Tiến sỹ Nguyễn Văn Huy - Người Khmer Krom đòi Nam Bộ là 'vô lý'

  • Bởi Hồ Gươm
    18/09/2014
    9 phản hồi

    Tiến sỹ Nguyễn Văn Huy</br>

    Gửi cho BBC từ Pháp

    Trong khoảng thời gian gần đây, cộng đồng người Khmer Krom tại Campuchia đã liên tục tổ chức nhiều cuộc biểu tình trước sứ quán Việt Nam phản đối chính sách đất đai của Việt Nam.

    Nguyên do của những cuộc xuống đường này là phát biểu của ông Trần Văn Thông, tham tán sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh, nói rằng miền đất Nam Bộ thuộc về Việt Nam từ lâu trước khi Pháp chuyển giao lại cho Việt Nam.

    Trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 09/09/2014, ông Thach Setha, Chủ tịch Cộng đồng Khmer Krom ở Campuchia, cho biết:

    "Chúng tôi không đòi lại đất, mà chúng tôi muốn gửi thông điệp tới chính phủ Việt Nam, yêu cầu họ phải tôn trọng chủ quyền của chúng tôi, không được can thiệp vào công chuyện của chúng tôi.

    Việt Nam không hiểu đúng về lịch sử của người Khmer, hoặc là họ cố tình muốn quên lịch sử bằng cách tuyên bố rằng đất đai Kampuchea Krom thuộc về Việt Nam từ lâu.

    Đất đai Kampuchea Krom là của chúng tôi, và bị người Pháp giao cho người Việt Nam. Chúng tôi yêu cầu Việt Nam tôn trọng lịch sử, tôn trọng chủ quyền của chúng tôi, công khai xin lỗi chúng tôi và không can thiệp vào chính trị của các quốc gia khác".

    Với tất cả sự trân trọng và lòng kính mến, người ta thực sự không hiểu ông Thach Setha muốn nói gì.

    Yêu sách của Khmer Krom

    Chúng tôi cũng kêu gọi người Campuchia tẩy chay hàng hóa Việt Nam

    » Ông Thach Setha

    Yêu sách của ông Thach Setha, một trong những người lãnh đạo cuộc biểu tình đồng thời là một nhà hoạt động thuộc đảng Cứu quốc của chính trị gia Sam Rainsy và cựu Thượng nghị sĩ trong Quốc hội Campuchia, gồm ba vế: đất đai và chủ quyền; lịch sử Kampuchea Krom và yêu cầu không can thiệp vào chính trị của một quốc gia khác.

    Cụ thể hơn, ông Thach Setha muốn "phía Việt Nam chính thức công khai xin lỗi người Khmer Krom và công nhận lịch sử của chúng tôi bằng văn bản" và yêu cầu: "không can thiệp vào việc nội bộ của các quốc gia khác của khối ASEAN".

    Để làm áp lực, ông Thach Setha đe dọa:

    "Nếu như không có phản hồi hay giải quyết gì từ phía Việt Nam thì đầu tháng 10 này chúng tôi sẽ có biểu tình lớn để yêu cầu chính phủ Campuchia tạm cắt đứt quan hệ với Việt Nam cho tới khi nào Việt Nam thừa nhận lịch sử của chúng tôi. Chúng tôi cũng kêu gọi người Campuchia tẩy chay hàng hóa Việt Nam".

    Thấy gì qua phát biểu này?

    Những yêu sách của ông Thach Setha phần lớn dựa trên tài liệu của Cộng đồng người Khmer Krom phổ biến trên mạng (https://vi-vn.KhmerKromNews), theo đó:

    Về đất đai và chủ quyền, "Kampuchea Krom, nguyên là một phần của Vương quốc Kampuchea ở phía đông, hiện nay nằm dưới sự quản lý của chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam".

    Về lịch sử Kampuchea Krom, "Kampuchea Krom bị Thực dân Pháp cắt khỏi lãnh thổ Kampuchea và cho xác (!) nhập vào lãnh thổ Việt Nam, chịu sự quản lý của chính quyền Việt Nam bằng văn bản số 49-733, ký ngày 04 tháng 6 năm 1949 ở Thành phố Toulon, Tỉnh Var, nước Pháp".

    Lãnh đạo Campuchia thường dựa vào TQ để bài Việt Nam

    Về danh xưng: "Vào thời đó, vùng đất Kampuchea Krom được gọi là Kampuchea Ngập Nước hay Kampuchea Krom (Kampuchea Hạ), và còn được gọi là Đồng bằng Châu thổ sông Mekong (Mekong Delta). Dưới thời Thực dân Pháp quản lý Đông Dương (Indochina), vùng đất Kampuchea Krom được gọi là Basse Cochinchine (Cô-săng-sin Hạ)", với 68 965 km2.

    Về dân số: "Nếu căn cứ vào số liệu thống kê dân số theo từng địa phương của Mặt trân Giải phóng Kampuchea Krom tiến hành vào năm 1968 thực hiện trên 21 tỉnh - thành của Kampuchea Krom và thực hiện phương thức tính 20 năm thì cho đến tháng 1 năm 2005, dân số người Khmer ước khoảng 14 571 000 (Mười bốn triệu năm trăm bảy mươi mốt ngàn) người".

    Sự thật là thế nào?

    Người Khmer Krom thường viện dẫn những lý do lịch sử và văn hóa để chứng minh chủ quyền của họ trên lãnh thổ miền Nam. Cách tiếp cận này tuy hợp lý nhưng không đúng. Hợp lý vì những nhóm dân cư bản địa đầu tiên trên vùng đất này là con cháu những người Khmer trốn chạy các cuộc vây bắt nô lệ để xây dựng đền đài quanh khu vực Seam Reap và Battambang từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 14, và sau đó là những cuộc nội chiến hay tấn công của người Thái từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18.

    Nhưng không đúng vì các vương triều Khmer chưa bao giờ làm chủ khu vực đồng bằng sông Cửu Long như thường tuyên bố.

