Hoàng Anh Tuấn - Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái

  • Bởi Admin
    11/10/2014
    24 phản hồi

    Hoàng Anh Tuấn

    Bài liên quan: Tìm hiểu Israel và dân tộc Do Thái

    Thành công của người Do Thái nhiều người đã biết, đã nghe từ lâu và có thể kể cả ngày, cả tháng cũng không hết. Là người đã tìm hiểu câu chuyện này cả chục năm nay, càng đi sâu tìm hiểu về những thành công của Israel và người Do Thái, tôi càng thấy phức tạp nhưng cũng hết sức thú vị. Chuyến đi Israel lần này, ngoài các công việc thường lệ, rất nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi, thảo luận với nhiều người, nhiều giới, nhiều nơi khác nhau giúp tôi kiểm chứng, củng cố thêm các nhận định trước đây của mình; biết thêm nhiều vấn đề mới; đồng thời cũng xóa bỏ một số các định kiến một chiều, phiến diện.

    Có rất nhiều câu hỏi đeo đẳng trong suốt quá trình tìm hiểu để có câu trả lời thấu đáo, đại loại như:

    1. Tại sao chỉ chiếm một phần nhỏ của dân số thế giới, nhưng người Do Thái lại có sự thông tuệ vượt thời gian, hơn hẳn các dân tộc khác trên thế giới? Nếu tính theo chỉ số IQ, chỉ số trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới. Tuy mức chênh lệch IQ chỉ là 10, nhưng tỷ lệ thiên tài trong nhóm những người có IQ 110 cao hơn nhóm có chỉ số IQ 100 tới 120-150 lần!

    2. Phải chăng người Do Thái có “gien” thông minh hơn người và “gien” này được lưu giữ và truyền từ đời này qua đời khác?

    Câu chuyện này đã được nhiều nhà khoa học âm thầm nghiên cứu để tìm câu trả lời thấu đáo. Tuy nhiên, người Do Thái lại “bác bỏ” điều nay, cho rằng sở dĩ người Do Thái thành công là do điều kiện, hoàn cảnh bắt buộc họ phải nỗ lực, sáng tạo và vươn lên không ngừng để thích nghi với hoàn cảnh. Vậy thực, hư câu chuyện này ra sao?

    3. Nếu như có “gien” Do Thái như vậy thì “gien” này được “lưu giữ” và phát triển ra sao từ thời “Cụ Tổ” của người Do Thái đến nay và trong hoàn cảnh họ bị ly tán, tha phương cầu thực?

    Người Do Thái hiện nay đều coi Thủy tổ của mình là ông Abraham (và cũng là của người Hồi giáo – Người Hồi giáo gọi là Ibrahim) ra đời cách đây khoảng 4000 năm, và Nhà Tiên tri Moses, ra đời cách đây khoảng 3600 năm. Ông Mosses đã dẫn dắt các nô lệ người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập và đến khu vực Bắc Israel hiện nay, thống nhất 12 bộ lạc khác để lập ra nhà nước Do Thái. Hiện nay Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái. Để dễ hình dung, nếu có một nước khác có đặc trưng tương tự như Israel, chẳng hạn Trung Quốc, thì đặc trưng nước đó sẽ là: Người Trung Quốc, nước Trung Quốc, Đạo Trung Quốc. Nhưng trên thực tế ta thấy: người Hán, nước Trung Quốc và Đạo Khổng.

    4. Tại khu vực hiện gồm phía Bắc Ai Cập, lãnh thổ Israel, Palestine, Gioóc-đa-ni hiện nay, khu vực phía Nam Syria, và phía Đông Bắc Iraq vốn trước đây là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa bộ lạc Do Thái với các bộ lạc khác trong khu vực, cũng như giữa các đế chế lân bang với nhau như Roma, Assyria, Babilon, Ottoman… nhằm kiểm soát khu vực đồng bằng ven biển Israel và khu đồi cao Jerusalem để cho được gần với Đức Chúa trời. Sau sự kiện Ngôi đền thứ nhất của người Do Thái bị đốt năm 586 trước Công Nguyên thì mục tiêu xâm lược là để chiếm miền đất thánh Jerusalem, nơi cả 3 tôn giáo (Do Thái, Thiên chúa, Hồi giáo) đều coi là đất thiêng của mình.

    Vậy tại sao trong khi hầu hết các bộ tộc du mục khác bị đồng hóa, hoặc bị tuyệt diệt, nhưng người Do Thái lại “thoát” được nạn này (tuy rằng người Do Thái cũng trải qua nạn diệt chủng Holocaust và một số cuộc truy sát tập thể trong quá khứ)? Vậy họ đã “thoát” bằng cách nào?

    5. Tại sao người Do Thái lại có truyền thống hiếu học và tỷ lệ biết chữ rất cao so với những dân du mục cùng thời? Tại sao người Do Thái lại đi tiên phong trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, luật, khoa học chính trị, công nghiệp giải trí…?

    Từ hàng ngàn năm trước công nguyên trẻ em Do Thái hầu hết biết đọc biết viết, và khi lưu lạc ở châu Âu, người Do Thái cũng có tỷ lệ biết đọc, biết viết cao hơn người bản địa. Cần nhớ, trước thời kỳ Phục Hưng cả châu Âu chìm đắm trong u muội, tỷ lệ mù chữ lên tới 80-90% dân số. Đến những năm 1930 của thế kỷ trước, người Do Thái gần như độc quyền trong lĩnh vực nghiên cứu năng lượng nguyên tử, thậm chí thời kỳ đó người ta còn gọi ngành khoa học này là “ngành khoa học Do Thái”.

    Nhìn rộng hơn, không chỉ người Do Thái quan tâm đến chuyện học hành của con cái, mà người Đông Á, kể cả Việt Nam, cũng vậy và có thể kể ra không ít các tấm gương thành công đáng ngưỡng mộ. Nhiều gia đình sẵn sàng bán nhà, bán cửa để đầu tư chuyện học hành của con cái. Tuy nhiên đạt đến đỉnh cao trí tuệ như Albert Einstein, Karl Marx, Noam Chomski và rất nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel gốc Do Thái lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Tại sao người Do Thái làm được chuyện đó?

    6. Trên thế giới đã từng có dân tộc nào bị trục xuất, sống lưu vong trên hai ngàn năm mà vẫn giữ được bản sắc, tiếng nói, chữ viết và tập tục của mình như người Do Thái không?

    7. Các giáo sĩ (Rabbi), Hội đồng giáo sĩ và những người Do Thái chính thống là những người có địa vị và tiếng nói quan trọng trong xã hội. Vậy họ có vai trò ra sao trong việc duy trì tập tục, bản sắc và “nòi giống” Do Thái?

    8. Tại sao mô hình Kibbudz của người Do Thái lại thành công và có sức sống kỳ diệu ở Israel, trong khi mô hình này lại không thành công hoặc không thể thành công ở các quốc gia khác. Cốt lõi tạo nên thành công của các Kibbudz là gì?

    9. Khi người Do Thái được thực hiện giấc mơ “Phục quốc” năm 1948, hàng trăm ngàn người Do Thái từ trên 70 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới đổ về mảnh đất Israel, họ đã sát cánh cùng nhau bắt tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp đó, sau các biến động ở Liên Xô và châu Âu trong những năm 1989-1990, 1,5 triệu người Do Thái (tức trên 1/4 dân số) trở về “cố quốc”. Mỹ, Australia, Canada cũng là quốc gia của những người nhập cư, nhưng chưa từng chứng kiến lượng lớn người nhập cư đổ về (tính theo tỷ lệ dân số) trong một thời gian ngắn đến vậy. Tuy đến từ nhiều xứ sở khác nhau, nhưng hầu hết những người Do Thái không bị gặp các rào cản ngôn ngữ và nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới. Chuyện này thực hư thế nào và được thực hiện ra sao?

    Còn rất nhiều các câu hỏi khác nữa. Vấn đề đặt ra là mô hình Israel và bài học thành công của người Do Thái (tạm bỏ qua một bên các khiếm khuyết và một số “thói hư, tật xấu” của người Do Thái) có thể học được không và áp dụng ở quy mô nào (gia đình, dòng họ, công ty, thiết chế, đất nước…)?

    Israel: Cường quốc nông nghiệp giữa sa mạc

    Do điều kiện tự nhiên, sa mạc chiếm đến 60% tổng số 20.000 km2 diện tích, nên đất đai canh tác còn lại của Israel rất ít và chủ yếu nằm ở khu vực đồng bằng ven biển. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản Israel trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển nhất thế giới, chủ yếu nhờ đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

    Đi thăm các cơ sở nông nghiệp Israel mới thấy trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp và khả năng lập kế hoạch sản xuất, dự báo thị trường của Israel đạt đến trình độ rất cao. Có lẽ dùng từ “nông dân” đối với họ là không chính xác, mà là công nhân nông nghiệp. Ngoài ra, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa 4 “Nhà”, gồm: (i) Nhà nước; (ii) Nhà khoa học; (iii) Nhà buôn; và (iv) Nhà nông. “Nhà nông” ở đây cần được hiểu là người bỏ vốn đầu tư, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp.

    Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ. Nhà ở của dân thì xây trên các triền núi đá, khó cải tạo thành đất nông nghiệp, còn đất đồng bằng tuyệt đối sử dụng cho trồng trọt và canh tác. Thậm chí đất hoang mạc, nhưng tương đối bằng phẳng có thể cải tạo thành đất nông nghiệp thì cũng không được làm nhà ở trên đó.

    Israel đi tiên phong trên thế giới trong lĩnh vực cải tạo đất hoang mạc, sa mạc thành đất nông nghiệp trù phú. Quy trình như sau (để đơn giản hóa): (i) San bằng đất hoang mạc, sỏi đá; (ii) Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là 1/2 m; (iii) Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5 năm, để biến đất chết thành đất màu; (iv) Sau quá trình cải tạo này, đất hoang mạc biến thành đất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất (nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất.

    Về mặt sinh thái, bước vào thế kỷ 21, Israel là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng được diện tích rừng và quỹ đất nông nghiệp.

    Tuy là nước nhỏ, có 8 triệu dân, nhưng Israel lại có hệ thống đường dẫn nước tái sử dụng dài nhất thế giới. Toàn bộ lượng nước thải được dẫn trở lại các trung tâm xử lý, lọc lại, sau đó được dẫn ngược trở lại theo các đường ống để sử dụng tưới tiêu cho nông nghiệp.

    Hệ thống ống dẫn nước tưới được dẫn đến từng khoảnh vườn, tới từng cây và việc tưới được vi tính hóa qua hệ thống điều khiển ở trung tâm về thời gian tưới, lượng nước tưới sao cho phù hợp nhất với thời tiết, độ sinh trưởng của từng loại cây. Cũng từ trung tâm, các kỹ sư nông nghiệp sử dụng luôn đường ống dẫn nước để dẫn phân bón hoặc chất dinh dưỡng cần cho cây theo định kỳ.

    Tại đầu từng khoảnh vườn, có bảng ghi chi tiết vườn trồng cây gì, giống nào, từ khi nào… Nhìn chung các cây trồng (cam, bưỏi, cà chua, ớt..) là những loại cây trồng có năng suất cao, đã được lai ghép cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng Israel là chịu nắng, chịu khô, chịu sâu bệnh nhưng lại cho năng suất cao và chất lượng quả, trái cây tốt.

    Mỗi cây cam hoặc bưởi trông thấp như vậy nhưng lại rất sai quả và có thể cho đến vài tạ quả/cây khi đến mùa thu hoạch. Với lợi thế là trồng cây quả nhiệt đới có chất lượng cao, ổn định, hệ thống kiểm định chất lượng chặt chẽ, ở ngay sát châu Âu và cung cấp những hoa quả nhiệt đới “trái vụ” khi châu Âu bước vào mùa đông nên hoa quả Israel có rất nhiều lợi thế về giá và thị trường.

    Đây có lẽ chính là mô hình đầu tư, sản xuất, phát triển và kinh doanh nông nghiệp mà một nước nông nghiệp như chúng ta cần học hỏi và để làm giàu tại ngay chính mảnh đất quê hương mình. Nếu so với Israel, có lẽ đất đai miền Trung Việt Nam còn màu mỡ và có các điều kiện tự nhiên để sản xuất tốt hơn nhiều. Ngay một nước có nền nông nghiệp phát triển nhất ở khu vực như Thái Lan cũng có hàng ngàn thực tập sinh lao động trong các trang trại, mà thực chất là lao động xuất khẩu.

    Có điều ít người để ý là trong khi thực tập sinh Việt Nam chăm chỉ làm lụng, tiết kiệm từng đồng gửi về cho gia đình, vợ con, thì khá nhiều “lao động” Thái là các “tình báo” nông nghiệp. Họ là các kỹ sư, con cái các chủ nông trại Thái, những người nuôi chí làm giàu bằng nghề nông và sử dụng thời gian lao động tại Israel như một hình thức “khổ nhục kế”, âm thầm tìm hiểu quy trình sản xuất, kinh doanh, quản lý… để tìm đường khởi nghiệp làm giàu cho mình và cho nước Thái sau này.

    Vậy ta nên và sẽ làm gì? Xin nhường câu trả lời cho các bạn trẻ.

    Kinh Do Thái, lối sống, bản sắc, và tiếng Hebrew

    Có ba câu chuyện ngồi ngẫm lại thấy khá hay và cũng phần nào liên quan đến chủ đề sắp bàn dưới đây.

    CÂU CHUYỆN 1: Công việc đã xong, nhưng rủi một cái là không thể bay về được vì là ngày Thứ 7 nên hãng hàng không Israel El Al không làm việc. Nhưng lại có cái may là nhờ đó hiểu được thêm về kỳ nghỉ cuối tuần Thứ 6 và Thứ 7 (lễ Sabbath, người Do Thái đi làm từ Chủ nhật đến hết Thứ 5) của người Do Thái. Khi đi trên đường, đặc biệt ngày Thứ 7, thấy đường phố vắng ngắt và gặp không ít đàn ông Do Thái chính thống (Jewish Orthodox) mặc bộ đồ đen, đầu cũng đội mũ đen rộng vành, đứng trên vỉa hè, hai tay cầm quyển Kinh thánh Do Thái đọc lẩm nhẩm hàng tiếng đồng hồ với động tác hết sức thành kính và giữa trời nắng chang chang, trong khi đầu gật tới gật lui. Điều này không chỉ gây cho tôi sự ngạc nhiên thích thú, mà còn gợi ra rất nhiều điều.

