Diễn đàn lịch sử Việt Nam: Danh sách các cuộc chiến tranh trước thời Nam - Bắc triều

  • Bởi Admin
    09/10/2014
    2 phản hồi

    Yvone và Thiên Lang

    Đây là danh sách các cuộc chiến tranh từ năm 905 là lúc Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa cho đến năm 1527 là năm Mạc Đăng Dung lập ra nhà Mạc, bắt đầu nội chiến triền miên Nam - Bắc Triều, Trịnh - Nguyễn rồi Tây Sơn, khởi nghĩa thời nhà Nguyễn sau đó.

    - Danh sách chỉ mới dựa trên bộ Toàn Thư, và chỉ mới làm đến hết đời Lê Thái Tổ thì bận việc và không còn sức để làm nữa. Nếu ai tiếp tục làm giúp phần cuối thì tôi rất cám ơn

    - Giai đoạn Tiền Lê - hết nhà Lý còn được ghi lại trong Đại Việt Sử Lược (người đời Trần viết), rất có thể còn chép những vụ chi tiết hơn mà Toàn Thư bỏ sót. Nếu ai có hứng thú xin làm 1 list tương tự dựa trên Đại Việt Sử Lược để đối chiếu, cám ơn.

    Danh sách này sẽ cho ta cái nhìn tổng quát 1000 năm chiến tranh ở VN.

    TẠM TỔNG KẾT

    - 9XX – 15 vụ/ 95 năm = 6,3 năm/ vụ - > có lẽ do mất mát tư liệu
    - Thế kỷ 11: 45 vụ = 2,22 năm/ vụ
    - Thế kỷ 12:– 24 vụ/ 100 năm = 4,16 năm/ vụ
    - 1225 -1300: – 21 vụ/ 71 năm = 3,4 năm/ vụ
    - Thế kỷ 14: – 48 vụ/ 100 năm = 2,1 năm/ vụ

    ------------------------------------------------------

    - Thế kỷ hòa bình nhất: Thế kỷ 12: 1100 - 1200: mối lo ngại nhất thời này là quân Khmer.

    - Triều vua hòa bình nhất:
    + HỌ KHÚC – DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ: TB 6,6 năm/ vụ - nhưng có lẽ số liệu này sai lệch do mất mát tư liệu.
    + Lý Thánh Tông: 5,6 năm/ lần
    + Lý Nhân Tông: 5,6 năm/ lần
    + Lý Anh Tông: 4 năm/ lần
    = > giai đoạn chung quanh kháng chiến chống Tống lần 2 kỳ thực lại là giai đoạn hòa bình nhất lịch sử VN trước đời Nam Bắc Triều

    - Giai đoạn bất ổn nhất:
    + nhà Ngô
    + nhà Tiền Lê - hết Lý Thái Tông
    + Trần Duệ Tông - hết nhà Trần

    * * *

    - từ 905 - 1527: tổng cộng đã diễn ra 223 cuộc chiến/ 622 năm. (đã tính gộp làm một vụ đối với các trận lớn như cuộc đấu tranh giành độc lập khỏi tay nhà Minh; cuộc khởi nghĩa của Nùng Trí Cao,...)

    - như vậy trung bình cứ 3 năm lại nổ ra một cuộc chiến tranh.

    Cụ thể:

    - hậu Bắc thuộc + nhà Ngô: không xét

    - nhà Đinh: không có tư liệu

    - nhà Tiền Lê: 17 vụ/ 29 năm, có 3 lần đánh với nước ngoài
    - > tính trung bình: 1,7 năm lại nổ ra một vụ

    - nhà Lý: 63 vụ/ 216 năm, có 24 lần đánh với nước ngoài.
    - > tính trung bình: 3,4 năm lại nổ ra một vụ.
    + giai đoạn hòa bình nhất: 73 năm triều Lý Thánh Tông, Nhân Tông ( 1054 - 1127) và 37 năm triều Lý Anh Tông ( 1138 - 1175) với khoảng 5 - 6 năm mới xảy ra 1 vụ.

    - nhà Trần:69 vụ/ 174 năm, đánh với nước ngoài 40 vụ
    - > tính trung bình: 2,5 năm lại nổ ra một vụ
    + giai đoạn hòa bình nhất: giai đoạn Trần Thái Tông, Thánh Tông ( không rõ có phải do mất mát tư liệu) và Trần Hiến Tông. Khoảng 3 - 4 năm mới xảy ra một vụ.

    - nhà Hồ: 6 vụ/ 7 năm, tất cả đều là đánh với nước ngoài
    - > tính trung bình: 1,2 năm/ vụ
    + giai đoạn hòa bình nhất: 2 năm 1401 và 1405

    - Lê Sơ: 61 vụ/ 99 năm, trong đó đánh nước khác 20 trận
    - > tính trung bình: cứ 1,6 năm lại nổ ra một vụ
    + giai đoạn hòa bình nhất: 23 năm 1480 - 1503, thuộc nửa sau triều Lê Thánh Tông và suốt triều Lê Hiến Tông

    = > một vài nhận xét:

    - chủ đề chính của 5 triều Đinh/ Tiền Lê/ Lý/ Lê Sơ là nội chiến. Đặc biệt là 2 triều Đinh, Tiền Lê. Còn với nhà Lý và Lê Sơ, các cuộc nổi dậy chiếm 2/3 số cuộc chiến họ phải đối mặt.
    - nhà Trần và Hồ là triều đại đặc biệt khi phải đối phó với ngoại xâm nhiều hơn nội loạn từ khắp các phía Bắc, Tây, Nam. Cũng là 2 triều đại mà chiến tranh với nước ngoài chiếm 2/3 số cuộc chiến họ tham gia.
    - Hòa bình là 1 khái niệm mơ hồ đối với nước Việt lúc đó. Giai đoạn hòa bình toàn vẹn lâu dài nhất là 23 năm 1480 - 1503, thuộc nửa sau triều Lê Thánh Tông và suốt triều Lê Hiến Tông.

    HỌ KHÚC – DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ (905 - 931)

    - 905: Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa thành công
    - 930: Nam Hán sai Lương Khắc Trinh, Lý Thủ Dung đánh chiếm Giao Chỉ
    - 931: Dương Đình Nghệ phản công, đánh giặc, diệt viện, giải phóng đất nước
    - 937: tháng 3, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ
    - 938: tháng 12, Ngô Quyền diệt Kiều Công Tiễn, đánh lui Nam Hán

    = > 5 vụ trong 33 năm, TB 6,6 năm/ vụ

    NHÀ NGÔ (939 - 965)

    - 944: Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô. Nội chiến bắt đầu, kết thúc vào năm 968 nhờ Đinh Bộ Lĩnh. 12 sứ quân manh nha từ lúc này, nhưng sử chỉ thừa nhận giai đoạn 3 năm cuối 965 – 968 với lý do trước đó vẫn còn 2 vua Ngô Xương Văn, Xương Ngập.

    = > chỉ có 5 năm/ 26 năm là hòa bình

    NHÀ ĐINH (968 - 980)

    = > hem thấy ghi gì ráo ngoài sự kiện năm 979, nhưng sự kiện đó tôi gộp vào thời Lê Hoàn

    LÊ HOÀN (980 - 1005)

    - 979: Tứ Trụ nhà Đinh là Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú định đánh Lê Hoàn nhằm ngăn ông cướp ngôi. Tất cả bị đánh bại, bị giết.
    - 981: đánh bại 3 vạn quân Tống
    - 982: đánh thắng Champa, giết vua Bê Mị Thuế
    - sau 982: Quản Giáp Lưu Kế Tông ở lại Champa, vua sai con nuôi – (Dương Hy Liễn? ) – đi đánh, giết chết.
    - 989: Quản giáp Dương Tiến Lộc đi thu thuế Hoan, Ái – Thanh Hóa, Nghệ An – thì làm phản, định rủ dân theo Champa nhưng bị từ chối. Lê Hoàn kéo đến giết, thảm sát vô số.
    - Văn Dũng nổi loạn, rủ dân trấn Triều Dương (biên giới Việt - Tống) bỏ sang TQ, 996 nhà Tống giao trả.
    - 995: thuyền hơn 100 chiếc xâm phạm trấn Châu Hồng (TQ). Đến mùa hè, thêm 5000 hương binh đánh Ung Châu (TQ), đều bị đánh lui.
    - 996: 4 động Đại, Phát, Đan, Ba ở Ma Hoàng (bị Lê Hoàn đánh lấy)
    - 997: + Chiêm Thành đem quân dòm ngó nước ta
    + 7/997: đánh giặc ở sông Đỗ Động (Hà Tây)
    - 999: đánh Hà Động (Thanh Hóa), v.v..., tất cả 49 động và phá được /động/ Nhật Tắc, châu Định Biên (có thể là Cao Bằng hoặc Thanh Hóa). Từ đó các châu động điều quy phục.
    - 1000: Phong châu (Phú Thọ) nổi loạn: Trịnh Hàng, Trường Lệ, Đan Trường Ôn, thua chạy vào núi Tản Viên.
    - 1001: đánh giặc Cử Long (Thanh Hóa)
    - 1003: người Đa Cái làm phản, bị giết. (Nghệ An)
    - 1003: Hoàng Khánh Tập rủ dân thành Nhật Hiệu 450 người trốn sang Tống. (biên giới Việt - Tống)

    = > Lê Hoàn 14 lần trong 26 năm (979 – 1005), 4 lần trong đó là đánh Đinh, Tống, Champa. Tỷ lệ 1,8 năm/vụ.

    LÊ LONG ĐĨNH (1005 - 1009)

    - 1005: dẹp loạn thân vương (Hưng Yên, Phong Châu); dẹp loạn Cử Long (Thanh Hóa).
    - 1008:
    + đánh 2 châu Độ Lương, Vị Long (Vị Long thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang)
    + Đánh Án Động
    + đánh Hoan châu và châu Thiên Liễu
    + đánh Ái châu. (ĐVSL) – có khi là ám chỉ châu Thiên Liễu hay Đô Lương
    - 1009: đánh Hoan Đường (Nghệ An), Thạch Hà.