    Có thể nói người Khmer chưa bao giờ làm chủ đồng bằng châu thổ sông Cửu Long mặc dù đã hiện diện trước đó

    Nhắc lại, đế quốc Angkor trong thời cực thịnh nhất, từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 12, là một đế quốc lục địa. Các trung tâm chính trị và tôn giáo được thiết lập:

    - về phía tây, quanh khu vực phía bắc hồ Tonlé Sap (Battambang, Siem Reap), sông Chao Phraya và lưu vực hai sông Menam và Irrawaddy, mà những đền đại nổi tiếng là Angkor Wat và Angkor Thom được xếp vào di dản nhân loại;

    - về phía đông, từ vùng trung lưu sông Mekong (Kompong Cham) tới khu vực phía nam hồ Tonlé Sap (Biển Hồ), Longvek, Udong, Kampong Cham và Banteay Prey Nokor (Gia Định). Sau khi đế quốc Angkor bị Xiêm La xóa tên, năm 1439 vua Ponhea Yat bỏ chạy về Wat Phnom Daun Penh (Phnom Penh) và thành lập kinh đô.

    - Vùng phía nam (đồng bằng châu thổ sông Cửu Long), cho đến nay chưa tìm thấy dấu ấn cai trị của vuơng triều Khmer.

    Những lý cớ chống Việt Nam

    Lý cớ đầu tiên là đất đai. Tổ chức Khmer Krom không ngừng tố cáo Việt Nam chiếm vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long của người Khmer. Củng cố lý cớ này là sự hiện diện của khoảng 500 đền đài Khmer trên khắp châu thổ. Đây là vấn đề rất được bàn cãi của những chuyên viên và những nhà nghiên cứu lịch sử, vì sự thật không hẳn như vậy.

    Về điểm này tưởng cũng nên nhắc lại một vài dữ kiện địa lý-lịch sử. Cách đây hơn 300 năm, đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một vùng sình lầy hoang dại, đầy muỗi mồng và rắn độc nên ít người dám đến sinh cư lập nghiệp, trừ khi bị bắt buộc như những người trốn chạy những cuộc ruồng bắt nô lệ thời đế quốc Angkor.

    Những người này sống tập trung trên những vùng đất cao để tránh lụt lội, gọi là giồng, và sinh sống bằng nghề làm rẫy. Không có tư liệu nào trong Văn khố hoàng gia Khmer (Chroniques royales khmères) nhắc đến sự triều cống của những nhóm dân cư sinh sống trên đồng bằng châu thổ sông Cửu Long (Mekong).

    Bài Việt Nam có lẽ là mẫu số chung để các tổ chức chính trị tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng và tổ chức chính trị bài Việt Nam mạnh nhất là Đảng Sam Rainsy

    Trong thế kỷ 17, nội chiến và tranh chấp nội bộ giữa các vương tôn buộc những phe tranh chấp tìm sự hỗ trợ của những thế lực mạnh hơn để triệt hạ đối thủ hay để được bảo vệ. Đó là trường hợp của vua Jayajettha II (1619-1627) kết nghĩa với chúa Nguyễn để được tiếp cứu khi bị Xiêm La tấn công. Bù lại, Jayajettha II nhượng cho Sãi vương quyền khai thác lãnh thổ Prei Nokor trong vòng 5 năm để làm nơi thu mua và vận chuyển thực phẩm ra miền Trung. Sau nhiều lần đánh bật quân Xiêm ra khỏi lãnh thổ Chân Lạp trong những năm 1622-1623, việc thu hồi hai nhượng địa Prei Nokor và Kompong Trabei không còn đặt ra nữa, vì vua Khmer rất cần sự hiện diện của quân Việt trên lãnh thổ của mình.
    Phải chờ đến năm 1679, khi hai vị tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên) cùng với hai phó tướng Hoàng Tiến và Trần An Bình, với hơn 3.000 quân và 50 chiến thuyền, xin tị nạn và được chúa Nguyễn cho vào khai thác những vùng đất hoang miền Đông Nam Bộ. Tại đây người Minh Hương đã cùng những di dân Việt khẩn hoang, xây nhà, lập chợ, dựng đình. Với thời gian, những khu đất mới này trở nên trù phú và thu hút đông đảo di dân khác tới, kể cả người Khmer trong nội địa. Năm 1698, vùng đất Sài Gòn - Gia Định, tức miền Tây Nam Bộ, chính thức được chúa Nguyễn xác lập chủ quyền.

    Năm 1671, một quan nhân nhà Minh khác tên Mạc Cửu cùng với 400 người đổ bộ lên vùng đất hoang vu trong vịnh Thái Lan và xin thần phục vương triều Khmer. Năm 1681, vua Jayajettha IV cho Mạc Cửu khai thác vùng đất dọc bờ biển phía nam Campuchia ngày nay, gọi là Căn Khẩu, nhằm ngăn chặn những cuộc tấn công của hải tặc. Sau nhiều lần bị hải tặc Xiêm La đánh phá và không được vua Khmer hỗ trợ, năm 1724 Mạc Cửu xin thần phục chúa Nguyễn, vùng đất Căn Khẩu đổi tên thành Long Hồ dinh, sau này là Hà Tiên. Con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ đã tận tình giúp các vua Khmer đánh trả quân thù để bảo vệ ngôi báu, sau mỗi chiến công các vua Khmer trao tặng đất đai để tưởng thưởng. Năm 1759, toàn bộ lãnh thổ đồng bằng sông Cửu Long chính thức được sát nhập vào lành thổ nhà Nguyễn.

    Những giải thích dài dòng này để nói lên một sự thật các triều vương Khmer không hề quan tâm đến vùng đất sình lầy đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, khi có cơ hội là sẵn sàng trao tặng cho những người đã giúp họ giữ được ngôi báu. Dựa vào yếu tố này, có thể nói người Khmer chưa bao giờ làm chủ đồng bằng châu thổ sông Cửu Long mặc dù đã hiện diện trước đó.

    'Người ta thực sự không hiểu ông Thach Setha muốn nói gì'

    Lý cớ thứ hai là pháp lý. Dưới thời bảo hộ Pháp (1863-1953), các vị vua Khmer đã nhiều lần yêu cầu hay van nài Pháp giao lại lãnh thổ Nam Kỳ cho Hoàng gia Khmer (thư vua Ang Duong gởi cho hoàng đế Napoléon III ngày 25/11/1856, cuộc gặp mặt giữa vua Norodom (cha) và Toàn quyền Đông Dương, tướng de La Grandière, năm 1864). Nhưng người Pháp từ chối bởi một lý do giản dị là chính nhà Nguyễn đã giao phần đất này cho Pháp năm 1862 và sau đó năm 1874 chứ không phải các vua Khmer, hơn nữa khi ký Hiệp ước bảo hộ vương quốc Cambốt năm 1863, hoàng gia Khmer không hề đề cập tới phần lãnh thổ phía nam, mà người Pháp gọi là Cochinchine (miền Nam Việt Nam).

