Dương Danh Dy - 'Hậu quả tai hại của Hội nghị Thành Đô'

  • Bởi Admin
    25/10/2014
    13 phản hồi

    Dương Danh Dy, nhà nghiên cứu Trung Quốc


    Các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười

    ...Hơn 20 năm sau Hội nghị Thành Đô, nay có dịp nhìn lại vấn đề, người ta sẽ thấy “ngộ” ra được một số điều mà ngay từ khi được phổ biến kết quả của Hội nghị, những người quan tâm đến tình hình đất nước lúc đó đã ít nhiều biểu thị sự không đồng tình.

    Bước đầu, xin mạnh dạn công khai một số yếu kém của phía chúng ta, cũng như xin thẳng thắn đề cập tới một vài tác hại của những “quyết đoán” sai lầm khi đó đối với đất nước.

    Nêu ra một số việc, không phải là muốn truy cứu trách nhiệm chính trị, hoặc nhằm bôi xấu, hạ thấp uy tín của một ai mà chỉ nhằm một mục đích: nếu không thấy hết những dại khờ, non yếu của chúng ta, không vạch trần những mưu ma chước quỷ của kẻ mà cho đến tận giờ phút này trong chúng ta vẫn còn có không ít ngưòi lầm tưởng họ là những đồng chí cộng sản, những người đang cùng chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thì sẽ là một nguy hại to lớn, lâu dài, tiềm ẩn đối với dân tộc.

    Ngoài những nhân nhượng vô nguyên tắc về Campuchia như đã trình bày ở bài trước, phía Việt Nam đã không hề (hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc Chiến tranh Biên giới tháng 2 năm 1979 do Ban lãnh đạo Bắc Kinh cố tình, chủ động gây ra.

    Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ hai nước từ nay “hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”.

    Đó là những điều ngưòi viết bài này thu nhận được sau khi đã hỏi kỹ đồng chí phiên dịch và nói chuyện nghiêm túc nhiều lần với đồng chí Hồng Hà khi đồng chí còn sống tại một số cuộc họp và tại phòng làm việc của đồng chí tại số 2 Nguyễn Cảnh Trân và tại nhà riêng của tôi do đồng chí chủ động tới gặp.

    Không dám hé một lời

    Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thường chiến tranh trong khi đã nêu vấn đế Mỹ bồi thường chiến tranh

    Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thường chiến tranh trong khi đã nêu vấn đế Mỹ bồi thường chiến tranh là điều kiện tiên quyết để bình thường hoá quan hệ hai nước nhưng tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là một lời với Trung Quốc về cuộc chiến tranh tàn ác đó và buộc họ chí ít phải nói ra câu 'lấy làm tiếc' về hành động phi nghĩa của mình?

    Nhượng bộ vô nguyên tắc này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dường như giành được 'vị thế chính nghĩa' trước dư luận quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù họ mang hơn 60 vạn quân chính quy xâm lược, giết hại nhiều đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta tại vùng sáu tỉnh biên giới Việt Nam.

    Làm cho một bộ phận người trên thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc: 'Việt Nam xua đuổi người Hoa', 'Việt Nam xâm lược Campuchia'… là đúng, việc thế giới 'lên án, bao vây cấm vận Việt Nam' là cần thiết, việc Trung Quốc 'cho Việt Nam một bài học' là phải đạo…trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc đánh tan bọn Khơme Đỏ, cứu nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.

    Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫn chưa biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói lại chuyện cũ với Trung Quốc, khiến cho trong hơn 20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc. Ngay cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên.


    Cuộc Chiến tranh Biên giới năm 1979 bị quên đi

    Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo, mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết cách để bôi xấu, xuyên tạc Việt Nam về mọi mặt, đến nỗi phần lớn người dân Trung Quốc bình thường khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là 'vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát'...

    Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều tra công khai, đã có tới “80% dân mạng Trung Quốc - tức khoảng 300 triệu ngưòi-chủ yếu là thanh niên và người có học - tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển Đông.

    Cảm tình, ấn tượng tốt đẹp của đa số nhân dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước đây dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa biết bao giờ mới xoá bỏ được.

    Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, rồi lợi dụng mọi cơ hội đế đến Đại hội 8 Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức làm được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người lãnh đạo có tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có sức khoẻ dồi dào, có uy tín quốc tế, nhất là đối với các nước Phương Tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một việc làm dại dột “vác đá tự ghè chân mình”...

