Michael Spence - Bất công có lợi hay hại cho tăng trưởng?

  • Bởi Mắt Bão
    19/09/2014
    13 phản hồi

    Michael Spence
    <br/>
    Đỗ Kim Thêm dịch


    Michael Spence

    Tình trạng bất công về thu nhập và thịnh vượng ngày càng gia tăng trong một vài nước trên thế giới là một xu hướng từ hơn ba thập niên qua và trào lưu này sẽ còn kéo dài. Nhưng từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 người ta chú ý thấy vấn đề này trầm trọng hơn: Khi tăng trưởng chậm lại thì tình trạng bất công tăng hơn.

    Lý thuyết “cổ điển“ về bất công cho là thông qua hệ thống thuế khóa sự tái phân phối đã làm giảm những khích lệ năng động và tăng trưởng kinh tế. Nhưng mối quan hệ giữa bất công và tăng trưởng rất phức tạp và có nhiều chiều hướng hơn là chỉ có xung đột giữa các mục tiêu theo đuổi. Vì có nhiều cách gây ảnh hưởng và cơ chế tạo phản ứng nên việc kết luận chung quyết cho vấn đề càng khó khăn.

    Thí dụ như hiện nay Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai nền kinh tế chính yếu đang tăng trưởng nhanh nhất. Cả hai nước có cùng một tình trạng tương tự là bất công trong thu nhập ngày càng cao và lan rộng hơn. Dù đứng trước tình hình này người ta cũng không nên kết luận là tăng trưởng và bất công không quan hệ gì nhau hoặc là có ảnh hưởng tích cực cho nhau. Khi cho rằng tình trạng bất công là bất lợi cho tăng trưởng, lối tuyên bố hàm hồ này không phản ảnh được thực tế.

    Hơn thế, trên bình diện toàn cầu, tình trạng bất công suy giảm khi các nước đang phát triển thịnh vượng - dù ngay trong trường hợp mà bất công có tăng lên trong nội bộ của vài nước tiền tiến hay đang phát triển. Suy nghĩ này có vẻ không hợp với trực giác, nhưng nó tạo nên ý nghĩa. Xu hướng chủ đạo trong nền kinh tế toàn cầu là tiến trình hội nhập mà nó khởi diễn từ sau Đệ nhị Thế chiến. Một phần lớn trong 85% của dân chúng trên thế giới sống tại các nước đang phát triển chứng kiến được lần đầu tiên có được một sự tăng trưởng bền vững thực sự và nhanh chóng. Khuynh hướng chung trên toàn cầu áp đảo được một khuynh hướng về tình trạng bất công nội địa đang gia tăng.

    Tuy nhiên, kinh nghiệm trong nhiều nước cho thấy là tình trạng bất công cao độ ngày một lan rộng, có thể đem tác hại thực sự cho tăng trưởng, mà đặc biệt nhất là vấn đề thiếu công bình trong các cơ hội. Một lý do giải thích cho vấn đề này là vì tình trạng bất công làm giảm đi sự đồng thuận trong xã hội và chính trị với các chiến lược và chính sách hướng về tăng trưởng. Tình trạng này đưa tới việc ngưng trệ, xung đột hoặc là ít có chính sách để chọn lựa. Bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm này là vì các tầng lớp bên dưới trong xã hội bị loại bỏ một cách có hệ thống qua các quyết định chuyên quyền (thí dụ như dựa trên tiêu chuẩn sắc tộc hay tôn giáo), việc này làm tác hại đặc biệt đến chiều hướng công bình.

    Năng động giữa hai thế hệ là một dấu hiệu quan trọng cho tình trạng công bình trong cơ hội. Bất công về kết quả càng gia tăng không nhất thiết dẫn đến mức suy giảm về năng động giữa hai thế hệ. Nếu có giảm hay không, tình trạng này hoàn toàn tùy thuộc mức độ sữ dụng các phương tiện quan trọng hỗ trợ cho công bình cơ hội có được phổ cập cho tất cả mọi người hay không, mà chủ yếu là giáo dục và y tế. Thí dụ, nếu những hệ thống giáo dục công cộng bắt đầu suy sụp, hệ thống này bị thay thế bởi một hệ thống tư nhân, mà họ ở trên thượng tầng của tái phân phối lợi tức. Việc thay thế này có hậu quả tác hại cho cho năng động giữa hai thế hệ.

