Nguyễn Ái Việt - Ngôn ngữ và tính cách dân tộc?

  • Bởi Admin
    09/10/2014
    13 phản hồi

    Nguyễn Ái Việt

    Buổi lên lớp cao học vừa qua tôi vừa giảng cho sinh viên về phân biệt giữa "Goal", "Objective" và "Purpose". Tiếng Việt có các từ "Mục đích" và "Mục tiêu", nhưng hình như giữa hai từ này không có phân biệt rõ ràng. Cũng có một từ nữa ít dùng hơn là "Cứu cánh", nhưng từ này ít dùng và không nên dùng nữa bởi vì người dùng đã dùng một cách hỗn loại.

    Cái đáng bàn ở đây, là người Việt ta thường rất mơ hồ về mục đích. Rất nhiều kế hoạch, chiến lược, dự án,... lẫn lộn hoàn toàn mục tiêu với giải pháp, chưa nói tới goal và objective. Có lẽ thói quen trở thành tư duy, tư duy được phản ánh bằng ngôn ngữ. Việc không có ngôn ngữ để diễn tả một số khác biệt tinh tế một số khái niệm chứng tỏ những người sử dụng ngôn ngữ đó khá mơ hồ về những khái niệm đó và cũng do thói quen suy nghĩ rất sơ sài về những vấn đề liên quan. Nếu như vậy, cũng đáng để chúng ta suy nghĩ tại sao dân tộc ta lại mơ hồ về xác định mục tiêu. Câu hỏi này có thể để cho những người ưa và thạo các vấn đề xã hội hoặc để phiếm đàm trong một dịp khác. Ở đây, tôi chỉ đưa ra một số ví dụ khác.

    Tôi có một anh bạn người Ấn Độ nói rằng trong tiếng Ấn có tới hơn 31 từ phản ánh trạng thái "buồn" và có ý nghĩa khác nhau, chỉ người Ấn mới phân biệt được. Tiếng Anh chỉ có dăm ba từ là cùng. Tôi nhận xét với anh "Như vậy người Ấn là chuyên gia buồn rầu". Có lẽ một xã hội chia đẳng cấp quá chặt chẽ, có những loại người untouchable (không được chạm vào), nỗi buồn đó cũng quá dễ hiểu. Văn hóa Ấn Độ cũng có tính triết lý sâu xa. Nhìn lại tiếng Việt, tuy không phong phú về nỗi buồn như Ấn Độ, nhưng vượt xa tiếng Anh về khoản này: "buồn", "rầu", "não", "sầu", "bi", "chán chường",... Không biết có nên tự hào về cái ưu thế biết buồn rầu này.

    Đừng nên lầm tưởng đó là vì ngôn ngữ của chúng ta giàu có, phong phú, tinh tế hay phát triển. Đơn giản chúng ta buồn nhiều, nghĩ nhiều về cái buồn mà thôi. Cha tôi nói tiếng Việt đặc biệt nghèo về màu sắc. Người Việt cũng dễ tính về màu. Chẳng thế các cụ ngày xưa đã tổng kết đơn giản "Đẹp vàng son". Càng nghĩ thấy càng đúng. Người Việt không có từ để phân biệt "xanh lá cây" và "xanh da trời". Đối với các cụ "xanh" là "xanh" ráo. Ngay cả cách đặt tên cũng không chuẩn các thứ được cho là "xanh da trời" chẳng giống da trời tý nào, và "xanh lá cây" chưa chắc đã giống bất cứ lá cây nào. Cách đặt tên màu của người Việt cũng chẳng giống ai. Nào là "mắm tôm", "lòng tôm", "tiết dê" đến "cứt ngựa", rất thiếu thẩm mĩ. Chưa kể câu chuyện "Lá đa màu gì? Màu đen? Vì sao? Dân gian ta có câu: Sự đời như cái lá đa. Đen như mõm chó chém cha sự đời".

    Không biết việc thiếu tính chuyên nghiệp trong màu sắc có ảnh hưởng thế nào tới còn đường đi của một dân tộc (con đường đó sẽ ít màu sắc, mang dáng dấp uniform??). Nhưng nhiều khi đưa những tư tưởng mới vào Việt Nam đều bị méo mó vì nạn thiếu từ. Người Việt khá dễ tính trong việc dùng bánh đa thay quạt nhưng rất khó tính trong việc dùng từ mới. Tôi đã nhiều lần bị chê dùng từ Tây quá (mặc dù dùng chữ Việt 100%) và bắt buộc phải dùng một từ "dễ hiểu" hơn mặc dù nội dung chẳng giống gì với từ nguyên gốc. Dùng riết rồi cũng quen dẫn tới cách suy nghĩ đơn giản hóa. Việc gì cũng phiên phiến. Nói chuyện gì cũng chớt chát trên bề mặt, thành thử mấy chục năm vẫn tranh cãi mấy chuyện đó, như kiến bò trên miệng chén, không thoát ra được. Có lẽ không nơi nào trên thế giới người ta hăng hái tranh luận "nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh" như ở Việt Nam, đơn giản chỉ vì không ai hỏi rằng "tại sao không thể vị cả hai" hay "nghệ thuật chẳng qua cũng là một phần của nhân sinh". Một dân tộc coi thường nghệ thuật sẽ có cái nhân sinh thế nào?

