Tuấn Khanh - Người Việt cần có một Aziz Nesin

  • Bởi Mắt Bão
    17/09/2014
    2 phản hồi

    Tuấn Khanh


    Hầu như người Việt nào trên 35 tuổi, chắc cũng đều đã đọc qua hoặc ít nhất là đã nghe nói về Aziz Nesin (1915-1995), nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ. Lối viết văn của ông luôn trào phúng và mỉa mai về các vấn đề hiện thực xã hội – bề ngoài thì ngu ngơ nhưng lại đau thấu tận xương. Cũng chính vì vậy mà nhà văn gốc người Crimea-Tatar này từng vào tù ra khám nhiều lần theo lệnh của MAH (Cơ quan an ninh quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ) vì các vấn đề về quan điểm chính trị và có hành vi bị coi là tuyên truyền chống Nhà nước.

    Tôi vẫn còn nhớ một truyện ngắn hết sức hóm hỉnh của ông, có tựa đề là Cái kính. Câu chuyện nhỏ đó nói về một người đàn ông vô danh sống trong xã hội đang bị lũng đoạn bởi có quá nhiều kẻ tuyên ngôn nhưng không biết mình đang nói gì, hoặc nói như một thói quen mị dân. Ông bị nhồi nhét vào đầu rằng ông đã có vấn đề về cái nhìn, bắt buộc phải mang kính để nhìn theo “định hướng”. Cuộc đời ông bị lừa mị hết sự kiện này đến sự kiện khác. Cuối cùng một ngày nọ, vô tình bị vỡ kính, ông khám phá rằng mình có thể tự do nhìn thấy được mọi thứ – tự mình chứ không cần ai “định hướng” cả.

    Câu chuyện được viết hơn nửa thế kỷ về trước, nhưng không cũ kỹ trong hành trang của con người thời hiện đại. Dĩ nhiên, với Việt Nam, thỉnh thoảng ta cũng vẫn bắt gặp lại những bài học như vậy.

    Mới đây, trong câu chuyện thông báo về tỉ lệ thất nghiệp của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, đã gây không ít bàn tán trong dân chúng. Tỉ lệ thất nghiệp quý II/2014 của Việt Nam được xác định là 1,84% mở ra nhiều ý kiến tranh biện: Liệu con số đó đã phản ánh đúng một hiện trạng Việt Nam hay không? Bản thân việc công bố một con số đơn thuần dựa theo lý thuyết điều tra, mà không có phần mở rộng, dẫn giải đúng đằng sau con số đó, liệu có là một thái độ đúng của trí thức thật lòng với đất nước, dân tộc?

    Cách tính về thất nghiệp có rất nhiều lý thuyết khác nhau. Lý thuyết kinh tế Marxist có cách tính khác, các học thuyết kinh tế tư bản cũng khác, thậm chí cứ vài năm, người ta lại tìm thấy một lý thuyết mới tái định nghĩa. Nhưng bằng cách nào đi nữa, ngôn ngữ và tư duy hiện đại chỉ có một mục đích là làm rõ hơn, chính xác hơn những gì đang diễn ra, chứ không phải là việc đưa ra một con số, bất chấp phía sau nó là những vùng mịt mờ về cuộc sống thật, chưa có lời giải.

    Đừng bao giờ quên rằng từ khi lịch sử văn minh loài người con người phát minh ra khoa học thống kê, thì cũng là lúc họ xác định bản chất của kết quả thống kê luôn có sự biểu đạt nguỵ biện. Chính Joseph Stalin (1879-1953), một trong những ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản cũng đã nói rằng “Cái chết của một cá nhân được coi là bi kịch, nhưng của một triệu người thì chỉ là con số thống kê mà thôi (A single death is a tragedy; a million deaths is a statistic). Thậm chí, câu nói của nhà chính trị Benjamin Disraeli (1804-1881), Đảng bảo thủ Anh còn quyết liệt hơn “Có 3 loại nói dối: đó là nói dối, nói dối một cách khốn nạn và con số thống kê” (There are three types of lies — lies, damn lies, and statistics).