    CÂU CHUYỆN 2: Trước đó, khi chia tay Đại sứ Dan Stav, người tháp tùng trong suốt chuyến đi, tôi có nói rằng “Khi tôi mới đến nơi, ông Đại sứ có nói Bộ Ngoại giao Israel có khoảng 1000 nhà ngoại giao. Giờ đây khi đã xong các cuộc tiếp xúc tôi chỉ đồng ý một nửa. Các ông không chỉ có 1000 nhà ngoại giao, mà đó còn là 1000 Giáo sư nữa”. Dan ngửa mặt cười ha hả. Quả thực, hiếm có nước nào, kể cả các cường quốc, lại có nhiều nhà ngoại giao nắm giữ các vị trí chủ chốt nhưng lại có trình độ khá đều tay, am hiểu sâu chuyên môn và có thể trình bày vấn đề mạch lạc như một giáo sư đại học. Không chỉ rành chuyên môn, họ còn thể hiện tác phong hết sức chuyên nghiệp, động tác mạnh mẽ, dứt khoát.

    CÂU CHUYỆN 3: Khi vào phòng làm việc với Lãnh đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc Phòng của họ, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy phòng khách bày biện khá đơn giản, không rõ chỗ ngồi của chủ và khách. Bèn hỏi cô lễ tân là ngồi thế nào, cô để “Sếp” cô ngồi đâu. Câu trả lời là: Các ông ngồi thế nào thì tùy và chỉ cần để một chỗ cho ông ấy ngồi là OK. Sau này mới thấy rõ hơn, trừ một số cuộc gặp phải tuân thủ một số nghi lễ ngoại giao bắt buộc, việc ngồi tự do (free sitting) tạo không khí thảo luận thoải mái và bình đẳng giữa chủ và khách, càng ngạc nhiên hơn khi đây cũng chính là cách người Israel ngồi khi thảo luận nội bộ!

    Quay trở lại Phần 1, tôi thấy rằng các câu trả lời về nguyên nhân thành công của người Do Thái, sự cố kết của dân tộc này đều khởi nguồn từ 3 yếu tố chính (i) cuốn Kinh Do Thái (Jewish Bible), (ii) cách thức duy trì Đạo, bản sắc và lối sống Do Thái; và (iii) tiếng Hebrew. Các vấn đề khác như “gien” và tố chất thông minh của người Do Thái; tính hiếu học, ham hiểu biết và sáng tạo; cách duy trì và tổ chức cuộc sống, đời sống xã hội một cách văn minh, lành mạnh của họ đều bắt nguồn từ 3 yếu tố trên. Và cũng thật trớ trêu, đây lại là nguyên nhân chính khiến họ bị xua đuổi, miệt thị, truy sát trong hơn 20 thế kỷ qua. Tôi cũng nghiệm thấy rất ít dân tộc, quốc gia có thể học được theo họ, trừ phi anh cũng trở thành… người Do thái như họ!

    Ta hãy đi từng vấn đề một:

    Thứ nhất, Israel là đất nước duy nhất trên thế giới được định hình bởi 4 yếu tố mang đậm chất Do Thái là: (i) Dân tộc Do Thái, (ii) Đạo Do Thái, (iii) văn hóa Do Thái, và (iv) Đất nước Do Thái.

    Trong các tôn giáo trên thế giới, Đạo Do Thái được ghi nhận là đạo có tuổi đời lâu thứ hai trên thế giới (ra đời cách đây khoảng 3000 năm), sau Đạo Hindu (ra đời cách đây khoảng 4000 năm). Tuy nhiên, do Hindu là đạo đa thần, nên Do Thái giáo có thể xem là đạo độc thần (Monotheistic) ra đời sớm nhất thế giới. Đạo Độc thần là đạo chỉ thờ 1 vị chúa/thần/hoặc thánh duy nhất. Đạo Do Thái chỉ thờ duy nhất Chúa trời, nên trên bàn thờ trong nhà thờ Do Thái họ trang trí đơn giản, không thờ người hoặc động vật. Họ cho rằng, người là người, dứt khoát không thể là chúa hay thánh được và chỉ có một Đức Chúa trời duy nhất. Phải chăng điều này làm cho người Do Thái cũng như sinh hoạt tôn giáo của họ “dân chủ” hơn do không bị phân tán, mất bớt quyền lực qua các nhân vật trung gian?

    Một điều rất đặc biệt là trong cuốn Kinh Torah (gồm 5 tập, ghi lại các lời của Nhà tiên tri Moses) có ghi người Do Thái được Đức chúa trời chọn (the Chosen People) để truyền đạt thông điệp của Chúa cho các dân tộc khác, dẫn dắt và khai sáng các dân tộc khác. Người Do Thái rất tin vào điều này, tin vào “sứ mạng” được Chúa giao phó. Đây có lẽ là động lực lớn nhất khiến người Do Thái luôn tìm cách đạt đến đỉnh cao của khoa học, phấn đấu đủ tầm trí tuệ “dẫn dắt” nhân loại như họ nghĩ đã được “Chúa lựa chọn”. Do đó, điểm nổi bật nhất ở người Do Thái là họ thấy mục đích cao nhất của cuộc sống là sáng tạo, chứ không chỉ là kiếm tiền, và kiếm tiền cũng như sự giàu có của họ thực ra là hệ quả của các lao động sáng tạo chứ không phải mục đích mà họ theo đuổi.

    Thứ hai, trong bất kỳ tôn giáo nào, tính “Giáo điều” đều tồn tại, duy chỉ khác nhau về mức độ. “Giáo điều” là những điều được ghi trong kinh/kinh thánh hoặc được các Bề trên giảng và được coi mặc nhiên đúng, không bàn cãi. Tuy nhiên, bản kinh Torah của người Do Thái lại rất gợi mở để mọi người suy nghĩ, khám phá. Trong 5 cuốn Kinh Torah thì có đến 4 cuốn nói về luật và 1 cuốn về các vấn đề trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Torah ghi các vấn đề trong cuộc sống, đặt ra các câu hỏi, gợi mở để suy nghĩ, nhưng lại không chỉ có một câu trả lời, mà có nhiều câu trả lời tùy thuộc bối cảnh khác nhau, và thậm chí còn để khoảng trống để mọi người cho trí tưởng tượng bay bổng với các hỏi và câu trả lời. Trong bữa cơm gia đình cuối ngày, hoặc trong ngày Sabbath, các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng đọc và tranh luận các điều ghi trong kinh thánh, và có thể chính điều này làm tăng thêm năng lực trí tuệ, làm cho họ rất giỏi về luật.

    Thứ ba, các bạn Israel cho biết, cuốn Kinh Torah giống như một cuốn sách khoa học hơn là một cuốn kinh với các “Giáo điều”. Chẳng hạn, trong Kinh Torah ghi rõ ngày Thứ 7 là ngày Chúa nghỉ ngơi, nên tất cả mọi người Israel, kể cả các nô lệ và súc vật không được làm việc trong những ngày này. Ngày lễ Thứ 7 của họ gọi là ngày lễ Do Thái (Sabbath) được xem là ngày “nghỉ tuyệt đối”, theo đó Chúa khuyên các thành viên trong gia đình dành thời gian này bên nhau, cùng trò chuyện, đi chơi, vợ chồng “yêu” nhau, gia đình cùng nhau đi đến nhà thờ (Synagogue). Trong ngày này, mọi người không được bật lửa (vì thời xa xưa, bật lửa có nghĩa là phải vào bếp nấu nướng, tức vẫn “đi làm”) và ăn đồ ăn được chuẩn bị từ hôm trước. Thậm chí thang máy trong các cao ốc cũng để “chế độ Sabath”, tức người Do Thái không dùng tay bấm nút (biểu hiện của “làm việc”), mà để thang tự chạy automatic và mở cửa trước từng tầng một từ tầng thấp nhất đến tầng cao nhất của tòa nhà. Ngày Chủ nhật là ngày làm việc đầu tiên của họ, và điều ngạc nhiên là theo cách gọi trong Kinh thánh Do Thái các ngày làm việc trong tuần theo tuần tự là các ngày “sáng tạo”, chứ không phải ngày “đi làm”.

    Chỉ bấy nhiêu thôi cũng gợi ra một số điều thú vị:

    • Ngày thứ 7 nghỉ tuyệt đối để lấy sức lao động cho các ngày khác trong tuần và đây có thể là nguồn cảm hứng cho việc đấu tranh đòi quyền của người lao động sau này;
    • Lễ Sabbath tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình (khi cả nhà cùng ngồi ăn quay quần bên nhau), và giữa các thành viên trong cộng đồng (khi hàng xóm cùng kéo nhau đến nhà thờ);
    • Là cơ sở của việc đấu tranh giành quyền bình đẳng phụ nữ (không lao động trong ngày Sabbath) sau này, cũng như quyền của động vật;
    • Vợ chồng “sản xuất” em bé trong ngày nghỉ khi tinh thần thoải mái thì đứa trẻ sau này cũng sẽ thông tuệ hơn.

    Người Do Thái coi trọng chuyện học hành

    Người Do Thái rất chú trọng đến chuyện học hành và chữ nghĩa của con cái. Cuốn Kinh Talmud từ cách đây trên 2000 năm đã yêu cầu các ông bố, bà mẹ phải dạy cho con cái biết đọc, biết viết từ năm lên 6 tuổi. Điều này, cũng như một số giáo lý khác trong kinh Talmud, được người Do Thái thực hiện hết sức nghiêm túc (sẽ nói kỹ sau), một phần vì thấy đúng, một phần vì sợ bị cộng đồng xa lánh. Do đó, từ cách đây trên 2000 năm người Do Thái cơ bản xóa được nạn mù chữ, với trên 90% người dân biết đọc, biết viết.

    Đối với cuộc sống của con người hiện đại thời nay, điều này là quá sức bình thường. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh người Do Thái là những người du mục, nông dân, thậm chí tha phương cầu thực mà vẫn giữ được truyền thống này, trong bối cảnh tới trên 90% dân châu Âu và các sắc dân khác ở Bắc Phi, Trung Đông ở xung quanh thời đó mù chữ thì đây quả là điều phi thường. Không chỉ thời nay người Do Thái mới được trọng dụng và phát huy vai trò, mà vào thời cực thịnh của Đạo Hồi (thế kỷ IX-XIII) sau Công nguyên, người Do Thái được người Hồi giáo tin dùng và đóng vai trò nổi trội là các thương gia biết tính toán, “ăn nên, làm ra” với hệ thống buôn bán kéo dài từ Trung Đông, qua Nam Á và Đông Nam Á, thậm chí tới Thượng Hải.

    Vậy trong điều kiện bị chiếm đóng và lưu lạc, họ duy trì được chữ viết và tiếng nói của mình ra sao trong hàng ngàn năm mà không bị mai một? Câu trả lời chính là sự sùng đạo và cuốn kinh Do Thái viết bằng tiếng Hebrew.

    Hầu hết những người Do Thái mà tôi gặp, dù là người Chính thống hay người Do Thái bình thường, đều nói rằng khi gặp nạn, vật đầu tiên và cũng là vật quý giá nhất mà người Do Thái đem theo đầu tiên đó chính là CUỐN KINH THÁNH, chứ không phải bất cứ vật dụng nào khác. Cuốn Kinh thánh Do Thái (Hebrew Bible) đối với họ vừa là đức tin, vừa là lịch sử, vừa là nguồn tri thức, vừa giúp họ giữ được bản sắc, vừa giúp họ có tương lai:

    Một là, sự sùng đạo, khiến người Do Thái phải đọc kinh liên tục, đọc thuộc làu, đọc ở trong nhà, đọc ngoài đường, đọc ở nhà thờ… giúp người Do Thái giữ được tiếng nói, nhận diện được ngôn ngữ đặc trưng của mình và được truyền từ đời này qua đời khác.

    Hai là, khi lưu lạc sang các xứ khác nhau, ngữ âm của họ có bị thay đổi do phát âm theo thổ ngữ địa phương, nhưng cơ bản họ vẫn hiểu được nhau dù lang bạt hàng ngàn năm, và tới tận 73 quốc gia và lãnh thổ khác nhau. Điều đó giải thích tại sao người Do Thái từ “tứ xứ” đổ về, nhưng đã nhanh chóng gắn kết với nhau ngay sau khi Israel được tái lập năm 1948.

    Ba là, không chỉ thạo tiếng Hebrew, mà người Do Thái còn thạo tiếng bản địa nơi họ sinh sống. Như vậy trên thực tế, người Do Thái sử dụng thông thạo hai ngoại ngữ từ rất sớm. Khoa học đã chứng minh, những người hoặc nhóm cộng đồng sử dụng được trên 1 ngoại ngữ thường có chỉ số IQ lớn hơn nhóm, hoặc người sử dụng ít ngôn ngữ hơn. Không chỉ vậy, kinh thánh không chỉ là phương tiện duy trì ngôn ngữ, mà còn giúp họ mở mang các kiến thức luật, kinh tế và khoa học thông thường ở trong đó.

    Bốn là, niềm ao ước tột cùng trở về Jerusalem cũng được ghi trong Kinh thánh. Thời cổ đại, dù muốn đi đâu, làm ăn gì, thì người Do Thái cũng quy ước về quần tụ tại Jerusalem để hành lễ ít nhất là 4 lần 1 năm. Đến nay, truyền thống đó vẫn được duy trì và người Do Thái ở Israel thường về Jerusalem mỗi năm một lần, còn người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới thì về ít nhất 1 lần trong đời. Kinh Thánh Do Thái ra đời trong bối cảnh người dân Do Thái đã từng mất tổ quốc, mất Jerusalem trong một thời kỳ dài từ hàng trăm năm trước đó. Do đó, Kinh Thánh nhắc nhở người Do Thái rất kỹ về điều này. Truyền thống có từ cả ngàn năm nay và đến nay vẫn được duy trì trong cộng đồng Do Thái, là khi gặp nhau, hoặc khi viết thư, họ thường nói đến việc “sớm hẹn gặp nhau tại Jerusalem”, “hẹn gặp tại Jerusalem vào năm tới”. Do đó, ước nguyện trở về Jerusalem, lấy lại Jerusalem luôn cháy bóng trong mỗi người Do Thái và họ không bao giờ quên điều này khi tha hương.