    Tất nhiên, cái đơn giản bao giờ cũng gần với chân lý và cái đẹp. Nhưng điều đó không có nghĩa là một dân tộc luôn phải đơn giản hóa mọi vấn đề đến mức thô sơ. Người Việt ta ít duy lý, ngại suy nghĩ, nhưng cuối cùng nghĩ vấn đề gì cũng phức tạp. Một vấn đề cỏn con, nếu phát biểu bằng các khái niệm chính xác, tinh tế sẽ trở thành điều hiển nhiên, trong khi cả một giới thượng tầng xã hội tốn bao nhiêu giấy bút mà vẫn bị sa vào trò đùa của chơi chữ, tu từ. Chẳng qua là mình tự rơi vào cái bẫy của mình rồi loay hoay tìm cách tự nắm tóc để nhấc mình ra.

    Vậy thì đâu là giới hạn của các song đề đơn giản-tinh tế đó? Có lẽ chưa một ai nói về vấn đề này đơn giản, khúc triết mà sâu sắc như Ngô Tùng Phong:

    "Ngôn ngữ của một cộng đồng dân tộc, đương nhiên là dụng cụ của nền văn hóa của cộng đồng. Nhưng ngôn ngữ chỉ trở thành một dụng cụ sung mãn của nền văn hóa khi nào ngôn ngữ gồm được hai đức tính: dễ học để trở thành một dụng cụ phổ biến, thông dụng và đại chúng; và chính xác để trở thành một dụng cụ suy luận tinh vi và sắc bén.".

    Làm thế nào để ngôn ngữ Việt có thể vừa dễ phổ cập, đại chúng vừa có thể trở thành tinh vi sắc bén? Nhiều người cho rằng Hoa ngữ có sức biểu tượng mạnh, hàm súc và dễ phổ cấp vì phù hợp với thói quen Hán-Việt hóa. Nhưng Ngô Tùng Phong lại cho rằng

    "Hoa ngữ hoàn toàn bất lực khi phải đóng vai trò dụng cụ phổ biến thông dụng và đại chúng cho văn hóa. Cũng vì trở lực tạo ra bởi một sinh ngữ biểu ý, mà văn minh Tàu khi xưa, mặc dầu lên đến cao độ, vẫn không có sinh lực bành trướng như văn minh Tây phương ngày nay.

    Lối hành văn của Hoa ngữ là lối hành văn “khiêu ý” cho nên câu văn không có kiến trúc. Mà câu văn không có kiến trúc là một câu văn không có chính xác. Và một sinh ngữ không chính xác không thể trở thành một dụng cụ suy luận sắc bén và tinh vi được. Vì không có dụng cụ ngôn ngữ suy luận sắc bén và tinh vi để sử dụng trong công cuộc thám cứu vũ trụ vật chất và vũ trụ tâm linh, nên người Trung Hoa xưa đã thay thế suy luận bằng trực giác"

    "Nguyên do là Hoa ngữ, với lối văn khiêu ý, hoàn toàn bất lực khi đóng vai trò dụng cụ suy luận tinh vi và sắc bén."

    Và ông rất lạc quan cho rằng:

    "...thế hệ của chúng ta không có một lý do nào để không vận dụng tất cả nỗ lực, nắm lấy cơ hội đưa đến cho chúng ta để thực hiện trong lĩnh vực văn hóa, ý chí của tiền nhân: cởi bỏ ách tâm lý thuộc quốc đối với nước Tàu, cho dân tộc. Và thế hệ của chúng ta, không có một lý do nào, để từ bỏ sự phát triển văn hóa dồi dào mà chắc chắn, Việt ngữ chỉnh đốn sẽ dành cho chúng ta, để cam chịu một sự lệ thuộc, đối với một văn hóa, mà Hoa ngữ không bảo đảm sự phát triển. Và các nhà lãnh đạo, vì vô tình hay cố ý, làm cho cộng đồng quốc gia của chúng ta lỡ cơ hội này, chẳng những sẽ phản bội quyền lợi dân tộc mà còn phải mang hết trách nhiệm của một cuộc sống lệ thuộc, không vùng vẫy nổi, mà các thế hệ trong tương lai, vì lầm lỗi của họ, sẽ phải quy phục trong nhiều ngàn năm nữa."

    Tuy nhiên, sau nửa thế kỷ, mặc dù những lãnh tụ không cùng chính kiến đều đã hô hào "chỉnh đốn Việt ngữ", "giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt", một cuộc cải cách tiếng Việt có hệ thống không tới, thậm chí không hề bắt đầu.