    Văn bản pháp lý nào?

    Tài liệu chủ quyền pháp lý mà Tổ chức Khmer Krom dựa vào là "Luật số 49-733 ban hành ngày 04/06/1949 về việc thay đổi quy chế vùng đất Nam Kỳ (Cochinchine) trong Liên hiệp Pháp (Union française)", theo đó lãnh thổ Nam Kỳ được sát nhập vào lãnh thổ Liên hiệp Việt Nam và không còn là lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp.

    Qua luật này, tổ chức Khmer Krom trách Pháp đã không trao trả Nam Kỳ cho vua Khmer, do đó mỗi năm cứ đến ngày 04/06 họ tổ chức xuống đường biểu tình đòi Việt Nam trả lại đồng bằng châu thổ sông Cửu Long cho Campuchia. Tất cả mọi phương tiện đều được áp dụng, kể cả bạo loạn, trong mục đích tuyên truyền rằng “chính quyền Việt Nam đàn áp sư sãi và tôn giáo”.

    Để gây hận thù dân tộc, tổ chức Khmer Krom còn dựng đứng những tội ác "ghê rợn" của các chính quyền Việt Nam để tố cáo trước dư luận thế giới như : thiêu sống 10.000 người Khmer năm 1945, giết rồi thả hàng ngàn xác người Khmer trôi sông từ 1976 đến 1979, tàn sát hàng ngàn người Khmer tại Trà Vinh và Vĩnh Long từ 1980 đến 1990.. với hy vọng được thế giới hỗ trợ và làm áp lực với Việt Nam trả lại miền Nam cho họ.

    Lý cớ thứ ba là chính trị. Quan sát kỹ, những cuộc biểu tình chống Việt Nam chỉ mạnh lên trước những cuộc bầu cử Quốc hội. Bài Việt Nam có lẽ là mẫu số chung để các tổ chức chính trị tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng. Hiện nay, tổ chức chính trị bài Việt Nam mạnh nhất là Đảng Sam Rainsy do ông Sam Rainsy lãnh đạo. Sam Rainsy hiện nay là đối thủ chính trị chính của đương kim Thủ tướng Hun Sen.


    Hai phái Sam Rainsy và Hun Sen nay đã hợp tác

    Cho đến một ngày gần đây, dưới sự kích động của đảng Sam Rainsy, chống Việt Nam hiện nay không còn là một chiêu bài tranh cử nữa mà là một chính sách kỳ thị chủng tộc rõ ràng. Để tránh bị mang tiếng thân Việt Nam, nghĩa là chư hầu, Đảng Nhân dân Campuchia của đương kim Thủ tướng Hun Sen còn đi xa hơn khi ban hành những luật lệ siết chặt nhập cư, hạn chế sự đi lại của người Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia và trục xuất những người Việt nhập cư bất hợp pháp. Một cách tiệm tiến, chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Kher đang hình thành mà đối tượng là cộng đồng người Việt sinh sống trên lãnh thổ Campuchia, an ninh của họ đang bị đe dọa.

    Thêm vào đó, lãnh tụ đảng Sam Rainsy còn khơi động sự thù hận giữa Việt Nam và Trung Quốc bằng cách đề cao những hành vi ức hiếp Việt Nam của Trung Quốc trên Biển Đông và dành cho người Trung Quốc những ưu đãi về đầu tư cũng như về kinh tế tài chính để loại thương nhân Việt Nam ra khỏi thị trường Campuchia, hay đưa xuống hàng thứ yếu, nghĩa là phải dưới người Khmer.

    Tại sao đi đến tình trạng này?

    Có nhiều lý giải, nhưng giải thích chính vẫn là các dân tộc Đông Dương là nạn nhân của chính sách chia để trị của người Pháp trong suốt thời gian đô hộ và bảo hộ.

    Chế độ thực dân Pháp là thủ phạm kích thích sự thù ghét người Việt Nam của những dân tộc khác. Đọc lại những tài liệu và sử sách viết về người Việt Nam, không một tác giả người Pháp nào không nói Việt Nam là một dân tộc bành trướng, lịch sử Việt Nam là lịch sử thôn tính những dân tộc yếu kém hơn. Họ viện dẫn kinh nghiệm mất đất và mất văn hóa của người Chăm, người Khmer Nam Bộ, người Thượng trên Tây Nguyên...

    Dưới thời Pháp thuộc, Đông Dương bị chia thành 5 vùng, trong đó Việt Nam bị cắt ra làm ba miền (Bắc Trung Nam) để hạn chế người miền này tiếp xúc với người miền kia, và họ đã phần nào thành công. Sau khi Pháp rời khỏi Việt Nam, sự hợp tác giữa các dân tộc Đông Dương đã rất khó khăn và phải trải qua nhiều cuộc chiến đẫm máu để giải quyết sự thống nhất. Vấn đề tồn đọng còn lại là xây dựng niềm tin giữa các dân tộc và giữa người Việt Nam với nhau.

    Nếu chịu khó quan sát, tâm lý bài Việt Nam thường xuất phát từ những cấp lãnh đạo hay trí thức do Pháp đào tạo: Sihanouk, Pol Pot, Sam Rainsy, Sarin Chhak...

    Campuchia viện dẫn ra các tài liệu của Pháp để nêu yêu sách lãnh thổ

    Đầu tàu của chính sách bài Việt là quốc vương Norodom Sihanouk, đứa con tinh thần của chế độ thực dân Pháp. Từ lúc còn tấm bé ông đã được người Pháp nuôi dưỡng và đã hấp thụ tất cả những gì mà người Pháp muốn truyền bá : chống Việt Nam. Trong suốt thời gian trị vì, không hiểu vì lý do gì nhà vua Sihanouk đã liên tục chống phá trực tiếp hay gián tiếp các chính quyền miền Nam Việt Nam, và chính quyền cộng sản Việt Nam sau 1975. Nhà vua sẵn sàng liên minh hay ủng hộ với mọi phe phái, kể cả Khmer Đỏ, để chống Việt Nam.