    Có thể nói mà không sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5 năm.

    Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưởng của Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng 1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam (lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp cho biết)

    Cần nói thêm, việc ngoan ngoãn chấp hành yêu sách gạt bỏ đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã tạo điều kiện để từ sau đó, Bắc Kinh can thiệp ngày càng sâu hơn vào công tác cán bộ, nhân sự chủ chốt của đảng và nhà nước ta qua mấy kỳ đại hội Đảng (IX, X, và XI) nhằm có người thân Trung Quốc trong cơ cấu lãnh đạo cấp cao.


    Quan hệ Việt - Trung đ̣ã trải qua nhiều bước thăng trầm

    Việc tỏ ý không muốn thấy con trai đồng chí Nguyễn Cơ Thạch nêu trên chỉ là một ví dụ gần đây nhất.

    Đây là việc chưa từng có trong Đảng ta. Chúng ta đều biết thời Bác Hồ, trong Đảng ta tuy có người này kẻ kia thân Liên Xô, thân Trung Quốc nhưng ngưòi nào cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối của Đảng, thời đồng chí Lê Duấn là người lãnh đạo chủ yếu đã không duy trì được nếp chung sống đó, nhưng bất kể là ai hễ thân Liên Xô, thân Trung Quốc trong đảng đều bị loại trừ.

    Có thể nhận định thế này thế nọ về hiện tượng trên nhưng có một điều có thể khẳng định, thời đó nước ngoài và nhất là Trung Quốc, không thể trực tiếp thò tay can thiệp vào nội bộ Đảng ta nhất là vê công tác nhân sự tổ chức.

    Nhưng từ năm 1991 đến nay, việc Trung Quốc can thiệp vào nội bộ ta đã hầu như đã diễn ra thường xuyên và chưa hề bị lên án. Phải chăng đã xuất hiện 'Nhóm lợi ích thân Trung Quốc' trong Đảng ta? Không giải quyết được tình trạng này thì hậu hoạn khôn lường.

    Bài học bị dắt mũi nhớ đời

    Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các hậu quả trên mà phải dùng từ “cái giá phải trả bằng xương máu” mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề.

    Hội nghị Thành Đô đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả to lớn, cay đắng, nhục nhã...

    Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà người viết xin mạnh dạn khởi đầu trước: từ những cái giá phải trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ những bài học nào?

    1. Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước XHCN Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.


    Lãnh đạo Việt Nam đã nhận định sai về vị thế quan hệ Trung - Xô

    Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện Bức tường Berlin bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc Yeltsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Liên bang Nga, Gorbachev từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi, sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên.

    Trong tình hình như thế mà lại chủ trương 'bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc', 'Mỹ và Phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản'.

    "Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.” (trích Hồi ký Trần Quang Cơ)

    Cần thấy rằng, trước đó Liên Xô là chỗ dựa về nhiều mặt của Việt Nam, tuy vậy phải nói thẳng ra rằng, so với Cuba thì Việt Nam tương đối ít lệ thuộc hơn. Thế nhưng trong khi Cuba phụ thuộc nặng nề vào Liên Xô, lại ở ngay sát nách Mỹ đã không tỏ ra hoảng hốt khi Liên Xô tan rã, và các bạn ấy vẫn hiên ngang đứng vững từ đó đến nay, Mỹ không dám can thiệp… thì Việt Nam đã phải vội vã quay sang tìm đồng minh ngay với kẻ đang là đối thủ nguy hiểm trực tiếp của mình chỉ vì cái đại cục chung chung, chỉ vì sợ mất chỗ dựa, sợ có thể mất chủ nghĩa xã hội, mất Đảng.

    Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xảy ra sự kiện Thiên An Môn, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận nhân dân bất mãn với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

    Do đàn áp đẫm máu học sinh sinh viên, Trung Quốc bị các nước Phương Tây chủ yếu cấm vận về chính trị, kinh tế, quân sự, có hạng mục như xuất khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ.

    Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc 'dắt mũi' kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận bây giờ và cả trong tương lai nữa.