    Một số người cho rằng "ngôn ngữ là hồn dân tộc không thể thay đổi". Điều đó, không đúng ngôn ngữ Nga trước Puskin và sau Puskin là khác nhau. Tiếng Anh sau Shakespeare và trước Shakespeare cũng không giống nhau. Cải cách ngôn ngữ dù thông qua những cá nhân vĩ đại, dám gánh vác hay thông qua một tập thể là một việc sớm muộn cũng phải làm.

    Tuy nhiên, chúng ta tuy thích thần thánh hóa một số cá nhân mơ hồ, nhưng không có thói quen dung nạp các công trình kỳ vĩ. Đọc Vũ Như Tô, không lần nào tôi không thấy chua xót khi đọc tâm sự của Nguyễn Huy Tưởng

    "Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải
    Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc?
    Tháp người Hời nguyên là giống Angkor!

    Mải vật lộn, quên cả đài cao mộng lớn
    Công ông cha hay là nỗi thiệt thòi?
    Ôi khô khan! Ôi gay gắt! Nhưng đừng vội tủi
    Sức sống tràn từ ải Bắc đến đồng Nam

    Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải?
    Ta chẳng biết!
    Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm"

    Chỉnh đốn tiếng Việt là một sự nghiệp kỳ vĩ vì nó thay đổi tính cách của một dân tộc, vốn không ưu những điều kỳ vĩ./.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    TTTh viết:
    Có câu chuyện cuối tuần như sau: Đài VTV chiếu chương trình cuộc thi của các tài năng nhí, có em nhẩy híp hốp rất đẹp, ban giám khảo khen vào hỏi:

    - Sau này em có muốn trở thành vũ không không?

    Em này trả lời: "Em chỉ coi đây là môn chơi thôi, sau này em muốn làm bác sĩ thú y."

    - Sao em thích làm bác sĩ thú y? Ban giám khảo hỏi.

    - Để chuyên chưã bệnh cho TBT Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cùng nhiều vị khác trong Bộ chính trị.

    Chuyện hay! :D, nhưng thay "TBT Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cùng nhiều vị khác trong Bộ chính trị" bằng, ví dụ, "các vị trong Bộ chính trị của Đảng" sẽ hợp lý hơn về thời gian.

    Từ "ăn" ghép với từ "hiếp" thì thành "ăn hiếp" làm cho từ "hiếp" không có nghĩa quan hệ bậy bạ nữa. Lại còn ăn cánh.

    Người tổng kết các kết cấu có từ ăn là cụ Trần Ngọc Sơn ở Hà Nội. Sách của cụ ra cách đây đã hơn 10 năm.

    slinkee: "Hồi Đảng và Chính phủ mở cửa cho phép đảng viên làm kinh tế, trên talawas xuất hiện bài viết "Đảng viên có được phép bóc lột". Để biện hộ cho chính sách sau này biến thành chủ nghĩa tư bản thân hữu -đúng hơn, chủ nghĩa xã hội đen-"

    Với cách dùng từ thì Đảng CS là "nhà ngôn ngữ tuyệt vời siêu hạng", trước kia ai thuê người khác làm cho mình thì gọi là "bóc lột", nay đảng viên thuê nguôời làm thì gọi là "giải quyết việc làm". Con người hay thay đổi cách hành động và suy nghĩ thì trước gọi là "tráo trở", nay Đảng CS làm như thế thì gọi là "sách lược linh hoạt", trước kia đảng hô hào đánh đổ giai cấp các nhà tư bản, nay đảng tôn vinh tư bản thì gọi họ là "doanh nhân". Có thời gọi "thất nghiệp" là "thiếu việc làm" vì nước XHCN không có thất nghiệp, chỉ có thiếu việc làm thôi, còn gọi "tấm" là "gạo gẫy"...

    Đảng chơi thế thì dân chơi lại, trước kia thì gọi đảng là Đảng CS, nay thì gọi "cái ấy" là ĐẢNG TÀO VI (VÌ TAO) cho đúng bản chất.

    Có câu chuyện cuối tuần như sau: Đài VTV chiếu chương trình cuộc thi của các tài năng nhí, có em nhẩy híp hốp rất đẹp, ban giám khảo khen vào hỏi:

    - Sau này em có muốn trở thành vũ không không?

    Em này trả lời: "Em chỉ coi đây là môn chơi thôi, sau này em muốn làm bác sĩ thú y."

    - Sao em thích làm bác sĩ thú y? Ban giám khảo hỏi.

    - Để chuyên chưã bệnh cho TBT Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cùng nhiều vị khác trong Bộ chính trị.

    Tôi nghe người ta kể chuyện này ở quán bia vỉa hè.

    Khách Le Văn Mọi viết:
    không biết có phải là TS Nguyễn Đức Dân toán ký hiệu và TS văn học hay không?

    Tôi tìm hiểu và biết bác này (Ts Dân) không phải tiến sĩ Toán hay Văn gì cả. Bác này là Tiến sĩ Ngôn ngữ (lấy bằng ở Balan thời XHCN). Balan không có chức danh phó tiến sĩ, chỉ có Tiến sĩ 1 và Tiến sĩ 2 (tương đương Ph.D.) Bác này là Tiến sĩ 1.

