Số ít được lựa chọn: Cuốn sách giải mã sự thành công của dân tộc Do Thái

  • Bởi Admin
    17/10/2014
    4 phản hồi


    Năm 70 CN, người Do Thái sống trên mảnh đất Israel và Mesopotamia đa phần làm nghề nông và mù chữ. Đến năm 1492, người Do Thái đã trở thành một nhóm thiểu số biết đọc biết viết và làm những công việc đòi hỏi phải có hiểu biết và tay nghề như nghề thủ công, lái buôn, cho vay lãi, doanh nghiệp, ngân hàng, tài chính, luật sư, bác sỹ, học giả tại hàng trăm các đô thị rải rác khắp châu Âu, châu Phi và châu Á, từ Seville thuộc Tây Ban Nha tới Mangalore của Ấn Độ. Về mặt nhân khẩu học, cũng trong thời kỳ này, một khảo sát rất gây sốc cho thấy 2/3 dân số Do Thái đã biến mất vào cuối của thiên niên kỷ thứ nhất tức là khoảng thế kỷ 10 sau Công lịch. Lý do gì đã dẫn đến những thay đổi này? Số ít được lựa chọn trình bầy câu trả lời cho câu hỏi này qua những phân tích kinh tế, xã hội và tôn giáo dựa trên những sự kiện chính trong suốt 15 thế kỷ hình thành lịch sử Do Thái. Trong cuốn sách này, hai học giả Maristella Botticini và Zvi Eckstein đưa ra một cách giải thích mới rất thuyết phục về một trong những chuyển biến quan trọng trong lịch sử Do Thái đồng thời cũng cung cấp những hiểu biết mới mẻ trong những tranh luận về sự ảnh hưởng của tôn giáo đến các khía cạnh xã hội và kinh tế.

    Tên cuốn sách “Số ít được lựa chọn” về mặt ngữ nghĩa được hiểu là “một nhóm người nhỏ được ban những ân sủng đặc biệt hơn những người khác”. Đây là nhóm người Do Thái giáo còn lại vào năm 1492 sau khi phần lớn 2/3 đã biến mất. Những người này được coi là đã tồn tại thành công trong sự nghiệp và đã để lại cho đất nước Do Thái một di sản trí tuệ đặc sắc cho đến ngày nay.

    Một vài học giả phương Tây nhận định rằng một phần ba của văn minh phương Tây mang dấu ấn của tổ tiên Do Thái. Chúng ta có thể cảm nhận sức nặng của nhận định này từ những tên gọi như Abraham Lincolh1 – tên của tổng thống thứ 16 của nước Mỹ, cho đến bức tượng nổi tiếng David2 của điêu khắc gia người Ý Michaelangelo; từ tên tuổi các tư tưởng gia đã làm thay đổi tư duy của thế giới như Albert Einstein, Sigmund Freud; các chính trị gia lỗi lạc Henry Kissinger, Thủ tướng Áo Bruno Kreisky, Thủ tướng Pháp Pierre Mendès…; các văn sĩ nổi tiếng Franz Kafka, Issac Asimov, Shai Agnon…; các nhạc sĩ cổ điển Isaac Stern, Yascha Heifetz, Arthur Rubinstain…; các đạo diễn điện ảnh Woody Allen, Steven Speilberg…; các doanh nhân tỷ phú Phố Walls như George Soros, Ralph Lauren… Ở nước Mỹ hiện nay có 1/3 triệu phú và 20% giáo sư các trường đại học hàng đầu thế giới là người Do Thái.

