Bình Lê - Điểm tựa dân tộc

  • Bởi Admin
    26/09/2014
    1 phản hồi

    Bình Lê

    Mỗi dân tộc đều có điểm tựa để phát triển, thường là các giá trị cao đẹp mà những người lập quốc theo đuổi. Tuy nhiên, có những quốc gia thành công vì các giá trị này được thể chế hóa trong Hiến pháp, thực hành trong thực tế, và truyền cảm hứng trong đời sống. Có quốc gia thất bại vì các giá trị này không được thể chế hóa, điểm tựa dân tộc chỉ ở trong những cá nhân xuất chúng, khi họ mất đi thì dân tộc đó cũng mất đi điểm tựa của mình.


    Ảnh: Điểm tựa dân tộc là văn hóa, giá trị, tài sản hay lịch sử? (Nguồn: internet)

    Một điểm tựa vững chắc, nó cần phải có ba yếu tố. Thứ nhất, đó là sự đồng thuận toàn dân về những giá trị cốt lõi mà dân tộc đó muốn theo đuổi, thường là độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái, khoan dung. Thứ hai, điểm tựa phải là nguồn cảm hứng và được thực hành bởi từng công dân của quốc gia đó, không phân biệt gái trai, già trẻ, thành thị nông thôn, người có chức hay dân thường, người thiểu số hay đa số. Thứ ba, nó phải được bảo vệ bởi luật pháp nghiêm minh để những giá trị cốt lõi không bị ăn mòn bởi lợi ích của các nhóm cầm quyền. Ba yếu tố này không tách rời, mà nó hòa quyện với nhau, bổ trợ cho nhau tạo thành một nền tảng sống động và vững chắc cho mỗi xã hội, mỗi quốc gia phát triển.

    Nước Mỹ là một ví dụ điển hình có những người lập quốc đưa ra các giá trị tự do, dân chủ và bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền được sống, quyền tự do, và quyền sở hữu tài sản vào trong Hiến pháp. Chính vì vậy, Hiến pháp Mỹ đã truyền được cảm hứng cho người Mỹ, và nhận được sự ủng hộ rộng rãi, và sự tuân thủ chặt chẽ. Sau này, những tu chính bổ sung được thêm vào, chủ yếu nhằm bảo vệ tốt hơn quyền tự do của người dân, đặc biệt các quyền tự do báo chí, thông tin, và lập hội. Nước Mỹ đã phát triển thành một quốc gia hùng mạnh, tự do nhờ nền tảng giá trị được truyền lại từ những người lập quốc. Vì vậy, khi những người lập quốc mất đi, các giá trị điểm tựa vẫn được duy trì bởi người dân Mỹ.

    Ở Việt Nam, các giá trị mà chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi đã được thể chế hóa trong hiến pháp năm 1946, một hiến pháp nhấn mạnh đến các giá trị tự do, bình đẳng, dân chủ và tôn trọng quyền con người. Tiếc rằng những năm chiến tranh liên miên tiếp theo đã không tạo cơ hội cho những giá trị đó thấm vào lòng dân tộc, tạo ra văn hóa cũng như quốc khí cho đất nước. Sau 30 năm hòa bình người Việt Nam vẫn đang tìm kiếm các giá trị cốt lõi của mình. Chúng ta vẫn đang lấn cấn giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, vẫn bối rối giữa sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể, vẫn đang dập dình giữa dân chủ tự do và dân chủ tập trung. Chính vì vậy, chúng ta vẫn chưa có điểm tựa vững chắc, đồng thuận để tạo ra bàn đạp để phát triển đất nước.

    Không phải quốc gia nào cũng có những người lập quốc sáng suốt để kiến tạo điểm tựa đúng đắn cho dân tộc phát triển. Nhiều quốc gia tạo lập điểm tựa qua nhiều quá trình thử sai trong quá khứ. Sự phát triển của châu Âu là một ví dụ cho thấy con đường phát triển của nhân loại đã ngập tràn bạo lực, máu và nước mắt để hun đúc các giá trị phổ quát về kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, và xã hội dân sự tự do. Điều quan trọng, các quốc gia nhận ra thành tựu chung của loài người để dùng các giá trị này làm điểm tựa cho quốc gia phát triển.

    Việt Nam cũng cần xây dựng điểm tựa cho mình, một điểm tựa đúng đắn, vững chắc, và truyền cảm hứng cho tất cả mọi người. Việc xây dựng các Luật về tiếp cận thông tin, Luật về hội, Luật biểu tình, Luật về trưng cầu dân ý chính là bước tiến khởi tạo nền tảng để hiện thực các giá trị chung của nhân loại. Quá trình này cần tạo ra thảo luận xã hội cởi mở, khoan dung và bao trùm để ai cũng được tham gia, ai cũng được lên tiếng. Nếu không, chúng ta mãi phân tán, không hội tụ được để phát triển vì thiếu điểm tựa cho từng con người và cả dân tộc.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Để xác định những "điểm tựa dân tộc" thực sự không đơn giản như bài viết của Bình Lê. Những nhận định của về điểm tựa dân tộc tác giả đề cập trong bài chỉ là những cảm nhận chủ quan.