    = > LLD: 4 chiến dịch trong 4 năm (1005 – 1009). Tỷ lệ 1 năm/vụ.

    LÝ THÁI TỔ

    1011: đánh giặc Cử Long
    1012:
    - vua đánh Diễn Châu, giết vô số đến vua phải hối hận.
    - Man sang Vị Long buôn ngựa, vua đánh cướp 10 000 con.
    1013: Vua đánh Vị Long làm phản theo Man
    1014: chiến tranh với Đại Lý. Sai Dực Thánh Vương đánh thắng.
    1015: Dực Thánh Vương, Vũ Đức Vương đánh Đô Kim, Vị Long, Thường Tân, Bình Nguyên. Bắt thủ lĩnh Hà Ân đem chem..
    1020: sai Đào Thạch Phụ đánh Champa
    1022: sai Dực Thánh Vương đánh Đại Nguyên Lịch (dân thiểu số bên TQ).
    1024:
    - Khai Thiên vương đánh Phong châu
    - Khai Quốc vương đánh Đô Kim
    1026: Khai Thiên Vương đánh Diễn châu
    1027:
    - Khai Thiên Vương đánh Khất Nguyên
    - Đông Chinh Vương đánh Văn châu

    = > LCU: 13 chiến dịch trong 19 năm (1009 – 1028). 3 chiến dịch là đánh Đại Lý, Champa, Tống. Tỷ lệ: 1,5 năm/ vụ.

    LÝ THÁI TÔNG

    - 1028: loạn Tam vương
    - 1029: 1/4, vua thân đi đánh giáp Đản Nãi ở châu Ái làm phản (Đan Nê, Thiệu Yên, Thanh Hóa)
    - 1031: 1/2, vua thân đi đánh châu Hoan làm phản. (Nghệ An)
    - 1033:
    + tháng 2, vua thân đi đánh châu Định Nguyên (có thể là Yên Bái) làm phản. đến ngày 17 thì dẹp được.
    + tháng 9, châu Trệ Nguyên làm phản. Tháng 10 – 1/12, vua thân đi đánh.
    - 1035:
    + châu Ái (Thanh Hóa) làm phản. Tháng 10, vua thân đi đánh.
    + đại tướng Nguyễn Khánh mưu phản, bị bắt đóng cũi giải về kinh.
    - 1036: tháng 10, đạo Lâm Tây (Sơn La, Lai Châu), châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên phản, đánh châu Tư Lăng của TQ. 1/2/1037, vua thân đi đánh.
    - 1038: tháng 12, Nùng Tồn Phúc làm phản. 2/1039, vua tự đi đánh.
    - 1041:
    + tháng 6, Điện tiền chỉ huy sứ Đinh Lộc và Phùng Luật làm phản.
    + Nùng Trí Cao chiếm châu Thảng Do, lập nước Đại Lịch. Dẹp yên.
    - 1042: tháng 9, châu Văn làm phản.
    - 1043:
    + tháng 1, châu Ái phản. Tháng 3, vua sai quân đánh.
    + tháng 2, châu Văn phản. Tháng 3, vua sai quân đánh.
    + tháng 4, Champa đi thuyền vào cướp.
    - 1044: tháng 1, vua đi đánh Champa.
    - 1048:
    + tháng 9, sai Phùng Trí Năng đánh Ai Lao.
    + Nùng Trí Cao chiếm động Vật Ác (tây Cao Bằng) làm phản, dẹp yên.
    - 1050: tháng 9, động Vật Dương (bắc Cao Bằng) làm phản, dẹp yên.
    - 1052: tháng 4, Nùng Trí Cao làm phản, đánh nhà Tống. Năm sau thua chết.
    - 1053: tháng 10, đi tiếp viện cho Nùng Trí Cao.

    = > Lý Thái Tông (1028-1054): 21 vụ trong 26 năm. Tỷ lệ: 1,2 năm/ vụ

    * Nếu gộp các vụ Nùng Trí Cao (Vật Dương, Vật Ác) làm 1 và châu Văn năm 42-43 làm 1 thì gồm 16 vụ trong 26 năm. Tỷ lệ: 1,6 năm/ vụ

    LÝ THÁNH TÔNG (1054 – 1072: 17 năm)

    -1059: tháng 3, đánh Khâm, Liêm (Tống).
    - 1060: mùa xuân, đánh vào Tống để bắt lính đào ngũ. Bắt cả chỉ huy sứ Tống là Dương Bảo Tài.
    - 1069: vua đi đánh Champa, bắt vua Cham là Chế Củ.

    = > 3 vụ trong 17 năm, tất cả đều là giao tranh với ngoại quốc. Trung bình 5,6 năm có 1 lần.

    LÝ NHÂN TÔNG (1072 – 1127: 56 năm)

    - 1074: Champa sang quấy rối.
    - 1075:
    + Lý Thường Kiệt đánh Khâm châu, Ung châu.
    + mùa thu, LTK đánh Champa, không thắng.
    - 1076: mùa xuân, kháng chiến chống Tống lần 2.
    - 1089: Tống xâm phạm châu Thạch Tê (Hòa An, Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).
    - 1103: mùa đông, tháng 10, Lý Giác nổi loạn ở Diễn châu (Nghệ An). LTK đánh chạy sang Champa.
    - 1104: vua Cham Chế Ma Na xâm lăng, định giành lại 3 châu đã dâng.
    - 1109: mùa thu, Đỗ Sùng ở châu Tô Mậu làm phản, bị giết.
    - 1119: tháng 10, vua đóng thuyền, thân đi đánh động Ma Sa (Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình)
    - 1125: đánh Nùng Quỳnh, Mạc Thất Nhân ở châu Quảng Nguyên. Thất Nhân trốn sang Tống, 1127 bị trả về.

    = > 10 chiến dịch trong 56 năm. TB 5,6 năm/ lần.

    LÝ THẦN TÔNG (1128 – 1138: 11 năm)

    - 1128:
    + mùa xuân, 2 vạn quân Khmer tấn công bến Ba Đầu ở Nghệ An, đánh lui.
    + tháng 8, 700 thuyền Khmer cướp hương Đỗ Gia (Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), đánh lui.
    - 1132: tháng 8, Khmer, Champa tấn công Nghệ An
    - 1137: tháng 1, Khmer tấn công Nghệ An, đánh lui.

    = > 4 chiến dịch trong 11 năm, TB 2,75 năm/ vụ. Đặc điểm là đều bị Khmer (Campuchia) tấn công.

    LÝ ANH TÔNG (1138 – 1175: 37 năm)

    - 1140: tháng 10, Thân Lợi họp 800 người nổi loạn, chiếm các châu Thái Nguyên, Tây Nông, Lục Lệnh, Thượng Nguyên, Hạ Nông (đều thuộc tỉnh Bắc Thái). Đến tháng 10 năm 1141, dẹp yên.
    - 1145: tháng 8, Đàm Hữu Lượng người Tống có yêu thuật, trốn sang đánh chiếm châu Tư Lang (Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng). Việt – Tống hợp sức dẹp yên.
    - 1150: tháng 9, Khmer tấn công Nghệ An, đến núi Vụ Thấp (núi Vụ Quang, Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) gặp trời nóng, tự tan.
    - 1152: tháng 10, sai Lý Mông dẫn 5000 quân đưa Vangsaraja về làm vua Champa, nhưng bị vua Jaya Harivarman I đánh bại giết chết.
    - 1154:
    + tháng 2, đánh dân Sơn Lão ở Chàng Long, hàng phục.
    + tháng 8, Nùng Khả Lai ở Đại Hoàng (Ninh Bình) làm phản. Tháng 11, vua thân đi đánh, dẹp yên.
    - 1159: tháng 5, Ngưu Hống, Ai Lao làm phản, Tô Hiến Thành dẹp yên.
    - 1163: tháng 8, lính đào ngũ họp làm cướp. Phu Công Tín dẫn 10 vạn quân dẹp yên.
    - 1166: tháng 3, sứ Champa dẫn quân, phù thủy vượt biển vào cướp bóc. Tháng 7 năm sau, Tô Hiến thành đánh, 2 bên hòa.

    = > 9 lần trong 37 năm. Tỷ lệ 4 năm/ lần.