    Nếu có gì không chính xác thì bác Dân (hay ai đó) đính chính lại.

    Admin viết:

    Nguyễn Đức Dân - khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, 11/2010

    Bác Nguyễn Đức Dân nói rất nhiều và đúng về từ ăn của VN ta. Nhưng còn một từ khác quan trọng không kém, chưa được bác nói đến là từ "ăn năn".

    Một nhà văn VN đã nói, chúng nó (quan chức CSVN) ăn tất cả, ăn tất tần tật, chỉ trừ một món không ăn là ăn năn.
    Tôi nhớ hoài câu này.

    Nguyễn Jung

    Tuan34344 viết:
    Chẳng hiểu ông Việt đã ở Mỹ bao lâu và khả năng tiếng Anh thế nào mà lại đi tin lời ông bạn người Ấn khoe rằng tiếng mẹ đẻ của mình có đến 31 từ phản ánh trạng thái "buồn", còn tiếng Anh chỉ có dăm ba từ.

    Well, last time I checked (hì hì, đây là thành ngữ, không dịch sang tiếng Việt được), tiếng Anh có 32 từ diễn tả trạng thái buồn.
    Có thể không phải là 32, vì tôi không đếm kỹ :), nhưng nếu ông Ấn ấy mà nói rằng tiếng Ấn có 33 từ nói về "buồn rầu" thì tôi sẽ đính chính lại là tiếng Anh có 34 từ, và tôi vẫn
    còn đủ nguyên liệu để chạy Marathon nếu cần.

    Bạn Tuan34344 lại đúng nữa rồi! (I believe you "know-it-all" ;) )

    Vui buồn là hai trạng thái gần như thường trực của loài người; trạng thái vui buồn hiện hữu cả khi ta ngủ. Thế mà ông Việt lại tin lời "anh bạn người Ấn", "tiếng Anh chỉ có dăm ba từ" (diễn tả trạng thái buồn).
    Rất thắc mắc về cách làm việc của ông (tiến sĩ) Việt; tại sao ông Việt không kiểm tra lại thông tin "được nghe kể" trước khi dùng vào bài viết rất nghiêm túc (đăng báo). Chỉ bỏ ra vài phút, làm như bạn Tuan34344 là ông có thể tránh được những lỗi rất vớ vẩn trên.

    CẤU TRÚC và NỘI DUNG của bài viết (của ông Việt) cũng có vấn đề cần trao đổi. Có thời gian sẽ góp ý về 2 phần này.

    PS: Tôi không quan tâm bạn Tuan34344 có phải là Bạch Hùng như ai đó nghĩ không. Tôi chỉ quan tâm đến nội dung từng comment cụ thể của người viết. Tôi (thích phần lớn) những comments của Tuan34344.

    Theo tuan34 thì ông Ái Việt: "theo một tin đồn, ông đã "bỏ lương triệu đô ở Mỹ về VN làm phần mềm sửa lỗi chính tả", vậy mà chính ông Việt lại mắc lỗi chính tả, lạ kỳ nhỉ! Ông viết "khúc chiết" thành "khúc triết" có người đã sửa cho ông rồi.

    Theo báo Thông Tin Công Nghệ, ông Nguyễn Ái Việt là tiến sĩ Vật Lý, nhưng đặc biệt lại yêu thích chữ nghĩa, và, theo một tin đồn, ông đã "bỏ lương triệu đô ở Mỹ về VN làm phần mềm sửa lỗi chính tả".

    Đọc bài viết trên báo ấy thì thấy TS Việt kể rằng ông đã từng lãnh lương vài ngàn đô Mỹ/tháng, và ông cũng khoe con mình "từ khi nó đi học luôn luôn nằm trong top đầu ở trường [bên Mỹ]".

    Theo bài ấy:
    "ông đang phát triển một phần mềm sữa lỗi tiếng Việt chỉ vì cảm thấy 'khó chịu' với cách viết sai chính tả vô tội vạ hiện nay.
    [...]
    Ông còn tận dụng khả năng 3 ngoại ngữ của mình để phát triển một phần mềm dịch thuật với giấc mộng đánh bại Google Translate, ít nhất là trong dịch tiếng Việt."


    Tôi thấy trong bài viết ở trên của TS Việt có đoạn này hơi ngồ ngộ:

    Trích dẫn:
    Tôi có một anh bạn người Ấn Độ nói rằng trong tiếng Ấn có tới hơn 31 từ phản ánh trạng thái "buồn" và có ý nghĩa khác nhau, chỉ người Ấn mới phân biệt được. Tiếng Anh chỉ có dăm ba từ là cùng. Tôi nhận xét với anh "Như vậy người Ấn là chuyên gia buồn rầu". Có lẽ một xã hội chia đẳng cấp quá chặt chẽ, có những loại người untouchable (không được chạm vào), nỗi buồn đó cũng quá dễ hiểu. Văn hóa Ấn Độ cũng có tính triết lý sâu xa. Nhìn lại tiếng Việt, tuy không phong phú về nỗi buồn như Ấn Độ, nhưng vượt xa tiếng Anh về khoản này: "buồn", "rầu", "não", "sầu", "bi", "chán chường",... Không biết có nên tự hào về cái ưu thế biết buồn rầu này.