    Lãnh đạo Đảng năm 1990 đã đánh mất bản lĩnh và trở nên sợ địch

    Không thể không đề cập tới một vấn đề nữa là trong hơn 10 năm đối kháng, nhà nước Xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không từ thủ đoạn nào trong đối xử với nước ta, không những thế thái độ của họ trong đối xử với Liên Xô, trong đối xử với nước Ấn Độ láng giềng đồng tác giả với họ trong đề xướng 5 nguyên tăc chung sống hoà bình những năm trước đó.

    Chẳng lẽ Ban lãnh đạo Việt Nam lúc đó lại không thấy chút nào?

    2. Bằng những thoả thuận tại Hội nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo chủ yếu của Đảng ta lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh kiên cường, bất khuất, không sợ địch mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao, để sẵn sàng nhận sai về phần mình trước kẻ thù, tuỳ tiện đổ lỗi cho người tiền nhiệm.

    Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển đường lối cải cách và Đổi mới và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp 'vì chủ nghĩa xã hội', 'vì đại cục' của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.

    Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi 'láng giềng bốn tốt', của 'những đồng chí' luôn rêu rao '16 chữ vàng' đang không ngừng vận dụng những thành quả cũ vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tương lai.

    Bài viết thể hiện quan điểm riêng của nhà ngoại giao kỳ cựu Dương Danh Dy, hiện sống tại Hà Nội. Mời quý vị đọc bài trước 'Họp Thành Đô 'nguyên nhân và diễn biến''

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    TQVN viết:
    Câu tôi hỏi bác: Bác có thể nói rõ "đặt vào vị trí lịch sử của nó" là như thế nào không? Cám ơn.

    Bác trả lời:

    Tran Thi Ngự viết:

    Đơn giản thế mà cũng phải hỏi: là thời gian trước ngày 30 tháng Tư năm 1975.

    Câu trả lời của bác như thế chưa rõ, chứng tỏ bác là người chưa có "khả năng" nói thẳng suy nghĩ của mình! Vậy tôi hỏi thẳng thế nầy: Có phải bác muốn nói rằng trước ngày 30 tháng Tư 1975, cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của VNCH. Bây giờ VNCH "chết" rồi thì cờ vàng ba sọc đỏ phải chết theo?

    Trước hết tôi xin nói sơ lược về cờ vàng ba sọc đỏ: chế độ sử dụng nó làm quốc kỳ không phải chỉ "chết" (nên nhớ chế độ chết, chứ cờ không chết) một lần mà đã "chết" đến ba lần. Ba thời kỳ nó (quốc kỳ) sống là: 1890 - 1920; 1948 - 1955 và 1955 - 1975. Từ 1975 đến ngày nay, lá cờ nầy không còn chế độ nào ở Việt Nam sử dụng làm quốc kỳ nữa mà được NVTNCS (người Việt tỵ nạn cộng sản) sử dụng nó như lá cờ biểu tượng cho họ. Việc các dân tộc tỵ nạn khác không sử dụng cờ làm biểu tượng cho họ là việc của họ. NVTNCS có một lịch sử khác họ (các dân tộc khác), sử dụng cờ gì làm biểu tương cho họ là quyền của họ miễn là không phạm pháp quốc gia mà họ đang sinh sống.

    ...

    Các bác,

    Bác TQVN viết "nên nhớ chế độ chết, chứ cờ không chết" và tôi bổ túc thêm là chế độ chưa tồn tại nhưng cờ vẫn tồn tại.

    Thực tế ở châu Âu có một điểm chú ý là EU phát triển bao gồm hơn 25 nước (http://europa.eu/) nhưng lại có những vùng đòi tự trị, đòi ly khai, đòi độc lập (như Scotland, vùng Catalan, ...). Những nơi này, họ có cờ riêng, cho dù họ chưa có chế độ riêng biệt, độc lập. Không ai cấm họ giương cờ riêng (có thể trừ vùng Basque ?) miễn là họ tôn trọng luật pháp nơi họ giương cờ.

    Bài chủ này bàn về chuyện quan trọng hơn nhiều đối với chuyện cầm cờ, đó là những 'Hậu quả tai hại của Hội nghị Thành Đô' do sự hèn nhát và ngu dốt của trung ương đảng CSVN.

    Câu tôi hỏi bác: Bác có thể nói rõ "đặt vào vị trí lịch sử của nó" là như thế nào không? Cám ơn.