    Sihanouk còn đào tạo ra được một thế hệ bài Việt tiếp nối, đặc biệt là Sarin Chhak, tác giả "Những vùng biên giới của Cambodge" năm 1965. Dựa theo tài liệu này, đầu năm 1967, Sihanouk chính thức công bố khu vực biên giới Campuchia-Việt Nam, theo đó tỉnh Đắc Lắc, toàn khu hữu ngạn sông Bé đến Thủ Dầu Một, toàn bộ tỉnh Tây Ninh và Long An và vùng đất phía tây thị xã Hà Tiên thuộc Campuchia. Những phe nhóm Khmer chống Việt Nam khác cũng đã sử dụng bản đồ này để tố cáo chính quyền Hun Sen ký những hiệp định về vùng nước lịch sử ký với Việt Nam năm 1982 và hiệp ước biên giới đất liền tháng 10/1985 bất lợi cho nhân dân Campuchia.

    Nội dung những văn bản bản này thật ra không khác gì với những văn bản đã ký với Pháp trước đó: vùng biên giới đất liền ghi lại tỉ mỉ hơn làn ranh đã có dưới thời Pháp thuộc; trên biển hai bên giữ nguyên làn ranh Brévié đã có từ năm 1939. Thật ra vấn đề không phải được hay mất đất và biển mà chỉ giản dị là tâm lý bài Việt Nam đang lên cao trong sinh hoạt của những tổ chức chính trị đối lập với chính quyền Hun Sen. Cũng nên lưu ý trong những văn bản này, Điều cuối cùng ghi: "Trong trường hợp có sự giải thích khác nhau, văn bản tiếng Pháp được lấy làm căn cứ".

    Giải thích thứ hai là sự trù phú của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Nếu đồng bằng này là một vùng đất nghèo nàn như dãy Cardamones phía tây, chắc không người Khmer nào muốn đòi lại. Ước muốn sở hữu vùng đất trù phú là lẽ thường tình của người đời, nhưng sự phát triển và giàu có của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long không phải tự nhiên mà có. Đó là công lao của người Minh Hương và di dân Việt Nam từ cuối thế kỷ 17 đến nay. Trong suốt thời gian đó, cộng đồng người Khmer vui hưởng cuộc sống bình yên, những chùa chiền lớn, "wat" theo văn hóa Xiêm La. Trong những sinh hoạt khác, cộng đồng người Khmer đứng bên lề những tranh chấp và sinh hoạt chính trị.

    Chính người Thái đã tiêu diệt các triều vương Angkor

    Có một điều khó hiểu là dân số người Khmer sinh sống tại Việt Nam hiện nay khoảng 1,4 triệu người (2011), nhưng tài liệu của Khmer Krom cho biết là trên 14 triệu người (2005), nghĩa là gấp 10 lần và ngang bằng tổng dân số Campuchia (15,14 triệu người năm 2013). Thật ra dựa vào yếu tố lịch sử để đòi lại đất chỉ là lý cớ, sự giàu có của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long mới là động cơ chính. Tổ chức Khmer Krom không phải là người trồng cây ăn trái nhưng muốn thu tóm mọi hoa lợi vào tay mình, chỉ giản dị là vậy.

    Giải thích thứ ba là yếu tố văn hóa. Tại sao người Khmer dễ ghét người Việt Nam hơn người Thái, mặc dù tất cả những tai họa chính của dân tộc Khmer đều do người Thái gây ra? Chính người Thái đã tiêu diệt các triều vương Angkor. Chính sách cai trị của người Thái chắc chắn phải rất hung bạo để ký ức về triều đại Angkor bị xóa hẳn trong tâm trí người Khmer trong suốt hơn 400 năm (1431-1861).

    Chính người Thái đã góp phần làm hao kiệt di sản văn hóa của người Khmer, phần lớn những di tích của nền văn minh Angkor được giới buôn lậu đưa qua Thái bán. Cho tới một ngày gần đây, người Thái còn muốn chiếm di tích Preah Vihear của người Khmer. Trong Thế chiến II, quân Pháp đã rất phải cực nhọc mới xua đuổi quân Thái ra khỏi Battambang và Seam Reap. Cũng chính người Thái đã cho Khmer Đỏ lập căn cứ trên lãnh thổ của mình để chống lại chính quyền Phnom Penh từ 1979 đến 1989. Có điều lạ là không người Khmer nào tỏ ra thù ghét người Thái.


    Người mang ơn thường quay ngược khí giới chống lại Việt Nam

    Với người Việt Nam thì ngược lại, làm ơn đôi khi còn mang họa. Mỗi khi bị đe dọa, người Khmer nhờ cậy người Việt Nam vào giúp đỡ. Khi kẻ thù bị đánh đuổi ra khỏi lãnh thổ, những người mang ơn thường quay ngược khí giới chống lại Việt Nam. Có cái gì không bình thường trong cách cư xử này.

    Có lẽ người Khmer thuộc văn hóa Ấn Độ nên chỉ thích giao lưu với người cùng văn hóa (cũng như Việt Nam với Trung Quốc), Việt Nam thuộc văn hóa Trung Hoa nên rất khó hiểu nhau và hợp tác. Nắm được lý giải này mới hiểu tại sao rất nhiều người Việt Nam đã bỏ mạng để bảo vệ người Khmer, nhưng công lao này thường hay quên lãng và đôi khi còn bị hiểu lầm. Khi rút quân khỏi Campuchia, hài cốt nhưng người lính Việt Nam đều được mang về nước vì sợ bị phá hoại. Hành trình thông cảm lẫn nhau có lẽ còn khá dài.

    Nhưng cho dù có thế nào đi nữa, hai dân tộc Campuchia và Việt Nam buộc phải đi với nhau suốt đoạn đường dài còn lại. Không quốc gia nào chọn láng giềng, chúng ta phải tìm cách sống chung với nhau trong khôn ngoan và hòa bình. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chính sách bài Việt Nam có thể thỏa mãn kết quả của những cuộc tranh cử nhưng chỉ mang lại tiêu cực và không giải quyết được quan hệ giữa hai dân tộc.

