Những gì diễn ra sau chuyến đi Bắc Kinh của Phái viên Lê Hồng Anh

  • Bởi Hồ Gươm
    15/09/2014
    10 phản hồi

    Chuyến đi của Lê Hồng Anh gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhằm thương lượng giải quyết việc Trung Quốc đưa giàn khoan 981 hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là đề tài nóng của dư luận trong và ngoài nước trong những ngày qua. Rất nhiều câu hỏi đáng suy ngẫm của mọi tầng lớp nhân dân: Chuyến đi này thắng gì, thua gì? Có được dư luận ủng hộ không? Rồi đây Trung Quốc còn tiếp tục đưa giàn khoan nào trở lại hay không? Việt Nam liệu có kiện Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam không?... Hỏi thì nhiều, nhưng vẫn chẳng có một giải đáp nào được xem là chính thống. Điều đó càng nảy sinh nhiều đánh giá xung quanh chuyến đi Trung Quốc của Phái viên Lê Hồng Anh. Có thể có những đánh giá quá lạc quan hoặc quá bi quan, có thể các giới lãnh đạo cũng chẳng để ý gì đến những đánh giá này lắm, nhưng đối với những người quan tâm đến vận mệnh của đất nước thì lại rất cần thiết vì từ đó để xem những người lãnh đạo đất nước đương thời sẽ làm gì sắp tới. Nên phải đưa ra những câu hỏi, những đánh giá để dư luận bình luận.

    lehonganh-tapcanbinh.jpg

    Phái viên Lê Hồng Anh và Chủ tịch TQ Tập Cận Bình

    Câu hỏi thứ nhất: Tại sao ông Lê Hồng Anh được cử sang Trung Quốc gặp Tập Cận Bình lại mang danh nghĩa phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (trong khi ông Lê Hồng Anh được coi là Phó Đảng) và cũng không mang danh nghĩa gì về mặt Nhà nước. Như vậy danh nghĩa này được hiểu thế nào?

    - Đánh giá: Chuyến đi Bắc Kinh của ông Lê Hồng Anh thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng, trước hết là vai trò của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Họ muốn gửi tới Tập Cận Bình, Đảng là quyết định, chứ không phải Chính phủ. Điều này đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa các phản ứng mạnh của Thủ tướng và các cơ quan của Chính phủ vừa qua có những tuyên bố cứng rắn đối với Trung Quốc.

    - Bình luận: Cử được Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh đi Trung Quốc và được Tập Cận Bình chấp nhận và ra lời mời là sự thắng thế của Nguyễn Phú Trọng và những người theo xu hướng “hòa hiếu” với Trung Quốc. Được biết trước đó Bộ Chính trị có nhiều cuộc họp bàn việc kiện Trung Quốc, phải họp Trung ương để quyết định vấn đề này, nhiều ý kiến không đồng tình với chủ trương cử phái viên đi Trung Quốc, nhưng khi Trung Quốc rút giàn khoan 981, Phú Trọng mới dàn xếp dung hòa ý kiến trong nội bộ và cử Lê Hồng Anh làm phái viên của Trọng, điều này đã chứng minh Nguyễn Phú Trọng đã thắng thế, đồng nghĩa thắng thế của xu hướng “hòa hiếu” lệ thuộc vào Trung Quốc.

    Câu hỏi thứ 2: Trung Quốc vi phạm chủ quyền của ta, bị thế giới lên án, phê phán; ta phản đối quyết liệt, kiên quyết hành động của họ vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế nhưng sao không mời Trung Quốc sang ta mà lại cử phái viên sang Trung Quốc để hòa giải với họ?

    - Đánh giá: Không đủ tầm, bản lĩnh kém, đầu óc mang nặng của kẻ hủ nho, học không thuộc định luật lịch sử “ông cha ta ngày xưa thắng họ cũng phải triều cống họ để được phong tước” và để giữ “hòa hiếu” vì lú lẫn không đánh giá được tương quan thời nay, ta đã là một quốc gia độc lập, có tiềm lực mạnh ở khu vực, được các nước khu vực và cộng đồng quốc tế ủng hộ, vì ta là chính nghĩa, họ là phi nghĩa. Nguyễn Phú Trọng tự biến mình thành bầy chuột để tế lễ con mèo như tranh dân gian của nước ta. Chung quy lại là họ sợ, rất sợ trách nhiệm, sợ không đối phó nổi với Trung Quốc.