    Bác trả lời:

    Tran Thi Ngự viết:

    Đơn giản thế mà cũng phải hỏi: là thời gian trước ngày 30 tháng Tư năm 1975.

    Câu trả lời của bác như thế chưa rõ, chứng tỏ bác là người chưa có "khả năng" nói thẳng suy nghĩ của mình! Vậy tôi hỏi thẳng thế nầy: Có phải bác muốn nói rằng trước ngày 30 tháng Tư 1975, cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của VNCH. Bây giờ VNCH "chết" rồi thì cờ vàng ba sọc đỏ phải chết theo?

    Trước hết tôi xin nói sơ lược về cờ vàng ba sọc đỏ: chế độ sử dụng nó làm quốc kỳ không phải chỉ "chết" (nên nhớ chế độ chết, chứ cờ không chết) một lần mà đã "chết" đến ba lần. Ba thời kỳ nó (quốc kỳ) sống là: 1890 - 1920; 1948 - 1955 và 1955 - 1975. Từ 1975 đến ngày nay, lá cờ nầy không còn chế độ nào ở Việt Nam sử dụng làm quốc kỳ nữa mà được NVTNCS (người Việt tỵ nạn cộng sản) sử dụng nó như lá cờ biểu tượng cho họ. Việc các dân tộc tỵ nạn khác không sử dụng cờ làm biểu tượng cho họ là việc của họ. NVTNCS có một lịch sử khác họ (các dân tộc khác), sử dụng cờ gì làm biểu tương cho họ là quyền của họ miễn là không phạm pháp quốc gia mà họ đang sinh sống.

    Cá nhân tôi không bao giờ có ý nghĩ hay ý định phục quốc VNCH, cũng như không có ý định khuyến nhủ ai phải hay nên chấp nhận cờ vàng ba sọc đỏ mà tôi chỉ muốn nói rằng NVTNCS có quyền (và tôi tôn trọng họ khi họ chọn thế) lấy cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng cho họ miễn là không quá lạm dụng nó.

    Thú thật với bác, cá nhân tôi không thích lắm lá cờ nầy vì nội dung ba sọc đỏ của nó. Tuy nhiên tôi quý trọng nó vì những nơi và thời kỳ nó tung bay trước gió ở miền Nam VN là thời kỳ tôi được yên ổn cắp sách đến trường, là thời kỳ tôi được tự do biểu tình chống chính quyền miễn là tôi không theo cộng sản, là thời kỳ bố mẹ tôi được tự do ứng cử và bầu cử vào bất kỳ chức vụ gì họ muốn, . . . và còn, còn nhiều thứ nữa. Kể cả ngày nay khi tôi nhìn thấy nó là tâm trí tôi nhớ lại những người đã gục ngã để bảo vệ nó, tôi cám ơn họ, cám ơn cả những người đã đổ máu, đã mất một phần thân thể để bảo vệ nó, bảo vệ miền Nam được tự do chống lại ngoại xâm, chống lại những ai muốn nhuộm đỏ nó, và nhờ có sự hy sinh của họ mà tôi được thụ hưởng một nền giáo dục nhân bản, được có điều kiện học hành đến nơi đến chốn mà bố mẹ tôi đã không phải trả một xu nào. Cám ơn, cám ơn, cám ơn họ rất nhiều và tôi nghĩ họ, những người đã vị quốc vong thân cũng đã mĩm cười, ôm vào lòng lá cờ nầy trước giây phút họ nhắm mắt.

    Có một chiến dịch do những người Việt nam quan tâm đến đất nước dấy lên vài tuần trước. Đó là: "Chúng tôi muốn biết". Những người chấp nhận bao hiểm nguy để dấy lên phong trào đòi hỏi chính quyền Việt cộng minh bạch với công chúng, đặc biệt là hội nghị Thành Đô 1990. Ông Dương Danh Dy nhân cơ hội này, viết lại đôi điều cảm nghĩ về cái hội nghị tai hại cho VN này. Thiết nghĩ, chúng ta có nên lèo lái sự kiện này với đề tài gây chia rẽ kia không?

    Tên tác giả viết:
    Cần nói thêm, việc ngoan ngoãn chấp hành yêu sách gạt bỏ đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã tạo điều kiện để từ sau đó, Bắc Kinh can thiệp ngày càng sâu hơn vào công tác cán bộ, nhân sự chủ chốt của đảng và nhà nước ta qua mấy kỳ đại hội Đảng (IX, X, và XI) nhằm có người thân Trung Quốc trong cơ cấu lãnh đạo cấp cao.