    Giữa bất công và tăng trưởng cũng có những mối quan hệ khác. Tình trạng bất công cao độ trong thu nhập và thịnh vượng (thí dụ như một phần lớn tại Nam Mỹ và châu Phi) thường dẫn tới ảnh hưởng khác nhau trong chính trị và chiều hướng này đang đẩy mạnh. Thay vì nỗ lực khởi động cho những mô hình tăng trưởng dành cho mọi giới, chính giới cố bảo vệ của cải và tìm cách giử ưu thế để thủ lợi cho giới nhà giàu. Nói chung, hành vi này có nghĩa là các luồng mậu dịch và đầu tư không được mở rộng, bởi vì nó sẽ gây có nhiều cạnh tranh ngoài luồng mà họ không muốn.

    Tình trạng này cho thấy là tất cả các bất công về kết quả không nhất thiết phải được xem xét một cách giống nhau. Bất công bắt nguồn từ việc tìm kiếm đặc lợi để thâm nhập và khai thác các tài nguyên và cơ hội trong thị trường, đây là vấn đề cực kỳ tác hại đến tình liên đới xã hội và tình trạng ổn định - và chính vì thế mà nó làm hại đến các chính sách v ề tăng trưởng. Trong một môi trường chung hướng về thành quả, kết quả này thường được xem là lành mạnh khi dựa trên tinh thần sáng tạo, canh tân hay những tài năng vượt bực và người ta tin là sẽ có ít hậu quả tác hại.

    Đó chính là một phần lý do tại sao chiến dịch bài trừ tham nhũng hiện nay tại Trung Quốc là quá quan trong, đây là một thí dụ. Vấn đề không phải là vì tình trạng bất công tương đối cao độ tại Trung Quốc, nhưng xung đột xã hội là do những người trong nội bộ có ưu quyền thâm nhập thị trường và trao đổi. Chính họ là những người đe doạ đến tính chính thống và hiệu năng lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

    Tại Hoa Kỳ, có một vấn đề phức tạp mà chưa được sáng tỏ: Trong mức độ nào mà sự gia tăng bất công về thu nhập trong hơn ba thập niên qua là do thay đổi công nghệ và toàn cầu hoá (cả hai trào lưu này tạo thuận lợi cho giới người có trình độ học vấn và kỹ năng cao) và trong chừng mực nào bất công là do đặc quyền thâm nhập của chính giới trong tiến trình tạo lập chính sách? Tuy nhiên, có hai lý do quan trọng để đặt ra vấn đề này. Thứ nhất, các đối sách là khác biệt; thứ hai, những hiệu năng thuộc về tình đoàn kết trong xã hội và sự khả tín về một kết ước xã hội cũng khác biệt.

    Tăng trưởng nhanh chóng là cần thiết. Trong một bối cảnh tăng trưởng cao độ mà thu nhập tăng cho hầu hết tất cả mọi người, thì người ta sẽ chấp nhận tình trạng bất công gia tăng tới một điểm mà quan trong nhất là nếu bất công xãy ra trong một bối cảnh chủ yếu dựa tài năng và thành quả. Trong một bối cảnh tăng trưởng yếu kém, (hay tệ hơn, không có tăng trưởng), tình trạng bất công gia tăng nhanh chóng có nghĩa là nhiều người không có thu nhập hay mất hẳn nền tảng sống theo ý nghĩa tương đối hay tuyệt đối.

    Hậu quả cho tình trạng bất công trong thu nhập ngày một tăng cao có thể mở lối cho chính giới tới một con đường nguy hiểm: sử dụng nợ công, đôi khi kết hợp với việc thổi phòng giá bong bóng trong tài sản, để duy trì mức tiêu thụ. Họ lập luận là tình trạng này đã xãy ra vào những năm 1920, trước thời kỳ Đại Suy thoái; chắc chắn một điều, tình trạng đã xãy ra tại Hoa Kỳ (và tại Tây Ban Nha và Vương Quốc Anh) trong thập niên trước khủng hoảng 2008.

    Nhìn tại châu Âu có một sự biến dạng của tình hình này là nhà nước phải dùng tiền vay nợ để thoả mản nhu cầu và giải quyết vấn đề kiếm hụt trong nhân dụng, những vấn đề này phát sinh do sức cầu hải ngoại và nội địa của tư nhân suy yếu. Đó là một đối sách không phù hợp, bởi vì vấn đề nhân dụng có quan hệ đến năng xuất và cạnh tranh, và tình trạng lại trầm trọng hơn vì qua một loại tiền tệ chung.