    - Bình luận: Thể hiện sự bạc nhược của Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của Trọng dẫn đến sớm đầu hàng Trung Quốc. Nắm bắt được tinh thần của Nguyễn Phú Trọng, nhân dịp này Tập Cận Bình được dịp củng cố cho phái viên của Nguyễn Phú Trọng về tình hữu nghị, về đại cục… bằng việc khẳng định muốn xây dựng đoàn kết hữu nghị với Việt Nam, sẵn sàng cùng với Phú Trọng bàn giải quyết tranh chấp xung đột 2 nước. Thực sự đây là liều thuốc hỗ trợ cho Nguyễn Phú Trọng để kiên trì con đường lệ thuộc dưới danh nghĩa “hòa hiếu” và để giải quyết tình hình nội bộ Việt Nam.

    Phái viên Lê Hồng Anh luôn phát biểu theo những nội dung đã được soạn sẵn bằng văn bản theo ý của Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông (Nguồn: CNTV)

    Câu hỏi thứ 3: Chuyến đi của Lê Hồng Anh đã tác động đến tình hình nội bộ thế nào?

    - Đánh giá: Sẽ rất ảnh hưởng đến tình hình nội bộ. Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí có cùng quan điểm sẽ được củng cố niềm tin rằng mọi tranh chấp sẽ được giải quyết qua con đường lãnh đạo giữa 2 Đảng Cộng sản trên tình thần đồng chí anh em. Điều này còn gián tiếp phê phán nhiều đồng chí có quan điểm phản ứng cứng rắn với Trung Quốc. Nội bộ lãnh đạo tiếp tục mâu thuẫn, phân hóa sâu sắc hơn. Trung Quốc nhân cơ hội này tấn công vào nội bộ ta để phá nhân sự Đại hội lần thứ XII, gây áp lực loại những nhân sự có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc.

    - Bình luận: Nguyễn Phú Trọng với danh nghĩa Đảng đã giành được lợi thế kiềm chế những đồng chí có quan điểm không lệ thuộc Trung Quốc, cao hơn là thực hiện mục tiêu như Trung Quốc mong muốn là loại những đồng chí không cùng quan điểm ra khỏi nhân sự Đại hội XII sắp tới. Nhưng đây chính là điều bất lợi cho Phú Trọng vì đã bộc lộ vai trò là người bạn thân thiết của Trung Quốc quá sớm. Những cán bộ lão thành cách mạng, trí thức và dư luận trong nhân dân đều nhìn thấy nguy cơ đánh mất chủ quyền đất nước của Nguyễn Phú Trọng nên sẽ hướng vào ủng hộ những người có đủ bản lĩnh thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, bảo vệ được chủ quyền đất nước, đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay.

    Câu hỏi thứ 4: Sau chuyến đi Trung Quốc gặp Tập Cận Bình của Lê Hồng Anh phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì quan hệ 2 nước thế nào, những biến động sẽ ra sao?

    - Đánh giá: Trong các Ban Đảng và Tổng Bí thư thấy lạc quan hơn, quan hệ 2 nước sẽ tiếp tục củng cố và phát triển. Các biện pháp đấu tranh với Trung Quốc về xâm lấn chủ quyền Biển Đông sẽ được chỉ đạo trên nguyên tắc giữ “hòa hiếu” của Nguyễn Phú Trọng, được thực hiện xuyên suốt. Vì vậy, chủ trương của Chính phủ đấu tranh với Trung Quốc bằng pháp lý nhiều khả năng sẽ chưa thực hiện.

    Cũng từ đánh giá này, Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của Trọng tin rằng Trung Quốc sẽ xuống thang ở Biển Đông, các tranh chấp sẽ được giải quyết ở cấp cao của 2 nước sắp tới, tình hình ở Biển Đông sẽ bớt căng thẳng.