    Người ta chỉ gặt những gì được gieo trồng, do đó phải cẩn thận. Giải pháp hay nhất để hóa giải tâm lý hận thù là tìm cách đối thoại với nhau trong tinh thần tương kính, và nhất là tránh không bị chi phối bởi những định kiến.

    Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tiến sỹ Nguyễn Văn Huy từ Paris, Pháp.Diễn đàn BBC Tiếng Việt mong nhận được các ý kiến khác nhau về chủ đề này, gồm cả các quan điểm phản bác lại tác giả đã đăng.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    9 phản hồi

    Chia sẻ cùng bác Lương Ngọc Phát

    Bài chủ, tôi đọc sớm trên BBC. Tôi thường đọc BBC để lấy tin chung, rồi qua Ba Sàm tìm chuyện trong nước; qua Bauxite.info xem ý kiến các bậc đàn anh rồi trở lại Dân Luận đọc ý kiến "thân hữu". Dài dòng như vậy để tỏ rằng tôi coi ĐỌC là HỌC. Nick của tôi cũng là kỷ niệm với Dân Luận ("Luận" để "học") sau khi Trang nhà talawas dừng. Tham gia học hỏi thì đôi khi cũng bàn trong tinh thần tương kính; Cho nên khá bình tĩnh khi đọc ý kiến trái chiều, kể cả khi có bạn "chiết" rằng "Luận" mà vô "Trí". Cần thì cũng có thể trao đổi lại, nhưng cơ bản là tự xác định "Bỏ đi Tám - Take it easy". - Có nhiều việc cần nghĩ và làm, mà thời gian cuộc đời thì chẳng phải là dư dật !
    Tôi viết riêng với bác Phát để dễ ... dài dòng.

    +
    Có ít đoạn liên quan đã viết, nay tìm lại:

    Hai ông tiến sỹ
    (viết năm 2012)
    ...
    BBC Việt ngữ ngày 14 tháng 12 năm 2008 đã đăng bài về học giả Song Jung Nam bàn về công cuộc mở đất của Việt Nam. Từ việc xem xét lướt qua dọc chiều dài lịch sử, ông tiến sỹ Tống (Song?) đưa ra những nhận xét có tính tổng luận:
    - "Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cho thấy một quy luật điển hình trong lịch sử nhân loại là cá lớn nuốt cá bé. Việt Nam đã không ngừng đấu tranh trong trường kỳ lịch sử để sinh tồn bên cạnh một Trung Quốc mạnh hơn mình nhưng ngược lại cũng tiến hành chinh phục Chiêm Thành và Campuchia yếu hơn."
    - "Điều này thể hiện hai mặt trong đặc trưng lịch sử của Việt Nam là chủ nghĩa dân chủ đấu tranh và chủ nghĩa dân chủ xâm lược." "Việt Nam đã trải qua quá trình dân chủ đấu tranh và bồi dưỡng sức mạnh quốc gia rồi trên cơ sở đó hướng đến chủ nghĩa dân chủ xâm lược và kết quả là xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ."
    - Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cũng minh chứng cho quy luật lịch sử "giữa các láng giềng không có quan hệ tốt".
    Ngày 18 tháng 2 năm nay chúng ta lại được đọc bài của tiến sỹ Alexander Vuving từ Mỹ (bản thân người viết và nhiều bạn đọc cũng muốn biết thêm về tác giả này). Đây là bài cô đọng mà mang tính học thuật cao. Từ đặc thù triết lý đấu tranh sinh tồn của người Tàu („thời và thế“), xem xét tình hình Việt Nam trong khoảng thời gian ngắn hơn và dựa trên „lý thuyết quan hệ quốc tế“ có tính chuẩn mực, ông „gợi ý năm phương pháp chính: 1) cùng chung một nhà, 2) ràng buộc bằng lợi ích, 3) ràng buộc bằng thể chế, 4) răn đe quân sự, 5) răn đe ngoại giao.“ Có thể nói bài viết của tiến sỹ Alexander dễ làm ta „choáng ngợp“ về sự minh triết hàn lâm và cách trình bày „chắc như đinh đóng cột“ (đặc thù văn hoá Mỹ?) của ông.
    ...

    +
    Tôi đã đọc 2 bài của Tác giả Liên Sơn, tiếc rằng chưa tìm lại được trên Dân Luận nên không đọc được ý kiến bác Phát. Đó là những bài cần viết ra lúc này. Ngay sau khi Việt Nam tuyên bố về việc người Khmer Krom đốt quốc kỳ Việt Nam, Gáo sư Nguyễn Văn Tuấn đã nhận xét rằng đó là cách nói "trịch thượng".
    Tôi nhớ lại câu giải thích của một bác lớn tuổi trong đoàn công tác vào Sài Gòn cuối năm 75: Tên "Sài Gòn" trước đây gọi là "Tây Cống". Tìm đọc lại:
    Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh
    http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh
    thì càng thấy lòng đầy trắc ẩn cùng bao trang lịch sử thăng trầm ! Lại nhớ câu thơ "Từ thuở mang GƯƠM đi mở cõi, ..." mà thấy lại bao nhiêu truân chuyên của "Tiền Nhân" (chữ của bác Phát).

    +
    Câu hỏi cuộc đời bao giờ cũng là "tồn tại". "Đông dương - Việt-Miên-Lào" sẽ sống ra sao?
    Người Pháp từng nhận định: "Đông dương là 1 chiến trường" (- Sự kết gắn với nhau). Tôi cũng đã suy nghĩ về sự "kết gắn" này khi đọc Lịch sử để biết Đại Việt chỉ đánh thắng quân Nguyên sau khi Chiêm Thành phá tan đạo quân Toa Đô như gọng kìm quyết định sau lưng Đại Việt.