    LÝ CAO TÔNG (1176 -1210: 35 năm)

    - 1177: tháng 3, Champa tấn công Nghệ An
    - 1181: thái tử Long Xưởng bị phế làm thứ dân, nay cầm đầu trộm cướp làm loạn.
    - 1183: tháng 1, Ngô Lý Tín đánh Ai Lao
    - 1184: 10/1184 – 7/1185, các sách Tư Mông, Trịnh, Ô Mễ làm phản đánh lẫn nhau. sai thái phó Vương Nhân Từ đi đánh. Nhân Từ lấy người trong châu là Phạm Phẩm đóng ở ải Ông trọng, Trương Nhạn, Phạm Đỗ đóng ở hương Bái, Đoàn Tùng đóng ở ải Khả Lão. Khi đến trại La Biều, quan quân bị người Lão đánh úp, thua to, Nhân Từ chết trận. Cuộc hành quân năm sau (1185) do Kiến Khang Vương (Đại Việt sử lược chép là Kiên Ninh Vương) chỉ huy 12000 quân là để báo thù việc thất trận ở La Biều (ĐVSL3,10b,11a). các sách, trại ghi ở đây đều chưa rõ ở đâu, nhưng có khả năng là ở vùng núi Hà Sơn Bình. Đại Việt sử lược chép đến các quan lang họ Đinh ở vùng này. Quân kéo đến đóng ở Đỗ Gia thôn, Long Ích bắt giữ hết cả. Bọn Đinh Võ kêu than một cách thảm thiết. Người đi theo là Nguyễn Đa Cẩm thấy bọn Đinh Võ bị bắt làm tù, khoái chí bèn la mắng nhục mạ và đái vào miệng bọn Đinh Võ. Giống rợ Lão có tính hung hãn bèn cắn âm hành5 của Đa Cẩm. Đa Cẩm dùng tay đánh, Đinh Võ sẹo mất cái mồm. Đa Cẩm cũng ngã xuống đất gần chết. Do đó Long Ích mới sai các quan chức làm con cá gổ khớp mồm bọn Đinh Võ, xong, dùng gậy đánh chết rồi đem phơi khô cái thịt bọn ấy.
    - 1192: tháng 7, giáp Cổ Hoàng (Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) nổi loạn, dẹp yên. Trước đó có người giáp ấy thấy vệt chân trâu [trèo lên] cây muỗm, nhìn lên thấy con trâu bạc, hồi lâu, nó lại theo ngả khác đi xuống. Có người lính ở giáp ấy là Lê Văn đoán rằng: 'Trâu trắng là vật ở dưới, nay lại ở trên cây, thế là điềm kẻ dưới lên ở trên". Nhân đó bèn rủ nhau làm phản.
    - 1198: Ngô Công Lý ở hương Cao Xá (Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, Nghệ An) cùng Đinh Khả, Bùi Đô ở châu Đại Hoàng (Ninh Bình) xưng là con cháu nhà Đinh nổi loạn. Dẹp yên.
    - 1202: khởi nghĩa Phí Lang ở Đại Hoàng, bắt đầu nội chiến cuối Lý đến khi chuyển sang nhà Trần

    = > xin ko tổng kết triều vua này

    LÝ HUỆ TÔNG (1211 -1224: 13 năm)

    LÝ CHIÊU HOÀNG (1224 -1225: 1 năm)

    TRẦN THÁI TÔNG (1225 – 1258) mất năm 1277

    - 1229: nội chiến cuối Lý kết thúc
    - 1237: vụ Trần Liễu họp quân ra sông Cái nổi loạn được 2 tuần phải xin hàng. Binh sĩ đều bị xử chém.
    - 1239: Kiểu Hiền làm loạn
    - 1240: tháng 10, người Bắc đến bắt cướp người ở Lạng Giang đi. Sai quan đến điều tra.
    - 1241:
    + tháng 10, người Man phương Bắc đến cướp biên giới. Sai Phạm Kính Ân đánh lại, chiếm luôm các động Man.
    + Vua thân hành đánh trại Vĩnh An, Vĩnh Bình (Khâm Châu, TQ).
    - 1242: Tháng 4, sai Thân vệ tướng Trần Khuê Kình đến giữ biên giới phía Bắc, đánh lấy đất thuộc lộ Bằng Trường
    - 1252: mùa xuân, vua thân đi đánh Champa, đến tháng 12, phá được, bắt cả hoàng hậu, rút về.
    - 1256: tháng 7, Vũ Thành Vương Doãn (con Trần Liễu) đem cả nhà trốn sang nước Tống. Thổ quan Tư Minh là Hoàng Bính bắt lại đưa trả cho ta
    - 1257: 12/ 12/ 1257 – 24/ 12/ 1257: kháng chiếng chống MC lần 1

    = > 10 vụ trong 33 năm, TB 3,3 năm/ vụ. Trong đó có 5 vụ lớn.

    TRẦN THÁNH TÔNG (1258 – 1279) mất năm 1290

    - 1277: tháng 2, vua thân chinh đánh người Man, Lạo ở động Nẫm Bà La2 (Quảng Bình) , bắt sống bộ đảng hơn 1.000 người giải về.

    = > 1 lần trong 21 năm.

    TRẦN NHÂN TÔNG (1279 – 1293) mất năm 1308

    - 1280: sau tháng 10, Trịnh Giác Mật ở đạo Đà Giang làm phản. Trần Nhật Duật chiêu hàng được.
    - 1282:
    + tháng 4, Sài Xuân cùng 1000 quân đưa Trần Di Ái về nước lập làm vua.
    + đề cập Trần Khánh Dư “ lần trước có công đánh giặc Nguyên vào cướp” và trước kia đánh người Man ở miền núi
    + đề cập Trần Quốc Nghiễn có công đánh giặc
    - 1284: 26/12/1284 – 20/5/1285: kháng chiến chống Nguyên- Mông lần 2
    - 1287: 14/11/1287 – 8/3/1288: kháng chiến chống Nguyên- Mông lần 3
    - 1290: tháng 2, vua thân đánh Ai Lao

    = > 5 vụ trong 14 năm (không tính các vụ Trần Khánh Dư, Trần Quốc Nghiễn do ko rõ năm), trung bình 2,8 năm/ vụ

    TRẦN ANH TÔNG (1293 – 1314) mất năm 1320

    - 1294: trong tháng 8, thượng hoàng + Trung Thành Vương + Phạm Ngũ Lão đánh Ai Lao
    - 1297:
    + Sai Chiêu Văn Vương Nhật Duật đi đánh sách A Lộc.
    + Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng đi đánh sách Sầm Tử.
    + Ai Lao xâm phạm sông Chàng Long. Phạm Ngũ Lão đánh bại chúng, lấy lại được đất cũ.
    - 1298: tháng 10, đánh Ai Lao. Tướng Nguyên đầu hàng là Trương Hiển chết tại trận
    - 1301: tháng 3, Ai Lao sang cướp Đà Giang, sai Phạm Ngũ Lão đi đánh, gặp quân giặc ở Mường Mai6 (Mai Châu, tỉnh Hòa Bình), giao chiến, bắt được rất nhiều
    - 1302: 1 người tên Biếm nổi loạn, Phạm Ngũ Lão đánh giết được.
    - 1309: tháng 11, trị tội bọn Hân đại nghịch
    - 1311: tháng 12/1311 – 5/1312, vua đánh bắt vua Champa là Chế Chí
    - 1313: Champa bị Xiêm xâm lược, sai Thiên Hư đi Nghệ An, Lâm Bình sang cứu

    = > 10 vụ trong 21 năm, trung bình 2,1 năm/ vụ. Đến 4/10 vụ là Lào

    Vụ Chế Mân: 6/1306 – 5/1307

    TRẦN MINH TÔNG (1314 – 1329) mất năm 1357

    - 1317: trộm cướp bắt đầu nổi lên, có tên Văn Khánh là đầu sỏ bọn cướp
    - 1318: sau tháng 8, sau Huệ Vũ Đại Vương Quốc Chẩn, Phạm Ngũ Lão, Hiến Túc hầu Lý Tấn Kiến đánh Champa. Kiến bị giết. Đuổi vua Chế Năng chạy sang Indonesia. Cùng năm, Ngũ Lão mất.
    - 1322: mùa hạ, tranh chấp biên giới với nhà Nguyên, sai quan đi tranh biện.
    - 1326: Huệ Túc Vương đánh Champa không được, quay về.
    - 1329: Mùa đông, Thượng hoàng (vừa nhường ngôi) đi tuần thú đạo Đà Giang, đích thân đi đánh man Ngưu Hống.

    = > 5 vụ trong 15 năm, TB 3 năm/ vụ

    TRẦN HIẾN TÔNG (1330 – 1341) mất năm 1341

    - 1334: mùa xuân, Thượng hoàng (ko hiểu sau vụ năm sau lại bảo năm này ông ko đi) + Nguyễn Trung Ngạn đánh Ai Lao, đến Châu Kiềm (Mật Châu, huyện Tương Dương, Nghệ An)
    - 1335: tháng 9, Ai Lao lấn đất Nam Nhung (huyện Tương Dương, Nghệ An) thượng hoàng đánh Ai Lao. Nhữ Hài bị chết đuối
    - 1337: tháng 9, Sai Hưng Hiếu Vương dẹp người man Ngưu Hống, chém tù trưởng Xa Phần

    = > 3 vụ trong 11 năm, toàn là đánh Ai Lao, trung bình 3,6 năm/ vụ

    TRẦN DỤ TÔNG (1341 – 1369) mất năm 1369

    - 1343: Năm này mất mùa,đói kém,dân nhiều kè làm trộm cướp, nhất là gia nô các vương hầu
    - 1344:
    + (2/1344 – 11/1345), người Trà Hương1 (Kim Môn, Hải Hưng) là Ngô Bệ họp bọn ở núi Yên Phụ2 (Kim Môn, Hải Hưng) làm giặc cướp. Đánh tan.
    + Mùa thu, tháng 8, đặt 20 đô phong đoàn ở các lộ để đuổi bắt giặc cướp.
    - 1346: tháng 5, Ai Lao vào cướp biên giới. Sai Bảo Uy Vương Hiến đánh tan bọn chúng
    - 1351: tháng giêng, người Thái Nguyên và Lạng Sơn tụ họp làm giặc cướp, đánh lẫn nhau. Đánh dẹp được bọn chúng.
    - 1353:
    + tháng 6, đánh Champa, đến Cổ Lũy (Quảng Ngãi) thì rút vì trục trặc vận lương.
    + tháng 9, Champa đánh Hóa châu, chống trả rất bất lợi.
    - 1354: sau tháng 3, Có kẻ tự xưng là cháu ngoại của Hưng Đạo Đại Vương tên là Tề, tụ họp các gia nô bỏ trốn của các vương hầu làm giặc, cướp bóc các xứ Lạng Giang7 (huyện Yên Dũng, Lục Ngạn, Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn), Nam Sách8 (huyệnn Chí Linh, Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng và dất huyện Tiên Lăng, Hải phòng).
    - 1358: (8/1358 – 3/1360)Ngô bệ lại đem quân tụ họp ở núi Yên Phụ, dựng cờ lớn ở trên núi, tiếm sưng vị hiệu, yết bảng nói cứu giúp dân nghèo.Từ xã Thiên Liêu đến Chí Linh. Bệ chiếm giữ cả. Sau bắt được ở Yên Phụ cùng 30 người, chém hết.
    - 1361: tháng 3, Champa đánh cửa biển Dĩ Lý (xã Lý Hoà, huyện Bố Trạch, Quảng Bình), đánh tan được
    - 1362: tháng 3, Champa đánh Hóa Châu
    - 1365: tháng 1, Champa (đã nấp ở đầu nguồn từ tháng 12 năm rồi) vào cướp dân Hóa châu đang đi chơi xuân
    - 1366: tháng 3, Champa cướp phủ Lâm Bình, quan Phạm A Song đánh bại
    - 1367: (12/1367 – 4/1368): Minh tự Trần Thế Hung + Đỗ Tử Bình đánh Champa. Đến Chiêm Động (Thăng Bình, Tam Kỳ, Duy Xuyên, Quế Sơn tỉnh Quảng Nam – Đà Nẳng) thất bại. Hưng bị bắt, Bình rút quân.