    - Bình luận: Chuyến đi Trung Quốc của Lê Hồng Anh tới Bắc Kinh được Nguyễn Phú Trọng cho là thành công và đang được lãnh đạo Trung Quốc làm cho mê muội, ảo tưởng có thể thuyết phục được Tập Cận Bình và đang tự sướng, thâm tâm của Trọng cho rằng chỉ có mình mới làm biến đổi tình hình, giữ được hòa khí với Trung Quốc.

    Nhưng Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí có cùng quan điểm với Trọng quá ngây thơ và mất cảnh giác. Với những gì Trung Quốc đã làm và sẽ làm thì không có chuyện Trung Quốc sẽ xuống thang ở Biển Đông. Tình hình 2 nước được yên ổn với nhau chỉ khi Việt Nam chấp nhận lệ thuộc vào Trung Quốc, trao quyền cho Trung Quốc khai thác Biển Đông và các đảo trên đó. Toàn dân ta kiên trì thêm một thời gian nữa sẽ biết Trung Quốc làm gì với ta!!! Giàn khoan HD981 chắc chắn còn quay lại hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của ta. Trung Quốc không từ bỏ xây dựng cơ sở hạ tầng ở những đảo họ đã chiếm ở Trường Sa vì đó là những căn cứ bàn đạp để chiếm đảo của ta sau này. Họ đều đã có lộ trình rồi.

    Câu hỏi thứ 5: Chuyến đi của phái viên Lê Hồng Anh sang Trung Quốc dư luận quốc tế quan tâm như thế nào?

    - Đánh giá: Chưa có đủ thông tin về vấn đề này, nhưng chắc chắn là họ sẽ rất quan tâm tới những điều hai nước thông điệp với nhau. Dù chưa biết được nội dung cuộc gặp này, nhưng đã có những đánh giá chuyến đi của Lê Hồng Anh Việt Nam mất nhiều hơn được vì vào thời điểm này Trung Quốc có những lợi thế hơn Việt Nam (giàn khoan HD981 đã rút rồi). Trung Quốc rất ít khi chấp nhận một điều khi điều đó ảnh hưởng tới quyền lợi của họ.

    - Bình luận: Nhiều nước tỏ ra thất vọng qua chuyến đi của Lê Hồng Anh sang Trung Quốc gặp Tập Cận Bình. Trước đó, họ coi Việt Nam là điểm sáng, là ngọn cờ đấu tranh chống lại Trung Quốc bành trướng, nay họ cảm thấy bị phản bội. Và họ đang tìm hiểu liệu Việt Nam – Trung Quốc đã thỏa thuận ngầm với nhau điều gì. “Thật là tồi tệ nếu điều đó xảy ra”. Họ trao đổi với nhau điều mà Việt Nam đang làm với Trung Quốc (ý nói là các cuộc gặp cấp cao Việt Nam – Trung Quốc) “đã trở thành luật chơi – Trung Quốc gây sự, Việt Nam phản đối rồi 2 nước đi đêm với nhau, các nước bị đánh lừa”.

    Nước ta thoát khoải chiến tranh quân sự mới vài thập kỷ gần đây và đang phải đối phó với những đe dọa từ bên ngoài. Các thế hệ cách mạng dần dần đã ra đi. Tuy vậy, những người còn lại đã chứng kiến thời khắc lịch sử cũng không phải là ít trong đó có một số ít vẫn trong bộ máy của Đảng và Nhà nước. Tất cả những người còn lại từ cuộc chiến tranh nói ở trên đây đều có chung một nhận định các yếu tố đe dọa chủ quyền an ninh của đất nước ta ngày càng tăng lên từ hướng Trung Quốc. Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Trung Quốc chống ta kiểu khác; khi bình thường hóa 2 nước sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, Trung Quốc chống ta kiểu khác. Và ngày nay, khi thế và lực của Trung Quốc đã đổi khác, Trung Quốc đã bộc lộ rõ mục tiêu đối với nước ta và họ hành động ngày càng công khai trắng trợn để độc chiếm Biển Đông của ta.