    Chẳng hiểu ông Việt đã ở Mỹ bao lâu và khả năng tiếng Anh thế nào mà lại đi tin lời ông bạn người Ấn khoe rằng tiếng mẹ đẻ của mình có đến 31 từ phản ánh trạng thái "buồn", còn tiếng Anh chỉ có dăm ba từ.

    Well, last time I checked (hì hì, đây là thành ngữ, không dịch sang tiếng Việt được), tiếng Anh có 32 từ diễn tả trạng thái buồn.
    Có thể không phải là 32, vì tôi không đếm kỹ :), nhưng nếu ông Ấn ấy mà nói rằng tiếng Ấn có 33 từ nói về "buồn rầu" thì tôi sẽ đính chính lại là tiếng Anh có 34 từ, và tôi vẫn
    còn đủ nguyên liệu để chạy Marathon nếu cần.

    Ông Ái Việt Nay viết có vẻ là một nhà ngôn ngữ học. Thế nhưng lý thuyết thì uyên thâm rroongj rãi ra trò, biết vài ngoại ngữ, cả Hoa cả Pháp, nhưng viết tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ thì sai chính tả: "khúc triết mà sâu sắc như Ngô Tùng Phon".

    Xin phép ông Ái Việt, tôi chữa cho ông một lỗi chính tả, còn chuyện ngôn ngữ sẽ bàn sau: khúc TRIẾT là sai chính tả, phải viết khúc CHIẾT. Đúng là bát cơm tám có hòn sạn.

    Tiếng Việt nghèo hay giầu là tùy từng người Việt biết dùng nó đấy cụ ạ. Cứ rơi vào tay Việt cộng hay thằng CS thì cái đéo gì cũng bỏng, cả ngôn ngữ nữa. Cái đéo gì cũng "bất cập". Vì chúng "bất cập" kiến thức do lối giáo dục nhồi sọ làm cho con người thui chột tư duy độc lập.

    Trong tiếng Anh thì từ "run" và "set" có hàng trăm nghĩa thì từ "ăn" của Việt cũng ghép với hàng trăm từ khác cũng cho nhiều nghĩ khác nhau. Nhà xuất bản Thanh niên đã có hẳn một quyển sách của cái ông Trần ...Sơn toàn ghép từ "ăm" với hàng trăm từ khác.

    Về ngữ âm thì tiếng Hoa làm sao phong phú bằng tiếng Việt. Chữ Việt (kiểu La tinh hóa) có thể ghi được cả những âm mà không phải là từ, nghĩa là âm mà không có nghĩa. Ví dụ thì nhiều vô kể, ta cứ lấy một từ nào đó rồi thay nhau điền tất cả các dấu huyền sắc, nặng, hỏi, ngã vào là thấy ngay. Cụ thể là từ ao. Ao, áo, ảo, ào thì có nghĩa, còn ạo và ão thì có âm mà chẳng có nghiã gì cả. Tiếng Việt mình phong phú nên cụ Nguyễn Du mới chế tác Truyện Kiểu từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân thành tác phẩm Truyện kiều bất hủ của người Việt.

    Nguyễn Đức Dân có có còm không biết có phải là TS Nguyễn Đức Dân toán ký hiệu và TS văn học hay không? Ông Dân này giỏi lắm, đánh giá cao truyện hài hước, nghiên cứu về truyện hài hước thế giới rất sâu nhưng lại không biết sáng tác truyện hài hước. Đúng là hình mẫu người mình, chỉ giỏi lý thuyết chứ rất kém thực hành.

    Đồng ý với quan điểm của tác giả. Tôi cho rằng tiếng Việt hay và phong phú về hình thái biểu cảm,tính đa nghĩa (phù hợp với tính cách dân tộc của ta hài hước, đùa vui), nhưng lại là 1 ngôn ngữ ko có cấu trúc và thiếu tính rõ ràng. Ng Việt vốn yêu bản sắc tiếng Việt hẳn sẽ khó tiếp thu được cái ý này. Đấy hẳn là lý do tại sao "một cuộc cải cách tiếng Việt có hệ thống không tới, thậm chí không hề bắt đầu". Ngôn ngữ và tính cách dân tộc, cái nào mới thực sự nên bắt đầu trước và sẽ thay đổi cái nào, tôi nghĩ câu chuyện như gà và trứng. Tôi nghĩ qua bài viết này và nhiều bài phân tích đã có và nên tiếp tục về vấn đề ngôn ngữ tiếng Việt và tích cách người Việt, chúng ta nên cùng ý thức những vấn đề của chúng ta, thấy cái xấu, cái dở để có hành động điều chỉnh, nếu chưa được toàn diện thì cũng nên trong 1 phạm vi nào đó, chẳng hạn các bài chính luận, môi trường giáo dục và công việc nên làm sao đạt được tính cấu trúc , rõ ràng, nghiêm túc...