    Với những ảnh hưởng sâu sắc như thế, chúng ta dễ mường tượng rằng đất nước, con người, và lịch sử Do Thái phải vô cùng ấn tượng và kỳ vĩ. Thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Theo thời gian, người Do Thái là những kẻ đến muộn trên sân khấu lịch sử. Mảnh đất Canaan cổ nhỏ bé, dài 424 km, rộng 114 km, là nơi định cư cuối cùng của người Do Thái khi quốc gia Israel được Liên Hiệp Quốc chấp nhận thành lập vào năm 1948. Còn lịch sử của Do Thái, nhìn từ bên ngoài, có thể nói là rất khiêm nhường, cũng giống như lịch sử của muôn vàn những dân tộc nhược tiểu khác.

    Vậy thì chìa khóa của những thành tựu của người Do Thái nằm ở đâu nếu không phải là nằm ở nơi những cổ vật quí giá hay ở kích thước địa lý của đất nước và lịch sử. Dường như cho đến nay cũng vẫn chưa có câu trả lời nào thật sự là thỏa mãn. Những điều chúng ta biết và hiểu về đất nước Israel vẫn chỉ là ở trên bề nổi, ở những cái chúng ta nhìn thấy, trong khi những lý do rất gốc rễ, rất sâu xa lại nằm ở một phạm trù khác, rất kín đáo và tâm linh.

    Đất nước Israel là một đất nước đặc biệt, đến nỗi mà cho đến nay có rất nhiều câu hỏi về đất nước này dường như còn vẫn treo lơ lửng trong tâm thức mỗi người Việt Nam cũng như rất nhiều người dân tộc khác trên thế giới. Tại sao người Israel lại đặc biệt thông minh và trí tuệ như vậy? Nền giáo dục đặc sắc Do Thái có được ngày nay bắt đầu từ khi nào, dựa trên triết lý giáo dục và nền tảng tôn giáo nào? Thời kỳ nào trong lịch sử đã để lại cho Do Thái một di sản trí tuệ bền vững và xuyên suốt qua nhiều thế kỷ? Lý do nào giúp người Do Thái làm nghề nông suốt cho đến thế kỷ 6 lại chuyển dần thành công sang lái buôn, doanh nghiệp, ngân hàng, tài chính, luật sư, bác sỹ, học giả ở khắp các miền đất trên thế giới nơi họ cư ngụ trong những thế kỷ sau đó? Từ khi nào và tại sao những mô hình nghề nghiệp và cư trú này trở thành những nét đặc trưng của người Do Thái? Tại sao đất nước Israel lại đạt được những thành tựu lớn lao cho đến ngày nay, chất keo nào đã gắn kết dân tộc Do Thái thành một sức mạnh tựa như thần thánh? Cái gì là chìa khóa của những thành tựu này?

    Để tìm kiếm những câu trả lời này, rất nhiều học giả trên thế giới đã phải ngược bước trở lại thời kỳ sơ khai 4000 năm về trước của đất nước Do Thái, và lần theo bước chân của họ từ đó cho đến ngày nay. Trong “Số ít được lựa chọn”, hai tác giả Maristella Botticini và Zvi Eckstein sẽ dẫn chúng ta trở lại thời kỳ từ năm 70, tức là từ thời điểm Đền thờ Jerusalem bị Đế quốc La Mã san bằng lần thứ 2, khi mà người Do Thái còn làm nghề nông và mù chữ, cho đến năm 1492 khi mà các cộng đồng Do Thái đã biết đọc biết viết và có thể gọi là đứng vững tại các đô thị rải rác khắp châu Âu, châu Phi, và châu Á. Theo Maristella Botticini và Zvi Eckstein những đặc trưng này của người Do Thái là kết quả của một quá trình chuyển biến sâu sắc của tín ngưỡng Do Thái sau khi Ngôi Đền thứ hai bị phá hủy năm 70 sau Công nguyên. Quá trình chuyển biến này làm thay đổi giới lãnh đạo tôn giáo trong cộng đồng Do Thái, biến Do Thái giáo từ một tín ngưỡng dựa trên nghi lễ hiến sinh trong đền thờ thành một tôn giáo với giáo dục là chuẩn mực chính yêu cầu tất cả người Do Thái phải đọc và nghiên cứu Kinh Torah bằng tiếng Hebrew, gửi con trai của mình từ 6 đến 7 tuổi tới trường tiểu học hoặc giáo đường để học Kinh Torah. Có thể nói rằng chính giáo dục đã định hình lịch sử Do Thái trong giai đoạn 70-1492 và trong những thế kỷ tiếp theo.