    Có những quan ngại tương tự về việc gia tăng nhanh chóng về tỷ lệ nợ công tại Trung Quốc. Có lẽ nợ công giống như một đường lối phản ứng tối thiểu liên hệ đến những hậu quả của tình trạng bất công hay tăng trưởng chậm. Nhưng cũng có những phương hướng tốt hay xấu để xử lý với tình trạng bất công đang gia tăng. Nợ công là một trong các phương sách tồi tệ nhất.

    Chúng ta đang ở đâu và làm gì? Theo tôi, những nhiệm vụ có tầm mức ưu tiên đã rõ nét: Trong ngắn hạn, ưu tiên khẩn thiết nhất là trợ giúp lợi tức cho người nghèo và thất nghiệp. Họ là nạn nhân trực tiếp của khủng hoảng cũng như tệ trạng bất công và các vấn đề thuộc về cấu trúc. Việc san bằng cần nhiều thời gian. Thứ hai, đặc biệt nhất là đối với tình trạng bất công về thu nhập đang gia tăng, phổ cập việc sử dụng các dịch vụ công cộng có phẩm chất cao là chủ yếu, nhất là trong lĩnh vực giáo dục

    Kết hợp mọi người để duy trì tình trạng đoàn kết xã hội và chính trị - và nhờ thế tăng trưởng thật là cần thiết để làm giảm bớt hậu qủa của tình trạng bất công đang tăng cao. Có nhiều đường lối làm nền kinh tế tụt hậu hơn so với tiềm năng tăng trưởng, nhưng đầu tư không đúng mức trong phạm vi công là một trong những nguyên nhân chính yếu và phổ biến nhất.

    Michael Spence đoạt giải Nobel Kinh tế, Giáo sư Kinh Tế học tại NYU Stern School of Business. Ông cũng là tác giả cuốn The Next Convergence - The Future of Economic Growth in Multispeeed World.
    ---------------------------------------------------------------------

    Nguyên tác: Good and Bad Inequality

    http://www.project-syndicate.org/commentary/michael-spence-asks-whether-disparities-of-income-and-wealth-help-or-hurt-prospects-for-economic-growth

    Tựa đề bản dịch là của ngưòi dịch

    Bài liên quan: Kim Them Do (2012), Idee der Gerechtigkeit und öffentlicher Vernunftgebrauch in einer demokratischen Gesellschaft, Rechtstheorie: Vol. 43, No. 2, pp. 241-249.

    http://ejournals.duncker-humblot.de/doi/abs/10.3790/rth.43.2.241

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    Đang có mấy phút rảnh, xin góp thêm một ý nữa.

    Đó là thiết nghĩ chúng ta nên lưu ý đến sự khác nhau giữa BẤT CÔNG và BẤT BÌNH ĐẲNG trong Việt Ngữ, và giữa những từ UNFAIR, UNJUST, và INEQUALITY trong Anh ngữ.

    Nói chung thì BẤT CÔNG, hay UNJUST, UNFAIR không luôn đồng nghĩa với BẤT BÌNH ĐẲNG, hay INEQUALITY. Đối với người Anh Mỹ thì thông thường họ phân biệt rạch ròi sự khác nhau giữa UNJUST, UNFAIR với INEQUALITY.

    Trên thực tế có vô số thí dụ cho sự khác biệt nói ở trên; có nhiều trường hợp bất bình đẳng ( inequality),hoặc về kinh tế, hoặc về địa vị xã hội, không gây cho mọi người cảm tưởng về sự bất công (unfair).

    Vì không tiện để phân tích sâu hơn về sự khác nhau giữa BẤT BÌNH ĐẲNG (inequality) và BẤT CÔNG (unfair, unjust)nên chỉ xin nói vắn tắt như vậy để cùng trao đổi.

    Thật tình, lúc đầu khi đọc bài dịch tiện nhân đã hơi ngờ ngợ rằng có thể dịch giả đã vô tình lẫn lộn giữa hai từ nêu trên, cả Việt lẫn Anh ngữ. Nhưng vì nghĩ rằng do luật copyright, chắc dịch giả, thường là một certified translator, đã được sự đồng ý của tác giả để dịch như vậy, ngay cả đổi đầu đề, và Dân Luận hẳn cũng đã checked trước khi đăng, nên không dám thắc mắc.