    +
    Bài của Tác giả Liên Sơn có đoạn kết (chủ ý/đạo) hay:

    ...
    Xã hội Campuchia đã phản ứng lại điều đó bằng nhiều cách khác nhau khi sự mâu thuẫn giữa người Việt và Campuchia ngày một lớn. Từ việc ủng hộ người có đường lối chính trị dân tộc cực đoan như Rainsy (thủ lĩnh đảng CNRP, người từng nhổ 6 cột mốc biên giới vào 25/10/2011), Kem Sokha (người cho rằng Việt Nam dàn dựng tội ác Khmer Đỏ)…, ủng hộ nhổ cột biên giới, tìm cách tấn công nhóm vào người Việt, im lặng về vấn đề Biển Đông, tiến hành điều tra dân số, đốt cờ…
    Thế nên, đừng thấy lạ khi gần đây trên tờ Phnom Penh Post có đăng tải bài viết của một sinh sinh viên Campuchia 22 tuổi (Afril). Trong đó có nhấn mạnh: Trong số 20 người bạn của tôi, đã có đến 17 người ghét người Việt Nam.
    Tuy nhiên, ngoài sự thừa nhận thực trạng đó, thì rất may mắn là Afril và nhóm bạn còn đi xa hơn, khi tiến hành xây dựng dự án kết nối cộng đồng bản địa với người Việt tại Campuchia. Nhằm giúp cho cộng đồng người Việt tại Campuchia nhanh chóng hòa nhập vào đời sống bản địa, xóa bỏ sự kỳ thị và phân biệt sắc tộc trong người dân Campuchia. Cách hành xử của Afril và nhóm bạn của cô cho thấy đó là sự khoan dung, và là cách ứng xử khôn ngoan, người lớn tạo nên cái nhìn bình đẳng, bền vững cho cả hai dân tộc.
    Và cách hành xử đó cần được người Việt, từ dân đến lãnh đạo học hỏi. Vì hai quốc gia không chọn được việc vị trí ở gần hay xa nhau, nhưng có thể chọn thái độ sống thân thiện, hay cực đoan.

    Làm sao thay đổi "cách hành xử" ?
    Marx viết: Kẻ đi xâm lược nước khác thì trong chính nước mình cũng không có tự do.
    Nhìn nhận chế độ độc tài toàn trị ngày nay ở Việt Nam, cần nhìn logic đó theo chiều khác: Khi ở trong nước mà "tự tung (hô), tự tác" thì đối với láng giềng không thể không "kẻ cả, trịch thượng, bá quyền"; Mà khi đã như thế với bạn nhỏ thì không thể không "khom lưng, quỳ gối" trước kẻ to hơn là bá quyền, bành trướng Tàu !

    Đã đến lúc phải thay đổi thể chế (cung cách) "độc tài toàn trị" bằng Dân trí Dân chủ mà khởi đầu phải là cách tư duy với một NỀN VĂN HOÁ * mới.

    Thân mến và Trân trọng,
    Trí Luận.

    PS.:
    Tôi đồng ý với ý kiền thứ nhất: Các bài viết nên có dẫn nguồn (links) thì thuyết phục hơn.
    *
    "Nền Văn hoá mới" là ý tưởng nảy sinh khi đọc tin về Em gái Sinh viên Nguyễn Thị Phương Uyên với tờ tr/chuyền đơn viết bằng máu:
    Tàu khựa cút khỏi Biển Đông !
    Đi mà chết đi, đảng CSVN !

    Thế hệ những người trẻ như Phương Uyên chính là Hy vọng và Niềm tin cho những người như chúng ta.
    T.M.

    Kính bác Trí Luận,

    Cảm ơn bác về bức thư chia sẻ cùng tôi. Lâu quá mới gặp lại bác trên diễn đàn. Kính.

    Ngày xưa cũng vùng đất ấy trong chính thể VNCH, những người Việt gốc Khmer, hay người gốc Chàm chưa từng thể hiện sự bất mãn hay đòi hỏi chủ quyền đất sống họ đang lập nghiệp. Còn hiện nay ra sao? Chẳng phải nguyên do bất tài, tự mình gây loạn lạc, nhiễu nhương vì mọi chính sách vừa tối vừa đầy dã tâm tham vọng cá nhân gây ra hay sao?. Nếu dân tộc Kinh được sự khuyến khích trợ giúp từ bên ngoài(một anh bạn yêu dân chủ thay cho anh bạn "vàng" phương bắc như người Khmer hiện nay). Thì cũng đã vận động cuộc nổi dậy yêu cầu được tự trị khỏi chính quyền vừa thối vừa rối hiện nay. Đừng cố lấp liếm sai lầm của mình bằng bào chữa này nọ nữa, vì lòng người không ở với mình thì không thể nào đứng vững chung trời đất được.

    Trong bài "Thanh gươm và cây thốt nốt", đăng trên DL sau bài "...dân chủ mộng mị" gây nên một cơn sóng dư luận, của cùng một t/g LS.

    Chưa bao giờ tôi lại xót lòng phản biện dai/dài rất nhiều lần như đã làm với bài viết đấu tố tiền nhân ấy. Do bức xúc khiến tôi quyết liệt bày tỏ thái độ, và đã có còm sĩ châm biếm tôi về việc đó(!). Nhưng có hề chi, khi mình tự xét thấy mình đã làm bổn phận tối thiểu của một con dân chịu ân sâu tổ tiên, phải làm.

    Hôm nay, gặp bài này của NVH, tôi thấy lòng nhẹ ra. Ít nhất, hầu hết ý tôi đều trùng với nội dung trong bài trên đây, và cơ bản tôi ủng hộ cách nhận thức này.

    Có trùng hợp ngẫu nhiên hay không giữa những cuộc biểu tình đòi đất của Khmer Krom với luồng dư luận gần đây lên án về chính sách đối ngoại trong quá khứ của VN đối với lân bang?

    Có lẽ khó mà tránh khỏi mối hoài nghi rằng đâu đó trong những sự kiện vừa nêu trên có bàn tay của Trung Quốc nhúng vào để tạo áp lực lên VN.

    Trước đây, Trung Quốc đã từng sử dụng Khmer Rouge để ép VN phải tách xa khỏi Liên Xô; mỗi động thái xích lại gần Liên Xô của VN luôn được đáp trả bằng áp lực ngày càng tăng từ Trung Quốc thông qua Khmer Đỏ.

    Ngày nay dường như bài học lịch sử đó đang tái diễn với chút ít thay đổi về diễn viên; xưa thì Liên Xô, nay thì Mỹ. Trung Quốc có lẽ lại đang dùng con bài Khmer một lần nữa để cản không cho VN tách rời khỏi quỹ đạo của mình và đi gần với Mỹ.