    Đạo Do Thái và việc duy trì nòi giống

    Việc thực hiện nghiêm ngặt các phong tục tập quán của Do Thái giáo giúp người Do Thái sàng lọc gien “xấu”, lấy và nhân giống gien “tốt”. Thực ra, không chỉ người Do Thái làm vậy, mà các dân tộc khác như ngoài Hoa và Việt Nam cũng có những vần thơ để chọn người xứng đôi, vừa lứa như “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, “Nữ tuệ tam tài nguyên thị đối” (Gái giỏi trai tài nom thật đối), v.v…. Chắc chắn đây không chỉ là chuyện “tâm đầu, ý hợp” của trai gái, mà còn liên quan đến việc duy trì nòi giống sau này.

    Nếu như người Đông Á chỉ dừng lại ở mức “khuyên răn” thì người Do Thái đã “luật hóa” và “hệ thống hóa” được việc chọn lọc có chủ đích thay cho việc chọn lọc tự nhiên, vô thức để “hoàn thiện” và “phát triển” gien của mình:

    Một là, trong Đạo Do thái, Giáo sĩ (các Rabbis) là những người được chọn từ những người thông minh nhất. Các Rabbis là người diễn giải Kinh thánh có uy tín và trọng lượng nhất, duy trì các giá trị “chính thống” và được xã hội hết sức trọng vọng. Tuy là thầy tu, nhưng các Rabbis vẫn có con như những người bình thường, và thậm chí có rất nhiều con. Do có uy tín cao trong xã hội, nên họ dễ dàng chọn hôn thê và hôn thê được họ ưu tiên chọn thường là con cái của các học giả (scholars), rồi sau đó mới đến con các nhà buôn.

    Hai là, không chỉ các Rabbis chọn như vậy, kinh thánh Do Thái thậm chí còn khuyên mọi người là nếu có tiền của thì hãy tìm cách cho con cái của mình lấy con gái của các học giả. Kinh thánh khuyến khích người Do Thái sinh nhiều con, cho rằng sinh 13 con thì sẽ có nhiều may mắn. Nhưng trên thực tế lại có các “phanh hãm” đối với người nghèo, người ít học là sinh ra con cái nhưng phải đảm bảo các điều kiện kinh tế và tài chính. Chính điều này làm cho người nghèo, người ở tầng lớp thấp không “sinh tràn lan”, mà sinh có trách nhiệm và số người này chiếm tỷ lệ ngày một ít đi trong so sánh tương đối với những người có “gien” tốt, hoặc có điều kiện vật chất tốt hơn. Trải qua hàng ngàn năm chọn lọc có điều kiện như vậy nên việc có được nhiều gien tốt trong người Do Thái là điều dễ hiểu.

    Ba là, trong quan niệm Do Thái chính thống, và ngay tại các khu vực người Do thái chính thống sinh sống hiện nay tại Israel, phụ nữ, con gái không bao giờ được “bén mảng” đến Nhà thờ. Trái lại, đàn ông dù bận công việc đến mấy cũng tìm cách đến nhà thờ vào lúc 6h chiều hàng ngày để làm lễ trước khi về nhà. Tuy nhiên, phụ nữ Do Thái lại được xem là có “quyền năng” tuyệt đối trong việc duy trì nòi giống. Con của một phụ nữ Do Thái đương nhiên được coi là người Do Thái, còn con của người đàn ông Do Thái với một phụ nữ không phải Do Thái thì chỉ được coi là người Israel (nếu như sống ở Isael), chứ không được coi là người Do Thái. Thời xa xưa, việc gia đình người Do Thái có một cô con gái lấy chồng không phải người Do Thái bị coi là “nỗi nhục” của cả gia đình và dòng họ, và người bố “từ con” bằng cách đào một nấm mộ giả coi như đứa con mình dứt ruột đẻ ra đã chết.

    Nhiều nhà thần học mà tôi có điều kiện tiếp xúc cho rằng Đạo Do Thái hiện là một trong số ít tôn giáo “giữ” được “kỷ cương” khá tốt. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh câu chuyện này và cần nghiên cứu sâu hơn mới có câu trả lời thỏa đáng. Quả thực, bất kỳ tôn giáo lớn hoặc quan trọng nào đều đứng trước 3 thách thức lớn trong quá trình phát triển, đó là:

    • Duy trì được sự thống nhất, giữa các dòng, nhánh, xu hướng khác nhau trong cùng một tôn giáo, duy trì một đức tin chung trong thể thống nhất. Ví dụ, sự phân liệt rõ nhất thể hiện ở Đạo Hồi hiện nay với các dòng Shia, Suni, rồi nhánh Wahabis thuộc Suni, nhánh Alewite, Druze thuộc dòng Shia…, mà dòng, nhánh nào cũng cho mình mới là “chính thống”, còn những dòng, nhánh khác là “ngoại đạo”, cần bị loại bỏ để làm “trong sạch” Đạo Hồi;
    • “Đồng hành” cùng xã hội hiện đại, nhưng vẫn duy trì các giá trị, các nguyên tắc “cốt lõi” (tức tính chất “chính thống”, mặc dù việc diễn giải và tự nhận các tính chất này còn nhiều điều phải bàn);
    • Tránh việc tạo ra một tầng lớp “tăng lữ” mới, với các đặc quyền, đặc lợi, hủy hoại chính tôn giáo của mình.

    Do Thái giáo cũng không phải là ngoại lệ, nhưng ít gặp các “vấn nạn” ở trên hơn, do:

    • Ngay khi ra đời, Do Thái giáo đã không có “vấn nạn”, đưa đến sự kình chống nhau sâu sắc giữa các dòng tu. Đạo Hồi chẳng hạn, ngay sau khi Nhà tiên tri Mohamed qua đời, sự giằng xé giữa những người cho rằng cần phải chọn người thừa kế hoặc có dòng màu trực hệ để “hướng đạo” hạy chọn những người có khả năng nhất trong việc kế thừa và phát triển di sản của Mohamed đã đưa đến việc phân chia Hồi giáo thành 2 nhánh lớn là Shia và Suni. Do Thái giáo cũng có những dòng hết sức cực đoan, thậm chí không công nhận Nhà nước Israel, nhưng họ vẫn hợp tác, và không đi đến chỗ đối đầu nhau bằng bạo lực. Những người có tác dụng giữ sự hòa hợp và thống nhất Đạo Do Thái là các giáo sĩ và Hội đồng giáo sĩ.
    • Trong hệ thống luật dân sự của Israel, còn có luật Do Thái Halakha tương tự như luật Sharia của Hồi giáo mà một số nước như Arab Saudi, Brunei… áp dụng. Halakha bao gồm 613 điều răn (commandments) với hệ thống tòa án riêng, và các “bản án” tôn giáo đối với người có đạo thậm chí còn đáng sợ và nghiêm khắc hơn các bản án dân sự. Luật Halakha tồn tại trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, can thiệp sâu và điều chỉnh rất nhiều quy tắc, tập tục của đời sống xã hội. Nếu không tuân theo Halakha, các Rabbis có quyền rút “Phép thông công” (excommunicate) – tương đương với một bản án tử hình – và điều này cũng đồng nghĩa với việc khi qua đời, linh hồn người chịu hình phạt đó không được bay lên Thiên đàng.
    • Người theo Đạo chính thống Orthodox tin và tự chọn cho mình lối sống theo các giá trị truyền thống và nguyên tắc nguyên thủy. Tuy nhiên, họ không tìm cách áp đặt lối sống của mình hay kỳ thị những người thế tục. Bản thân các Giáo sĩ (Rabbis) và những người Orthodox không được hưởng đặc quyền, đặc lợi, họ thỏa mãn với cuộc sống thanh bạch của mình. Trong đạo Hồi chẳng hạn, những người Wahabbis cũng có cuộc sống thanh bạch, khắc khổ, nhưng điều nguy hại là họ lại tìm cách áp đặt lối sống của mình lên những dòng, nhánh khác.
    • Khác với các Đạo giáo khác là tìm mọi cách truyền đạo để mở rộng thành viên, càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để trở thành một người Do Thái rất khó, phải có căn cứ, bằng chứng xác nhận tới ít nhất 4 đời trước đó và quy theo mẫu hệ. Họ cho rằng, đã là “thiên sứ nhà trời”, “được chúa chọn” thì chỉ có ít người được hưởng vinh dự, chứ đâu có thể kết nạp tràn lan, cứ vào đến synagogue (nhà thờ Do Thái) là trở thành Do Thái ngay được.

    Trong những điều kiện khắc nghiệt thời kỳ Đế quốc La mã là bá chủ khu vực Trung Đông, để tránh bị truy đuổi và tận diệt, người Do Thái buộc phải cải đạo sang đạo Thiên chúa. Tuy nhiên họ lại cải đạo trở lại thành người Do Thái khi điều kiện cho phép. Bản thân Hitler là người rất căm thù dân Do Thái, một cộng đồng đoàn kết nhưng sống tách biệt với người bản xứ. Trong con mắt Hitler, đã sinh ra là một người Do Thái thì sẽ luôn luôn là một người Do Thái, cải đạo chẳng giúp ích gì, và quyết truy sát 1 người nếu tìm được bằng chứng trước đó 4 đời họ là người Do Thái.

    Tản mạn thay lời kết: Chuyện ăn uống và tố chất của người Do Thái

    Đồ ăn Kosher (Kosher food) là đồ ăn được chế biến và ăn theo kiểu Do Thái. Đối với người Do Thái Chính thống, việc sử dụng Kosher là điều gần như bắt buộc, còn đối với người thế tục thì tùy lựa chọn. Các canteen phục vụ tai các cơ quan chính phủ Israel như Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng nghiễm nhiên là các nhà hàng phục đồ ăn Kosher. Đồ ăn Kosher hiện ngày càng trở nên phổ biến tại Israel và trên khắp thế giới và không chỉ người Do thái chính thống mới dùng. Hiện nay, có 100.000 loại thực phẩm Kosher khác nhau được bán trên phạm vi toàn thế giới.

    Vậy Kosher là gì và ăn như thế nào? Trong Halakha quy định rất rõ, chi tiết và khá phức tạp, nhưng chung quy lại có một số điểm chính:

    Về các thức ăn Kosher:

    • Một số con vật ăn được: chỉ ăn những con vật có móng chẻ, ăn cỏ và nhai thức ăn lại như bò, dê, cừu. Các con vật không ăn được là lợn, ngựa, và lạc đà. Lợn tuy có móng chẻ nhưng không nhai lại, còn ngựa, lạc đà tuy ăn cỏ nhưng không có móng chẻ.
    • Ăn các loài có cánh như gà, vịt, ngỗng, bồ câu… Không ăn các loài chim ăn thịt như diều hâu, chim ưng, đại bàng.
    • Ăn các loài cá có vây và vẩy như các hồi, cá ngừ, cá trích… Không ăn các con cá không vảy như lươn, các trê, cá tầm, tôm, tép, nghêu sò, ốc hến, các loài bò sát, côn trùng.
    • Các thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, ngũ cốc, trứng gà vịt, mật ong, rượu vang, chè, café.

    Về cách ăn đồ Kosher:

    • Chỉ uống sữa và các vật phẩm chế biến từ sữa của các con vật Kosher như bò, dê, cừu. Chỉ được dùng sữa và các vật phẩm chế từ sữa 6 tiếng sau khi dùng thịt, hoặc 30 phút trước khi ăn thịt chứ không được ăn, uống đồng thời. Đồ chế biến sữa và thịt, kể cả chậu rửa bát nhất thiết phải dùng riêng.
    • Lúa mì, gạo, và một số loại rau, củ nhất định thì ăn được. Không ăn, uống nước trái cây hoặc đồ chế biến từ các loại loại quả như cam, quýt, bưởi… dưới 3 tuổi.
    • Không ăn nội tạng động vật hay gia cầm; không ăn phần phía sau của con thú và không ăn thịt, cá đồng thời.
    • Khi ăn thịt phải lấy hết sạch máu và người chế biến phải học cách giết con vật sao cho con vật chết nhanh nhất, không đau đớn, nhưng lại ra được hết tiết. Thậm chỉ còn phải rửa sạch và ngâm miếng thịt trong nước 30 phút trước khi chế biến để ra hết máu,
    • Các nhà hàng Kosher nhất thiết phải do đầu bếp Do thái chính thống trực tiếp nấu nướng và bị phạt rất nặng, kể cả tước giấy phép kinh doanh, hành nghề nếu vi phạm.

    Có lẽ trên thế giới không có dân tộc nào có kiểu ăn “kiêng, khem” phức tạp và rườm rà như người Do Thái chính thống. Các nhà hàng phục vụ đồ ăn Kosher thường đắt hơn từ 20-30% so với nhà hàng thông thường, vậy mà lúc nào cũng đông khách ăn.

    Theo tôi, đây không chỉ là đồ ăn kiêng của người Do Thái, mà THỰC CHẤT KOSHER LÀ ĐỒ ĂN, CÁCH ĂN THÔNG MINH, KHOA HỌC, THẬM CHÍ LÀ LÝ TƯỞNG không chỉ của người Do Thái, mà của con người nói chung. Nếu chỉ khuyên nhủ thông thường sẽ ít người theo, nhưng khi khoa học được “phủ” một lớp màu tôn giáo thì Kosher đã trở nên thành món ăn kỳ ảo, mê hoặc và quyến rũ.

    Tạm cắt nghĩa một số thứ:

    • Theo người Do Thái, con vật cũng như con người đều có linh hồn. Nếu làm cho con vật chết đau đớn thì nó sẽ oán trách và cả người thịt lẫn người ăn nó đều bị “quở phạt”. Do đó, giết nhanh để con vật mau chóng được hóa kiếp lên thiên đàng.
    • Khi con vật cắt được tiết nghĩa là con vật còn tươi, chứ không phải ăn đồ ôi. Thú tính và sự ngu muội của con vật nằm ở “dòng máu”, và ăn thú vật hay gia cầm có tiết sẽ làm con người lâu dần nhiễm “thú tính” và đầu óc trở nên trì độn, còn nòi giống đi đến chỗ thoái hóa.
    • Thịt ăn cùng với cá không còn tác dụng bổ dưỡng nữa, mà triệt tiêu lẫn nhau. Còn trái cây trong 3 năm đầu thường chứa nhiều chất, độc tố có hại cho cơ thể.
    • Uống sữa sau khi ăn thịt không tốt cho sức khỏe vì bản thân thịt nhiều chất đạm, lâu tiêu lại có thêm chất bổ dưỡng khác nữa làm cho cơ thể không thể hấp thụ nổi và dễ sinh bệnh.
    • Trong điều kiện thiên nhiên hết sức khắc nghiệt của vùng Bắc Phi – Trung Đông, việc ăn uống tốt giúp người Do Thái chống chọi tốt hơn với khí hậu khắc nghiệt, làm cho không chỉ thể trạng khỏe khoắn mà trí tuệ của họ cũng hơn người. Các cụ nhà ta chả nói bệnh vào từ mồm đó sao?