    Nay sau khi đọc một số góp ý thấy rằng phần đông độc giả dường như cũng đã tỏ ra không mấy lưu tâm đến sự khác biệt vừa nói nên xin mạo muội nêu ra như vậy. Nếu có gì không phải xin mọi người vui lòng thể tất cho.

    Do trình độ khoa học mà châu Âu đã lãnh đạo văn minh thế giới. Ngày nay, châu Âu đang tàn lụn vì bốn trụ cột nền tảng là dân chủ đại nghị, kinh tế thị trường, thể chế pháp quyền và xã hội dân sự không còn đứng vững. Dân chủ không còn dựa trên căn bản hợp đồng giữa người dân và chính quyền. Quy luật kinh tế thị trường chuyển biến cực kỳ phức tạp và không thể kiểm soát nên gây xáo trộn cơ chế vận hành. Dù thể chế pháp quyền là để bảo vệ công bình xã hội, nhưng luật pháp trở nên quá chuyên môn làm cho tranh tụng cực kỳ tốn kém và công lý là món hàng đắt giá. Xã hội dân sự không còn năng động cải cách, vì con người thờ ơ trước các biến chuyển thời cuộc và các nhóm lơị ích áp lực nặng nề hơn.

    Châu Âu còn suy trầm kinh tế, nợ công chồng chất, dân số lão hoá và thái độ vị kỷ của con nguời. Đó là nguyên nhân không đem đến ổn định trong hiện tại và công bình cho tương lai.

    Mức độ bất công xã hội ít gay gắt vì có các chế độ an sinh về y tế và giáo dục theo mô hình nhà nước phúc lợi, nhưng hiện nay là một gánh nặng công phí khó giải quyết. Khuynh hướng Mỹ hoá (bảo hiểm sức khoẻ tư, đại học tư dành cho giới giàu có) đang gây thêm tác hại.

    Dù châu Âu có cảnh tỉnh là cải cách càng bức thiết hơn bao giờ hết, nhưng phân hoá trong cơ chế châu Âu qúa dân chủ, đến độ phức tạp và thiếu hiệu năng, nên làm tình hình trầm trọng hơn nếu so với Hoa Kỳ.

    Niềm tin của dân chúng vào khả năng của chính giới châu Âu không còn. Không ai có thể thuyết phục người Đức và Pháp đóng thuế nhiều hơn để họ bằng lòng trả nợ cho Hy Lạp và nuôi người già Ba Lan. Không ai có thể thuyết phục được giới trẻ Tây Ban Nha về một tương lai trong công ăn việc làm sau khi tốt nghiệp. Không ai có thể thuyết phục thuyền nhân châu Phi đừng đến Ý vì sẽ có nhiều chương trình viện trợ phát triển hữu hiệu hơn cho châu Phi.

    Tháng 7 2014, Liên Âu đề ra một chương trình mới với trị giá 450 tỳ Euro để cải cách mà chủ yếu là đầu tư vào khu vực công. Thay vì tập trung về xây dựng cơ sở hạ tầng như trước đây, đợt cải cách này hường về quân bình các mục tiêu gồm có tài nguyên nhân lực, nhân dụng, cơ sở công nghiệp, nền kinh tế thiên về tri thức, công nghệ thông tin v..v.

    Khó khăn còn nhiều vì muốn cải cách phải có tiền tài trợ các biện pháp. Đầu tiên là tăng thuế vào giới nhà giàu để có nhiều tiền và giảm thuế giới nhà nghèo để lấy nhiều phiếu và tăng thêm sức mua. Nhưng nhà giàu thì trốn thuế sang các nước khác. Tăng lương, giàm thuế cho công nhân thì chủ doanh nghiệp chạy sang các nước có nước lương thấp, triển vọng đầu tư mới không còn và sức mua giảm vì phải tiết kiệm nhiều hơn.

    Bất ổn xã hội kéo dài. Mọi nỗ lực san bằng công bằng xã hội bị trì trệ và không ai biết châu Âu sẽ đi về đâu, kể cả chính giới.