    = > 13 vụ trong 28 năm, 7 vụ là Champa, TB 2,1 năm/ vụ

    DƯƠNG NHẬT LỄ (1370)

    - 1370: loạn Dương Nhật Lễ, dẹp yên.

    TRẦN NGHỆ TÔNG (1370 - 1372)

    - 1371: tháng 3, mẹ Nhật Lễ xui Champa đánh từ cửa biển Đại An (cửa Liêu, huyện Đại An, nay là huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Hà Nam Ninh) đến tận bến Thái Tổ (Ở khoảng phó Nguyễn Du, Hà Nội). Đến 27/3 thì rút.

    TRẦN DUỆ TÔNG (1373 - 1377)

    - 1373: giặc cướp đua nhau nổi dậy. Tháng 8, sai sửa sang chuẩn bị đánh Champa
    - 1376:
    + tháng 5, Champa cướp Hóa châu
    + 12/ 1376 – 24/1/1377: vua thân đánh Champa, chết
    - 1377: 11/6, Champa vào cướp

    = > 4 vụ trong 4 năm, TB 1 năm/ vụ

    TRẦN PHẾ ĐẾ (1377 - 1388)

    - 1378: (5/5 – tháng 6), Champa chiếm Nghệ An, cho Ngự Câu vương Húc làm vua bù nhìn. Rồi đánh cướp kinh đô.
    - 1379: tháng 8, Nguyễn Bồ ở Bắc Giang dùng tà thuật, xưng vương, gọi là Đường Lang Tử Y, bị giết
    - 1380: (tháng 2 – tháng 5), Champa xúi người Tân Bình, Thuận Hóa cướp người, của ở Nghệ An, Diễn Châu. Rồi Champa sang, bị Quý Ly đánh lui.
    - 1381: tháng 4, Hồ Thuật ở Diễn Châu nhân Champa sang, tụ họp đi cướp bóc, bị xử chém.
    - 1382: tháng 2 – tháng 4, Champa đánh Thanh Hóa, đánh lui được.
    - 1383:
    + tháng 1, Quý Ly đánh Champa, giữa đường phải rút vì thuyền hỏng.
    + Tháng 6 – tháng 12: Champa vào cướp, bị đánh lui.

    = > 6 vụ trong 11 năm, TB 1,8 năm/ vụ

    TRẦN THUẬN TÔNG (1388 - 1398)

    - 1389:
    + tháng 8, Nguyễn Thanh, người Thanh Hóa tự xưng là Linh Đức trốn tránh tai nạn. Dân chúng vùng sông Lương Giang1 (sông Lương, sông Chu ở Thanh Hóa) đều hưởng ứng.
    + Tháng 9, Nguyễn Kỵ, người Nông Cống, tụ họp bè lũ đi cướp bóc, tự xưng là Lỗ Vương Điền Kỵ2.
    + (10/ 1389 – 23/1/1390), Champa sang đánh. Ngày 20/10/1389, Quân Việt thua to (chết 70 tướng). Cuối cùng Khát Chân bắn chết Chế Bồng Nga mà thắng.
    + tháng 12: sư Thiên Nhiên là Phạm Sư Ôn ở Quốc Oai (Hà Tây) nổi loạn đánh vào, chiếm kinh đô 3 ngày. Dẹp được
    - 1390: tháng 2, bắt bọn đảng giặc là Nguyên Đĩnh, Nguyễn Động, Nguyễn Doãn, Hoàng Khoa, Nguyễn Khang. Những người bị cưỡng bức theo chúng thì không bị tội, Nguyên Đĩnh và Trần Tôn nhảy xuống sông tự tử, Khang thì chạy trốn sang nước Minh, nói dối là con cháu họ Trần, đổi tên là Thiêm Bình.
    - 1391: (tháng 3 – tháng 4) tướng Tả Thánh Dực Hoàng Phụng Thế đi tuần đất Champa bị mai phục.
    - 1396: tháng 8, tướng chỉ huy quân Long Tiệp là Trần Tùng đánh Champa, chém được tướng Bố Đông
    - 1397: tháng 6, Phạm Cự Luận chỉ huy quân Thần Sách đánh giặc áo đỏ ở Tuyên Quang, chết trận.

    = > 8 vụ trong 10 năm, TB 1,25 năm/ vụ

    TRẦN THIẾU ĐẾ (1398 - 1400)

    - 1399:
    + sau tháng 4, giết bọn Khát Chân định lật đô Quý Ly, 370 người. Lùng dư đang mấy năm không ngớt
    + tháng 8: cướp tên Nguyễn Nhữ Cái ở núi Thiến Sơn làm tiền giấy giả để tiêu, nhân vụ Khát Chân, chiêu tập 1 vạn quân nổi loạn khắp Lập Thạch, sông Đáy, Lịch Sơn6 (Sơn Dương, Tuyên Quang), sông Đà, Tản Viên.

    = > 2 vụ trong 2 năm. TB 1 năm/ vụ

    NHÀ HỒ (1400 - 1407)

    - 1400 - 1401: tháng 12, đem 15 vạn quân đánh Champa, hết lương phải nướng giáp mà ăn, rút về.
    - 1402: tháng 7, đánh Champa. Chiếm Chiêm Động, Cổ Lũy
    - 1403: đánh Champa, vây Chà Bàn 9 tháng trời ko được, phải rút.
    - 1404: Hồ Tùng âm mưu cùng người Cham Chế Sơn Nô, định cùng Champa làm phản. bị giết.
    - 1406:
    + tháng 4, nhà Minh đưa Trần Thiêm Bình sang
    + (tháng 9/1406 – 5/5/1407), Trương Phụ đánh sang, diệt Đại Ngu.

    = > 6 lần trong 7 năm

    THUỘC MINH (1407 - 1427)