    Nếu thực sự chú tâm quan sát sự phát triển của Mỹ thì sẽ thấy những gì tác giả ca ngợi là "điểm tựa" đều là hệ quả hay biểu hiện của các động lực phát triển của Mỹ - chứ không phải điểm khởi đầu. Nước Mỹ phát triển được đầu tiên nhờ tài nguyên giàu có; sau đó nhờ khoa học kỹ thuật, luật, tổ chức nhà nước thừa hưởng từ Anh. Nước Mỹ trở thành cường quốc nhờ tinh thần tiên phong cá nhân, lối suy nghĩ cực kỳ thực dụng và thái độ đấu tranh không khoan nhượng nhằm bảo vệ lợi ích và tư tưởng của mình, không giáo điều, không ngừng đi tới mở rộng công việc của mình, tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề gặp phải.

    Với Việt Nam, nếu quan sát sự phát triển của dân tộc thì sẽ thấy điểm tựa lớn nhất của người Việt là khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh. Từ chuyện vua quan yếu kém, xã hội loạn lạc, nghèo đói, dân đông, không tiền bạc đất đai, giặc giã, loạn lạc... trong bất cứ hoàn cảnh nào người Việt cũng biết cách xoay xở để sinh tồn. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, trong một môi trường sống luôn chật hẹp thiếu thốn, người Việt luôn phân biệt rất rõ ràng ai là người "ngoài" ai là người "bên trong" cái "hệ sinh thái" giúp họ tồn tại. Người bên trong luôn phải trung thành, thành thực với những nguyên tắc của "hệ sinh thái" (trước là làng xã, dòng họ, phường nghề, nay là phe phái đối tác làm ăn) - nhưng không bao giờ bị chỉ trích nếu họ đối xử tệ với "người ngoài".

    Kết quả, sự phát triển của Việt Nam là sự bành trướng, mở rộng của các "hệ thống sinh thái" (như làng xóm ngày trước) cực kỳ bền vững, nhiều khi rất giàu có - nhưng chưa bao giờ tạo ra được kết cấu quốc gia mạnh mẽ, đồng nhất. Sự phát triển của Việt Nam cũng không giúp tạo ra những giá trị lớn cả về vật chất lẫn tinh thần vì các hệ thống sinh thái có xu hướng không hợp tác với nhau và không chịu tuân theo những nguyên tắc chung.

    Dù vậy, chống lại các "hệ sinh thái" của Việt Nam, nhất là chống lại một vài lợi ích hay tư tưởng chung của các nhóm này là điều không thể.

    Trong thời kỳ cách mạng, CS đã biết cách thống nhất các "hệ sinh thái" làng xã Việt Nam bằng cách đem đến cho họ những lợi ích chung mà họ hằng khao khát và do vậy tạo nên sức mạnh to lớn. Những lợi ích đó bao gồm: (1) sự hứa hẹn về tương lai giàu có tốt đẹp hơn; (2) quyền lực, danh tiếng niềm tự hào cho cá nhân, làng xóm dòng họ khi theo đuổi lý do chính đáng là đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ làng xóm, đất nước.

    Ngày nay, người Việt tiếp tục phân hóa và co cụm trong những "hệ sinh thái" mới muôn vàn hình dạng, nơi họ có thể nhận được giúp đỡ từ các mối quan hệ lợi ích bền chặt. Ở nhiều nước, bao gồm cả Mỹ, thất nghiệp là chuyện vô cùng hệ trọng. Ở Việt Nam miễn sao ở trong "hệ sinh thái" mạnh là chẳng phải lo lắng nhiều về việc làm hay kế sinh nhai: "Một người làm quan cả họ được nhờ"...

    Dù đây là sức mạnh giúp người Việt có thể tồn tại và phát triển ở bất kỳ đâu và trong bất kỳ hoàn cảnh nào - điều dở của nó là tư tưởng cục bộ, ưu ái thân quen này hạn chế tính hiệu quả của các cỗ máy kinh tế, quản lý, sáng tạo - vì nguồn lực phát triển chỉ được giới hạn các nhóm cục bộ.

    Có thể, loại bỏ đi đặc quyền đặc lợi của các nhóm sẽ làm vô hiệu hóa vai trò của những nhóm "sinh thái" với các cá nhân. Có điều đó là điều cuối cùng các nhóm "sinh thái" mong muốn. Thực tế họ dễ dàng điều đình để phân chia quyền lợi với nhau hơn là cùng nhau bỏ đi các đặc quyền đặc lợi. Thủ lĩnh mỗi nhóm "sinh thái" có sự tôn thờ và mong chờ của rất nhiều tầng lớp con cháu thân tín bên dưới; họ không dễ dàng thả cho con cháu thân tín của mình trở nên bơ vơ mất nơi nương tựa; họ không dễ bỏ đi sự tôn sùng cho mình.