    ...
    In July, the European Commission published its sixth report on economic, social, and territorial cohesion (a term that can be roughly translated as equality and inclusiveness). The report lays out a plan for substantial investment – €450 billion ($583 billion) from three European Union funds – from 2014 to 2020. Given today’s difficult economic and fiscal conditions, where public-sector investment is likely to be crowded out in national budgets, this program represents a major commitment to growth-oriented public sector investment.
    ...
    Governments could raise taxes to cover a larger fraction of the required expenditures. But that is not likely to help growth, and it imposes the burden on the workforce and the young who are trying to enter it, a valuable subset of whom are mobile and could simply leave. Likewise, issuing more debt to cover the portion of liabilities coming due would merely shift the composition of liabilities without reducing them.
    ...
    Europe has a real chance to conclude a bargain: member countries implement fiscal and structural reforms in exchange for short-run relaxation of fiscal constraints – not to increase liabilities, but to focus on growth-oriented investments to jump-start sustained recovery. Private investors would take note, accelerating the recovery process. The challenge now is to seize the opportunity.

    Read more at http://www.project-syndicate.org/commentary/michael-spence-calls-for-eurozone-members-to-cut-public-sector-liabilities-while-hiking-public-sector-investment#QAroeoakOxYUyT1w.99

    Gia sản kết sù của Bill Gate hay Steve Job không tạo ra một cảm tưởng bất công cho bất cứ ai, vì đó là kết qủa của tinh thần sáng tạo, tài năng chuyên mộn và quan trọng nhất là có đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội. Họ cũng chấp nhận cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Do đó, bất công này có lợi cho tiến trình tăng trưởng kinh tế

    Gia sản kết sù của lành đạo Việt Nam là một trường hợp ngược lại. Họ không thể chứng tỏ có tài năng vượt bực, mưu sinh liêm chính, sống tiết kiệm và đóng góp cho xã hội. Nhờ cơ chế độc đảng mà họ chiếm ưu quyền và trục lợi cho cá nhân và gia tộc. Trong khi đó, nhiều người có khả năng lại không có cơ hội thăng tiến. Do dó, bất công trong cơ hội gây hại cho toàn xã hội và cho tiến trình cạnh tranh để tăng trưởng. Tình trạng bất công tại Việt Nam qúa hiển nhiên mà cụ thể là đời sống của nông dân khi so với lãnh đạo công ty thu mua lương thực.

    Hoa Kỳ, Trung Quốc và Việt Nam có một điểm bất công giống nhau là vấn đề giaó dục và y tế. Cả hai, do cơ chế thị truòng cạnh tranh, trở thành một cái giá phải trả qúa mắc nên chỉ có nhà giàu là có khả năng. Chuyện Nguyễn Bá Thanh đi Mỹ trị bịnh là một bằng chứng về bất công trong y tế. Con cháu lãnh đạo và đại gia sang các nước phương Tây để học là một bằng chứng bất công về giaó dục. Nông dân và công nhân không đủ tiền sống thì làm sao trị bệnh tại Việt Nam hay cho con đi học ngoại quốc. Tình trạng này gây công phẩn trong xã hội và có hại cho tăng trưởng kinh tế

    Khuyến cáo của Spence về việc trợ cấp cho nạn nhân của bất công, đầu tư đúng mức cho hai lĩnh vực y tế và giáo dục không mới lạ cho trường hợp Việt Nam. Lãnh đạo đã hiểu nguy cơ bất công này, nhưng vấn đề là họ không làm vì muốn giử ưu quyền cho con cháu họ và duy trì tư bản thân tộc.

    Cũng có phần ngạc nhiên khi thấy trước một đề tài thời sự hấp dẫn này liên quan đến sự bất bình đẳng kinh tế mà lượng góp ý của độc giả có phần thưa thớt quá. Có vẻ như chúng ta ưa " đấu nhau" với những bài viết của người Việt, viết về các đề tài quen thuộc, hơn là " đụng " vào bài của mấy ông Tây, nhất là khi ông ta lại là một người được giới thiệu trang trọng là từng nhận giải Nobel, viết về những vấn đề tương đối mới một chút!

    Ở Mỹ, và có lẽ ở nhiều nơi khác, mọi đề tài đều luôn chia hai phe Pros và Cons. Vấn đề bất bình đẳng kinh tế (economic inequality) không ra ngoài thông lệ đó.