    Cũng từ thời điểm này, dân tộc Do Thái và Do Thái giáo đã có được được một nền tảng trí tuệ vững chắc giúp họ những bước tiếp theo cho đến khi quốc gia Israel được Liên Hiệp Quốc chấp nhận thành lập vào năm 1948 rồi kéo dài cho đến ngày nay. Đối với người Do Thái giáo, quốc gia Do Thái được thành lập vào năm 1948 được coi là đỉnh cao của những ước mơ và khao khát về một tổ quốc hiện hữu sau 4000 năm lưu lạc cay đắng. Nhiều người Do Thái giáo coi đây là sự hoàn thành tuyệt mỹ vai trò của Đấng Cứu Thế và tên gọi “Số ít được lựa chọn” cuối cùng đã trở thành hiện thực.

    Mục lục

    Danh sách hình minh họa

    Danh sách các bảng biểu

    Lời tựa

    Lời giới thiệu

    Chương 1

    Năm 70 sau Công nguyên—1492 : Có bao nhiêu người Do Thái? Họ sống ở đâu, sống như thế nào?

    Từ Giê-xu đến Muhammad (năm thứ nhất sau Công nguyên—năm 622): Thế giới của nông dân

    Từ Muhammad tới Hulagu Khan (622-1258)

    Từ Hulagu Khan tới Tomás de Torquemada (1258-1492): chấm dứt kỷ nguyên vàng

    Lịch sử Do Thái từ năm 70 sau Công nguyên đến năm 1492: các câu hỏi

    Chương 2

    Người Do Thái có phải là dân tộc thiểu số bị đàn áp?

    Hạn chế đối với các hoạt động kinh tế của người Do Thái

    Thuế má bất công

    Vốn vật chất so với vốn con người dễ mang theo

    Cộng đồng tôn giáo thiểu số tự cô lập

    Tính kinh tế của các nhóm thiểu số nhỏ

    Tóm tắt

    Chương 3

    Người của sách, năm 200 trước Công nguyên đến năm 200 sau Công nguyên

    Hai trụ cột của Do Thái giáo từ Ezra tới Hillel (500-50 trước Công nguyên): Ngôi Đền và Kinh Torah

    Đòn bẩy của Do Thái giáo: giáo dục như là một chuẩn mực tôn giáo

    Ngôi Đền thứ hai bị phá hủy: từ lễ hiến sinh tới đọc và nghiên cứu kinh Torah

    Di sản của Do Thái giáo dòng giáo sỹ: Mishna và giáo dục tiểu học phổ cập, từ năm 10 đến năm 200 sau Công nguyên

    Do Thái giáo và giáo dục: mối quan hệ độc đáo trong thế giới Mishna

    Chương 4

    Tính kinh tế của việc biết chữ Hebrew trong thế giới nông dân

    Tính hỗn tạp và các lựa chọn của nông dân Do Thái khoảng năm 200

    Giả thuyết kinh tế: cách sắp đặt cơ bản

    Giả thuyết kinh tế: dự đoán

    Cuộc sống ở một ngôi làng ở Galilee khoảng năm 200 qua lăng kính giả thuyết của chúng tôi