    Quan hệ Việt - Trung đ̣ã trải qua nhiều bước thăng trầm
    Việc tỏ ý không muốn thấy con trai đồng chí Nguyễn Cơ Thạch nêu trên chỉ là một ví dụ gần đây nhất

    Từ Hồ Chí Minh đến Trọng lú, đảng Việt cộng luôn nói đến độc lập. Đây chính là độc lập của Việt cộng: Thuận theo ý của Tàu loại đồng bọn vì đồng chí của chúng có hơi hướng chống Tàu.

    TQVN viết:
    Bác có thể nói rõ "đặt vào vị trí lịch sử của nó" là như thế nào không? Cám ơn.

    Đơn giản thế mà cũng phải hỏi: là thời gian trước ngày 30 tháng Tư năm 1975.

    Khương Việt viết:
    Bà Trần Thị Ngự viết"Tôi không ủng hộ mang cờ vàng vào các sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại."

    Quả là một ý đáng bàn; nhất là khi được viết ra bởi một cựu sinh viên Cao học Luật Khoa Sài Gòn, người không chừng đã định cư ở Mỹ lâu, theo diện TỊ NẠN CHÍNH TRỊ!

    Không mang Cờ Vàng vào,nhưng liệu có nên mang,hay mang được Cờ Đỏ vào? Hay không cờ nào cả mà chỉ dùng Cờ Hoa?

    Mang cờ nào thì tôi đã nói rõ trong còm của tôi rồi. Còm sĩ Khương Việt chịu khó đọc kỹ nhé.

    Khương Việt viết:
    Ngọn cờ,trong hoàn cảnh đặc biệt của người Việt ở hải ngoại,không chỉ là một biểu tượng của quá khứ. Nó còn là biểu tượng về văn hoá, và quan trọng hơn hết là biểu tượng về căn cước chính trị của người Việt tị nạn Cộng Sản.

    Các du học sinh, hay doanh nhân từ VN qua sau này, hoặc những người qua Mỹ theo diện đoàn tụ hôn nhân,v.v... có thể không nhận Cờ Vàng là một biểu tượng về căn cước chính trị của họ. Điều đó có thể hiểu và chấp nhận được.

    Nhưng không lẽ những người trước đây đã từng chiến đấu, từng đổ máu dưới ngọn cờ Vàng, và vì quá khứ đó, họ bị chế độ CSVN bách hại, rồi phải lià quê hương, đem thân lưu vong xứ người, lại phải đem cất ngọn Cờ Vàng vào bảo tàng viện, tự mình dấu kín CĂN CƯỚC CHÍNH TRỊ của mình và cúi đầu chấp nhận ngọn Cờ Đỏ, biểu hiện của chế độ đã ngược đãi họ và con cái họ?

    Không có quá khứ, thì làm sao có hiện tại? Có thể nào cho rằng vì VNCH đã thất bại và lùi vào quá khứ nên những ai đã một thời hy sinh cho chế độ ấy không được dùng ngọn Cờ Vàng trong các sinh hoạt hiện nay của mình?

    Tôi không tin rằng cần có một lá cớ để làm biểu tượng "căn cước tỵ nạn." Nước Mỹ từ ngày lập quốc đến nay đã có nhiều sắc dân ở khắp thế giới đến Mỹ tỵ nạn chính trị. Tuy nhiên, những sắc dân ấy không có một là cờ riêng biệt nào nào để "nhắc nhở" mà bản thân họ không bao giờ quên ngưồn gốc ty nạn của họ. Thí dụ: hiện nay những người Do Thái hay người Đức đã đến Mỹ trước đây để chạy trốn Đức Quốc Xã không cần dùng một lá cờ nào để tượng trưng cho căn cước tỵ nạn của họ.

    Khương Việt viết:
    Nhân danh điều gì để có quyền có một đòi hỏi như vậy?

    Còm sĩ Khương Việt nên đọc kỹ còm của tôi nhé. Tôi không ủng hộ không có nghĩa là tôi đòi hỏi ai hay cấm đoán ai. Tuy nhiên, trong một diễn đàn như trang DL, tôi có quyền phát biểu ý kiến của tôi một cách ôn hoà.