    Xin lỗi hơi lạc đề một tẹo

    Hồi Đảng và Chính phủ mở cửa cho phép đảng viên làm kinh tế, trên talawas xuất hiện bài viết "Đảng viên có được phép bóc lột". Để biện hộ cho chính sách sau này biến thành chủ nghĩa tư bản thân hữu -đúng hơn, chủ nghĩa xã hội đen-, Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Quang A viết 1 bài (hình như) mang tựa "Sư có được ăn thịt" và giảng về Nam Tông và Bắc Tông, thôi thì um cả lên .

    Có vẻ Sư Xã hội chủ nghĩa của Tiến Sĩ Nguyễn Quang A ngày nay không những ăn được thịt, uống được bia, mà còn hôn được cả môi Đàm Vĩnh Hưng, thậm chí "lộ" (so với chưa lộ) ảnh bồ bịch gái gú đủ cả .

    http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20141009/dai-duc-thich-minh-nhut-thua-nhan-hinh-nhay-cam/656377.html

    Không những thế, sư còn yêu thích cả chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lê lin và yêu cả Đảng nữa!

    Đang tự hỏi nếu mở ra cải cách ruộng đất kỳ nữa, sư xã hội chủ nghĩa có đi đầu trong việc đấu tố, hành hình và xử bắn địa chủ không nhỉ ?

    Đi vào đề

    Thời này không cần và không ai muốn sự trong sáng và rạch ròi . Thời này là thời "đục nước béo quan Cộng Sản".

    Em cũng đang là xinh vênh cao họt ở trường của thày Việt đây !
    Dưng mà em hông nghiên kíu môn ngữ pháp Ẳng -Le lẫn Mít cao tít rít mù của thày, mà chỉ đang theo môn... nông lâm súc và sinh lí học thoai.
    Nên theo em mí cái thắc mắc của thày về cái lá đa kia thì nó đơn sơ như trái bơ ấy, chả có giề phải bức xúc cả thày ạ !

    Này nhé thày hỏi rằng là :

    _" Chưa kể câu chuyện "Lá đa màu gì? Màu đen? Vì sao? Dân gian ta có câu: Sự đời như cái lá đa. Đen như mõm chó chém cha sự đời".

    Thì em xin được...tiếp thị hàng cho thày nghe là :

    - Níu thày mún bít cái lá đa thiệt chất nó là mào giề ? thì 10 năm giồng cây hông giề bằng là , thày nên lấy cái bằng ráo sư đại họt của thày đem treo nên giàn bếp chỗ gần chuồng lợn ở nhà thày ấy ấy trước đã. Xong roài thày cứ kím cái chùa nào gần nhà mà đến đấy xin chú tỉu vưỡn quét lá đa mỗi ngày kia. Xin chú ấy dạy cho biết mào sắc sinh học sinh lí cuả nó thế lào ? thay đổi theo mùa ra sao ? Hông phải lo giả tiền học đâu mà ngại thày nhé !

    - Níu thày mún biết thêm cái chiện cái lá đa mà nó lại như cái...sự đời kia là nghĩa lí giề, mào sắc đen cỡ nào ? thì hông giề bằng 100 năm giồng người, thày chỉ việc đơn rản về nhà hỏi ngay cô nhà là....HÀNG HỌ của ái khanh dạo này thế lào ? Có giề khác hay hông? Níu mà lại còn được cô vui vẻ...weo-cơm cho xem kỉm tra lại tí, thì cứ gọi là thấu dõ tỏ tường OK ngay í mà, việc giề phải xấu hổ như giai mới lớn còn zin kia chứ ?

    Thế nhé nghen thày !

    Nếu tiếng Việt có nhiều cách nói đặc về từ ăn và bánh (bánh: phở, mì, kem, xe, xà phòng, tráng, xèo vv), thì tiếng Anh động chút là xài chữ run:

    Run the show
    Run for president
    Run an article
    They run guns (buôn lậu)
    Run a risk
    Run an experiment
    Run a campaign
    The speed limit runs only to the town line (có hiệu lực)
    This train runs every hour
    Run a rope between the poles (căng dây)
    Run gold into ingots (đổ khuôn)
    Let the water runs from the faucet
    This road runs to the next town line
    Stinginess seems to run in that family.
    The sizes run from small to large.
    The interest runs from the first of the month. (tích lũy)
    He ran second in swimming and got the bronze medal (bơi mà cũng "chạy"!)
    She ran next door to borrow a cup of sugar (tạt qua kế bên)
    To Run through a book (đọc lướt qua)
    He ran through his lottery winning in two months (xài hết)
    Let me run through today's meeting for those who missed it.
    Make just one move, and I'll run you through (đâm xuyên)
    Fear of Ebola runs through the continent (lan tràn)
    This car runs on electricity
    These are the tips for running Windows on a Mac
    This PC still run Windows XP
    Can this game run on my computer?
    She ran out on him two months ago (bỏ rơi)
    Kid, you better run it past your mum (xin phép trước về chuyện gì)
    The doctor insisted I rest for a few days while the infection ran its course. (tự nó khỏi)
    This nerve runs through the neck

    Đấy chỉ là vài thí dụ thôi về cách xài chữ run, vì theo Peter Gilliver, người biên soạn từ điển Oxford, động từ này có đến 645 nghĩa khác nhau.