    Mọi con số thống kê về thất nghiệp ở các quốc gia đang phát triển đều hết sức phức tạp, cần được diễn giải bằng hiện thực mang tính nhân văn với mọi khía cạnh nhiễu nhương đang có. Nó không thể đơn giản tính toán như ở một quốc gia phát triển đương thời. Thất nghiệp do không được thuê mướn (unemployment) và tự mình tổ chức công việc (self-employment) cũng như đóng thuế cá nhân (income tax) ở Mỹ, Đức, Pháp… Chắc chắn không thể giống như ở Việt Nam, Campuchia hay Ấn Độ. Những con số lạnh lùng không thể nói hết được hoàn cảnh của đám đông hay của một quốc gia nếu không có thêm phần thuyết minh trung thực.

    Theo lời của bà Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam thì người Việt vốn dễ xoay sở mưu sinh, bao gồm ngành nghề nào cũng vậy, khó khăn thì ra bán trà đá hay chạy xe ôm, nên không thể thất nghiệp. Phiến diện, thì điều đó không sai. Cố gắng mưu sinh là bản lĩnh của người Việt Nam từ bao đời nay. Nhưng chúng ta cũng cần một cái nhìn thật sự Việt Nam cho người Việt Nam. Vì nếu tỉ lệ thất nghiệp chỉ là đơn thuần các con số, có lẽ người Việt từ thời thực dân Pháp là ít thất nghiệp nhất vì ai cũng có thể chọn lao động trong đồn điền cao su, đi lính cho Tây, làm ruộng tự cung tự cấp… không ai phải thất nghiệp cả.

    Nếu cách tính tỉ lệ thất nghiệp chỉ là một con số tầm thường nhằm gây lạc quan, thì tiểu thuyết Ngựa người Người ngựa của Nguyễn Công Hoan cũng đã không còn tính tố cáo hiện thực xã hội, mà trở thành một tác phẩm tào lao, vì từ người phu kéo xe kiệt sức với đôi mắt mờ đục như trái nhãn đến cô gái điếm mệt mỏi nửa đêm – không có ai là thất nghiệp cả.

    Điểm lại những công việc làm lây lất kiếm sống “bán trà đá hay chạy xe ôm” được Viện Khoa học Lao động và Xã hội nói đến, nó không là chuyện self-employment bình thường. Không có ai “thất nghiệp” vì bởi họ không có một hy vọng nào từ các hệ thống trợ cấp xã hội nhiêu khê, chứ không phải vì một nền kinh tế quốc gia sung túc và quá nhiều cơ hội. Và bản thân việc self-employment “bán trà đá hay chạy xe ôm” cũng luôn mơ hồ trong sự tồn tại hợp pháp của xã hội Việt Nam.

    Những thứ được bà Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam tạm liệt kê, trong đó có 50% là hành rong. Nhưng 50% ấy đã bị khép trong luật, nghị định cấm bán hàng rong. 50% con số thống kê “không thất nghiệp” ấy đã không được công nhận và bị truy quét khắp các thành phố. Chărng hạn, chúng ta có câu chuyện một người bán hành rong bị Đội Trật tự phường 25, quận Bình Thạnh đánh đến bất tỉnh, vất bỏ bên vệ đường, tay vẫn bị còng như tội phạm vào cuối năm ngoái (2013). Hình ảnh đó cũng nên là một ví dụ về bất cập của việc xác định thế nào là “không thất nghiệp”.

    Những thứ chúng ta đang thấy, những thứ chúng ta đang nghe, đôi khi cũng cần được tự mình nhìn thấy và viết lại, nói lại và khẳng định lại bằng hiện thực lịch sử. Có lẽ không gì hơn lúc này là ngồi xuống, giở sách, đọc lại truyện ngắn Cái kính của Aziz Nesin. Ông đã đúc kết trong một ít con chữ nhưng tràn đầy gợi mở.

    Trong bối cảnh mà mọi thứ của xã hội đang ngày càng căng thẳng, Việt Nam thật sự thiếu một Aziz Nesin để ghi lại từng chuyện với sự trào phúng và giúp tạo ra tiếng cười – bất luận tiếng cười kiểu gì – cho dù ẩn trong đó là sự tức giận hay buồn phiền buông bỏ.