    - nhà Hậu Trần (1407 – 1413):
    - 1407:
    + (? - tháng 9): dân huyện Đông Lan, Trà Thanh thuộc phủ Diễn châu (huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) nổi dậy đốt nhà ngục, giết quan lại. Trần Húc, Trương Phụ đàn áp.
    + tháng 7: Trương Phụ cho là Nguyễn Đại có công trong việc bắt hai cha con họ Hồ, trao cho chức Giao Chỉ đô chỉ huy sứ. Đại kiêu căng ra mặt, lại ngầm có chí làm phản. Phụ bèn giết đi.
    + Bấy giờ [9a] viên thổ hào ở Đông Triều là Phạm Chấn lập Trần Nguyệt Hồ làm vua ở Bình Than, đề cờ chiêu an gọi là Trung nghĩa quân, cho nên người Minh ngờ Bá Kỳ. Sau Trần Nguyệt Hồ bị người Minh bắt, Phạm Chấn bỏ trốn. đến tháng 12 nhập vào quân Hậu Trần.
    + (? - tháng 9): dân thiểu số châu Quảng Nguyên (Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng), Thất Nguyên (Thất Khê, tỉnh Cao lạng) nổi dậy, lực lượng không đông nhưng biết dựa vào địa thế hiểm trở. Tháng 9, đô đốc Cao Sĩ Văn đi đàn áp, bị giết tại trận. Quân nổi dậy rút sang Thất Khê, rồi bị đô đốc Trình Dương đem viện quân tiêu diệt.
    + Phạm Tất Đại cùng Nguyễn Nguyên Thể, Nguyễn Phục Cổ, Nguyễn Nhạc Phi, Nguyễn Năng, Nguyễn Biểu, Phạm Đa Bổ, Nguyễn Nghiêu Bộc, Nguyễn Tiễn, Trần Hãn Phu nổi dậy ở các hang động miền Lục Na. Nhà Minh sai lùng bắt các thủ lĩnh giải sang TQ.
    + nội quan Miêu Thanh tâu dân chúng không phục, họp nhau làm loạn tại:
    * phủ Tân An (Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh)
    * phủ Kiến Bình (Nam Định, Ninh Bình)
    * phủ Lạng Giang (Bắc Giang, nam Lạng Sơn)
    * châu Đông Hồ (có lẽ là Đông Triều, Quảng Ninh + đông bắc Hải Dương + tây bắc Hải Phòng)
    * châu Thái Nguyên (Thái Nguyên, Bắc Cạn)
    * sông Sinh Quyết (đoạn sông Đáy chảy qua Nam Định)
    - 1408:
    + Trần Nguyễn Khôi khởi nghĩa ở huyện Nguyên Lang châu Tam Đái (Vĩnh Phúc và một phần Phú Thọ)
    + Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bí nổi dậy ở châu Thái Nguyên (Thái Nguyên, Bắc Cạn)
    - 1409:
    + tháng 7: nghĩa quân Hoàng Cự Liêm đóng ở châu Từ Liêm (Đan Phượng, Thạch Thất, tỉnh Hà Tây), châu Quảng Oai (Tùng Thiện, Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây + đông bắc tỉnh Hòa Bình) bị Trương Phụ tấn công. Liêm phải bỏ trốn.
    + Thiêm Hữu, Ông Nguyên khởi nghĩa ở phủ Lạng Giang
    + (1409 - 1410): Nguyễn Sư Cối nổi dậy ở xã Nghi Dương, huyện An Lão, châu Đông Triều (Kiến Thụy, Hải Phòng), thường hoạt động ở sông Hoàng Giang, Ma Lao (sông Thái Bình chảy qua miền nam tỉnh Hải Dương, Hải Phòng), Đại Toàn. Quân đến 2 vạn, bị Phụ đánh giết 4500, bắt 2000 người, có các tướng Phạm Chi, Trần Nguyên Khanh, Trần Nhân Trụ rồi giết hết.
    + Nổi dậy ở Thanh Oai (Hà Tây), Phụng Hóa (đông bắc Nam Định), Trấn Man (bắc Thái Bình). Nghĩa quân đánh bại thổ quan Lộ Văn Luật, giết 300 quân.
    - 5/ 1410:
    + Người Thanh Hóa là Đồng Mặc, tên hiệu là Lỗ Lược tướng quân, đánh giết bọn giặc nhiều không kể xiết. Chỉ huy của quân Minh là Tả [15b] Địch bị bắt, Vương Tuyên (có sách ghi là Vương Đản) thế cùng phải tự vẫn. Hưng Khánh Đế cho Mặc làm Phủ quản quận Thanh Hóa.
    + Nguyễn Ngân Hà tuy không bằng Mặc, nhưng cũng là ngườitrội trong đám hào kiệt.
    + Lê Nhị ở Thanh Oai, Từ Liêm giết cha con tên đô ty Lư Vượng ở cầu Ngọc Tản, lại chiếm giữ huyện Từ Liêm, quân Minh rất sợ hãi.
    + Lê Khang ở Thanh Đàm1 (Thanh Trì, Hà Nội)
    + Đỗ Cối, Nguyễn Hiên nổi dậy ở châu Trường Yên (đông bắc Ninh Bình) cũng họp quân chống giặc.
    = > vì hiệu lệnh không thống nhất, quân đội không có chỉ huy chung, nên sau đều tan vỡ cả
    + (? - tháng 8) phủ Trấn Man (bắc Thái Bình) khởi nghĩa. Đồng tri phủ Trấn Man là Nguyễn Hy Cấp đàn áp.
    + (? - tháng 11) Phạm Tuân nổi lên ở huyện Đông Kết (Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Tháng 11, Tuân bị bắt nhưng khởi nghĩa vẫn tiếp tục.
    + Hoàng Thiêm Hữu nổi dậy ở châu Hạ Văn (huyện Thoát Lãng, Lạng Sơn)
    + Nguyễn Nguyên Hách nổi dậy ở huyện Thoát (huyện Thoát Lãng, Lạng Sơn)
    + (? - tháng 3/ 1412) Ông Lão nổi dậy ở huyện Động Hỷ (Thái Nguyên). Thổ quan Ma Bá Hổ đàn áp, đánh bại nghĩa quân vào tháng 6/1410, nhưng Ông Lão trốn thoát và khởi nghĩa vẫn tiếp tục diễn ra.
    + Các lãnh tụ khởi nghĩa khác ở Thái Nguyên:
    * Chu Sử Nhan
    * Bùi Quý Thăng
    * Nguyễn Khắc Chẩn
    * Nguyễn Trà
    * Dương Khắc Chung
    + Dương Thế Chân
    ...
    - 1411:
    + Lê Nhị, Phạm Khảng hoạt động ở Thạch Thất (Hà Tây), Phúc An (Thường Tín, Hà Tây), tiến công ngoại vi thành Đông Quan. Nghĩa quân từng phá cầu phao sông Nhuệ, ngăn trở đi lại trên sông Sinh Quyết (sông Đáy), làm cản trở giao thông tại hậu vệ Giao Châu.
    - 1412:
    + tháng 1, viên phụ đạo ở Đại Từ, Thái Nguyên là Nguyễn Nhuế (hoặc Nguyễn Nhũ) khởi binh, hoại động ở vùng núi tam Đảo, bị Trương Phụ nhà Minh bắt.
    + tháng 6: Trương Phụ đàn áp khởi nghĩa vùng núi Hoàng (huyện Nông Cống), bay vây dãy núi, tấn công các hang động, nửa chừng thì rút về đánh Nguyễn Súy
    + Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn tụ tập quân lính chiếm giữ đất ấy, chẹn lấp đường đi lại của người Minh, giết bắt vô số. Tham chính Mạc Thúy từng đem quân tiến sâu vào đất ấy, bị trúng tên thuốc độc mà chết. Sau vì Văn Lịch thông dâm với vợ của cấp dưới, binh sĩ tức giận giết chết.
    + Nguyễn Liễu ở Lý Nhân1 (Lý Nhân, Hà Nam) chiêu tập người các huyện Lục Na2 (Lục Ngạn, Hà Bắc) , Vũ Lễ đánh cướp người Minh trong mấy năm. Vua ở Nghệ An, đường bị ngăn trở không thông, quân của Liễu bị tan vỡ dần, Tham nghị Nguyễn huân vờ kết thông [21b] gia rồi dụ [Liễu] đến giết chết.
    + tháng 8: Lưu Bổng hoạt động ở Quảng Oai (nam Hà Tây và đông bắc Hòa Bình)

    = > 9 vụ trong 6 năm, TB 0,6 năm/ vụ. Không tính khởi nghĩa nhà hậu Trần

    GIỮA HẬU TRẦN VÀ LAM SƠN:

    - 1414:
    + Trần Quý Tảm (em Trần Quý Khoáng), tự xưng Tướng quốc Hoan quốc vương, nổi lên ở Tĩnh An (Quảng Ninh), sau bị bắt ở cửa biển Đa Ngư (cửa Vạn Úc).
    + (1414 - đầu 1415): khởi nghĩa Nguyễn Tống Biệt ở Hạ Hồng
    + (1414 - đầu 1415): khởi nghĩa Hoàng Thiêm Hữu ở Giao Châu
    - 1415:
    + (1415 - tháng 11/ 1415): khởi nghĩa Trần Nguyệt Hồ ở Thanh Hóa, xưng là Nguyệt Hồ Vương, hoạt động ở lưu vực sông Mã. Sau Trương Phụ bắt Hồ ở Xích Thổ (Ninh Bình)
    - 1416: tháng 9, quân lính huyện Tân An nổi lên, Trương Phụ dẹp được.
    - giữa - tháng 7/ 1417:
    + Lê Hạch, Phan Cường nổi dậy ở châu Thuận (nam Quảng Trị). Khởi nghĩa được các thổ quan ủng hộ: đồng tri Trần Khả Luận, phán quan Nguyễn Chiêu, chủ bạ Phạm Mã Hõan, thiên hộ Trần Não, bách hộ Trần Ngô Sai. Sau Hạch chết trận. Cường, Luận, Chiêu, Hoãn bị bắt giết.
    + phán quan Nguyễn Nghị, tri huyện Tả Bình Trần Bá Cao, huyện thừa Vũ Vạn, bách hộ Trần Bá Luật nổi dậy ở châu Nam Linh (bắc Quảng Trị). Sau Vạn, Cao bị bắt giết; Nghị, Luật chạy thoát.
    + (? - gia nhập Lam Sơn) Nguyễn Chích lập căn cứ khởi nghĩa Hoàng - Nghiêu, hoạt động khắp vùng Đông Sơn (2 huyện Đông Sơn, Thiệu Hóa)

    LAM SƠN (1418 - 1427)