    Như vậy, trải qua cả ngàn năm, với cuốn Kinh Thánh Hebrew, người Do Thái không chỉ thành công trong việc bảo tồn, mà còn phát triển bản sắc, văn hóa, tôn giáo của mình. Không những vậy, thông qua ăn uống, cuộc sống tinh thần lành mạnh, làm cho “gien Do Thái” vốn đã ưu việt, ngày một trở nên ưu việt hơn. Khác với các tôn giáo khác, người Do Thái không tìm cách phát triển tôn giáo của mình qua con đường truyền đạo như Đạo Hồi, Đạo Thiên chúa, hay Đạo Phật, mà tìm cách giữ sao cho Do Thái giáo càng “thuần khiết” càng tốt. Phải chăng những người được Chúa “chọn mặt gửi vàng” đâu có thể phát triển tràn lan được!

    Có lẽ chính vì vậy mà cách đây từ trên 3.000 năm Nhà tiên tri Moses của người Do Thái đã lường trước điều này khi ông, ngay từ khi đó, đã hình dung ra rằng nếu người Do Thái làm theo các lời răn dạy của ông thì họ sẽ trở thành đối tượng bị săn đuổi và tận diệt của nhiều sắc dân khác và vì vậy đã chuẩn bị cho họ hành trang đầy đủ trong cả ngàn năm thiên di trước khi “trở về Jerusalem”. Điều ngạc ngạc nhiên là người Do Thái không than thân, trách phận mà họ coi đó là “sự thử thách” của Chúa trời đối với dân tộc Do Thái!

    TS. Hoàng Anh Tuấn là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bài viết tổng hợp những ghi chép đăng lần đầu trên trang Facebook của tác giả về chuyến công tác tới Israel gần đây, thể hiện quan điểm cá nhân, không phải quan điểm của cơ quan nơi tác giả công tác.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    24 phản hồi

    Khan viết:
    Nhật cho lai giống dân Nhật với người Âu để tăng chiều cao là bằng chứng cho thấy nếu lai giống lùn với cao thì bộ gene giống cao sẽ giúp kéo chiều cao trung bình của giống lùn lên.

    Um... Người ta cũng có thể nói rằng chế độ dinh dưỡng tốt (đầy đủ) giúp tăng chiều cao của con người, vậy đấy là bằng chứng dinh dưỡng ảnh hưởng đến chiều cao. Để ý là tôi không phủ nhận mức độ di truyền (heritability), khá quan trọng, của chiều cao.

    Đàn ông Mỹ có chiều cao trung bình là 1.70 mét vào năm 1912, và 1.75 mét một trăm năm sau, chắc chắn không phải là nhờ lai giống với một sắc dân nào khác. Chiều cao trung bình của người Pháp, và dân Âu châu nói chung cách đây hai ba trăm năm chỉ cỡ 1.62 m. Người ta hay lan truyền một huyền thoại về dáng dấp lùn xỉn (nhưng bụng hơi bự) của Napoleon, từ đấy nẩy sinh ra cụm từ "mặc cảm Napoleon" (và ngay cả các phim Tây cũng lựa tài tử lùn để đóng vai hoàng đế này), nhưng thật ra Napoleon cao đến 1.68 mét , vượt xa chiều cao trung bình của dân Tây thời ấy.

    Dân Nam Hàn cao hơn dân Bắc Hàn cỡ 10 cm.

    Đàn ông Nhật có chiều cao trung bình là 1.56 m cách đây trên 100 năm, và hiện giờ cỡ 1.71 m (so với đàn ông Việt ~ 1.66 m), với độ tăng đạt được 5 cm chỉ nội trong vòng 30 năm trở lại đây thôi.

    Chuyện dân Nhật được cho lai giống để cao lên, giống như chuyện Napoleon lùn hay chuyện một người Việt thông minh hơn một người Nhật nhưng ba người Việt thì lại ..., chỉ là loại tin vịt cồ, đồn đại, không dựa vào chứng cớ hẳn hoi gì cả.
    Việc mấy cô gái Nhật có cặp mắt bự như cá vàng chớp chớp long lanh, mũi cao (cũng như gái Nam Hàn) đứng đu đưa, tì dựa vào mấy cái xe đua Grand Prix, đấy chẳng qua là do đi thẩm mỹ viện cắt mắt, nâng mũi, gọt xương gò má đấy mà thôi :)

    Nói chính xác hơn, người Nhật quả thật có lai giống đấy, nhưng chuyện ấy xẩy ra cách đây trên hai ngàn năm, vào thời đại Yayoi, dân bản xứ (aboriginal) ở Nhật lúc ấy (khá lùn, đàn ông cao cỡ 1.58 m) nhập giống với một sắc dân cao lớn hơn, có lẽ đến từ Triều Tiên, và nâng chiều cao trung bình lên được 1.64 m (*). Có nhiều người Nhật không ưa nghe nói về việc nhập giống này vì họ vốn ghét và khinh bỉ dân Triều Tiên, nên không thích nghe ai nói "tổ tiên" của mình thật ra một phần xuất phát từ Triều Tiên, mặc dù có bằng chứng nhân chủng học và DNA về nguồn gốc ấy.

    Tất cả những chuyện tôi viết ở trên không phủ nhận mức độ di truyền (vai trò của gien) quan trọng của chiều cao con người.

    (*) Chiều cao của người đàn ông Nhật sau đó lại bị giảm xuống vào 1.56 m, ở thời đại Edo.

    Phong Uyên viết:
    Sự phát hiện được một số gien có liên quan đến những khả năng thông minh không phải là đã khám phá ra một gien thông minh.

    Thế thì, một số gene có liên quan trực tiếp đến khả năng thông minh khác với gene thông minh như thế nào ? Giả thử cứ đặt tên cho những gene liên quan trực tiếp đến trí thông minh, theo phát hiện của khoa học gần đây là có liên quan trực tiếp đến 50% các 'dấu hiệu thông minh', là gene thông minh thì 'mắc mứu' gì ? Giống như gene chiều cao, gene âm nhạc ...

    Gene for human height revealed
    Tall tale: scientists unravel the genetics of human height

    Musical ability is in the DNA
    What Do Great Musicians Have in Common? DNA

    Phong Uyên viết:
    Tôi cũng xin nói thêm là gien học trong y khoa chỉ có mục đích tìm gien bị hư gây bệnh tật để tìm cách chữa chạy chứ không phải tìm gien tốt vì thế nào là gien tốt ? Nếu tìm được nó thì chỉ cần tìm ai có những gien này mới được huấn luyện để thành quán quân thế vận hay mới được gửi đi học như Ngô Bảo Châu. Và chắc chắn là những người như Einstein sẽ bị loại ngay từ vòng đầu vì Einstein hồi nhỏ học rất dở.

    Muốn biết thế nào là 'gene tốt' thì trước hết phải hiểu thế nào là 'tốt', trong bối cảnh nào ! Thí dụ, có thể hiểu 'tốt' theo nghĩa 'phù hợp với mục đích' (fit for purpose). Theo nghĩa đó, trong lĩnh vực thi đấu điền kinh (track & field), những gene đã được phát hiện có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển chiều cao, khung xương, tỉ trọng mô cơ có thể được xem là 'gene tốt'. Nhật cho lai giống dân Nhật với người Âu để tăng chiều cao là bằng chứng cho thấy nếu lai giống lùn với cao thì bộ gene giống cao sẽ giúp kéo chiều cao trung bình của giống lùn lên. Và như thế, nhằm mục đích cải thiện chiều cao giống nòi thì những gene có tác động trực tiếp đến phát triển chiều cao là loại gene tốt.

    Về mặt trí tuệ, nếu đã ngu bẩm sinh ở mức gene (severely dumb nature) thì đành bó tay, cho dù có được chăm bẵm dạy dỗ, kềm cặp sát sao (lavishly abundant nurture), cố hết sức 'lấy cần cù bù thông minh' thì giỏi lắm cũng chỉ đạt mức làng nhàng trung bình (mediocre), cốt là tránh rơi vào tình trạng ngu dốt hết thuốc chữa (hopelessly stupid) ! Ngược lại, nếu một đứa bé được trời cho thông minh xuất chúng bẩm sinh (holy brilliant nature) thì cho dù có là con nhà nghèo, thiếu sự chăm sóc chu đáo, thiếu dinh dưỡng, thiếu phương tiện vui chơi, giải trí (insufficient nurture) vẫn có thể học giỏi, phát triển được trí tuệ cao như thường nếu có đủ điều kiện tối thiểu để tiếp tục cắp cặp đến trường. Người có gene thông minh mà bị xui xẻo từ nhỏ phải đi móc cống kiếm ăn, không được học hành, thì trí óc cũng sẽ bị thui chột theo cái dạ dày teo tóp, chết sớm vì ho lao, tài năng trí tuệ bẩm sinh không có cơ hội 'phát tiết' được. Ngược lại, kẻ nào đã lỡ bị trời xui thiếu gene thông minh thì đành chịu phép, không có cách chi 'ép uổng' cho thành thiên tài được. Thực tế là có thể cải thiện được yếu tố giáo dưỡng (nurture), nhưng yếu tố tự nhiên (nature) thì đành phải ơn trời cho ai nấy hưởng ngay khi được thụ thai, hiện chưa thể cải thiện được tình hình mặc dù 'liệu pháp gene' (gene therapy) đã có những bước tiến chập chững ban đầu, và 'kỹ thuật gene' (gene engineering) đang phát triển rất mạnh. Do đó, chọn giống tốt vẫn là điều tối quan trọng, tiên quyết đối với sự tồn vong và phát triển vững chắc của giống nòi. Bởi thế cho nên, từ xa xưa ông bà ta vốn đã thường chỉ dạy một cách thông thái rằng là 'dựng vợ xem tông, gả chồng xem giống'.

    Sứ mệnh chính của ngành y khoa (medicine) là chữa bệnh cứu người nên lẽ đương nhiên là các công trình nghiên cứu gene trong y học phải dành ưu tỉên cho việc tìm ra các gene gây bệnh để chữa cho 'dứt nọc'. Tuy nhiên, việc đó chẳng hề ảnh hưởng, gây cản trở cho một trong số các mục tiêu bao quát hơn của ngành di truyển học (genetics) nhằm giải mã bộ gene người, tìm ra ảnh hưởng, tác động của các gene cụ thể lên các đặc tính tâm sinh lý của con người !

    Việc mình chưa biết, không được cho biết, không có nghĩa là không, chưa hề xảy ra. Dễ gì mấy ai biết được hiện có bao nhiêu cơ sở nhân giống bí mật (incubator) đâu đó trên địa cầu đang âm thầm cất giữ và cho thụ tinh nhân tạo từ tinh trùng và trứng của những đàn ông, phụ nữ khỏe mạnh có IQ từ mức 150-160 trở lên, nhằm sản sinh ra những cá thể người có 'tố chất' thiên tài ? Một việc rất hệ trọng và quá ư 'nhạy cảm' như thế mà nếu không được che chắn, canh phòng cẩn mật, để cho xì ra (leak) thì ắt sẽ bị cả đám liberal, leftist lâu nhâu nhào ngay vào chửi rủa rùm trời nào là 'phân biệt chủng tộc' (racist), là 'ưu sinh' (eugenicist) ...

    Trong bối cảnh việc cạnh tranh ảnh hưởng, tranh giành quyền lực đã và đang diễn ra gay gắt trên toàn cầu, trong đó trình độ khoa học kỹ thuật, sức mạnh quân sự, kinh tế, khả năng chiến đấu và chiến thắng, thậm chí sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia hơn bao giờ hết phụ thuộc rất cơ bản, mật thiết, có tính sống còn vào hàm lượng chất xám, sức mạnh não bộ (brain power) của tập hợp công dân từng nước, thì thật khó có thể loại trừ hoàn toàn 100% khả năng tồn tại và hoạt động của các cơ sở tuyển chọn và nhân giống IQ siêu cao 'cơ mật' kia được ! :)

    Tôi xin đình chính vì viết lộn tên :

    Isaac, con Sarah mới là tổ của 12 bộ lạc Do Thái. Người Ả Rập không công nhận Isaac là con trưởng vì khi sinh Isaac Ismeal đã 14 tuổi và Chúa bảo Abraham giết Ismeal để tế Chúa (Chúa thử lòng Abraham, sau thay bằng con dê) chứ không phải Isaac vì Isaac lúc đó chưa sinh ra. Ismael cũng có 12 đứa con.

    1) Tiếp tục trả lời bác Khan :

    - Đoạn bác chích dẫn nằm trong tạp chí chuyên về bệnh tâm thần Molecular Psychiatry tôi đã đọc cách đây 3 năm (2011), đăng lại những công trình của khoa Tâm thần mấy trường đại học Scotland (Edimuurg, Manchester...) tìm hiểu về 2 loại thông minh gọi là Gf và Gc ( thông minh biết suy luận logic và giải quyết vấn đề trước một sự việc bất thần xẩy ra và thông minh biết dùng những gì mình đã học được và những kinh nghiệm tích lũy trong trí nhớ) và thấy là 40-50% sự khác biệt về thông minh có thể đi liền với sự khác biệt về gien (... found that 40% to 50% of people's differences in these abilities could be traced to genetic differences). Đại học Edimburg cũng cùng một ý khi nói là khoảng 50%. Sự phát hiện được một số gien có liên quan đến những khả năng thông minh không phải là đã khám phá ra một gien thông minh.

    - Như tôi đã nói, Molecular Psychiatry tháng 4- 2014 (mong bác tìm đọc) còn nói là King's College (Cambridge) còn tìm được một gien có liên quan trực tiếp đến khả năng thông minh là gien NPTN. Nhưng cũng viện Tâm thần của đại học này đã đưa ra kết luận đó không phải là gien thông minh và cũng chỉ đưa ra phỏng đoán là sự thay đổi về gien chỉ giải thích được chừng 0,5% tổng số sự thay đổi quan sát được trong lãnh vực thông minh. Tôi nói "phần rất nhỏ" cũng còn là quá lớn.

    Tôi cũng xin nói thêm là gien học trong y khoa chỉ có mục đích tìm gien bị hư gây bệnh tật để tìm cách chữa chạy chứ không phải tìm gien tốt vì thế nào là gien tốt ? Nếu tìm được nó thì chỉ cần tìm ai có những gien này mới được huấn luyện để thành quán quân thế vận hay mới được gửi đi học như Ngô Bảo Châu. Và chắc chắn là những người như Einstein sẽ bị loại ngay từ vòng đầu vì Einstein hồi nhỏ học rất dở.