    Phụ chương 4.A: Mô hình giáo dục hình thức và hiện tượng cải đạo trong nông dân

    Chương 5

    Người Do Thái thời Talmud, năm 200-650: Nhóm thiểu số có đặc quyền

    Xã hội nông nghiệp ngày càng có nhiều người biết chữ

    Cải đạo trong nông dân Do Thái

    Tóm tắt

    Chương 6

    Từ nông dân tới lái buôn, 750-1150

    Tính kinh tế của việc biết chữ Hebrew trong thế giới lái buôn

    Kỷ nguyên vàng của người Do Thái biết chữ ở các vương quốc Hồi giáo

    Tóm tắt

    Phụ chương 6.A: Mô hình giáo dục hình thức và cải đạo của lái buôn

    Chương 7

    Người Do Thái lang thang có giáo dục, 800-1250

    Người Do Thái lang thang trước thời Marco Polo

    Di cư của người Do Thái bên trong các vương quốc Hồi giáo

    Di cư của người Do Thái Byzantin

    Di cư của người Do Thái tới và bên trong châu Âu Cơ đốc giáo

    Chuyển dịch trung tâm tôn giáo Do Thái

    Tóm tắt

    Chương 8

    Phân biệt hay lựa chọn? Từ lái buôn tới người cho vay lãi, 1000-1500

    Tính kinh tế của tiền tệ và tín dụng ở châu Âu Trung Cổ

    Động lực của nghề cho vay lãi của người Do Thái ở châu Âu Trung Cổ

    Nghề cho vay lãi của người Do Thái ở nước Ý thời Trung Cổ: phân tích chi tiết

    Thái độ đối với nghề cho vay lãi

    Sự kiện và các giả thuyết cạnh tranh

    Từ lái buôn tới người cho vay lãi: lợi thế so sánh trong công việc môi giới phức tạp

    Phụ chương 8.A: Chính sách đặc quyền dành cho người Do Thái ở Vienna

    Chương 9

    Cú sốc Mông Cổ: Do Thái giáo có thể sống sót khi thương mại và các nền kinh tế đô thị sụp đổ?

    Cuộc chinh phục Trung Đông Hồi giáo của người Mông Cổ

    Tình hình kinh tế xã hội ở Trung Đông thời Mông Cổ cai trị

    Dân số Do Thái thời Mông Cổ và Mamluk: thí nghiệm

    Tại sao Do Thái giáo không thể tồn tại khi thương mại và các nền kinh tế đô thị sụp đổ

    Tóm tắt

    Chương 10

    Từ 1492 tới nay: câu hỏi mở

    Chân dung người Do Thái thế giới khoảng năm 1492

    Lịch sử Do Thái, năm 70 sau Công nguyên-1492: hồi kết

    Đường đi của dân tộc Do Thái trong 500 năm qua

    Cấu trúc nghề nghiệp ổn định của người Do Thái

    Phụ lục

    Thông tin tác giả

    Maristella Botticini: Giáo sư kinh tế, kiêm giám đốc và nghiên cứu viên của Viện Gasparini Innocenzo về nghiên cứu kinh tế (IGIER), tại Đại học Bocconi ở Milan.

    Zvi Eckstein là Chủ tịch của Mario Henrique Simonson thuộc Kinh tế lao động tại Đại học Tel Aviv, là giáo sư và trưởng khoa của Trường Kinh tế của IDC Herzliya ở Herzliya, Israel

    Cuốn sách được xuất bản với sự hỗ trợ hợp tác của Công ty Cổ phần Dịch vụ trực tuyến VINAPO.

    Phiên bản điện tử của cuốn sách phát hành độc quyền tại: http://www.alezaa.vn

    Công ty CP Sách Thái Hà trân trọng giới thiệu!

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Cám ơn bác Phong Uyên đã làm phân minh cái ý niệm về Đấng Cứu Thế (hoàn toàn nghịch nhau giữa ba tôn giáo dòng Abraham ấy).