    - 1419:
    * Nông Văn Lịch nổi dậy ở huyện Khâu Ôn (Ôn Châu, tỉnh Lạng Sơn)
    * Ngô Cự Lại nổi dậy ở huyện Thiện Tài (Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh)
    * Trần Mộc Quả nổi dậy ở châu Vũ Định
    + tháng 7, viên thổ quan Tri phủ Nghệ An là Phan Liêu vì bị bọn nội quan nhà Minh [4b] bức bách lấy vàng bạc, bèn dẫn quân bắt giết các quan do nhà Minh phái đến, rồi đem quân vây thành Nghệ An, sắp hạ được thành thì Lý Bân chợt đem quân đến. Liêu trốn lên biên giới, cầm cự ở châu Ngọc Ma, liên kết với quân " áo đỏ" và Ai Lao. Khi Lê Lợi lấy được Nghệ An, Liêu theo Lê Lợi.
    + tháng 11:
    * Phạm Nhuyến chiếm cứ sách Cự Lặc huyện Nga Lạc (Thanh Hóa). Lý Bân phái đô chỉ huy Từ Nguyệt đàn áp.
    * Trịnh Công Chứng ở Hạ Hồng1 (phía nam tỉnh Hải Hưng) có trên 1000 nghĩa quân.
    * khởi nghĩa Lê Hành ở Hạ Hồng1 (phía nam tỉnh Hải Hưng)
    * Phạm Thiện ở Tân Minh2 (Tiên Lãng, Hải Phòng),
    * Nguyễn Đặc ở Khoái Châu,
    * Nguyễn Đa Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang
    4 người thấy thành Đông Quan chỉ còn những quân lính ốm yếu, liền dấy [5a] quân tiến đánh. Quân đến Lô Giang, đánh phá được cầu phao, nhưng ít lâu sau, bị Lý Bân đánh bại, tan tác chạy dài. Bấy giờ, chỗ nào cũng rối loạn, chỉ còn các xứ Tam Giang, Tuyên Quang, Hưng Hóa là yên tĩnh như cũ3.
    + Tháng 12:
    * Trần Trực Thành - bách hộ huyện Kiệt Giang (Nam Đàn, Nghệ An) phủ Nghệ An - cùng em là Trần Chân, tự xưng Kim Ngô tướng quân nổi dậy, liên kết với 1 bộ phận quân " áo đỏ" do tướng Lãm Bàn chỉ huy. Họ giết chết tuần kiểm địch là Trương Tú.
    * Vũ Cống cùng 1 kì lão là Hoàng Nhữ Điển nổi dậy, đốt huyện đường ở huyện Phù Lưu (Quỳnh Lưu, Nghệ An).
    * thiên hộ Trần Thuận Khánh nổi dậy ở châu Nam Linh (Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị). Lý Bân sai Việt gian Nguyễn Huân, Trần Nguyên Khôi đàn áp, giết chết vào cuối năm 1419.
    * (1419 - đầu 1420) Đào Cường nổi dậy ở huyện Thiện Tài (Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Địch huy động đô chỉ huy Lưu Tuấn, Vu Toản, Ngô Hưng đàn áp, nhưng bị mai phục đánh bại, đuổi đến tận sông Nhị. Quân khởi nghĩa định vượt sông đánh thành Đông Quan thì bị đô chỉ huy Trần Tuấn đánh cản vì đô chỉ huy Cảnh Vinh điều kị binh từ Đông Quan đến tăng viện đẩy lui. Cuối cùng, Lý Bân thân chinh đàn áp, bắt được Đào Cường
    * (cuối 1419 - tháng 5/1420): Trịnh Công Chứng bị bắt ở huyện Đồng Lợi, tướng là Lê Điệt tiếp tục chiến đấu ở huyện Diên Hà và Kiến Xương(Duyên Hà, Kiến Xương, tỉnh Thái Bình). Nghĩa quân có nhiều chiến thuyền hoạt động trên sông Hoàng Giang và Tiểu Hoàng Giang (sông Châu Giang, sông Trà Lý). Đô chỉ huy Trần Trung tiến đánh, nghĩa quân rút sang huyện Tân Châu (Nam Trực, Trựng Ninh, tỉnh Nam Định) rồi trở lại Diên Hà. Cuối cùng bị đánh bại, tất cả cùng vợ con bị bắt.
    - 1420:
    * Đinh Tôn Lão khởi nghĩa ở huyện Đại Hoan (Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định)
    * Nguyễn Đa, Cấn Sư Lỗ khởi nghĩa ở huyện Thạch Thất (Hà Tây). Đa xưng là Khai Thánh Vương, bộ tham mưu có Đàm Hưng Bang làm bình chương quân quốc trọng sự, Nguyễn Gia chức tư đồ, Vi Ngũ chức thái sư.
    * Phạm Công Trịch khởi nghĩa ở châu Uy Man (nam Hà Tây + tỉnh Hòa Bình)
    + tháng 4, Lộ Văn Luật dấy binh ở Thạch Thất, Lý Bân đánh phá được. Lộ Văn Luật chạy sang Ai Lao, dân chúng thì trốn vào hang núi Phật Tích và An Sầm4 (Thạch Thất, Hà Tây). Quân Minh dỡ nhà hun động, người trong động bị khói lửa hun đều chết, người nào ra hàng cũng bị giết cả, vợ con bị bắt làm nô tỳ. Sau, Luật theo Lê Lợi (Toàn Thư thì chép là Luật sang Ai Lao, xúi vua Lào đánh Lê Lợi).
    + tháng 6:
    * Trần Thái Xung ở Đạo Hồi,
    * Phạm Ngọc ở Đồ Sơn đều tụ quân nổi dậy,
    Bân đánh bại cả.
    + Người làng Tràng Kênh, huyện Thủy Đường6 là Lê Ngã đổi họ tên thành Dương Cung, tự xưng là Thiên Thượng Hoàng Đế, đăt niên hiệu là Vĩnh Thiên. Thiên Lại gởi hịch cho các huyện gần đó, tự xưng là Hưng Vận quốc thượng hầu, đem quân đánh nhau với Ngã, bị Ngã giết chết, Lý Bân đem đại quân thủy bộ dến đánh. Ngã và Thuấn đang đêm bỏ trốn cả.
    + Tả tham chính Hầu Bảo giữ đồn Hoàng Giang2 (ngã ba Tuần Vường tỉnh Nam Hà), bị Nguyễn Thuật, người Kiến Xương3 (Vũ Thư, Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) đánh giết.

    = > 7 vụ trong 9 năm, TB 1,3 năm/ vụ. Không tính Lam Sơn

    - 1 số cuộc khởi nghĩa Toàn Thư không chép, Đại cương lịch sử Vn đề cập:
    + Đỗ Côi, Nguyễn Hiện ở Trường Yên (Ninh Bình)
    - Các cuộc khởi nghĩa không rõ từ bao giờ ở Nghệ An. Tất cả sau đều gia nhập Lam Sơn:
    + Nguyễn Vĩnh Lộc nổi dậy ở châu Diễn, lập căn cứ ở thôn Trang Niên (thôn Phong Niên, xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An)
    + Nguyễn Biên khởi nghĩa ở Động Choác (xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh)
    + Nguyễn Tuấn Thiện ở thôn Phúc Đậu xã Phúc Dương (xã Sơn Phúc, Hương Sơn). Khi Lam Sơn tiến vào Đỗ Gia, ông lập " đội quân Cốc Sơn" tự giải phóng quê hương rồi gia nhập Lê Lợi.

    LÊ THÁI TỔ (1428 - 1433)

    - 1428: Ngày 24/11, giết bọn giặc phản nghịch tên là Phong, tên Nhữ Hốt, tên An Vinh, tên Trung, tên Tồn, tên Sĩ Văn, tên Sùng Lễ, tên Xác.
    Trước kia, bọn Phương đón hàng giặc Minh, giúp giặc làm điều bạo ngược, chống lại quan quân. Đến khi giặc Minh bị dẹp mới ra đầu hàng, được vua tha tội cho. Nhưng bọn Phong vẫn gây nhiều tội ác không chịu chừa, lại âm mưu làm loạn, ngấm ngầm [62b] kết bè đảng, viết thư mật, ngầm sai người đi đường tắt tới xui quân Minh gây sự, bọn chúng sẽ làm nội ứng. Người mang thư bị Thượng tướng Thái Nguyên là Hoàng Nguyên Ý bắt được. Vua giết tên đưa thư rồi giấu chuyện ấy đi. Tháng 8, lại có một tên trong bọn đến cáo giác, việc cũng giống thế. Đến đây, vua mới hạ chiếu giất cả bọn.
    - 1430: tháng 11, vua đi đánh bọn nghịch tặc ở châu Thạch Lâm, trấn Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái. Bấy giờ, Khắc Thiệu và Đắc Thái trnh nhau tự lập, nên phải đi đánh
    - 1432:
    + tháng 1, thân vương Tư Tề đem quân đi đánh [74a] châu Mường Lễ (Lai Châu). Tù trưởng châu là Đèo Cát Hãn và con là Đèo Mạnh Vượng ra hàng. Cho ở Đông Kinh, lập Hãn làm Tư mã, rồi năm sau giết chết.
    + tháng 11/ 1432 – tháng 1/1433: vua đánh châu Phục Lễ (cũng là Mường Lễ)

    = > 4 lần trong 5 năm, TB 1,25 năm/lần

    LÊ THÁI TÔNG (1433 - 1442)

    - 2/1434 Quản lĩnh trấn Lạng Sơn là Hoàng Nguyên Ý mưu phản. Sai Bắc đạo tư mã Lê Văn An đi đánh dẹp.
    - 1434
    + Tháng 4, Dân Mường Ba Long, phủ Thanh Hóa làm phản theo về nước Ai Lao. Tuần sát Lê Thống đi đánh, chém giết bọn đinh tráng, bắt sống hơn 30 người đàn ông, đàn bà.
    + Tháng 9, Côn Cô nước Ai Lao sai bề tôi là Quan Long dâng voi và vàng bạc xin viện binh. Ra lệnh chỉ cho Thiếu úy Mường Mộc là Xa Miên dẫn các man ở châu Nam Mã đi cứu Côn Cô.
    - 1435:
    + Tháng 11, Lấy Tư mã Tây đạo Lê Bôi làm Tổng quản; hữu bật Lê Văn Linh làm Tham đốc, đốc suất các vệ quân năm đạo và hai vạn trấn quân Nghệ An đi đánh tên phản nghịch Cầm Quý ở châu Ngọc Ma.
    + Tháng 12, Sai bọn Tư không Mường Mộc và Lê Khả Tham, Thiếu úy Lê Xa Miên cùng đem quân Mường của trấn ấy đi đánh bọn Đạo Quỳnh ở Ai Lao.
    - 1437
    + Tháng 1, Thổ tù châu Mỗi, trấn Gia Hưng là bọn Đạo Quỹ, Đạo Thang dẫn người châu đó đến bắt viên thổ quan là Đại tri châu Đạo Lễ đem thắt cổ chết, rồi giữ trại sách làm phản. Chiêu thảo sứ Hà An Lược đánh dẹp được, bắt sống bọn Quỹ và bè đảng hơn trăm tên giải về kinh giết đi.
    + Tháng 8, Ai Lao đem quân sang tranh châu Mã Giang và châu Mộc, Xa Tham đánh lại, chém được tù trưởng của chúng là bọn Man Nữu hơn 20 thủ cấp, bắt sống hơn 20 người giải về kinh sư.
    - 1/1439 Bọn man họ Cầm nhiễu hại dân biên giới, vua sai tướng đi hỏi tội chúng. Ai Lao tin nghe bọn man họ Cầm là Cương Nương, sai tên Nữu Hoa của chúng dẫn hơn 3 vạn binh tương sang giúp, lấn cướp các châu Phục Lễ. Vua thân hành dẫn 6 quân đi đánh.
    - 1440
    + Tháng 1, Vua đích thân đi đánh tên phản nghịch Hà Tông Lai dở huyện Thu Vật, thuộc huyện Tuyên Quang.
    + Tháng 3, vua thân đi đánh viên thổ quan phản nghịch tên là Nghiễm ở châu Thuận Mỗi, trấn Gia Hưng.
    - 3/1441 vua đi lại đánh tên phản nghịch Nghiễm ở châu Thuận Mỗi, bắt sống viên tướng Ai Lao là Đạo Mông cùng vợ con nó ở động La, lại bắt được con của tên Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đồng. Nghiễm kế cùng ra hàng.