    Nếu ông Nguyễn Đức Dân nghĩ là Từ ăn trong tiếng Việt cực kì lí thú, phản ánh quá trình nhận thức đặc biệt của người Việt về hiện tượng “ăn”, thì chữ "run" phản ảnh quá trình nhận thức gì của người Anh và Mỹ? :)

    Nguyễn Đức Dân - Ăn: Một từ kì thú

    “Ăn” là một từ cơ bản và có trong ngôn ngữ của mọi dân tộc. Từ ăn trong tiếng Việt cực kì lí thú, phản ánh quá trình nhận thức đặc biệt của người Việt về hiện tượng “ăn”.

    GS Hoàng Tuệ có một bài viết rất hay trên Tác phẩm mới (1973) liên quan đến từ ăn. Đây là một gợi ý quan trọng để tôi viết bài này.
    Thuở hồng hoang, tiếng nói của chúng ta có rất ít từ. Trong quá trình phát triển có nhiều từ mới được thêm vào hoặc dùng từ cũ với nghĩa mới. Ăn là một từ điển hình có nghĩa được mở rộng.

    Khởi thủy, “ăn” là một hành động của con người. Nghĩa của từ “ăn” được mở rộng dần dần theo cách lấy khuôn mẫu con người để nhận thức vũ trụ.

    Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí tiến đức định nghĩa:

    (1) ăn là cắn, gậm, bỏ vào miệng nhai rồi nuốt đi

    Loài vật cũng có hành động “ăn”. Có điều con rắn chỉ có nuốt con mồi. Con cóc, con thằn lằn chỉ tợp một cái là con mồi vào bụng chứ không “cắn, gặm, nhai”. Vậy cần hiểu lại từ ăn khái quát hơn cho phù hợp với cả loài vật. Từ điển tiếng Việt (1992) của Viện ngôn ngữ học định nghĩa:

    (1) ® (2) ăn là tự cho vào cơ thể thức nuôi sống

    Trong câu “Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc”(TN), có thể hiểu “ăn giẻ, ăn hồ…” để nuôi sống. Nhưng người Việt còn có tục ăn trầu. Không ai nuốt trầu như Bill Gates khi tới thăm vùng quê quan họ, mà là nhai rồi nhả bã trầu…Vậy thì trầu không phải là thức nuôi sống. Ca dao có câu cá không ăn muối cá ươn. Cá nào có tự cho muối vào cơ thể. Nó bị con người rắc muối lên ướp để khỏi ươn, để tồn tại. Lại nữa, đồ vật cũng “ăn”: “Con tàu neo ở cảng ăn hàng”; “Chiếc mô tô này chạy 100 cây số ăn hết 2 lít xăng.” Động cơ xe máy, tàu thủy, máy bay, … phải ăn xăng, ăn than mới chạy được, mới tồn tại được. Khái quát tiếp:

    (2) ® (3) ăn là tiếp nhận chất để tồn tại

    Thậm chí trong khái niệm “ăn”, người Việt không chú ý tới ăn chất gì. Thi hào Nguyễn Du lại cho ăn chất trừu tượng: “Nói lời rồi lại ăn lời như không.” Cũng chả ai nghĩ cho ăn đòn, ăn roi là để tồn tại. Chúng ta đi tới một khái quát cực kì quan trọng:

    (3) ® (4): ăn là sự tiếp nhận

    Chết là tiếp nhận đất. Vậy nên ăn đất là ẩn dụ của cái chết.
    Nghĩa của từ càng khái quát càng dễ dùng cho nhiều tình huống khác nhau. Ăn là tiếp nhận, và có dăm bảy đường tiếp nhận: chủ động, bị động, đồng thuận hoặc theo tục luật.