    2) Về huyền thoại Abraham

    1° Huyền thoại ông tổ : Abraham được coi là ông tổ của người Do Thái và của người Ả Rập và cũng được người Kitô giáo coi là lão trượng (patriache) vì cả 3 đạo Thiên chúa : Do thái giáo, Ki tô giáo, Hồi giáo, đều tin vào những gì được kể trong Thánh kinh (Bible) chung của cả 3 đạo. Tất nhiên là 2 đạo Kitô, Hồi, ra đời sau, đều 'mượn' Thánh kinh của Do Thái để làm nguồn gốc cho đạo mình : Kitô giáo thì muốn qua Abraham đi đến đấng Cứu thế là Ki Tô Jesus mà người Do Thái coi là mạo danh vì đấng cứu thế (Messie) là của họ, chưa xuống trần gian để giải thoát họ. Ả Rập thì cho mình la dòng dõi Ismael, con trưởng nhưng là con vợ hai của Abraham. Do Thái thì cho mình mới là chính thống vì là dòng dõi Isaac, sinh sau nhưng là con trưởng vì là con Sarah vợ chính của Abraham. Sự ghét nhau tột bậc giữa Do Thái và Ả Rập cũng là vì ai cũng coi mình mới là dòng dõi con trưởng chả khác gì trong gia đình VN ngày trước, năm thê bẩy thiếp.

    2° Huyền thoại thành Ur : Abraham sinh ở thành Ur hiện giờ thuộc Irak. Nghe lời Chúa gọi bỏ thành này năm 75 tuổi đem cha và một người cháu con em mình tên là Loth và em gái cùng cha khác mẹ tên là Sarah sau lắy làm vọ, đi đến vùng đất hứa là Canaan, tức là Palestine ngày nay. Thánh kinh toàn những chuyện loạn luân cả: Abraham thì lấy en là Sarah, đến đúng 100 tuổi mói sinh Isaac. Loth sau này lấy hai đứa con gái mình khi thành Sodome vì tồi bại bị Chúa san bằng, mọi người bị Chúa giết hết trừ 3 bố con Loth. Ismael, tổ của 12 bộ lạc Do thái cũng lấy cháu của Abraham là Rebecca. Theo các nhà khảo cổ bây giờ, Abraham không thể đi từ thành Ur đến Palestine được. Chẳng qua là vì Ur đã có tiếng vì gần Babylone nên những người viết Thánh kinh sau này bịa ra như vậy.

    3) Chúa Kitô nói tiếng gì ?

    Chúa Jesu Kitô sinh thời không nói tiếng Hebrew vì là tiếng trong thánh kinh và cũng chỉ là một thổ ngữ của bộ lạc Juda, mà nói tiếng Arameen, tiếng giao dịch thông thương của cả vùng cận Đông. Một vài vùng ở Irak, nhất là trong đạo Ki Tô cũng vẫn còn nói tiếng này. Những tầng lớp cao kể cả người La Mã thì nói tiêng Hi Lạp chứ không phải tiếng Latin, chỉ là thổ âm của người La Mã, không sang bằng tiếng Hi Lạp.

    Phong Uyên viết:
    Gần đây nhất, cũng các nhà khoa học này khẳng định có tìm thấy một gien được biết dưới tên NPTN gắn bó trực tiếp với trí thông minh vì những người có cái gien này có chất xám dầy hơn, và những người có chất xám dầy là những người có nhiều khả năng thông minh hơn những người khác (sau khi phân tích NDA và làm scanner RMI của 1583 thiếu niên 14 tuổi mạnh khỏe.

    Nhưng các nhà khoa học này cũng tuyên bố "Cần nhấn mạnh là thông minh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố về gien và về môi trường. Gien mà chúng tôi tìm thấy chỉ giải thích được một phần nhỏ của sự khác biệt về trí thông minh và không có nghĩa là có một gien thông minh".

    Năm 2011 các nhà khoa học ở Đại học Edimbourg có công bố một nghiên cứu gợi ý chỉ chừng 50% sự khác biệt về trí thông minh giữa 2 cá nhân được định đoạt bới sự khác nhau về gien

    Trích nguồn Research reveals genetic link to human intelligence
    Source: University of Manchester
    Summary: New research provides the first direct biological evidence for a genetic contribution to people's intelligence. Previous studies on twins and adopted people suggested that there is a substantial genetic contribution to thinking skills, but this new study is the first to find a genetic contribution by testing people's DNA for genetic variations.

    Previous studies on twins and adopted people suggested that there is a substantial genetic contribution to thinking skills, but this new study -- published in the journal Molecular Psychiatry -- is the first to find a genetic contribution by testing people's DNA for genetic variations.
    The team studied two types of intelligence in more than 3,500 people from Edinburgh, Aberdeen, Newcastle and Manchester. The paper, by Dr Neil Pendleton and colleagues, found that 40% to 50% of people's differences in these abilities could be traced to genetic differences.
    The study examined more than half a million genetic markers on every person in the study. The new findings were made possible using a new type of analysis invented by Professor Peter Visscher and colleagues in Brisbane. As well as the findings in people from Scotland and England, the team checked their results in a separate group of people from Norway.
    Dr Pendleton, who led the Manchester team in the Centre for Integrated Genomic Research, said: "This is the first reported research to examine the intelligence of healthy older adults and, using a comprehensive genetic survey, we were able to show a substantial genetic contribution in our ability to think.
    "The study confirms the earlier findings of the research in twins. However, that research could not show which genes were or were not contributing to cognitive ability. Our work demonstrates that the number of individual genes involved in intelligence is large, which is similar to other human traits, such as height.

    Như thế các khoa học gia đã chứng minh rõ ràng là có sự liên quan, ảnh hưởng trực tiếp của bộ gene lên trí thông minh, và đã phát hiện được một số gene, sự kết hợp, sắp xếp của một số gene cụ thể có liên quan mật thiết đến trí thông minh, do đó không thể nói là không có 'gene thông minh'. Cứ cho rằng yếu tố gene ảnh hưởng đến 50% trí thông minh thì không thể nói đấy chỉ là phần nhỏ được. Tôi thì có cách nhìn nhận khác rằng yếu tố gene (nature) quyết định đến 100% trí thông minh bẩm sinh, yếu tố môi trường (nurture) chỉ có thể giúp trí thông minh 'phát tiết' hết mức bẩm sinh giúp đạt những thành tựu xuất sắc, hoặc kềm hãm khiến thành tựu chỉ làng nhàng, thậm chí có thể tác hại làm thui chột tiềm năng thông minh.

    Trả lời bác Khan

    Bài mới đăng trên Tạp chí Molecular Psychiatry bác đưa cho tôi chỉ nhắc lại là các nhà khoa học King's College London đã tìm thấy 5 yếu tố gien có liên quan đến trí thông minh chứ không phải là đã tìm thấy gien thông minh.

    Gần đây nhất, cũng các nhà khoa học này khẳng định có tìm thấy một gien được biết dưới tên NPTN gắn bó trực tiếp với trí thông minh vì những người có cái gien này có chất xám dầy hơn, và những người có chất xám dầy là những người có nhiều khả năng thông minh hơn những người khác (sau khi phân tích NDA và làm scanner RMI của 1583 thiếu niên 14 tuổi mạnh khỏe.

    Nhưng các nhà khoa học này cũng tuyên bố "Cần nhấn mạnh là thông minh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố về gien và về môi trường. Gien mà chúng tôi tìm thấy chỉ giải thích được một phần nhỏ của sự khác biệt về trí thông minh và không có nghĩa là có một gien thông minh".

    Năm 2011 các nhà khoa học ở Đại học Edimbourg có công bố một nghiên cứu gợi ý chỉ chừng 50% sự khác biệt về trí thông minh giữa 2 cá nhân được định đoạt bới sự khác nhau về gien

    tác giả viết:
    Người Do Thái hiện nay đều coi Thủy tổ của mình là ông Abraham (và cũng là của người Hồi giáo – Người Hồi giáo gọi là Ibrahim)

    Theo Torah thì ông Abraham đến từ vùng Ur mà các nhà khảo cổ học có nhiều thuyết về gốc của địa danh này, nhưng nói chung là thuộc về vùng Mesopotamia tức là quanh Iraq ngày nay. Nhưng không vì thế mà nói ông là người của Hồi giáo! Đạo Hồi giáo ra đời vào thế kỷ 6 sau CN, tức là thời điểm rất xa sau Abraham.

    tác giả viết:
    Nhưng trên thực tế ta thấy: người Hán, nước Trung Quốc và Đạo Khổng.

    Trong đoạn viết của câu trên, t/g ám chỉ ‘Đạo Khổng’ cũng là một đạo như Do Thái giáo. Đúng ra, Khổng giáo không phải là “đạo” (religion). Chữ giáo nên hiểu là ‘giáo dục’ của Khổng tức là một hệ thống tư tưởng và lý luận về nhân sinh (là những vấn đề giữa con người với nhau), không có các tín điều về thần linh. Đây là sự khác biệt rất quan trọng mà dễ đưa tới nhiều lý luận sai lầm; nó quan trọng vì hiểu biết/lý luận về thiện/ác, đúng/sai phải được xác định từ đâu tới (đây là một đề tài quan trọng trong triết lý gọi là epistemology). Phải chăng, càng có uy tín bao nhiêu, các giáo điều hay giáo dục từ đó mới càng được tuân theo bấy nhiêu?

    Vì những ảnh hưởng tư tưởng về thần linh từ Lão giáo và Phật giáo, có người Tàu hay Việt tôn thờ Khổng như là thánh nhân, nhưng đó là một tín ngưỡng tự tạo, không do Khổng dạy như thế.

    tác giả viết:
    Một điều rất đặc biệt là trong cuốn Kinh Torah (gồm 5 tập, ghi lại các lời của Nhà tiên tri Moses) có ghi người Do Thái được Đức chúa trời chọn (the Chosen People) để truyền đạt thông điệp của Chúa cho các dân tộc khác, dẫn dắt và khai sáng các dân tộc khác.

    Torah có nói dân Do Thái là dân được chọn, nhưng là để tôn thờ và làm vinh quang Chúa của họ; họ được đặt riêng ra để làm dòng giống có sứ mệnh riêng cho Do Thái và thế giới (Mesiah)
    Không có phần nào dạy là họ phải truyền đạt thông điệp của Chúa hay khai sáng các dân tộc khác (Non-Jews).
    Vì thế, họ không truyền đạo và khi theo đạo (theo truyền thống là chỉ có thể qua việc lập gia đình, sinh con) là chấp nhận đồng hóa, vì đạo gắn liền với văn hóa, phong tục, luật lệ. Đây là điều mà ngày nay bị coi là ‘chính thống cực đoan’ (ultra-orthodox hay extremist), nhưng đó là sự thực về cách sống của họ cho đến gần thời nay, bởi vì định nghĩa về sự ‘cải đạo’ (convert) và niềm tin cũng như cách sống đạo đã thay đổi ở Israel do tình trạng nhiều sắc dân từ khắp nơi về từ năm 1948 và ảnh hưởng của văn minh khoa học ngày nay (Who is a Jew).

    Người Do Thái không phân biệt nhau qua sắc dân do địa lý hay tiếng nói từ vùng họ đến mà là qua truyền thống về sự hiểu biết và hành đạo của họ, đây là cá tính phân biệt Ashkenazi với Sephardic và Mizrahi (ba nhánh chính) chứ không phải chủng tộc; gọi mỗi nhánh là một sắc tộc (ethnic) thì đúng hơn vì nó có kèm theo khác biệt về tiếng nói gốc Hebrew và văn hóa. Nhưng vì cách sống cách biệt của người Do Thái với dân địa phương qua mấy ngàn năm (trước và sau CN), sắc tộc Ashkenazi có gien khác biệt như một chủng tộc riêng, với gốc bố từ Trung Đông và 80% gốc mẹ từ người Âu Châu bản địa (http://en.wikipedia.org/wiki/Ashkenazi_Jews).

    Tuan34344 viết:
    - Điều thứ hai: về đức tin của dân DT, khác với bác, tôi không đặt nặng vai trò của niềm tin vào thần linh, huyền bí (hay thậm chí kinh thánh DT) trong việc dựng tạo ý chí mãnh liệt của người Do Thái, mà tôi nghĩ rằng lòng quan tâm đặc biệt về truyền thống văn hoá, lịch sử là yếu tố quan trọng nhất tạo ra mối đoàn kết gắn bó và lòng quyết tâm bảo vệ duy trì bản sắc Do Thái.
    Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng dân DT hiện đại, dù sống ở Israel hay ở hải ngoại, là một trong những sắc dân mang tính "thế tục" (secular, ngược lại với religious) nhất, nhưng đa số người DT đều xem trọng hay quyết liệt duy trì các đặc điểm văn hoá, lịch sử của mình.
    ….

    Tóm lại, theo tôi các yếu tố giúp người DT thực hiện được nhiều chuyện phi thường là, theo thứ tự quan trọng giảm dần:
    - Ý chí mãnh liệt về việc duy trì bản sắc dân tộc của mình (không nhất thiết dựa trên căn bản tín ngưỡng tôn giáo)
    - Sự trợ giúp và thiện cảm đến từ Tây phương
    - Sự đóng góp đặc biệt của chủng tộc Ashkenazi.

    Ông Tuan34344 nói điều này có phần đúng, nhưng đây là phản ảnh của Do Thái giáo và nước Do Thái phần lớn của thời đại này, tức là từ khi họ tái lập quốc. Trước đó, tức là gần suốt lịch sử của họ, không thể nào tách rời yếu tố tín ngưỡng ra khỏi ý thức về nguồn gốc (identity), về câu hỏi của con người: tôi là ai và từ đâu tới?

    Với tính chất gọi là Do Thái, văn hóa họ gồm cả
    - lịch sử quá khứ,
    - tiên tri về tương lai,
    - nhân sinh quan,
    - vũ trụ quan (với vũ trụ và thần linh/tạo hóa),
    - kể cả cách ăn uống và sinh sống (!)
    và tất cả bắt nguồn từ tín ngưỡng mà Abraham đã nhận từ một thần linh được dạy là đấng tạo hóa. (Tôi nghĩ không có dân tộc nào có một bản sắc tương tự như thế; nó giống như Khổng giáo nhập với Phật giáo nhập với phong tục, sách tiên tri về tương lai và cả luật lệ về cách tôn thờ cũng như xã hội trong cùng kinh điển)

    Và trong hoàn cảnh lưu lạc trước 1948, họ phải chứng minh giá trị văn hóa của họ, sự ưu việt của họ mà tín ngưỡng là gốc và là sự khác biệt quí nhất của họ với dân bản địa (tức là dân cai trị họ, có quyền lợi hơn họ) qua những nghề và việc họ được phép làm.