    Lời cắt nghĩa của bác chuckn vẫn làm tôi thấy cảm thấy áy náy ở chỗ nó giống như việc buộc tội và đổ thừa ngược lại cho nạn nhân, tuy ta biết rằng các trẻ em, em bé trong số 6 triệu người ấy không có tội lỗi gì cả (và nói như thế không có nghĩa là người lớn là người tội lỗi), và chủng Ashkenazi là những con người đã làm rạng danh dân Do Thái, khiến thế giới phải kính nể, đưa quốc gia DT lên bản đồ thế giới theo nghĩa bóng và nghĩa đen. Không có họ thì những người mặc áo đen, đội nón đen, để râu xậm và tóc xoắn chạy dài xuống mang tai có lẽ gặp số phận hẩm hiu tương tợ như đồng bào thượng du của VN mà không có nước VN.

    Bác Tuấn34344 viết :

    "Tôi thường thắc mắc không biết tại sao Đấng Cứu thế lại làm ngơ không ra tay cứu, để 6 triệu người Do Thái phải gặp thảm họa... Tôi chỉ biết là có nhiều người DT Ashkenazi không tin là ĐCT có thật chỉ vì cái vụ này."

    Người Ashkenazi đa số ngay từ trước Holocaust đã không bao giờ tin là Chúa sẽ sai một đấng Cúu thế xuống giải thoát dân tộc mình, nên mới lập ra phong trào Sionít để tự giải phóng và tự tạo cho mình một nưức mới. Chỉ những người theo đạo Do thái Chính thống hay theo truyền thống mới tin là Chúa sẽ sai một đấng Cứu giải (Mashia'h trong tiếng Hebrew) xuống thế để giải cứu người Do Thái và lập ra một vương quốc hùng mạnh chỉ dành riêng cho người Do Thái. Đối với những người theo đạo DT Chính thống cực đoan, Israel hiện thời không phải là vương quốc đó mà chỉ là một nước vô đạo, làm chậm sự xuống trần của đấng Mashia'h và chỉ là một thực thể do những người sionist Ashkenazi lập ra. Bởi vậy những người này không thừa nhận Israel và không chịu đi lính cho Israel.

    Mashia's mà người Do Thái đang chờ đợi không phải là Messiah của Kitô giáo hay Al-masih của Hồi giáo mà từ Hán-Việt dịch là Đấng Cứu Thế theo nghĩa của từ Khristos (Kitô) trong tiếng Hi Lạp và chỉ định Chúa Giêsu xuống thế cứu chuộc toàn thể loài người. Đối với Kitô giáo, Giêsu Kitô là con Trời và cũng là con Người cùng một bản chất với Trời. Đối với Hồi giáo, Giêsu chỉ là một trong 4 đấng Tiên chi là Abraham, Moise, Giêsu và người cuối cùng là Mohamet, nhưng không phải là Trời. Đối với Do Thái giáo, Giêsu Kitô chả là cái quái gì cả.

    Tuan34344 viết:
    Tôi vẫn thường thắc mắc không biết tại sao Đấng Cứu Thế lại làm ngơ không ra tay cứu, để 6 triệu người Do Thái phải gặp thảm hoạ trong phòng ngập hơi ngạt của Hitler. Tôi chỉ biết là có nhiều người DT Ashkenazi không tin là ĐCT có thật chỉ vì cái vụ này.

    Nếu bác đã thực sự đọc KT thì bác nên biết dù là dân được Đức Chúa Trời lựa chọn nhưng dân Do Thái cũng là dân bị Chúa kỉ luật rất nghiêm khắc khi họ mất đức tin, nổi loạn chống lại ý Chúa. Dân Do Thái được ĐCT chọn không chỉ để được Chúa ban phước cho mà còn được Chúa dùng để làm gương cho các dân khác nữa. Theo KT thì có rất nhiều thời kì cổ đại đã có người Do Thái không tin vào Đức Chúa Trời, điển hình là vụ khi Moses vào núi lĩnh 10 điều răn của Chúa thì dân Do Thái ở dưới núi vì khó khăn thiếu thốn mà nổi loạn đúc bò vàng để thờ thay cho thờ Đức Chúa Trời.