    —————————————————–
    Phụ lục: Về trường hợp anh thanh niên bán hành rong Trịnh Xuân Tình bị sai nha Trật tự đô thị phường 25, quận Bình Thạnh hàng hung.
    http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131208/dan-mang-phan-no-vu-trat-tu-do-thi-bi-to-danh-nguoi-ban-hang-rong-ngat-xiu.aspx

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Cái Bộ Lao động từ khi bà Nguyẽn Thi Hằng làm Bộ trưởng thì nó đã trở thành cái ổ của bọn dốt nát, lưu manh dân Thanh Hóa rồi. Hầu hết bọn lãnh đạo ở Bộ này là dân khu 3 khu 4 nên chúng nói tiếng địa phương không ai hiểu được. Cái bà Lan Hương viện trưởng này học ở thiên đường XHCN Bun ga ri những năm 80 về nên bị tẩy não bằng kiến thức kinh tế maxist có định hướng. Do đó các con số thống kê về thất nghiệp do bà ta đưa ra là con số đã được định hướng XHCN rồi nên nó không phản ánh đúng thực tế là điều dễ hiểu. Bà này làm Viện trưởng Viện khoa học lao động nhưng hành xử như một cai tù. Ai đời mang danh Viện khoa học lao động mà bà ta bắt cán bộ ngồi 8 tiếng ở Cơ quan bằng thiết bị bấm giờ vân tay. Ai đi muộn về sớm là bị trừ lương. Đi ra khỏi Viện là phải xin phép. Bà ta nuôi 2 cán bộ chỉ với một nhiệm vụ đầu giờ đi từng phòng kiểm tra xem ai đi muộn, cuối giờ ai về sớm để phạt lương. Nhân viên coi cái viện này là nhà tù trá hình. Chính vì lãnh đạo cái viện theo kiểu trại lính như thế nên bà ta thấy không ai thất nghiệp cả vì ai cũng đã làm việc 8 tiếng/ ngày ở Cơ quan mà. Phải gọi con mụ này là cai ngục chứ viện trưởng viện chiếc gì.Tởm cho giới khoa học CS.

    Ông tác gỉa này "bụt chùa nhà không thiêng", ông hãy đọc các tập truyện hài hước hiện đại của ta xem có một số truyện chẳng kém gì Azit Nesin mà ông ngưỡng mộ. Ông cũng không biết một thực tiễn diễn ra ở Việt Nam là nhà nước CS này ưa dùng bạo lực, rất dã man nhưng lại sợ tiếng cười và cấm tiếng cười. Nếu ông theo dõi các báo của ta thì ông rõ, điển hình là trước kia báo Lao động cuối tuần thường có mũ "Xả xú páp" chuyên phê phán các hiện tượng người xấu, việc xấu, chính sách xấu, chủ trương xấu, đương lối xấu, "hệ thống" xấu...báo này còn khuyén khích bằng cáh trả nhuận bút gập đôi cho những truyện hay, kết quả là Đảng cấm mục này. Đay là điều thiệt cho độc giả nhưng lại có lợi cho chính báo đấy, lợi là những nhà báo phụ trách mục này đều không biết viết truyện cười nên họ phải nhờ cộng tác viên, khi không còn mục này thì nhà báo này rảnh việc.

    Không biết ông Tuấn Khanh đã đọc tập truyện cười hữu danh nào của ta chưa? Tức là tập truyện hài hước hiện đại của ta chưa? Nếu ông chưa đọc thì tôi xin giới thiệu để ông có thể tự hào ta có Axit Nesin của Việt Nam, thậm chí có một vài truyện còn hơn nhà văn hài hước Thổ Nhĩ Kỳ đấy.

    Viết truyện cười là chuyện khó, cả nước thì không biết có bao ông TBT, nhưng chưa có một nhà văn hài hước nào (theo lề chính thống còn nếu có thì cũng chẳng ai dám đề cao).

    Ồng Tuấn Khanh thử viết truyện cười xem có viết được không? Tôi chắc chắn 100% là không nhưng ông viết nhiều bài không cười lại rất hay. Ta cũng có sách dạy viết truyện cười rồi đấy. Ông ở Sài Gòn thì có thể đến báo Tuổi trẻ cười mà trao đổi, báo này có nhiều truyện cười cũng hay hay, nhưng không thâm thúy bằng truyện cười miền Bắc.