    Không riêng Campuchia, mà có lẽ cả Lào nữa, đang trở thành vệ tinh của Trung Quốc, hình thành vành đai áp lực lên VN từ hướng Tây. Việc Lào, sau cả nửa thế kỷ chịu nhiều ảnh hưởng của VN, năm ngoái đã bất chấp phản đối của VN, tiến hành xây dựng đập nước Xayabury trên sông Cữu Long là một bằng chứng. Đập đó cùng với nhiều đập khác của Trung Quốc ở thượng nguồn sông Mékong có khả năng, khi cần, biến đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa của VN, thành bải đất khô cằn!

    Từ góc độ địa lý chính trị mà xét, Trung Quốc, do quyền lợi vị kỷ của mình, sẽ không bao giờ để cho ba nước Việt-Miên-Lào gắn bó với nhau, dù ngay cả chỉ ở mức lân bang hoà hiếu. Danh xưng Liên Bang Đông Dương, dù có lẽ chỉ do vô tình, chứ chưa hẳn đã là một mưu đồ chiến lược,đã từng khiến Trung Quốc,ngay trong giai đoạn còn lạc hậu, vô cùng bực bội.

    Lỗi của người Việt là trong quá khứ, những lúc thời cơ còn trong tầm tay, đã không có đủ viễn kiến và sự khôn ngoan để xây dựng và củng cố cho được một quan hệ tốt với Miên-Lào. Nay thì thời cơ ấy qua rồi.

    Bài có 02 hạt sạn quá lớn.
    Đó là khi phê phán sự bài xích dân tộc, tác giả lại vô tình (?) bài xích dân tộc khác.
    Trích:"Tại sao người Khmer dễ ghét người Việt Nam hơn người Thái, mặc dù tất cả những tai họa chính của dân tộc Khmer đều do người Thái gây ra? Chính người Thái đã tiêu diệt các triều vương Angkor".
    Thứ nhất cần phải xem người Campuchia có ghét người Thái không? Giữa người Thái và người Việt, ai có tội nhiều hơn trong việc tiêu diệt các vương triều Ankor? Thứ hai, giả sử người Campuchia ghét người Việt hơn ghét người Thái thì không không lý gì phê phán người Thái, nước Thái một cách vô lối như vậy. Thứ ba, không nên suy luận chủ quan theo kiểu: A ác với B, C tốt với B, thì B phải ghét A và thương C.
    Tác giả phê phán: “Với người Việt Nam thì ngược lại, làm ơn đôi khi còn mang họa. Mỗi khi bị đe dọa, người Khmer nhờ cậy người Việt Nam vào giúp đỡ. Khi kẻ thù bị đánh đuổi ra khỏi lãnh thổ, những người mang ơn thường quay ngược khí giới chống lại Việt Nam”.
    Đó là tâm lý Sô Vanh nước lớn rõ rệt. Campuchia có lẽ sẽ cảm ơn Việt Nam, nếu trong cuộc chiến 1979, sau khi đánh đuổi Khơ Me đỏ, cứu người dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng, Việt Nam giao lại Campuchia cho Liêp Hiệp Quốc, hoặc giả khối Xô Viết quản lý thì cái danh thơm còn đó. Đằng này, Việt Nam tiếp tục chiếm đóng Campuchia suốt hơn 13 năm sau. Trong thời gian ở Campuchia, Việt Nam cử cái gọi là đội ngũ “ chuyên gia” giám sát, lãnh đạo toàn bộ hoạt động của người Campuchia từ cấp xã đến cấp trung ương. Cán bộ chiến sĩ “quân tình nguyện “ thì hủ hóa phụ nữ Campuchia, cướp vàng của Chùa Campuchia, tàn sát cán bộ Campuchia (vụ án Xiêm Riệp 1983). Cho đến hiện nay, cán bộ người Việt còn có nhiều người xem thường cán bộ Campuchia, đặc biệt là những cán bộ trung và cao cấp, từng cộng tác với Việt Nam.
    Cứu người xong, tiện tay trộm ví và bóp vú thì hỏi sao mà người ta không ghét.

    SIÊU NGU DÂN viết:

    Bài viết sẽ có sức thuyết phục hơn nếu có trích dẫn các nguồn đáng tin cậy về các sự kiện lịch sử, đặc biệt là khoảng từ thế kỉ 17 đến 19 khi Vương quốc Khmer có chính sách đối ngoại đu dây giữa Xiêm và Việt Nam, khi thì cậy vào VN để chống Xiêm và khi khác thì ngược lại.

    Vâng! Để biết ơn tổ tiên tộc Việt đã xây dựng và gìn giữ bờ cõi cho chúng ta thụ hưởng ngày nay như thế nào ta cũng nên tìm hiểu sơ lược về việc nầy:

    Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ

    https://www.google.ca/search?q=nguyễn+ch%C3%ADnh+kểt+là+ai%3F&ie=UTF-8&oe=UTF-8&hl=en&client=safari

    Lược sử cuộc Nam Tiến sau khi đã chinh phục Chiêm Thành (Champa):

    1658 là năm đầu tiên chúa Nguyễn Phúc Tấn tức Chúa Hiền cử 3,000 quan binh vào đất Chân Lạp, do sự cầu cứu của hoàng tộc Cao Miên trong cuộc tranh chấp ngai vàng với Nặc Ông Chân. Nặc Ông Chân quy thuận và hứa binh vực người Việt sinh sống trên phần đất Thủy Chân Lạp.

    Năm 1674, Nặc Ông Non bị Xiêm La uy hiếp, sang tị nạn tại Khánh Hóa, cầu cứu Chúa Nguyễn đem binh tiến vào chiếm đất Prey Kor (tức Sàigòn) và tiến thẳng lên Nam Vang, bảo vệ cho Nặc Ông Non lên ngôi vua.

    Năm 1679, Chúa Nguyễn cho phép nhóm bại tướng lưu vong của nhà Minh từ Quảng Ðông chạy sang, là Dương Ngạn Ðịch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, với 3,000 quan binh và 50 chiến thuyền, được đến định cư khai khẩn đất Thủy Chân Lạp, tại vùng Ðông Phố (Gia Ðịnh) Lộc Dã (Biên Hòa) và Mỹ Tho (Ðịnh Tường).

    Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu giao cho tướng Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp, thiết lập bộ máy hành chánh tại các vùng đã khai mở, chia đất Ðông Phố ra làm dinh huyện Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Ðịnh). Cũng vào thời này, có những đợt dân đông đảo từ tỉnh Quảng Bình được đưa vào vùng này để khai hoang lập nghiệp.

