúng là "ngưng lải nhải".[/quote]

    ý kiến vs. ý kiến

    Tuấn's ý kiến: "Thay vào đó, Việt Nam cầu khẩn thế giới tuân thủ theo luật biển UNCLOS (1994). Thái độ đó gián tiếp nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền của Tàu cộng trên những quần đảo họ đã đánh chiếm bằng vũ lực từ VN."

    VS.

    Minh's ý kiến: ". Luật pháp quốc tế là nơi trú ẩn của các quốc gia nhỏ và yếu hơn. Đối với các quốc gia mạnh có ý đồ gỡ bỏ những nỗi nhục trong quá khứ, thì luật pháp quốc tế thường là sự phiền toái bất tiện. Nhà cầm quyền Bắc Kinh có lẽ biết luận điểm pháp lý của họ yếu kém; ..."
    = David's ý kiến: "International law is the refuge of smaller and weaker states. For strong states intent on undoing past humiliations, international law is often an inconvenient nuisance. The regime in Beijing may know its legal case is weak;.."

    Phản hồi: 

    "Các cây viết "lề trái" luôn luôn bẻ cong ngòi bút để bóp méo sự kiện bất cứ lúc nào nếu có cơ hội. Chán!"

    Bác viết câu này lầm. Bài của bác NVT không phải là dịch mà là ý kiến của bác ấy. VN không lên tiếng về chủ quyền Hoàng Sa mà kêu gọi tuân thủ UNCLOS thì cũng có nghĩa là chấp nhận Trung cộng chiếm đóng hợp pháp HS rồi.

    Trong bản gốc có câu "ceased to harp" thì đúng là "ngưng lải nhải".

    Phản hồi: 

    [quote=PEKING DUCK NEWS AGENCY]
    Các cây viết "lề trái" luôn luôn bẻ cong ngòi bút để bóp méo sự kiện bất cứ lúc nào nếu có cơ hội. Chán![/quote]

    Còn các cây bút "lề phải" (dưới chế độ CS) sẵn sàng tự bẻ cong xương sống để luồn cúi, tìm cách trách bị phạt vạ. Is it fair? :D

    Phản hồi: 

    Thử so sánh 3 đoạn sau đây:

    Nguyễn Văn Tuấn: "Ấy thế mà Việt Nam ngày nay ngưng "lải nhải" (chữ của bài điểm sách) về chủ quyền mang tính lịch sử của mình! Thay vào đó, Việt Nam cầu khẩn thế giới tuân thủ theo luật biển UNCLOS (1994). Thái độ đó gián tiếp nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền của Tàu cộng trên những quần đảo họ đã đánh chiếm bằng vũlực từ VN."

    VS.

    Trần Văn Minh"Trớ trêu thay, người Việt Nam đã ngưng dựa vào những bằng chứng lịch sử của riêng mình. Thay vào đó, họ dựa vào các quy định phân chia vùng biển được hệ thống hóa trong Công ước Quốc tế về Luật biển, có hiệu lực từ năm 1994. Philippines và Malaysia cũng như vậy. Luật pháp quốc tế là nơi trú ẩn của các quốc gia nhỏ và yếu hơn. Đối với các quốc gia mạnh có ý đồ gỡ bỏ những nỗi nhục trong quá khứ, thì luật pháp quốc tế thường là sự phiền toái bất tiện. Nhà cầm quyền Bắc Kinh có lẽ biết luận điểm pháp lý của họ yếu kém; họ có thể suy diễn rằng Trung Quốc lẽ ra đã thống trị các vùng biển lân cận nếu không bị Tây phương và Nhật Bản áp bức."

    VS.

    David Brown: "Ironically, the Vietnamese have ceased to harp on their own historic claim. They appeal instead to the rules governing the division of seas that are codified in the UN Convention on the Law of the Sea, UNCLOS, which came into force in 1994. So do the Philippines and the Malaysians. International law is the refuge of smaller and weaker states. For strong states intent on undoing past humiliations, international law is often an inconvenient nuisance. The regime in Beijing may know its legal case is weak; it may rationalize that China would have dominated its nearby seas had it not been oppressed by the West and Japan."

    Các cây viết "lề trái" luôn luôn bẻ cong ngòi bút để bóp méo sự kiện bất cứ lúc nào nếu có cơ hội. Chán!