    Phiá Pros, một cách rất vắn tắt, cho rằng sự bất bình đẳng kinh tế không hoàn toàn xấu, nó có một số ưu điểm như khuyến khích doanh nhân tích cực hoạt động hơn; thôi thúc mọi người nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng,nhờ đó năng suất chung của xã hội tăng, do đó thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế (Growth). Do quan niệm như vậy, phía này chủ trương không tăng thuế đối với giới giàu và có lợi tức cao (income, bởi cho rằng làm vậy là làm nhụt nỗ lực vươn lên của mọi người.

    Phía Cons, trái lại cho rằng bất bình đẳng kinh tế là điều có hại cho mối liên kết xã hội, tạo ra mầm móng cho sự bất ổn xã hội, làm trầm trọng sự phân hoá giai cấp. Về mặt kinh tế, phía này cho rằng bất bình đẳng kinh tế gia tăng sẽ khiến giai cấp trung lưu bị thu hẹp, mức cầu tổng quát giảm (decreased aggregate demand), dẫn đến giảm tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, phiá này cũng cho rằng bất bình đẳng kinh tế là đồng nghĩa với bất công và phi đạo đức.

    Tất nhiên mỗi bên đều có lý của họ; đều cố để biện minh cho một thực tế ít nhiều gây khó chịu đối với bất kỳ ai quan tâm đến sự an nguy chung.

    Thực tế là ở Mỹ, theo nhiều thống kê chính thức năm 2011, 20% dân số giàu nhất có tổng lợi tức (income) chiếm đến hơn 50% tổng lợi tức của toàn xã hội; trong khi đó 20% nghèo nhất chỉ chiếm được có 3.4% trong tổng lợi tức đó.

    Số liệu năm 2010 cho thấy rằng 1% dân số giàu nhất của Mỹ chiếm đến 35.4% tổng tài sản (Wealth) cả nước; trong khi 99% dân số còn lại chỉ chiếm được 64.6% của tổng tài sản đó!

    Nhìn ra toàn thế giới thì mức bất bình đẳng kinh tế còn lớn hơn khá nhiều. Vài số liệu sau đây nói lên điều đó:

    50% dân số thế giới chỉ có lợi tức 2.5 dollars/ngày
    30% dân thế giới có lợi tức từ 2.5 đến 10dollars ngày.
    Trong khi đó bình quân người Mỹ có 115 dollars/ngày!

    Các định chế quốc tế thường dùng một chỉ số, gọi là chỉ số GINI, để đo lường mức độ bất bình đẳng kinh tế của các quốc gia.Chỉ số đó tính từ 0 (tuyệt đối bình đẳng) đến 1 (tuyệt đối bất bình đẳng). Mỹ và Trung Quốc có Gini Co-efficient gần bằng nhau, khoảng 0.46-0.47. Đó là điều thú vị bởi vì một bên là đại biểu của phe tư bản, bên kia là nước Cộng Sản, nhưng cả hai đều có mức bất bình đẳng kinh tế gần bằng nhau!

    Đại để tình hình là như vậy.

    Trở lại bài của ông Spence, mà nguyên đầu đề là Good and Bad Inequality, nghĩa là Bất Bình Đẳng Tốt và Bất Bình Đẳng Xấu thì, rất vắn tắt, ông này cho rằng bất bình đẳng không hẳn là xấu hoàn toàn, miễn sao xã hội được đặt trên nền tảng một meritocratic system, hệ thống trong đó mọi người chỉ được tuyển chọn và vươn lên do chính tài năng hay năng lực thực tế của mình, chứ không do các ưu thế chính trị-xã hội thủ đắc được do thừa kế hay ảnh hưởng phe nhóm.(People will accept rising inequality up to a point, particularly if it occurs in a context that is substantially meritocratic.

    Điều khác nữa là Spence cho rằng sự bất bình đẳng kinh tế có liên quan đến sự tăng trưởng kinh tế, và nhìn chung, nếu mọi người đều bình đẳng về cơ hội, thì bất bình đẳng kinh tế thường tốt cho sự tăng trưởng. Theo Spence thì sự bình đẳng cơ hội (equality in opportunity)thể hiện thông qua hiện tượng gọi là inter-generational mobility, theo đó sự thay đổi điạ vị kinh tế-xã hội giữa các thế hệ diễn ra nhanh. (nhanh hơn nữa là hiện tượng intra-generational mobility, nghiã là sự thay đổi điạ vị kinh tế-xã hội ngay trong từng thế hệ). Căn bản cho sự bình đẳng cơ hội là giáo dục và y tế; nếu giới trẻ đều có đồng đều cơ hội trong hai lãnh vực đó thì sự bình đẳng cơ hội mới được thực hiện.