    ==> 11 trận trong 9 năm, trung bình 0,8 năm/1 vụ

    LÊ NHÂN TÔNG (1442 - 1459)

    - 5/1444 Chúa Chiêm Thành là Bí Cai vào cướp thành châu Hóa, cướp bắt nhân dân. Sai Nhập nội kiểm hiệu thái bảo Lê Bôi và Tổng quản Lê Khả đem 10 vạn quân đi đánh.
    - 1445
    + Tháng 6, Sai bọn nhập nội kiểm hiệu tư đồ bình chương sự Lê Thận, Nhập nội đô đốc Lê Xí đi đánh Chiêm Thành.
    + Tháng 12, Sai Bình chương sự Lê Khả đem quân đi đánh Chiêm Thành.
    - 1/1446 Sai bọn nhập nội đô đốc bình chương Lê Thụ, Lê Khả, Nhập nội thiếu phó tham dự triều chính Lê Khắc Phục đem hơn 60 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Vua thấy chúa Chiêm Thành là Bí Cai nhiều lần dốc quân cả nước vào cướp, cho nên sai đi đánh. Tháng 4, phá Chà Bàn.
    - 11/1448 Bọn Nông Thế Ôn ở châu Bảo Lạc, Dương Thắng Kim ở sách Thám Già, Nguyễn Châu Quốc ở mường An Phú thuộc trấn Tuyên Quang có tội bị giết. Trước đó, bọn Ôn, Kim cậy đất hiểm, không chịu nộp phú dịch. Đến đây lại ngầm cùng với bọn Châu Quốc đem quân chống mệnh. Phụ đạo mường An Phú là Nguyễn Doãn Tô cáo giác chuyện đó. Sai Tổng quản Lê Luân đem quân bản trấn đánh bắt bọn chúng, bắt được bọn Ôn, Kim giải về chém bêu đầu ngoài chợ kinh đô.
    - 6/1459 Lạng Sơn Vương Nghi Dân đang đêm bắc thang, chia làm ba đường, trèo thành cửa Đông, lẻn vào cung cấm. Vua và Tuyên Từ hoàng thái hậu đều bị hại.
    - 6/1460 Các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa diệt bọn phản nghịch Đồn, Ban. Giáng Nghi Dân xuống trước hầu. Đón Gia Vương (Lê Tư Thành) lên ngôi Hoàng đế.

    ==> Bỏ lần phê Nghi Dân thì có 6 vụ trong 17 năm, trung bình 2,8 năm/1 vụ

    LÊ THÁNH TÔNG (1460 - 1497)

    - 1467
    + Tháng 2, Sai Hành tổng binh Khuất Đà đem quân đi đánh Ai Lao.
    + Tháng 3, Hiệu úy Hoàng Liễn đem thổ binh phủ An Tây đánh nhau với người Ai Lao ở Khâu Lạo, làm tử thương đếnn hơn 3.000 người, thu được nhiều tai giặc.
    + Tháng 6, Sai Đô đốc thiêm sự Khuất Đả đem 500 quân ngũ phủ đến bảo Khả Lặc trấn An Bang đuổi đánh giặc cỏ nhưng không kịp lại trở về.
    + Tháng 7, Giặc cỏ đánh bảo Khả Lặc, trấn An Bang. Sai Tây quân đô đốc phả thiêm sự Khuất Đả đem 1.000 quân Ngũ phủ, và sai quân nhân hai ty Thân quân, Điện tiền và hai ty Hiệu úy đi đánh.
    + Tháng 10, Thổ quan châu An Bình nhà Minh là Lý Lân đem hơn 8 nghìn quân và 300 con ngựa xâm lấn châu Hạ Lang. Lân đánh thua rút về bản châu, chia quân giữ địa giới.
    - 1469
    + Tháng 8, Quốc vương Chiêm Thành Bàn La Trà Toàn thân hành đem hơn 10 vạn quân thuỷ bộ cùng voi ngựa đánh úp châu Hoá. Tướng trấn giữ biên thuỳ ở châu Hoá là bọn Phạm Văn Hiển đánh không nổi, phải dồn cả dân vào thành, rồi cho chạy thư cáo cấp.
    + Tháng 11, Vua đem 26 vạn tinh binh đánh Chiêm Thành. Trận này đánh tới Thị Nại, phá thành Chà Bàn, bắt Trà Toàn giải về kinh. Chia đất Chiêm Thành thành 3 nước.
    - 11/1471 Lại đi đánh Chiêm Thành. Bắt được chúa Trà Toại và bè lũ đem về kinh.
    - 12/1473 Đánh Sơn Man.
    - 9/1474: Lại đi đánh Sơn Man.
    - 1479
    + Tháng 8 Sai tướng thần đem 18 vạn quân, chia làm 5 đường [22b] đi đánh Ai Lao, Bồn Man và Lão Qua, đều phá tan cả. Trận này đánh tới sông Trường Sa, phía nam nước Miến Điện.
    + Tháng 12, Đánh Bồn Mang. Trận này nước Bồn Mang từ 9 vạn hộ chỉ còn 2000 dân, phải xin thần phục, sát nhập vào Đại Việt.

    ==> 12 vụ trong 37 năm, trung bình 3 năm/1 vụ/ Trong đó có những giai đoạn hoàn toàn hòa bình như nửa sau đời Lê Thánh Tông.

    Thời Lê Hiến Tông thì không thấy có ghi chép nào về các trận chiến.

    LÊ TÚC TÔNG (1504)

    - 9/1504: Bọn phản nghịch Đoàn Thế Nùng bị giết. Bấy giờ, Thế Nùng làm phản ở Cao Bằng, bị bắt cùng với bè đảng hơn 500 người, đều bị giết.

    ==> 1 năm 1 vụ.

    LÊ UY MỤC (1505 - 1509)

    - 4/1508 Người nước Hắc La La xâm nhập cửa ải Chu Thôn Điền. Vua sai Bắc quân đô đốc phủ Trần Thúc Mại làm Hữu du kích dinh Phó tướng, Phạm Nhất Ngạc làm Ký lục đi trước, sai Mỹ quận công Lê Quýnh làm Chinh Man tướng quân, mang ấn Chinh Man tướng quân, Đan Khê Bá Trịnh Hựu làm phó đề lĩnh đem quân các vệ Thần vũ, Hiệu lực, Điện tiền và quân các phủ Trung, Đông, Tây, Nam, Bắc chia thành 6 dinh, mỗi dinh 1 vạn người, lấy 3 nghìn người chở lương thực, đi đánh Hắc La La.
    - 8/1509: Quân của Giản Tu Công (tức vua Lê Tương Dực) tấn công kinh thành, giết Lê Uy Mục.

    ==> 2 vụ trong 4 năm, trung bình 2 năm/ 1 vụ (chủ yếu là các cuộc thanh trừng gia tộc của vua)

    LÊ TƯƠNG DỰC (1509 - 1516)

    - 1511
    + Tháng 2, Thân Duy Nhạc và Ngô Văn Tổng dấy quân ở các huyện Yên Phú, Đông Ngàn. Gia Lâm xứ Kinh Bắc. Có một nho sinh ở Yên Phú là Chu Thực, báo cho lưu thủ Đông Kinh Thuỵ quận công Ngô Bính và Kim Nguyên bá Trịnh Bá Quát, sai quân đi đánh phá được bọn chúng, bắt sống được bọn Duy Nhạc, Văn Tổng đóng cũi giải về Kinh sư
    + Tháng 11, Trần Tuân nổi dậy ở Sơn Tây
    - 1512
    + Tháng 1, sai võ tướng thống lĩnh binh tượng và Đỗ Nhạc làm tán lý quân vụ đi các vùng Sơn Tây và Hưng Hoá để đánh dẹp bọn phản nghịch Nguyễn Nghiêm.
    + Tháng 4, Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Minh Triệt làm loạn ở vùng Nghệ An. Vua sai bọn Khang quận công Trần Nghi và Đông các hiệu thư Trần Dực đi đánh không được, Lê Hy tiến quân đến Lôi Dương. Tháng 5, Trịnh Duy Sản chỉ huy quan quân phá tan quân Lê Hy.
    - 1515
    + Tháng 1, sai Thuỵ quận công Ngô Bính và Nguyên quận công Trịnh Duy Sản làm Đô tướng, Ngự sử đài thiêm đô ngự sử Nguyễn Khiêm Bính làm Tán lý quân vụ đi đánh Phùng Chương ở vùng núi Tam Đảo. Chương thua chạy.
    + Tháng 2, Thiều Khê bá Ngô Thứ nổi loạn bị giết.
    - 10/1515 Đặng Hân và Lê Hất làm loạn ở vùng huyện Ngọc Sơn, Thanh Hoa. Ngày 27, vua sai tướng thống lãnh binh sĩ, lấy Đỗ Nhạc làm Tán lý quân vụ đi đánh dẹp.
    - 1516
    + Tháng 1, Trần Công Ninh nổi loạn ở xứ đò Hối, huyện Yên Lãng. Ngày 23, vua đích thân đem các đại thần văn võ và đô đốc năm phủ đi theo. Quân ra cửa Bắc Thần, vua ngự ở hành tại bên sông Nhị Hà, ra lệnh cho các tướng qua sông tiến đánh, phá tan quân giặc, giết được rất nhiều.
    + Tháng 3, Thuần Mỹ điện giám Trần Cảo ở trang Dưỡng Chân, huyện Thuỷ Đường làm loạn. Tháng 4, Cảo đánh tới Bồ Đề. Vua đích thân đi đánh, Cảo chạy về Ngọc Sơn.
    + Trịnh Duy Sản giết vua, lập Lê Y lên ngôi. Trần Cảo nghe tin tiếp tục dấy binh, chiếm được Kinh thành. Vua (tức Lê Chiêu Tông) từ Tây Đô dãn quân ra Bắc, Trần Cảo thua, chạy về Lạng Nguyên.