    Thái độ không tín ngưỡng, thế tục của người Do Thái ngày nay không khác gì so với các phái Kitô giáo từ khoảng thời Gallieo, khi khoa học bắt đầu phát triển rộng lớn. Tôi nghĩ chính vì cái gốc kinh thánh về sự sáng tạo thế giới (Genesis trong Torah) mà người Do Thái lại càng cố gắng hơn trong vài thế kỷ qua để tìm các chứng minh rằng sách Torah là đúng sự thật. Người Do Thái giáo có phần danh dự lớn hơn (a bigger stake in honor) ở trong tranh luận này với người Kitô giáo vì truyền thuyết này đến từ chính Torah của họ; người bản địa không mất gì hết nếu họ bỏ đạo nhưng người Do Thái sẽ mất hết, kể cả nguồn gốc (identity) và phải đồng hóa nếu Genesis chỉ là thần thoại. Do đó, phản ứng của họ chính là động lực khiến họ trội hơn các dân khác nhất là trong khoa học. Theo ý kiến tôi, đây là nguyên nhân chứ không hẳn là vì DNA; có gien ảnh hưởng đến thông minh nhưng không có động lực thúc đẩy thì cũng sẽ chỉ là người trung bình, và rồi qua thời gian, dòng giống trung bình. Ở các nước mà họ được đối xử công bằng như ở Mỹ hay các nước Âu bây giờ, họ không còn thuần đạo và động cơ kinh tế mạnh hơn các yếu tố khác cho các thành tích của họ.

    Ngày nay, dù tín ngưỡng không còn ảnh hưởng mạnh ở Israel, nhưng vì đã có chung lịch sử và văn hóa với những sự đàn áp giết chóc họ phải chịu trước đây, họ phải đoàn kết với nhau với truyền thống cũ trong đất nước mới (lập lại) và phải sống mạnh để tự vệ với các láng giềng hăm xóa sổ họ khỏi thế giới!

    Phong Uyên viết:
    Tôi phải khẳng định với tác giả là khoa học, cho tới bây giờ, không tìm thấy "gien" thông minh ở bất cứ cá nhân nào, kể cả ở những thiên tài.
    ...
    Nói tóm lại không có gien thông minh cũng như không có gien tốt bụng, xấu bụng, gien ăn cắp, gien tham nhũng vv...

    Rõ ràng là không có thói quen hóng hớt tin tức 'tiến bộ khoa học kỹ thuật' :)

    Genetics and intelligence differences: five special findings

    Research reveals genetic link to human intelligence

    Có sự ngược đời là, để giải thích sự thành công (cho tới bây giờ) của Israel, tác giả Hoàng Anh Tuấn, một quan chức của Nhà nước CSVN, lại đưa ra những lập luận chả khác gi lập luận của những người Do Thái cực hữu hay những người theo đạo Do thái Chính thống cực đoan, luôn luôn gắn chặt đạo giáo với chủng tộc.

    Tôi xin vạch những sai lầm chính trong bài viết của tác giả :

    1) Trước hết, tôi phải nói là cái công thức đẹp như một vần thơ của tác giả : " Israel là đất nước duy nhất trên thế giới được định hình bởi 4 yếu tố mang đậm chất Do thái là dân tộc Do Thái, đạo Do thái, văn hóa Do thái, đất nước Do Thái ", có thể đối nhau chan chát với khẩu hiệu của đảng Ta " Đảng Lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân đân làm chủ ", chỉ là một sự tưởng tượng : Israel là một nước gồm nhiều sắc tộc với 2 dân tộc chánh là Ả Rập (khoảng 1,6 triệu người Palestine Hồi giáo và Kitô giáo) và Do Thái (khoảng 6 triệu, tuyệt đại đa số là dân nhập cư)). Nhưng ngay trong dân tộc Do thái cũng có nhiều chủng tộc khác nhau : 2 chủng tộc chánh là Askhena đến từ Trung Âu và Serafat đến từ các xứ Ả Rập, cộng với mấy chục ngàn người Phi châu da đen Etiopie và nhất là hơn 1 triệu người Nga Sô viết cũ mới tới sau này. Mỗi sắc tộc vẫn giữ nguyên văn hóa và tiếng nói của mình trước khi nhập cư. Israel là một nhà nước thế tục không có quốc đạo và ngoài tiếng Hebrew còn có một ngôn ngữ chính thức khác là tiếng Ả Rập. Đạo Do thái Chíngh thống, với những luật lệ khắc khe của nó, thật sự cũng rất ít người theo : 9% (chừng 450-500 ngàn người). 40% chỉ theo truyền thống Do Thái. 47% tuyên bố thẳng thừng là vô đạo, vô thần, nhất là những người gốc Nga. Sabbhath là ngày thứ Sáu nghỉ cuối tuần, tương đương với ngày thứ Bẩy của Hồi giáo và ngày Chủ Nhật ở những nước theo Ki Tô giáo cũ và ở những nước thế tục. Những ngày nghỉ này, dành cho sự thờ phụng Chúa ở những nước theo theo Thiên chúa giáo (Do Thái, Hồi, Kitô) đều đã mất dần tính cách tôn giáo. Nếu ông HAT tới Tel Aviv ngày thứ Sáu thì sẽ thấy Tel Aviv hệt như Paris ngày Chủ Nhật. Không có chuyện vợ chồng "yêu nhau" ngày thứ Sáu đối với những người theo đạo Do Thái chính thống vì ngày này dành cho Chúa. Còn đối với 90% người Do Thái thì không có sự kiêng cữ như vậy, hệt như mình 'yêu nhau' ngày Chủ Nhật vậy.

    2) Ông Hoàng Anh Tuấn có ý cho là người Do thái có gien thông minh và gien này "được lưu giữ và truyền từ đồi này qua đời khác". Tôi phải khẳng định với tác giả là khoa học, cho tới bây giờ, không tìm thấy "gien" thông minh ở bất cứ cá nhân nào, kể cả ở những thiên tài. Sự người này có IQ lớn hơn người kia cũng chỉ nằm trong phạm vi tuyệt đối cá nhân, không thể căn cứ vào đó mà có thể suy luận là một đứa trẻ có IQ 150 sẽ là một thiên tài sau này. Nói tóm lại không có gien thông minh cũng như không có gien tốt bụng, xấu bụng, gien ăn cắp, gien tham nhũng vv...

    3) Ngoài ra, nếu có gien thông minh thì gien này cũng phải có trong con người Ả Rập vì cả Do Thái lẫn Ả Rập đều cùng một ông tổ là Abraham và cùng một dòng giống Semite. Hơn nữa, đa số những người được giải Nobel đều thuộc chủng tộc Askhenase, một chủng tộc mang tiếng là Do Thái nhưng phiêu bạc qua Đức từ năm 70 khi thành Jerusalem bị người La Mã phá bỏ, nên mang trong người ít nhất là 99,99% máu Đức. Bởi vậy, thiên tài là nhờ có máu Đức hay nhờ có một giọt máu Do Thái ?

    4) Rabbis (có nghĩa là ông thầy) không phải là những người thông minh nhất mà chỉ là những người đọc được tiếng Hebrew, thông thuộc thánh kinh Torah và biết giải thích luật lệ Talmud, được coi là phiên bản miệng của Torah. Torah cũng là Cựu ưức của Ki Tô giáo và Hồi giáo cũng coi là Sách Chúa nên cả 3 đạo Do Thái, Ki Tô và Hồi giáo đều được Hồi giáo coi là đạo thánh kinh (les religions du Livre). Tiếng Hebrew trong Torah cũng chỉ gồm 8000 chữ (so với cổ ngữ Hi lạp thời ấy đã có tới 120 ngàn chữ !), lại là tiếng phiên âm nên cũng dễ học. Tuy vậy cũng không phải là tiếng nói thông thường của những người Do thái vì là tiếng thánh kinh, không diễn tả được hết mọi ý trong cuộc sống hàng ngày. Những người này lưu lạc đến xứ nào thì nói và viết theo tiếng của xứ ây hay vay mượn tiếng của xứ ấy tạo ra một thứ tiếng riêng cho mình trong đó những từ ngữ Hebrew chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Vì vậy tiếng nói của những người Do Thái Askhenase lưu lạc ở châu Âu từ thời thượng cổ là Yiddish mà nòng cốt là tiếng Đức chứ không phải là Hebrew. Chỉ bắt đầu từ đầu thế kỷ thứ 20, 8000 từ ngữ Hebrew, mới được thêm thắt để có thể diễn đạt được trong đời sống hàng ngày. Chỉ khi tuyên bố thành lập nước Israel năm 1948, tiếng Yiddish, vì lí do chính trị, bị loại ra khỏi vòng chiến,tiếng Hebrew mới được lựa chon để trở thành một trong 2 ngôn ngữ chính thức của Israel. Bởi vậy có sự ngược đời là cha mẹ chỉ biết nói tiếng Yiddísh được con cái sinh ở Israel dạy lại tiếng Hebrew!

    Tôi cũng nói thêm là không có những gien tốt (theo nghĩa tinh thần) mà chỉ có những gien xấu nếu cặp đôi với nhau vì 2 cha mẹ cùng một dòng máu hay những trường hợp loạn luân, thì sẽ sinh nhứng dị tật, những bịnh di truyền tim óc, những ung thư... Nên nếu chỉ lấy lẫn nhau trong cùng một đẳng cấp như con rabbi lấy con rabbi thì sẽ có nguy cơ lấy người cùng một huyết tộc (như người Ả Rập có tập tục anh em chú bác lấy nhau, chú lấy cháu...), sinh ra những đứa con dị tật, bị bệnh gien truyền, ngu đần, chết yểu...

    5) Ông Hoàng Anh Tuấn cũng sai lầm khi cho là người Do thái theo mẫu hệ là vì luật Talmud Do Thái quyết định như vậy : chỉ con một phụ nữ Do thái mới được coi là người Do thái. Ông không biết rằng người Do thái ngay từ thượng cổ đã bị, hết Ai Cập đến Babylone, đến Ba Tư và sau cùng là La Mã, đô hộ, lưu đầy, con trai bị bắt làm nô lệ, con gái bị hãm hiếp, bị làm tì thiếp, thì những đưa con đẻ ra chỉ là những đứa con đẻ hoang không đưỡc bố thừa nhận, bắt buộc phải lấy họ mẹ.

    6) Ông Hoàng Anh Tuấn đem Karl Marx, Einstein và ngay cả Chomsky ra để dẫn chứng những thiên tài là người Do thái mà không biết những người này phủ nhận giọt máu Do Thái của mình và là những người bài Do Thái triệt để. Karl Marx thì cho là người Do Thái tham tiền và là những người chủ xướng chủ nghĩa Tư bản. Chomsky thì tự xưng mình là ngừoi theo chủ nghĩa Xã hội vô chính phủ. Sở dĩ người Do Thái bị ghét ở những nước Ki Tô giáo và Hồi giáo là vì hai đạo này cấm người trong đạo cho vay lấy lời nên chỉ có người Do Thái làm chuyện này hay đi thâu thuế cho nhà nước để đền bù lại chuyện cấm người Do Thái không được có tài sản ruộng nương. Nhưng cũng vì vậy mà người Do Thái nắm kinh tài thế giới ngày nay, chứ không phải là buôn bán giỏi, so với người Ả Rập hay người Trung Hoa.

    Khan viết:
    Nói cho nhiều vào thì cuối cùng cũng không gì qua được yếu tố gene ! Rõ ràng là con người ta khi nuôi con gì, trồng cây gì đều chọn giống tốt, có cả một khoa học và một ngành công nghiệp về chọn giống, phát triển giống. Con người cũng là con cho nên chả có lí gì nuôi con người muốn cho hay cho giỏi mà không chọn giống ! Né tránh đề cập đến vấn đề chọn giống người là động tác politically correct, chỉ là để an ủi bọn giống xấu mà thôi !

    Không cần đợi bác nói, ở Việt Nam người ta đã thực hành việc chọn giống từ khuya. Vì thế mới có việc khai lý lịch trích ngang, trích dọc ("con vua thì vẫn làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa"). Nhưng có lẽ người ta chọn nhầm cái giống xấu, giống lép (tên gọi là giống "bần cố nông") nên cái loại giống đó bây giờ mọc tràn lan như cỏ dại, muốn thay giống khác cũng không phải dễ.

    Khan viết:
    Nói cho nhiều vào thì cuối cùng cũng không gì qua được yếu tố gene ! Rõ ràng là con người ta khi nuôi con gì, trồng cây gì đều chọn giống tốt, có cả một khoa học và một ngành công nghiệp về chọn giống, phát triển giống. Con người cũng là con cho nên chả có lí gì nuôi con người muốn cho hay cho giỏi mà không chọn giống ! Né tránh đề cập đến vấn đề chọn giống người là động tác politically correct, chỉ là để an ủi bọn giống xấu mà thôi !

    Nghe ra có lý, mấy cha CS 'chơi' bầy đàn làm 'cách mệnh' thế giới đại đồng, đếk cần gene thượng đẳng kiểu chủng tộc Ashkenazi, chỉ cần 'vùng lên' để mơ 'bao lợi quyền ắt về tay mình'.

    Đệk mịa, đã ngu thì lấy đâu ra, phỏng :)!!!

    Cùng bác Tuấn 34334,

    Cảm ơn được phản hồi của bác, giúp nhau thấy thêm được một cách nhìn. Chỉ là thú thật với bác, bản thân tôi cũng không dám tin chắc gốc Do Thái của Hitler, vì thông tin nhiều trên mạng cũng chỉ nêu mà còn nghi vấn. Tuy nhiên khi viết còm tôi chỉ căn cứ vào trí nhớ mình thôi. Chắc bác cũng là người miền Nam, hi vọng dễ thông cảm khi ôn chuyện cũ. Đó là, hồi trước 75, SG có xuất bản một quyển sách soạn khá công phu đứng đắn(lâu quá tôi không nhớ chắc tên t/g) tụa đề: " Những tác phẩm làm biến đổi thế giới". Sách dày, trong đó có một chương bàn về cuốn Mein Kampf. Sách này phân tích tâm lý tác giả Hitler, cho rằng ông ta rất oán nguồn gốc Do Thái của mình, vì nó đã làm cho ông chịu nhiều đắng cay nhục nhã. Hitler có tâm bệnh trả hận tàn bạo, và việc trước tiên ông ta làm là tìm cách xóa bỏ lai lịch, phủ nhận cái nguyên nhân làm ông giày vò trong mặc cảm. Khi nắm tột đỉnh quyền lực, ông chủ trương tiêu diệt dân Do Thái cùng dân da đen mà ông cho là bọn phá hoại văn hóa.