    Khương Việt viết:
    Chắc là vì muốn HOÀ GIẢI HOÀ HỢP DÂN TỘC? Nhưng phải chăng chấp nhận sự hiện hữu một ngọn cờ, căn cước chính trị của một bộ phận dân tộc, là biểu hiện của sự bao dung; nền tảng cho mọi sự hoà giải?

    Tôi đã giải thích rất rõ ràng quan điểm của tôi về việc không nên dùng cờ vàng trong còm trước, và độc giả có quyền đồng ý hay không đồng ý. Nếu ai không đồng ý điểm nào, nên đọc thật kỹ và chính xác trước khi phê phán, chứ không nên đoán đoán già đoán non.

    Bà Trần Thị Ngự viết"Tôi không ủng hộ mang cờ vàng vào các sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại."

    Quả là một ý đáng bàn; nhất là khi được viết ra bởi một cựu sinh viên Cao học Luật Khoa Sài Gòn, người không chừng đã định cư ở Mỹ lâu, theo diện TỊ NẠN CHÍNH TRỊ!

    Không mang Cờ Vàng vào,nhưng liệu có nên mang,hay mang được Cờ Đỏ vào? Hay không cờ nào cả mà chỉ dùng Cờ Hoa?

    Ngọn cờ,trong hoàn cảnh đặc biệt của người Việt ở hải ngoại,không chỉ là một biểu tượng của quá khứ. Nó còn là biểu tượng về văn hoá, và quan trọng hơn hết là biểu tượng về căn cước chính trị của người Việt tị nạn Cộng Sản.

    Các du học sinh, hay doanh nhân từ VN qua sau này, hoặc những người qua Mỹ theo diện đoàn tụ hôn nhân,v.v... có thể không nhận Cờ Vàng là một biểu tượng về căn cước chính trị của họ. Điều đó có thể hiểu và chấp nhận được.

    Nhưng không lẽ những người trước đây đã từng chiến đấu, từng đổ máu dưới ngọn cờ Vàng, và vì quá khứ đó, họ bị chế độ CSVN bách hại, rồi phải lià quê hương, đem thân lưu vong xứ người, lại phải đem cất ngọn Cờ Vàng vào bảo tàng viện, tự mình dấu kín CĂN CƯỚC CHÍNH TRỊ của mình và cúi đầu chấp nhận ngọn Cờ Đỏ, biểu hiện của chế độ đã ngược đãi họ và con cái họ?

    Không có quá khứ, thì làm sao có hiện tại? Có thể nào cho rằng vì VNCH đã thất bại và lùi vào quá khứ nên những ai đã một thời hy sinh cho chế độ ấy không được dùng ngọn Cờ Vàng trong các sinh hoạt hiện nay của mình?

    Nhân danh điều gì để có quyền có một đòi hỏi như vậy?

    Chắc là vì muốn HOÀ GIẢI HOÀ HỢP DÂN TỘC? Nhưng phải chăng chấp nhận sự hiện hữu một ngọn cờ, căn cước chính trị của một bộ phận dân tộc, là biểu hiện của sự bao dung; nền tảng cho mọi sự hoà giải?

    Trích từ bài trước:

    "Chấp nhận thoả thuận Thành Đô, Đại hội VII ĐCSVN, họp từ ngày 17/6 đến 27/6/1991 đã gạt đồng chí Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, không để ông giữ bất kỳ chức vụ nào về đảng và nhà nước.

    Đại hội đã bầu Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười làm Tổng Bí thư. Sau đó ít lâu Uỷ viên Bộ Chính trị Lê Đức Anh được bầu làm Chủ tịch nước."

    Toàn bộ nhân sự lãnh đạo của Việt Nam đều được/bị Trung Quốc sắp đặt .

    Và điều này tớ không đồng ý

    1- "Đây là việc chưa từng có trong Đảng ta. Chúng ta đều biết thời Bác Hồ, trong Đảng ta tuy có người này kẻ kia thân Liên Xô, thân Trung Quốc nhưng ngưòi nào cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối của Đảng"

    Nhưng nếu đường lối của Đảng là lệ thuộc Trung Quốc dẫn đến những hậu/kết quả đẫm máu thì sao ? Việc này thì có tiền lệ rồi . Lại có đồng chí bảo là "dưới sức ép của Trung Quốc nên Bác Hồ phải nghe/làm theo"

    2- Sự lựa chọn đi theo Trung Quốc của đảng Cộng Sản để bảo vệ chủ nghĩa xã hội trong lúc chủ nghĩa xã hội đang xụp đổ là đúng đắn . Nhờ vậy mới giữ vững được con đường chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ vĩ đại đã chọn cho dân tộc tới bây giờ .