    ==> 10 vụ trong 7 năm, trong bình 0,7 năm/1 vụ

    LÊ CHIÊU TÔNG (1516 - 1522)

    - 7/1517 An Hoà hầu Nguyễn Hoằng Dụ có hiềm khích với Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy, đóng quân chống nhau.
    - 1518
    + Tháng 7, Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Nguyễn Hiêu, Cao Xuân Thì (có sách chép là bọn Nguyễn Chi, Mã Cử) cùng họp với nhau ở chùa Yên Lãng, đem quân đánh vào sát kinh thành. Vua đang đêm, chạy sang dinh Bồ Đề ở Gia Lâm để tránh.
    + Tháng 9, Vua ở Bảo Châu, có Trình Chí Sâm, Nguyễn Thì Ung theo hầu, sai người đi dụ Nguyễn Hoằng Dụ. Hoằng được tin, bèn dem quân Thanh Hoa ra cứu nạn. Vua bèn sai Hoằng Dụ cùng với Mạc Đăng Dung đem các đạo quân Thanh Hoa và Sơn Nam chia đường tiến đánh bọn Nguyễn Áng, Nguyễn Kính ở Sơn Tây. Hoằng Dụ thua to, quân chết rất nhiều. Hoằng Dụ chạy xuống thuyền, tự liệu không đánh được, liền bãi binh lui về, chỉ để một mình Mạc Đăng Dung ở lại cầm cự với bọn Nguyễn Áng.
    - 1519
    + Tháng 1, vua ở hành dinh Bồ Đề. Trịnh Tuy làm cầu phao tiến quân, qua giữa sông để khiêu chiến. Vua sai đại tướng đánh phá, chặt đứt cầu phao, chém được tướng giặc Mai Dương bá. Tuy cùng với Lê Do rút về vùng Yên Lãng, Yên Lạc. Vua lại sai tướng đến đánh, bọn Tuy đang đêm kinh sợ trốn chạy.
    + Tháng 4, Giặc Xá ở đầu nguồn các xứ Thái Nguyên, Tuyên Quang nổi loạn, cướp bắt vợ con và của cải của dân chúng.
    + Tháng 7, Sai Mạc Đăng Dung thống lĩnh các quân thuỷ bộ vây Lê Do ở Từ Liêm, rồi phá đê cho nước vỡ vào quân Lê Do. Bọn Do và Nguyễn Sư chạy đến Ninh Sơn (tức Yên Sơn ngày nay), quan quân bắt được, giải về đem đi rao.
    - 6/1520 thổ tù xứ Thuận Hoá đuổi viên Tổng binh sứ Đoan Lương bá Phạm Văn Huấn, cướp lấy cả vợ con, của cải của Huấn. Bấy giờ, Văn Huấn đem nhiều con em đi theo, đổi đặt làm quan các vệ sở, quấy nhiễu dân địa phương, giết ngầm thổ tù các xã Võ Xá, An Truyền huyện Đan Điền là bọn Hồ Bá Quang 4 người. Vì thế, con em của Bá Quang đem hơn 4 nghìn người bản xứ đến vây bức thành trì, đuổi Văn Huấn đi.
    - 8/1521 vua ngự điện Quỳnh Vân, uý lạo Mạc Đăng Dung và các tướng sĩ ra vùng Kinh Bắc, Lang Nguyên lùng bắt Trần Cung.
    - 1522
    + Tháng 4, giặc cướp nổi lên ở Kinh thành, đốt phá phố xá trong nội thành. Vua sai Đông quân công Mạc Quyết, Quảng quận công Kiều Văn Côn cùng các tướng vào hầu túc vệ. Bọn Quyết và Văn Côn tâu xin cho con em dàn đóng ở ngoài thành, Kinh kỳ mới được yên.
    + Bảo Xuyên hầu Lê Khắc Cương và Lương Phú hầu Lê Bá Hiếu làm loạn, nổi quân ở vùng Đông Ngàn, Gia Lâm. Mạc Đăng Dung thân hành đem các tướng đi đánh không được, Phó đề hình Tứ thành quân vụ Trâu Sơn bá Lê Thị chết trận tại trận. Sau Bá Hiếu thua, chạy trốn lên Lạng Nguyên, bị bắt giải về Kinh sư.
    + Tháng 7, Vua cùng thân tín chạy ra ngoài, mưu đánh Mạc Đăng Dung. Tháng 10, quân của vua thất bại, bị bắt về Thanh Hóa
    + Tháng 11, Định Sơn hầu Giang Văn Dụ khởi binh ở các huyện Thanh Oai, Sơn Minh, Hoài An, Chương Đức. Nhân dân các huyện Thanh Đàm, Thượng Phúc, Phú Nguyên đều hưởng ứng. Liên Hồ bá Lê Văn Phúc cáo cấp với Mạc Đăng Dung. Đăng Dung còn đang đánh dẹp vùng Kinh Bắc, sai tỳ tướng đi đánh: Kiều Văn Côn từ Phú Nguyên tiến vào Thanh Oai, Mai Xuyên hầu Lê Bá Ký từ Thành Đàm tiến vào Chương Đức, Đông Sơn hầu Mạc Quyết từ Thanh Oai tiến vào Chương Mỹ, bốn mặt đánh kẹp vào, đánh phá tan quân Dụ, đuổi dài suốt đêm đến tận chân núi mới về.

    ==> 12 vụ trong 6 năm, trung bình 0,5 năm/ 1 vụ.

    LÊ CUNG HOÀNG (1522 - 1527)

    - 1524 Mạc Đăng Dung sai Mạc Quyết đem quân đi đánh Trịnh Tuy ở đầu nguồn Thanh Hoa.
    - 10/1525 Mạc Đăng Dung đi kinh lý các xứ, tự làm đô tướng, thống lĩnh các doanh quân thuỷ bộ cả nước đi đánh Trịnh Tuy ở đầu nguồn Thanh Hoa.

    ==> 2 vụ trong 5 năm, trung bình 2,5 năm/1 vụ

    NHẬN XÉT

    - Thời đại thịnh trị nhất là Lê Hiến Tông, không phải dụng binh lần nào.
    - Thời đại bất ổn nhất là Lê Chiêu Tông, 0,5 năm/1 vụ.
    - Từ sau thời Lê Uy Mục thì trong nước đại loạn, gần như quyền bính không còn trong tay vua nên các cuộc chiến chủ yếu là nội chiến
    - Tính chung cả thời Lê Sơ 99 năm (1428 – 1527) có 59 lần dụng binh, trong đó đánh nước khác là 18 trận.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Chiến tranh liên miêm thế này thì thời gian và hơi sức đâu àm làm ăn, đó có lẽ là một trong những nguyên nhân làm đất nước ta không phát triển lên được, hay có thể nói là chậm phát triển.

    Bài này cũng cho ta thấy lời của anh Minh Côông "dân tộc ta có truyền thống đoàn kết" là sai bét mà chính là truyền thống mất đoàn kết. Ngày nay Đảng CS phát huy "truyền thông mất đoàn kết" bằng cách phân biệt giữa đảng viên là người ngoài Đảng, giống Khơ me đỏ chia ra công dân loại 1 và công dân loại 2.

    Đất nước đã thống nhất gần 40 năm vì CS gây ra đau khổ cho người dân khi chúng có mặt nên trong dân vẫn còn có người có tư tưởng phân biệt Bắc - Nam, đó cũng là dạng biểu lộ chưa đoàn kết. Mây nhờ có phong trào đáu tranh dân chủ mọi người cùng một lý tưởng nên mới có mầm mống đoàn kết. Nếu đất nước thật sự dân chủ thì mối đoàn kết sẽ bền vững hơn giống như các nước dân chủ khác.

    Có bài viết có tít "Dân chủ có ăn được không?" Nếu họ hiểu về tác dụng lớn lao của một xã hội dân chủ thì họ tự hiểu "dân chủ không ăn được" nhưng dân chủ giải quyết được nạn đói, nói nôm na dân chủ như cái nồi nấu cơm, cái nồi thì không ăn được, nhưng không có cái nồi thì lấy cái gì nấu cơm để ăn.

    Mất đân chủ thì có thế xẩy ra chiến tranh, bài này cũng chỉ ra điều
    này trong lịch sử, lúc chế độ thối nát do quan chức o ép (một hình thức mất dân chủ thời phong kiến) thì người dân vùng lên đòi quyền sống.

    "Ôn cố tri tân", tình hình đất nước thế này mà Trọng Lú không đặt vấn đề cứu nước mà cứ tập trung vào vấn đề cứu Đảng (chỉnh đốn Đảng) thì đất nước có nguy cơ nguy khốn mà Đảng cũng chẳng còn.

    Một thống kê rất bổ ích. Thống kê này cho thấy vấn đề muôn thủa của người Việt thực ra là đấu tranh với nhau để duy trì sự thống nhất quốc gia, chứ không phải chống giặc ngoại xâm, nhất là giặc Tàu như nhiều sách sử muốn nhấn mạnh.
    Đồng thời chúng ta chỉ thường bị ngoại xâm khi trong nước hỗn loạn vì xung đột.