    Bình sinh, trong hoạt động chính trị, Hitler luôn khuất tất gốc gác và nói thẳng không muốn ai được biết. Ông có nhiều hành vi kỳ quặc, đến mức bị cho là bệnh tâm thần. Ông từng cho lệnh đốt phá làng cũ của mình.

    Thôi thì, cũng chẳng phải tự nhiên mà có nghi vấn Hitler gốc Do Thái, mà tin này cũng do chính người Đức cùng thời ông đưa ra. Nếu nó chưa chắc đúng, thì cũng chưa chắc sai. Con người Hitler bí ẩn từ nguồn cội cho tới sự mất tích cuối cuộc thế chiến.

    Vì bài chủ chỉ là "giải mã..." với nhiều "suy đoán" chủ quan chứ không phải là một luận chứng khoa học đòi hỏi kiểm chứng chính xác, nên tôi tự thấy có thể đưa vào còm những nguồn "suy đoán" khác. Và, với một đề tài về nhân văn như bài này, còn tùy cách nhận định mỗi người.

    Nói cho nhiều vào thì cuối cùng cũng không gì qua được yếu tố gene ! Rõ ràng là con người ta khi nuôi con gì, trồng cây gì đều chọn giống tốt, có cả một khoa học và một ngành công nghiệp về chọn giống, phát triển giống. Con người cũng là con cho nên chả có lí gì nuôi con người muốn cho hay cho giỏi mà không chọn giống ! Né tránh đề cập đến vấn đề chọn giống người là động tác politically correct, chỉ là để an ủi bọn giống xấu mà thôi !

    Chiến sĩ 344 nói đến cái giống Ashkenazi gì đấy nghe lạ quá, đề nghị chiến sĩ cung cấp thêm thông tin để bà con được mở mang thêm kiến thức :)

    Bác Lương Ngọc Phát, tôi có chút ý kiến riêng về 2 điểm được đề cập đến trong còm của bác:

    - "Gốc Do Thái" của Hitler chỉ là chuyện đồn đại, không dựa vào chứng cớ chắc chắn. Người ta có thực hiện một cuộc nghiên cứu về DNA của các thân nhân dòng họ Hitler, và kết quả khá lơ tơ mơ, nếu dựa vào đấy mà bảo rằng Hitler có máu Do Thái thì ta cũng có thể nói là vua Quang Trung có máu Tàu. Có thể hai điều claim này không hoàn toàn sai, nhưng nếu vua Quang Trung không ưa Quân nhà Thanh, thì ta cũng không thể nói việc Hitler ghét người Do Thái là điều mâu thuẫn hay một sự kiện đáng để ghi nhận. Vì cha mẹ và ông bà nội/ngoại của Hitler không phải là Do Thái, tôi chẳng thấy lời nhận định về tính chất oái oăm trong "sự việc Hitler có máu DT mà lại thù ghét DT" có kí-lô nào cả :)
    Lập luận của tôi không phải là lời phản bác về câu viết của bác LNP (vì tôi tin rằng bác không đặt nặng tính chất trung trực về mối liên hệ huyết thống giữa Hitler với người Do Thái), mà chỉ để làm sáng tỏ một điều mà tôi thường nghe nhiều người (Việt) tin, khi bàn đến thảm hoạ Holocaust.


    - Điều thứ hai: về đức tin của dân DT, khác với bác, tôi không đặt nặng vai trò của niềm tin vào thần linh, huyền bí (hay thậm chí kinh thánh DT) trong việc dựng tạo ý chí mãnh liệt của người Do Thái, mà tôi nghĩ rằng lòng quan tâm đặc biệt về truyền thống văn hoá, lịch sử là yếu tố quan trọng nhất tạo ra mối đoàn kết gắn bó và lòng quyết tâm bảo vệ duy trì bản sắc Do Thái.
    Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng dân DT hiện đại, dù sống ở Israel hay ở hải ngoại, là một trong những sắc dân mang tính "thế tục" (secular, ngược lại với religious) nhất, nhưng đa số người DT đều xem trọng hay quyết liệt duy trì các đặc điểm văn hoá, lịch sử của mình.

    Nhiều dân tộc khác cũng yêu văn hoá lịch sử của mình gần đến độ "say mê" (passion), như dân Tàu (và cả người Việt), hay dân Ả Rập chẳng hạn, nhưng sự thành công đáng kinh ngạc của của DT phần lớn do sự đóng góp vượt bực của chủng tộc Ashkenazi, một trong vài sắc dân (ethnic) cấu kết nên dân tộc DT. Giả sử bạn nói về một người DT nào đó mà làm những chuyện sau đây:
    - Lãnh đạo chính trị tại Israel
    - Lãnh đạo về các phong trào dân sự đấu tranh cho nhân quyền, hay công bằng
    - Đoạt giải Nobel

    Tôi chưa biết tên người ấy, nhưng tôi có thể đoán đại đấy là người DT thuộc chủng tộc Ashkenazi, và tôi sẽ có nhiều cơ may đoán trúng hơn là sai.
    Người ta thường nói IQ của dân DT cao nhất thế giới. Điều này không chính xác, mà phải nói là chỉ số IQ của chủng tộc Ashkenazi cao nhất thế giới, còn IQ của dân Israel nói chung cũng chỉ ở mức trung bình thôi.
    Tóm lại, theo tôi các yếu tố giúp người DT thực hiện được nhiều chuyện phi thường là, theo thứ tự quan trọng giảm dần:
    - Ý chí mãnh liệt về việc duy trì bản sắc dân tộc của mình (không nhất thiết dựa trên căn bản tín ngưỡng tôn giáo)
    - Sự trợ giúp và thiện cảm đến từ Tây phương
    - Sự đóng góp đặc biệt của chủng tộc Ashkenazi.

    Cáo lỗi cùng các bác, và riêng bác mn, không hiểu sao khi hiển thị, phần trích lời bác mn lại mất hết dấu phân biệt, tuồn tuột như thế. Mong được các bác thông cảm.

    Trong bài liên quan trước, t/g HAT đã đề cập tới Mac, nhưng không thấy nhắc tới Hitler, vốn cũng có gốc Do Thái (nhưng lại thích diệt chủng Do Thái). Ơn nhiều mà oán cũng lắm, những gì các "siêu nhân" của dân tộc này đã vô tình hay cố ý làm cho nhân loại!

    Trích:
    "Hiện nay Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái. Để dễ hình dung, nếu có một nước khác có đặc trưng tương tự như Israel, chẳng hạn Trung Quốc, thì đặc trưng nước đó sẽ là: Người Trung Quốc, nước Trung Quốc, Đạo Trung Quốc. Nhưng trên thực tế ta thấy: người Hán, nước Trung Quốc và Đạo Khổng.

    Trước hết, cần nói ngay, Khổng giáo chỉ là một quan niệm nhân sinh, một học phái, một triết lý, một nếp sống, chứ không phải là một "đạo" theo nghĩa tôn giáo tín ngưỡng. Nho sĩ, không phải là thầy tu, không có thánh đường, không có thần thoại, không có đức tin vô điều kiện. Khổng chủ trương học để "tri lý". T/g HAT có vẻ nhầm lẫn điều này.

    Trung Quốc rộng mênh mông do hàng trăm quốc gia cổ đại kết lại, lai tạp chủng tộc, đa ngôn ngữ, đa tín ngưỡng. Gọi là người Hán, chẳng qua là cách nói quy nạp tất cả những ai đã đồng hóa lẫn nhau, và để phân biệt với các sắc dân còn giữ được bản sắc riêng trong các cộng đồng dân cư, như Choang, Tạng, Mông, Mãn ...

    Tôi không nghĩ tất cả dân Do Thái của xứ Israel cổ, đều còn thuần chủng. Dĩ nhiên chỉ những ai tự thấy mình còn origine mới về nguyên quán, tái lập quốc gia nhỏ bé và ít dân, mới hơn nửa thế kỷ nay. Dù tha hương, điều kiện phải sống quần cư thành cụm mới duy trì được nòi giống và ngôn ngữ. Chính những cộng đồng này hồi hương! Có lẽ, họ từ rất nhiều xứ sở, tiếp thu chắt lọc tinh hoa phong phú nơi trăm đất khách, gom về quê cũ mà thành tài sản chung cho tinh thần trí tuệ Do Thái của nước Israel hôm nay chăng? Phải chăng họ đã tóm thâu các ưu điểm của thiên hạ? Ai sống lẻ tẻ, đã hòa tan vào chủng tộc khác từ lâu trong quãng 2000 năm vong quốc, có còn biết mình là Do Thái đâu? Số này ai có thể thống kê?

    Mà như thế, ta thấy vẫn có nhiều dân tộc mất nước khác cũng còn những cụm người sống riêng với nhau, duy trì tiếng nói và di truyền sinh chủng đó chứ, có điều họ ít phân tán khắp thiên hạ, nên cũng ít thu được học thuật đa dạng hơn.

    Người Do Thái giữ được tiếng Hebrew là nhờ họ có nhu cầu tín ngưỡng, và tin rằng đó là tiếng nói cõi trời. Ở Ấn Độ, khác ở chỗ nước Ấn lớn quá, dân pha huyết nhiều rồi, nhưng vì tín ngưỡng tôn giáo, nhiều tín đồ vẫn duy trì được tiếng và chữ Phạn cổ, rất cổ. Họ vẫn tụng niệm và viết hiểu dạng "thánh tự" này, với niềm tin rằng đó là tiếng nói ở cõi trời Phạm Thiên (trong 33 cõi trời). Yếu tố tôn giáo là một chất keo quan trọng gắn kết các lưu dân tín đồ Do Thái, theo tôi, t/g nhận định đúng chỗ này. Có nghiên cứu cho rằng, Chúa Jesus khi tại thế cũng nói tiếng Hebrew.

    Niềm tin tuyệt đối vào sự thiêng liêng, có thể giúp con người vượt qua ngưỡng phàm phu nhân loại. Nhiều điều thần kỳ có thể thực hiện được khi đạt trạng thái tập trung cao độ nhờ đức tin. Sức mạnh siêu việt, năng lực trí tuệ siêu việt, có thể xuất hiện từ cái kho tiềm thức ẩn tàng. Màn múa lửa của dân tộc Hà Nhì trong sức nóng trên 700 độ C, sau khi thành kính đọc thần chú gì đó. Kinh Thánh có ghi những phép lạ Chúa đã chữa cho người mù, dĩ nhiên trong điều kiện bệnh nhân có đức tin tuyệt đối. Một thiền sư nhập định trong cả tháng liền, không ăn uống, gần như ngưng thở, mà khi xả định vẫn mạnh khỏe sáng suốt, dù có gầy đi. Các Yogi vẫn "biểu diễn" nhiều khả năng phi thường. Họ đều là những người có tín ngưỡng sâu xa mãnh liệt.

    Từ đó, tôi nghĩ dân Do Thái nhờ tin tuyệt đối dân mình là dân chọn, đất mình là đất hứa thiêng liêng của đấng Tạo Hóa, mà có được sự tự tin mãnh liệt và bật ra nhiều thành tựu phi thường.

    Trích dẫn:
    chuckn
    Do Thái là phiên âm Hán-Việt của Judas. Israel là tên nước. Chả có nước nào hiện nay trên thế giới gọi là 'Judas' cả.

    Thế thì sao "Jewish people" cũng được dịch là sắc dân Do Thái? Trùng tên khác ... nguồn gốc?

    Trên Wikipedia tiếng Việt, có viết rõ:

    "Israel (phiên âm: Ixraen; tên đầy đủ là Nhà nước Israel, còn được gọi là Nhà nước Do Thái)"

    Hay họ nói đến một "nhà nuớc Judas" nào khác ở ... thiên đàng?

    Gửi bác Lương Ngọc Phát,

    Xin trả lời một ý của bác (trong cái còm bác bàn về chi tiết này, lại nằm trong bài trước) về sự phân biệt giữa "quốc gia Israel" và "dân tộc Do Thái" (DT) của tác giả, tôi trích ra đoạn này trong bài viết:

    Trích dẫn:
    Tác Giả
    Thứ nhất, Israel là đất nước duy nhất trên thế giới được định hình bởi 4 yếu tố mang đậm chất Do Thái là: (i) Dân tộc Do Thái, (ii) Đạo Do Thái, (iii) văn hóa Do Thái, và (iv) Đất nước Do Thái.

    T/g cũng ghi danh xưng "Do Thái" cho tất cả lãnh vực liên quan đến DT, cả cho "Đất nước Do Thái". Như thế thì có lúc phân biệt, có lúc lại không? Có lẽ tôi đọc thấy đoạn này.

    Tôi cũng biết có nhiều phức tạp, hay khác biệt, về danh xưng cho đất nước DT, công dân của nước DT, sắc dân DT, tôn giáo DT. Tiếng Anh thì rõ ràng hơn nhiều. Để phân biệt cụ thể hơn về sắc tộc thì tiếng Anh có từ Jews chỉ sắc tộc DT có cùng tôn giáo DT (Judaism).

    Nhưng về định nghĩa thế nào là một người DT (Jew) thì theo trang mạng Judaism 101 cũng khá "lỉnh kỉnh", theo từng cách giải thích của nhiều hệ phái. Không đơn giản chỉ vì mẹ là người Jew. Phần này, ai có thời giờ tham khảo sẽ biết cụ thể hơn. Tôi chú câu tiếng Anh dưới đây - từ trang Judaism 101 - để bạn đọc tham khảo ngắn gọn.

    (A Jew is any person whose mother was a Jew or any person who has gone through the formal process of conversion to Judaism, hay; Once a person has converted to Judaism, he is not referred to by any special term; he is as much a Jew as anyone born Jewish).

    Tóm lại, phần ý kiến của tôi về tên các quốc gia, địa danh phải nên thống nhất, hay có một sự nghiên cứu để không phải viết ra những thứ chữ viết Tây không ra Tây, Ta không ra Ta, bản ngữ cũng không, đọc không được, phát âm lên không ai hiểu là ở đâu (hay là cái gì đây?), hoặc "ra vẻ" văn minh viết trọn tên tiếng Anh dài dòng, trong khi đã có những tên tiếng Việt được sử dụng từ bao nhiêu năm qua mà ai cũng biết.