    Chọn con đường dân chủ tư bản tức là đi ngược lại Di chúc của Bác Hồ vĩ đại, đi ngược lại những tài sản tư tưởng vô giá mà Bác Hồ đã để lại cho dân tộc .

    Trích dẫn:

    Đọc mà cố ý hiểu sai và xuyên tạc ý kiến của người khác là biểu hiện của thành kiến. Tôi không ủng hộ mang cờ vàng vào các sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại không có nghĩa là tôi "dị ứng" với cờ vàng. Tôi chỉ muốn cờ vàng được trang trọng đặt vào vị trí lịch sử của nó, nhớ kỹ như thế nhá.

    Bác có thể nói rõ "đặt vào vị trí lịch sử của nó" là như thế nào không? Cám ơn.

    TQVN viết:
    Trần Thi Ngự viết:

    Cao kiến của cụ Dương Danh Dy là cho phổ biến công khai tin tức và hậu quả của HNTĐ để người dân hiểu rõ. Nếu còm sĩ TQVN chưa hài lòng với "cao kiến" này, thì còm sĩ mong mỏi cụ Dưong Danh Dy làm điều gì khác?

    Thì hãy đến thọ giáo còm sĩ Trần Thi Ngự, còm sĩ Ngự đã từng "ăn cơm thừa canh cặn" của Mỹ-Ngụy mà dị ứng với cờ vàng thì nếu cụ có giải pháp "dị ứng với cờ đỏ" thì hay biết mấy :-)

    Đọc mà cố ý hiểu sai và xuyên tạc ý kiến của người khác là biểu hiện của thành kiến. Tôi không ủng hộ mang cờ vàng vào các sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại không có nghĩa là tôi "dị ứng" với cờ vàng. Tôi chỉ muốn cờ vàng được trang trọng đặt vào vị trí lịch sử của nó, nhớ kỹ như thế nhá.

    Trích dẫn:
    Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển đường lối cải cách và Đổi mới và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp 'vì chủ nghĩa xã hội', 'vì đại cục' của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.

    Có gì khó hiểu hử ông Hy ?!

    Nếu gạt đi cái ý nghĩ huyễn hoặc về "tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển đường lối cải cách và Đổi mới và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những thành tích to lớn rất quan trọng" thì câu trả lời 'biện chứng' sẽ là, trứng chẳng thể khôn hơn vịt, áo không mặc khỏi quá đầu, xuyên suốt lịch sử ra đời và phát triển của mình, cộng sản VN nếu không dựa vào Tàu cộng núi liền núi, sông liền sông, bên ni biên giới là mình, bên kia biên giới cũng tình quê hương, thì chẳng thể có thành tích to lớn gì cả. Tàu cộng không phải là đối thủ mà là sư phụ, là anh hai vĩ đại của cộng sản VN !!

    Từng đánh nhau với Tàu cộng ư ? Thực tế lịch sử cho thấy thế này, có LX, TQ chống lưng thì cộng sản VN đánh Mỹ cho LX, cho TQ. Còn LX chống lưng thì cộng sản VN quay sang đánh nhau với Campuchia, với Tàu cộng. Đến khi LX sụp thì cộng sản VN bơ vơ như mất chủ, hết dám đánh ai, sợ hãi cùng đường, cả bọn dắt díu nhau sang đầu hàng làm nô tài cho Tàu cộng, từ ấy đến nay !!

    Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy nói về Hội nghị Thành Đô: "Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi 'láng giềng bốn tốt', của 'những đồng chí' luôn rêu rao '16 chữ vàng' đang không ngừng vận dụng những thành quả cũ vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tương lai."

    Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói về chuyến đi của các tướng sang Trung Quốc: Năm 1974, họ đánh chiếm Hoàng Sa của ta. Năm 1979, họ xua quân xâm lăng, giết hại đồng bào và tàn phá 6 tỉnh biên giới của ta. Năm 1988, họ đánh chiếm bãi đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta, giết hại 64 cán bộ chiến sĩ của ta. Trong đàm phán biên giới, họ ép và lấn ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, mấy trăm mét từ ải Nam Quan xuống đến xã Tân Thanh và nhiều nơi nữa dọc biên giới, ta mất đất bằng một tỉnh Thái Bình. Trên biển, TQ lập huyện Tam Sa bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của ta, bắt tàu cá, tịch thu tài sản của ngư dân, bắn giết ngư dân ta, đưa giàn khoan 981HD vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của ta với hàng trăm tàu bảo vệ phun vòi rồng, đâm hỏng tàu chấp pháp, tàu kiểm ngư, đâm chìm tàu cá của ngư dân ta... Từ khi họ nêu ra phương châm "16 chữ + 4 tốt", chỉ có lãnh đạo phía Việt Nam thực hiện, TQ không những không hề thực hiện, trái lại còn làm những việc lấn chiếm, bắn giết, đe dọa... Phải gọi họ là kẻ cướp, kẻ thù. Thế mà,ông Phùng Quang Thanh dẫn các tướng sang thăm TQ nhằm "củng cố tình hữu nghị".

    Bối cảnh mới:
    - TQ luôn tuyên bố không thay đổi lập trường đối với biển Đông , và quyết không thay đổi lập trường qua việc xây dựng các đảo nhân tạo, sân bay và đường băng trên đảo Phú Lâm, hoàn thiện căn cứ quân sự có đường băng trên nhóm bãi đá Gạc Ma.
    - Campuchia đang dấy phong trào bài Việt, tạo áp lực phía nam và tăng thêm thời cơ cho TQ bành trướng bá quyền ở biển Đông.

    Trong ĐHĐCS lần 12, 2016, ai sẽ "phân tích sâu sắc bài học Thành Đô này trong toàn Đảng" như nhà nghiên cứu Dương Danh Dy đã nói: ô. Nguyễn Phú Trọng? ô. Nguyễn Tấn Dũng? ô. Trương Tấn Sang? Không kể ô. Nguyễn Sinh Hùng vì scandal Hà Văn Thắm? https://soundcloud.com/huannc/ha-van-tham-tran-thanh-quang

    Trần Thi Ngự viết:

    Cao kiến của cụ Dương Danh Dy là cho phổ biến công khai tin tức và hậu quả của HNTĐ để người dân hiểu rõ. Nếu còm sĩ TQVN chưa hài lòng với "cao kiến" này, thì còm sĩ mong mỏi cụ Dưong Danh Dy làm điều gì khác?

    Thì hãy đến thọ giáo còm sĩ Trần Thi Ngự, còm sĩ Ngự đã từng "ăn cơm thừa canh cặn" của Mỹ-Ngụy mà dị ứng với cờ vàng thì nếu cụ có giải pháp "dị ứng với cờ đỏ" thì hay biết mấy :-)

    TQVN viết:
    Cám ơn cụ Dương Danh Dy nói về "'Hậu quả tai hại của Hội nghị Thành Đô'" mà nhiều người đã biết! Tôi đọc bài nầy một mạch để xem cụ có cao kiến gì không thì cuối cùng giải pháp mà cụ 'đề nghị' là: Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi 'láng giềng bốn tốt', của 'những đồng chí' luôn rêu rao '16 chữ vàng' đang không ngừng vận dụng những thành quả cũ vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tương lai" ===> buồn!

    Cao kiến của cụ Dương Danh Dy là cho phổ biến công khai tin tức và hậu quả của HNTĐ để người dân hiểu rõ. Nếu còm sĩ TQVN chưa hài lòng với "cao kiến" này, thì còm sĩ mong mỏi cụ Dưong Danh Dy làm điều gì khác?

    Cám ơn cụ Dương Danh Dy nói về "'Hậu quả tai hại của Hội nghị Thành Đô'" mà nhiều người đã biết! Tôi đọc bài nầy một mạch để xem cụ có cao kiến gì không thì cuối cùng giải pháp mà cụ 'đề nghị' là: Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi 'láng giềng bốn tốt', của 'những đồng chí' luôn rêu rao '16 chữ vàng' đang không ngừng vận dụng những thành quả cũ vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tương lai" ===> buồn!