    Luận điểm khác của Spence là rằng quá trình hội tụ (convergence) của nền kinh tế toàn cầu đã giúp giảm mức bất bình đẳng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển.

    Những luận điểm của Spence không hẳn đã hoàn toàn thuyết phục bởi nhiều lý do.

    Thứ nhất là vì, Spence đã bỏ qua mối quan hệ giữa kinh tế và quyền lực chính trị. Người giàu chắc chắn có quyền lực chính trị lớn hơn người nghèo, tuy rằng trên danh nghĩa thì mỗi người một phiếu, nhưng trên thực tế của quá trình làm chính sách ở Mỹ thì rõ ràng chỉ có giới giàu, với thu nhập cao và tài sản lớn, mới có ảnh hưởng quyết định lên các chính sách,còn người nghèo thì...còn lâu. Ngay cả việc bầu phiếu cũng vậy, với chế độ plurality, winners take all, và electoral college thì số phiếu phổ thông của cá nhân công dân đôi khi chẳng có trọng lượng chút nào, bằng cớ là Al Gore thắng George Bush nửa triệu phiếu phổn thông, vẫn đã không thắng cử được.

    Thứ hai là về bình đẳng cơ hội. Ở Mỹ người ta hô hào nhiều về điều đó, nhưng trên thực tế vẫn còn vô số rào cản đối với giới trẻ nghèo trong lãnh vực giáo dục và bảo hiểm y tế. Trẻ nghèo ở khu phố nghèo thì trường học cũng nghèo, bởi phần lớn ngân sách của các khu học chánh là dựa trên thuế điạ ốc (property taxes), nghiã là khu nào có nhiều nhà cao cửa rộng, thuế thu nhiều hơn thì ngân sách khu học chánh đó dồi dào hơn. Đó là chưa kể hệ public school thì không bằng private schools.

    Trên tầm mức toàn cầu, thì luận điểm của Spence cũng không vững. Toàn cầu hoá kinh tế, về căn bản, vẫn nằm dưới sự chi phối của các quốc gia giàu có, trong đó Mỹ là kẻ đứng đầu. Ba cột trụ kinh tế thế giới hiện nay là WTO, World Bank, và IMF vẫn ở trong sự kiểm soát của khối 20 nước giàu nhất. Bất bình đẳng kinh tế Bắc-Nam vẫn còn đó, các nước đang phát triển vẫn mang khối nợ khổng lồ với các nước phát triển. Tuy, nếu dùng GDP để đo lường thì một cách biểu kiến các nước đang phát triển đã tăng trưởng đáng kể, nhưng sự tăng trưởng đó chắc chắn không phải là do sự kích thích của sự bất bình đẳng kinh tế mà ra.

    Tắt lại, quan điểm của Spence rõ ràng thuộc về phía những người bào chữa cho hiện trạng (status quo)về sự bất bình đẳng kinh tế trầm trọng của xã hội Mỹ, một hiện trạng gắn liền với chế độ thường được một số học giả gọi là extremist capitalism. Thế thôi!

    Xin góp vài ý mọn như vậy để cùng khơi lên sự trao đổi về một đề tài khá quan trọng, không chỉ cho các nước, mà còn cho ngay cả Việt Nam hiện nay, nơi mà sự bất bình đẳng kinh tế-chính trị ngày càng trầm trọng, gây phân hoá sâu xa trong nội bộ dân tộc, có ảnh hưởng nguy hại cho nỗ lực quốc phòng chung.

    Trích dẫn:
    Nhìn tại châu Âu có một sự biến dạng của tình hình này là nhà nước phải dùng tiền vay nợ để thoả mản nhu cầu và giải quyết vấn đề kiếm hụt trong nhân dụng, những vấn đề này phát sinh do sức cầu hải ngoại và nội địa của tư nhân suy yếu. Đó là một đối sách không phù hợp, bởi vì vấn đề nhân dụng có quan hệ đến năng xuất và cạnh tranh, và tình trạng lại trầm trọng hơn vì qua một loại tiền tệ chung.