    Nói thêm là tôi chả phải là người giỏi về ngôn ngữ, chỉ thấy một số phi lý, đến mức buồn cười, trong các từ ngữ mà nhà nước VN hay dùng, nên lên tiếng.

    Trích dẫn:
    Trong bài này t/g đã dùng nhiều từ "Do Thái", đồng thời với từ Israel. Tôi không có v/đ gì trong việc dùng tên tiếng Anh (hay bản ngữ) cho tên các quốc gia. Nhưng nếu đã có tên Việt là Do Thái (như Anh, Pháp, Nhật, Mỹ, ...) thì sao lại không dùng?

    Do Thái là phiên âm Hán-Việt của Judas. Israel là tên nước. Chả có nước nào hiện nay trên thế giới gọi là 'Judas' cả.

    [email protected] viết:
    Có một điều rất căn bản rất rõ ràng [về người Do thái, về yếu tố nào khiến họ đuọc như ngày nay] mà tác giả không nêu ra, đó là: (i) Dân tộc Do Thái, (ii) Đạo Do Thái, (iii) văn hóa Do Thái, và (iv) Đất nước Do Thái không chấp nhận chế độ cộng sản, không có bạo lực cộng sản, không có ai như Hồ chí Minh, không có ai như Le Duẩn chỉ hăm hở dựa vào ngoại bang mà giết dân mình hòng thoả mãn tham vọng quyền lực cộng sản bệnh hoạn

    Nhưng lại có ông Karl Marx là người gốc Do Thái đó! Điều đó chứng tỏ luận điểm trên chả nói lên điều gì cả!

    Kính bác mn,

    Đọc xong bài chủ, rồi xem ý kiến độc giả, qua đó tôi thấy:

    Trích dẫn:
    Khách mn viết:
    *Trong bài này t/g đã dùng nhiều từ "Do Thái", đồng thời với từ Israel. Tôi không có v/đ gì trong việc dùng tên tiếng Anh (hay bản ngữ) cho tên các quốc gia. Nhưng nếu đã có tên Việt là Do Thái (như Anh, Pháp, Nhật, Mỹ, ...) thì sao lại không dùng?
    *Đọc thấy chữ "Gioóc-đa-ni" tôi đã ... bực mình (nhất là lại đuợc viết cạnh các chữ Israel, Palestine). Đây không phải tiếng Việt, không là tiếng Anh, cũng không phải bản ngữ. Giống như truớc đây CPVN qui định phải ghi là Ôx-trây-li-a (hình như thế?) cho chữ nuớc Úc đơn giản. Có vô số thí dụ về các tên nuớc, địa danh, không biết thuộc tiếng nuớc nào. Phát âm thì trẹo cả luỡi, viết ra lần sau khác ... lần truớc. Ông Tuấn là một TS, chức vụ khá cao, mà vẫn còn bị trói buộc bởi những thứ ngớ ngẫn này thì kém quá.
    thì trong bài chủ, t/g đã viết:

    Trích dẫn:
    Con của một phụ nữ Do Thái đương nhiên được coi là người Do Thái, còn con của người đàn ông Do Thái với một phụ nữ không phải Do Thái thì chỉ được coi là người Israel (nếu như sống ở Isael), chứ không được coi là người Do Thái.
    Vậy, ông Hoàng Anh Tuấn đã phân biệt khi nói "Do Thái" để chỉ về chủng tộc nòi giống của dân được "Chúa chọn", còn khi nói "Israel" là để chỉ quốc gia (có các chủng tộc khác đồng cư, cả một số người Palestin, và cùng mang quốc tịch Israel). Qua đó ta hiểu quốc gia Israel tuy nhỏ và ít dân, nhưng cũng đa sắc tộc. Và dân tộc đa số Do Thái, xem ra rất "phân biệt" mình với các chủng dân khác.

    Về các từ viết theo lối phiên âm, mà một thời người CSVN chủ trương, đến tận nay vẫn thấy phổ biến trên báo ND và QĐND, nó thành thói quen chưa dứt hẳn với các trí thức XHCN cao tuổi.

    Khi đó, tuy chủ trương cực đoan Việt hóa tất cả danh từ ngoại ngữ trong văn bản Việt ngữ, nhưng họ không đủ sức và nhất quán nên tạo ra tình trạng lợn cợn khôi hài như bác đề cập. Ví dụ họ bỏ các danh từ riêng như Úc Đại Lợi, Gia nã Đại, Á căn Đình, Mễ tây Cơ, Ba Tây, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba, Tân Tây Lan, Hạ Uy Di (vốn phiên âm đợt hai qua đợt một của chữ Hán) ...để thay bằng Ốt-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Ác-hen-ti-na, Mê-hi-cô, Bờ-ra-xin, Phi-líp-pin, In-đô, Ma-lay-si-a, Sin-ga-po, Niu-di-len, Ha-Oai. Thế nhưng, họ lại giữ nguyên Pháp, Anh, Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, Bỉ, Áo, Nhật, Mông Cổ ...ở đợt phiên âm thứ nhất qua tiếng Trung Hoa, kiểu như Asia là Á tế Á.

    Về tên người hoặc các danh từ ít phổ biến hơn, thì mỗi tác giả khi viết bài viết sách, mạnh ai nấy phiên âm theo giọng địa phương cá nhân mình.

    Sự thiếu chu đáo tới nơi tới chốn, chưa nói ức chế tinh thần cầu thị, một thời làm tê liệt nhu cầu hiểu rộng ra thế giới qua ngoại ngữ, mà hậu quả dai dẳng là sự hỗn loạn văn phong như bác thấy.

    Riêng nội dung bài viết trên, thiển ý tôi thấy còn nhiều chỗ có thể bàn cãi. Tỉ như khi t/g nói về Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo. Theo tôi, nên phân biệt là Công giáo La Mã hoặc Ki Tô giáo (có thêm đức tin Tân Ước), Do Thái giáo và Hồi giáo, chính xác hơn. Vì Thiên Chúa giáo, nói tổng quát cùng một tín lý Cựu Ước, là bao gồm cả tín ngưỡng độc thần của Do Thái giáo lẫn Hồi giáo và nhiều giáo phái khác như Chính Thống giáo, Anh giáo, Tin Lành ...Tất cả đều tin vào duy một "khái niệm về đấng" toàn năng, toàn trí, tự hữu, chủ thể sáng tạo vũ trụ, dù có gọi "Ngài" là Chúa Trời, Thượng Đế hay Thánh A-la ...Khái niệm "một tự hữu" bản thể, được nhân cách hóa qua hình ảnh của chính con người tín ngưỡng. Khái niệm bản thể "hữu" này, triết Trung Hoa gọi là Thái Cực (hữu niệm, tức cái "khái niệm về vô niệm" Vô cực), nôm na là ông Trời trong dân gian VN hay "Vô cực thiên tôn" của đạo Cao Đài. Thái Cực sinh Âm Dương, khác gì Chúa Trời sinh ra mặt trời/mặt trăng, ngày/đêm, Adam/Eva...?!

    Tác giả viết:
    Khi con vật cắt được tiết nghĩa là con vật còn tươi, chứ không phải ăn đồ ôi. Thú tính và sự ngu muội của con vật nằm ở “dòng máu”, và ăn thú vật hay gia cầm có tiết sẽ làm con người lâu dần nhiễm “thú tính” và đầu óc trở nên trì độn, còn nòi giống đi đến chỗ thoái hóa.

    Ha ha, đ/c Tuấn 'cắt nghĩa' như rứa là rất 'biện chứng duy vật'. Nhìn lại thì thấy dân ta đa số rất thích xơi tiết canh vịt, lợn, dê, chó lại còn khoái khẩu các món lòng lợn, lòng bò, lòng gà, lòng vịt, đặc biệt là dồi chó các kiểu. Hèn chi dân Việt nay suy thoái đạo đức lối sống quá chời ! :)

    Phải công bằng mà nói thì đây là một bài khảo luận thuộc loại khá. Nhất là từ một viên chức nhà nuớc VN, nơi cho thấy trong hơn nửa thế kỷ qua, chỉ cho "ra lò" những viên chức khả năng kém, trí tuệ thấp, nhưng rất giáo điều và hung hãn.

    Bài viết cung cấp nhiều thông tin, khá nhiều mặt của đất nuớc và dân tộc Do Thái. Xem ra t/g cũng có nghiên cứu, tham khảo, có suy tư, có đặt vấn đề cho đề tài mình viết. Đáng khen!

    Tuy nhiên, ở vị trí một viên chức nhà nuớc VNCS, t/g vẫn bị một số cố tật mắc phải của những ai được (hay bị?) đào tạo, truởng thành và làm việc trong chế độ này. Cái ý thức hệ cs, hay thuờng được gọi tránh đi cho bớt "sắt máu", XHCN, vẫn nằm trong vô thức, hay đã được định huớng, để dẫn dắt t/g trong một số nhận định.

    Vài ý kiến nhỏ:

    Trong bài này t/g đã dùng nhiều từ "Do Thái", đồng thời với từ Israel. Tôi không có v/đ gì trong việc dùng tên tiếng Anh (hay bản ngữ) cho tên các quốc gia. Nhưng nếu đã có tên Việt là Do Thái (như Anh, Pháp, Nhật, Mỹ, ...) thì sao lại không dùng?

    Đọc thấy chữ "Gioóc-đa-ni" tôi đã ... bực mình (nhất là lại đuợc viết cạnh các chữ Israel, Palestine). Đây không phải tiếng Việt, không là tiếng Anh, cũng không phải bản ngữ. Giống như truớc đây CPVN qui định phải ghi là Ôx-trây-li-a (hình như thế?) cho chữ nuớc Úc đơn giản. Có vô số thí dụ về các tên nuớc, địa danh, không biết thuộc tiếng nuớc nào. Phát âm thì trẹo cả luỡi, viết ra lần sau khác ... lần truớc. Ông Tuấn là một TS, chức vụ khá cao, mà vẫn còn bị trói buộc bởi những thứ ngớ ngẫn này thì kém quá.

    Trong phần nói về ngành nông nghiệp của DT và các công nhân nuớc ngoài làm việc, học tập tại đây, sau khi khen ngợi trình độ của nông nghiệp DT, kể ra sự khôn ngoan của công nhân Thái đến làm việc, ông Tuấn đặt ra câu hỏi cho công nhân (thực tập sinh?):

    "Vậy ta nên và sẽ làm gì? Xin nhường câu trả lời cho các bạn trẻ"

    Sao lại nhường ... khôn thế?

    Là một Viện truởng Viện Chiến luợc Ngoại Giao gì đó, chính ông và các nhân viên phải làm việc, nghiên cứu, hợp tác với các Bộ Sở chuyên ngành để đề ra phuơng cách, sách luợc cho họ chứ?

    Ai cũng biết trình độ chuyên môn và tri thức thấp kém của giới trẻ VN, sau hơn nửa thế kỷ được đào tạo trong một nền giáo dục lạc hậu, xa thực tế, rất là "nhiễu nhương" từ khi ê a lớp Một cho đến hết lớp 12 (và về sau nữa, nếu lên ĐH) thì sao họ có thể tự trả lời mấy câu hỏi khó này? Tôi e mấy ông "chức bự - tiền nhiều" của các Bộ Ngành còn không có khả năng trả lời, giải đáp, và mang về áp dụng đuợc, trong một xã hội mà "văn hóa phong bì" cùng hệ thống "đảng quỷ" chiếm ưu thế tuyệt đối.

    Trong vài danh nhân DT nổi tiếng thế giới, bên cạnh Albert Einstein, Karl Marx, ông Tuấn kể ra thêm tên ông ... Noam Chomsky, khiến tôi giật cả mình. Dù ông này cũng có viết một số sách báo, cũng có chút tiếng tăm, với tôi ông này chỉ là một trong một số trí thức Mỹ thiên tả, chống ... Mỹ rất kịch liệt, ồn ào, với những phát ngôn ... nguợc ngạo mà thôi. Xin ghi ra vài phát ngôn ấn tuợng. Nhưng đâu phải ai cũng đồng tình, nói chi là ... khen?:

    - "Obama, truớc hết, đang điều hành một chiến dịch khủng bố lớn nhất, có lẽ trong lịch sử"

    - "Nếu luật lệ của (tòa án) Nuremberg được áp dụng, thì tất cả mọi Tổng thống Mỹ sau thế chiến (II) sẽ bị treo cổ"

    Nhưng có lẽ ông Tuấn, và một số người VN-XHCN (tôi tránh dùng từ cs cho nó ... nhẹ nhàng) hay ca tụng ông này vì ông từng đến Hà Nội trong cuộc chiến VN (1970) và ủng hộ Bắc Việt. Ông thậm chí còn thảo luận và ủng hộ các bài viết của ... Lê Duẫn. Trời đất! Chắc khen về các phát kiến "ba dòng thác cách mạng" cùng "tập trung dân chủ" chứ gì? Ông N. Chomsky là một danh nhân duới mắt họ cũng đuơng nhiên thôi.

    Vài ý kiến đóng góp, chắc còn nhiều, nhưng xin ... nhường cho các bạn đọc khác. :)

    Một dân tộc thiểu số đã phải tỵ nạn khắp nơi trên thế giới hàng ngàn năm, đương nhiên họ sẽ học hỏi được nhiều tri thức, điều hay, lẽ phải, mánh khoé v.v... Họ nhìn cái vung nồi to hơn bầu trời. Còn dân Việt mình bị kềm kẹp bởi Khổng, Lão, Nho giáo và Mác-Lê giáo, quanh quẩn cái luỹ tre làng, lúc nào nhìn trời chỉ bằng vung như ếch ngồi đáy giếng.
    Đơn giản như vậy thôi mà cũng phải dài dòng văn tự giải mã. Công chức nhà nước có khác, chả tạo ra được giá trị gia tăng cho xã hội.

    Có một điều rất căn bản rất rõ ràng [về người Do thái, về yếu tố nào khiến họ đuọc như ngày nay] mà tác giả không nêu ra, đó là: (i) Dân tộc Do Thái, (ii) Đạo Do Thái, (iii) văn hóa Do Thái, và (iv) Đất nước Do Thái không chấp nhận chế độ cộng sản, không có bạo lực cộng sản, không có ai như Hồ chí Minh, không có ai như Le Duẩn chỉ hăm hở dựa vào ngoại bang mà giết dân mình hòng thoả mãn tham vọng quyền lực cộng sản bệnh hoạn