    Năm 1707, một người Trung Hoa lưu vong tị nạn khác là Mạc Cửu đã sang lập nghiệp tại Hà Tiên từ 1680, trước đó nhờ Cao Miên che chở, nay thấy thế vua Miên yếu, nên đem dâng đất Hà Tiên (7 xã) lên Chúa Nguyễn. Hòn Phú Quốc cũng dâng nạp lần đó cho Việt Nam.

    Năm 1731, Chúa Nguyễn Phúc Khoát nhận hai tỉnh Long Hồ (Longhor) và Mỹ Tho (Mesa), và trong tám năm sau đó, các tỉnh Long Xuyên, Châu Ðốc, Sa Ðéc, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Trà Vinh lần lượt được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam.

    Năm 1759, vua Cao Miên là Nặc Tôn dâng phần đất biên cương cuối cùng là đất Tầm Phong Long, tức tỉnh An Giang, trong đó có dãy Thất Sơn quan trọng, mà suốt 100 năm từ 1658 đến 1759, từ lúc khởi đầu đụng chạm với triều Nguyễn, người Cao Miên đã cố thủ làm hậu cứ để nương vào địa thế hiểm trở mà trú ẩn và cũng để tiến binh phản công.

    Ngoài ra, Nặc Tôn còn cắt thêm năm phủ trên đất Lục Chân Lạp dâng cho Mạc Thiên Tứ (từ Kampot đến Kompongsom) và Thiên Tứ lại dâng nạp Chúa Nguyễn. (Nhưng về sau, vua Tự Ðức đã giao hoàn năm phủ này lại cho vua Cao Miên - 1848).

    Như thế, trong trọn một thế kỷ (1658-1759) cuộc Nam tiến của nhà Nguyễn trên đất Thủy Chân Lạp đã hoàn tất. Từ đó, lãnh thổ Việt Nam có thêm miền Nam Việt ngày nay.
    Một điểm đặc biệt cần ghi nhận, là trong suốt gần 100 năm nhà Nguyễn bận rộn với công cuộc Nam tiến mở đất Thủy Chân Lạp, thì Chúa Trịnh tức quyền lực ở miền Bắc sông Gianh đã không mở cuộc tấn công nào đánh nhà Nguyễn trong Nam, từ 1672 đến 1774. Chiến tranh Trịnh Nguyễn tái phát sau khi Tây Sơn đã khởi nghĩa (1771), và diễn ra trong thời gian ngắn ngủi, rồi chấm dứt. Chúa Nguyễn đã nhờ được yên suốt thời kỳ đó để hoàn thành công cuộc tàm thực đất Thủy Chân Lạp.

    Tuy rằng đã chiếm được đất Thủy Chân Lạp, nhưng vùng đất mới khai mở này còn phải chịu đựng 100 năm loạn lạc nhiễu nhương. Chiến tranh với Xiêm La, giữa Tây Sơn và nhà Nguyễn, lại thêm những phong trào nổi loạn của người Cao Miên chống lại triều Nguyễn (Lâm Sâm, Sãi Kế...)
    Thành Gia Ðịnh bị quân Tây Sơn chiếm ba lần, vua Gia Long ba lần bỏ thành mà chạy, cho mãi đến năm 1788, Gia Long mới thâu phục lại được toàn bộ miền Nam, từ Gia Ðịnh trở vào. Và cho đến 1802, Gia Long chiếm lại thành Trấn Ninh rồi tiến thẳng ra Bắc, lấy thành Thăng Long, chấm dứt thời đại Tây Sơn, một thời đại tuy ngắn ngủi có 14 năm (1788-1802), nhưng ghi một chiến công lẫy lừng lịch sử là đại thắng quân Mãn Thanh, chấm dứt tham vọng xâm lược của Trung Hoa.

    Sau đó, triều đại Gia Long còn phải tiếp tục đối phó với Xiêm La. Nước này rình rập cơ hội, mượn cớ có sự cầu cứu của vua xứ Cao Miên mà kéo quân sang đánh chiếm lại vùng đất Thủy Chân Lạp. Sau loạn Lê Văn Khôi (1833), vua Xiêm La cử năm đạo binh sang uy hiếp các vùng biên giới Hà Tiên, Châu Ðốc, Cam Lộ, Cam Cát, Trấn Ninh, nhưng bị tướng Trương Minh Giảng đánh bại, mặc dù họ đã tiến sâu vào nội địa miền Nam, tới vùng Vàm Nao, Chợ Thủ tỉnh An Giang.
    Năm 1842, quân Xiêm La lại kéo sang khi nghe tướng Trương Minh Giảng từ trần (đời Thiệu Trị), chiếm vùng đất Thất Sơn, nhưng bị tướng Nguyễn Công Trứ đánh bại.
    Năm 1845, Cao Miên lại kéo quân tấn công vùng kinh Vĩnh Tế, nhưng bị tướng Nguyễn Tri Phương đánh tan và thừa thắng đánh rốc lên tận Nam Vang. Vua Cao Miên xin tạ tội và triều cống. Vua Thiệu Trị phong Nặc Ông Ðôn làm Cao Miên Quốc vương và Công chúa Mỹ Lâm làm Cao Miên Quận chúa (1847).
    Năm 1860 có thể được xem là trận đánh sau cùng của Cao Miên tấn công vào Việt Nam, tại vùng Hà Tiên, An Giang, Thất Sơn nhưng bị đẩy lui.
    Cuộc Nam tiến và bình định tới thời điểm này được xem là đã chấm dứt, miền Nam Việt Nam tiếp tục công trình khẩn hoang nông nghiệp trên vùng đất mới.

    http://www.hoahao.org/D_1-2_2-188_4-65_15-2/

    http://namkyluctinh.org/a-dialy/vothanhliem-hinhthanhmiennam%5B1%5D.htm

    Bài viết sẽ có sức thuyết phục hơn nếu có trích dẫn các nguồn đáng tin cậy về các sự kiện lịch sử, đặc biệt là khoảng từ thế kỉ 17 đến 19 khi Vương quốc Khmer có chính sách đối ngoại đu dây giữa Xiêm và Việt Nam, khi thì cậy vào VN để chống Xiêm và khi khác thì ngược lại.