    Chủ động tiếp nhận với ý nghĩa không chính đáng, xấu xa là ăn bám, ăn chực, ăn hại, ăn ghẹ, ăn ké, ăn báo cô; ăn bớt, ăn bòn, ăn vụng, ăn hoang, ăn không, ăn dỗ (trẻ em), ăn quẩn, ăn quèo, “khôn ngoan thì kiếm ăn người, mạt đời thì kiếm ăn quanh” (TN)… Không ít hạng người có thủ đoạn ăn lưu manh, phi nghĩa: ăn cắp, ăn trộm, ăn gian, ăn lường, ăn lận, ăn quịt, ăn hớt, ăn bửa, ăn chằng, ăn thông lưng (trong cờ bạc). Những tên đạo chích và gái đứng đường thì ăn sương. Tục ngữ có câu “Kiếp trâu ăn cỏ, kiếp chó ăn của dơ”. Những hạng kỳ hào, lý dịch, quan chức ăn chặn, ăn chẹt, ăn cướp cơm chim, ăn tiền, ăn đút lót, ăn hối lộ (xưa gọi lịch sự là ăn lễ), được gọi chung bằng từ ăn bẩn. Từ đây, có cách chửi mắng là bảo một người “ăn cái nọ, ăn cái kia (ô uế, xấu xa)”.

    Sự tiếp nhận bị động là nước da ăn ảnh, ăn phấn, ăn đèn, ăn nắng, ăn gió. Có người “mặc đồ đen lại ăn hơn đồ trắng”. Giấy sản xuất thời bao cấp rất xấu, thường bị ăn mực.

    Tiếp nhận theo qui luật, theo luật chơi, theo tục lệ là sự tiếp nhận hợp lí. Đó là ăn bổng, ăn lộc, ăn hương hỏa, ăn thừa tự, ăn bát họ, ăn cái; làm công ăn lương; làm ở hợp tác xã ăn công điểm. Trong cá cược nói “đặt một ăn ba”. Trong buôn bán, nói “hàng này đã ăn giá 300 ngàn”. Người làm trái tục lệ liền bị làng xóm kéo đến ăn vạ (ngả lợn gà ra ăn). Ăn vạ còn nhằm bắt đền, tức tiếp nhận sự đền bù của người khác.

    Tiếp nhận từ cả hai phía thường mang nghĩa hài hòa: Tủ này ăn mộng. Những người ăn cánh thường nói ăn khớp nhau. Đội bóng này chơi cực kì ăn giơ (jeu); chưa thấy hai tiền đạo nào chơi ăn ý nhau như vậy. Dàn đồng ca này hát bè không ăn nhịp lắm…

    Để ăn được một đối tượng khác thì phải mạnh hơn. Từ đây ăn có ý nghĩa là vượt trội, là thắng, là làm tiêu hao đối tượng. Đó là ăn tôm, ăn lèo, ăn chắn trong bài bạc, ăn xe, ăn pháo trong đánh cờ, đánh bài. Rồi “Cờ bạc ăn nhau về sáng” (TN), “Anh ta thì ăn giải gì, có mà giải rút”, “Về đầu óc, đứa em ăn đứt thằng anh”; “Đấu với nó sao được, nó sẽ ăn gỏi cậu”…

    Từ đây thêm một dòng nghĩa mới: ăn là tiêu hao đối tượng. Đó là nước ăn chân; gấu ăn trăng (hiện tượng nguyệt thực); acid ăn mòn kim loại; vải này ăn màu; buôn bán ế ẩm, bị ăn cụt vốn; biển đã ăn vào 100 mét; đường kẻ này ăn sang trái; “Sơn ăn tùy mặt ma bắt tùy người”(TN)…

    Từ “ăn” thường trực trong tâm thức người Việt. Và tiếng Việt có nhiều từ ghép “ăn + X”, ở đó:

    - Có X nói về duyên cớ ăn: Ăn Tết, ăn tân gia, ăn hỏi, ăn mừng, ăn khao, ăn giỗ, ăn cơm khách, “Ăn có mời làm có khiến.” (TN); “Mồng ba cá đi ăn thề, mồng bốn cá về cá vượt vũ môn” (cd)…

    - Có X nói về tính chất, phương thức ăn: ăn già, ăn non, ăn vặt, ăn vay, ăn đong…; ăn xó mó niêu, ăn xin, ăn mày cửa Phật; “ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối” (TN); “Những người ăn xổi ở thì / Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày” (Truyện Kiều)…

    - Khi ghép “ăn” với một động từ X khác, như ăn học, ăn tiêu, ăn mặc, ăn ngủ, ăn nói, ăn nhậu, ăn chia, ăn ngồi…vai trò của ăn và X như nhau, những tổ hợp này còn có thể nói về một điều X khái quát: Ăn chơi nói về chuyện chơi bời, ăn ở nói về cách ứng xử trong cuộc sống, còn ăn nằm chủ yếu nói về chuyện hai người có quan hệ … “nằm” với nhau.

    Con đường phát triển nghĩa của từ ăn phong phú là như vậy. Mong bạn hãy liên hệ với từ “ăn” trong ngoại ngữ mình biết và hãy thử dịch những ví dụ gặp trong bài này xem bao nhiêu trường hợp có thể dùng eat (Anh), manger (Pháp), est’ (Nga) để dịch từ ăn của chúng ta.

    Một điều đáng suy ngẫm: nhiều cách nói đặc sắc về từ ăn đang mất dần đi trong xã hội hiện đại.

    Nguyễn Đức Dân - khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, 11/2010