    Tuy vậy, sự trung tín đến cuối cùng của người Do Thài vào Đức Chúa Trời đã được Chúa ban phước.

    Tôi chưa đọc cuốn sách ấy nên còm của tôi chỉ liên quan đến lời giới thiệu sách qua bài viết ở đây mà thôi.

    Trích dẫn:
    Để tìm kiếm những câu trả lời này, rất nhiều học giả trên thế giới đã phải ngược bước trở lại thời kỳ sơ khai 4000 năm về trước của đất nước Do Thái, và lần theo bước chân của họ từ đó cho đến ngày nay. Trong “Số ít được lựa chọn”, hai tác giả Maristella Botticini và Zvi Eckstein sẽ dẫn chúng ta trở lại thời kỳ từ năm 70, tức là từ thời điểm Đền thờ Jerusalem bị Đế quốc La Mã san bằng lần thứ 2, khi mà người Do Thái còn làm nghề nông và mù chữ, cho đến năm 1492 khi mà các cộng đồng Do Thái đã biết đọc biết viết và có thể gọi là đứng vững tại các đô thị rải rác khắp châu Âu, châu Phi, và châu Á. Theo Maristella Botticini và Zvi Eckstein những đặc trưng này của người Do Thái là kết quả của một quá trình chuyển biến sâu sắc của tín ngưỡng Do Thái sau khi Ngôi Đền thứ hai bị phá hủy năm 70 sau Công nguyên. Quá trình chuyển biến này làm thay đổi giới lãnh đạo tôn giáo trong cộng đồng Do Thái, biến Do Thái giáo từ một tín ngưỡng dựa trên nghi lễ hiến sinh trong đền thờ thành một tôn giáo với giáo dục là chuẩn mực chính yêu cầu tất cả người Do Thái phải đọc và nghiên cứu Kinh Torah bằng tiếng Hebrew, gửi con trai của mình từ 6 đến 7 tuổi tới trường tiểu học hoặc giáo đường để học Kinh Torah. Có thể nói rằng chính giáo dục đã định hình lịch sử Do Thái trong giai đoạn 70-1492 và trong những thế kỷ tiếp theo.

    Theo đoạn viết này thì qua suốt hơn ba ngàn năm dân DT chẳng làm nên chuyện gì đặc biệt cả, và chỉ biết viết biết đọc khoảng hơn 500 năm trở lại đây thôi. Tôi cũng không hiểu việc dân DT biết đọc Kinh Torah thì có liên quan gì đến sự thành công gần đây (tức là từ khoảng 200 năm nay) của người DT không, vì dân Ả Rập cũng "tụng kinh" của họ nhưng đâu thấy gì đặc biệt đâu.


    Trích dẫn:
    Cũng từ thời điểm này, dân tộc Do Thái và Do Thái giáo đã có được được một nền tảng trí tuệ vững chắc giúp họ những bước tiếp theo cho đến khi quốc gia Israel được Liên Hiệp Quốc chấp nhận thành lập vào năm 1948 rồi kéo dài cho đến ngày nay. Đối với người Do Thái giáo, quốc gia Do Thái được thành lập vào năm 1948 được coi là đỉnh cao của những ước mơ và khao khát về một tổ quốc hiện hữu sau 4000 năm lưu lạc cay đắng. Nhiều người Do Thái giáo coi đây là sự hoàn thành tuyệt mỹ vai trò của Đấng Cứu Thế và tên gọi “Số ít được lựa chọn” cuối cùng đã trở thành hiện thực.

    Tôi vẫn thường thắc mắc không biết tại sao Đấng Cứu Thế lại làm ngơ không ra tay cứu, để 6 triệu người Do Thái phải gặp thảm hoạ trong phòng ngập hơi ngạt của Hitler. Tôi chỉ biết là có nhiều người DT Ashkenazi không tin là ĐCT có thật chỉ vì cái vụ này.