    Vấn đề chính của EU là nạn thất nghiệp cao đưa tới việc tầng lớp giai cấp trung lưu (làm việc văn phòng, kỹ nghệ) thu hẹp dần. Tạo ra hậu quả cho tình trạng bất công trong thu nhập ngày một tăng cao.

    Các đề nghị thường nghe để giải quyết là :
    -tiết kiệm công
    -nâng cao tăng trưởng
    -kiểm soát và đánh thuế
    -khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nội địa

    Tôi nghĩ phải nghiên cứu kỹ (trong lý thuyết và thực tế xã hội) và kết hợp cả ba đề nghị này, ... không dễ đâu

    http://ec.europa.eu/commission_2010-2014/tajani/priorities/reindustrialisation/index_en.htm

    "Industry is at the heart of Europe and indispensable for finding solutions to the challenges of our society, today and in the future. Europe needs industry and industry needs Europe. We cannot continue to let our industry leave Europe. Our figures are crystal clear: European industry can deliver growth and can create employment. That is why we have adopted a detailed strategy for the re-industrialisation of Europe."

    Kính bác Đỗ Kim Thêm
    Cảm ơn bác đã dẫn đường link các bài viết và dịch của bác về luật và chính trị.

    bác Đỗ Kim Thêm chuyên ngành chính trị và luật, nhưng thích dịch thuật về kinh tế. Sắp tới đây, bác có thể viết về các đề tài chính trị và luật không?

    Sau 1954, trong CCRĐ Đảng/Nhà Nước đã lấy ruộng của Địa Chủ chia cho Bần Cố Nông, rồi tiếp đó lại vận động Bần Cố Nông góp ruộng vào hợp tác xã nông nghiệp.

    Sau 1975, Đảng/Nhà Nước quốc hữu hóa đất đai qua hình thức "sở hữu toàn dân" - đồng nghĩa không người dân nào có quyền sở hữu, nhưng ngược lại Đảng/Nhà Nước có quyền tối hậu quyết định "ai có quyền sử dụng đất" trong cả nước.

    https://www.youtube.com/watch?v=C7KAuhj4zj8 @ 8':48" cơm trắng chan nước phích, nhưng thế đã là một bữa ăn ngon!

    Forbes: Phạm Nhật Vượng là tỷ phú USD duy nhất tại Việt Nam

    Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, Phạm Nhật Vượng, hiện đang nắm giữ vị trí 1.074 với số tài sản 1,7 tỷ USD trong danh sách tỷ phú của Forbes.
    Theo báo cáo ngày 18/9 của Forbes, tổng tài sản của tỷ phú người Việt 46 tuổi này đã tăng 100 triệu USD so với hồi tháng 3/2014. Điều này cũng giúp ông vượt qua 18 tên tuổi khác trong bảng xếp hạng mới nhất của tạp chí này.

    Phạm Nhật Vượng.
    Tuy nhiên, vị trí này được cho vẫn còn kém xa so với thời điểm năm 2013 khi ông đứng ở vị trí 974 trong danh sách dù tài sản ròng chỉ là 1,5 tỷ USD.
    Trong nửa năm qua, ông Phạm Nhật Vương đã tăng tài sản của mình thông qua sự kết hợp của việc bán tài sản, cho vay, trả cổ tức bằng cổ phiếu tư nhân để tài trợ cho hàng chục dự án bất động sản trên cả nước.
    Ông cũng hoàn thành hai án bất động sản lớn tại Vincom Mega Mall Royal City, nơi có một trung tâm mua sắm dưới lòng đất hàng đầu châu Á.
    Theo báo cáo ngày 18/9 của Forbes, hiện ông Phạm Nhật Vượng là tỷ phú USD duy nhất của Việt Nam.
    Trong khi đó, báo cáo “Billionaire Census 2014” của Wealth-X và UBS (ngân hàng Thụy Sĩ) được công bố trước đó vài ngày lại cho rằng hiện Việt Nam có tới hai tỷ phú USD sở hữu tổng tài sản 3 tỷ USD. Tuy nhiên, báo cáo không tiết lộ danh tính của hai tỷ phú này cũng như khối tài sản mà họ nắm giữ.
    (Theo Giáo Dục)