    Nhưng không hiểu sao Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và một số đồng chí đồng quan điểm với ông Trọng lại nhìn nhận Trung Quốc tĩnh tại của thời kỳ chiến tranh lạnh để rồi cột mình vào những nguyên tắc do giới lãnh đạo Trung Quốc đưa ra cho lãnh đạo Việt Nam làm theo “4 tốt”“16 chữ vàng” từ thời ông Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh để lại. Muốn thoát khỏi sự lệ thuộc theo “định luật lịch sử” thì lúc này là Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phải nhìn nhận lại về Trung Quốc, bản chất đảng và nhà nước Trung Quốc hiện nay là gì, có còn theo Chủ nghĩa Mác – Lênin nữa không, họ có còn là đồng chí anh em của Việt Nam nữa không hay đang là mối đe dọa độc lập chủ quyền của nước ta và an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Chỉ trên cơ sở đánh giá này mới nhận rõ được đối tượng, đối tác của nước ta. Trên cơ sở đó tạo sự thống nhất trong Đảng, trong nội bộ thì mới có chủ trương đối sách nhất quán và đúng đắn.

    lekhaphieu-nongducmanh.jpg

    Các ông Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh là những người đồng chí của ông Trọng đã tạo nên “4 tốt” và “16 chữ vàng” với Trung Quốc

    “Hòa hiếu” với Trung Quốc là nguyện vọng của dân tộc ta từ bao đời nay, nhưng mỗi một thời nó có các điều kiện của nó. Ngày nay, nước ta là nước độc lập, biên giới lãnh thổ đã được xác định trên cơ sở luật pháp quốc tế, việc “hòa hiếu” với các nước nói chung và láng giềng nói riêng phải trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng nền độc lập và chủ quyền của nhau và lợi ích của 2 nước phải được tôn trọng và công bằng.

    Nhưng đường lối, đối sách của Nguyễn Phú Trọng đưa ra đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông vừa qua đối ngược với nguyên tắc đó, có nhiều sai lầm, biểu hiện của sự nhu nhược, đầu hàng nên đã không đạt được những điều Đảng, Nhà nước và nhân dân mong muốn khiến tình hình tồi tệ thêm. Trung Quốc ngang nhiên hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của ta hơn 2 tháng mà không làm gì được họ. Trong lãnh đạo cấp cao có nhiều bài phát biểu rất bất lợi cho vị thế của Việt Nam, nhân dân rất thất vọng về họ.

    Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đồng chí hãy đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết để gạt bỏ những tính toán cá nhân trong đầu để đoàn kết nhau lại lo việc bằng việc đấu tranh loại bỏ ngay những tư tưởng và con người lệ thuộc đầu hàng ngoại bang ra khỏi bộ máy lãnh đạo của nước ta, ủng hộ những người có bản lĩnh đương đầu với mọi nguy cơ để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của đất nước.

    nguyenphutrong.jpg

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người chịu trách nhiệm chính, ông cần nghiêm túc kiểm điểm để thấy rõ trách nhiệm của mình đối với việc đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông và việc ngày càng tránh né Việt Nam của Lào, Campuchia để lệ thuộc sâu hơn vào Trung Quốc.

    Mong Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông đọc kỹ các câu hỏi và bình luận của dư luận trong và ngoài nước sau chuyến đi của phái viên Lê Hồng Anh để soi lại mình, vẫn còn đủ thời giờ để điều chỉnh nếu như muốn tranh sự phế truất của Đảng viên và nhân dân.

    Một cán bộ Viện Nghiên cứu Quốc tế (xin được phép dấu tên)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    10 phản hồi

    Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thăm Trung Quốc
    (Thời sự VTV)

    Nhận lời mời của Chính phủ Trung Quốc và Chính quyền Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dự Hội chợ ASEAN - Trung Quốc và Hội nghị thượng đỉnh đầu tư thương mại ASEAN – Trung Quốc lần thứ 11 tại Nam Ninh, Quảng Tây từ ngày 15 - 16/9/2014.
    Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có cuộc gặp với Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ; tiếp Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Bành Thanh Hoa.
    Tại cuộc gặp với Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đánh giá cao vai trò của Trung Quốc trong việc tổ chức thành công các kỳ Hội chợ ASEAN - Trung Quốc và Hội nghị thượng đỉnh đầu tư thương mại ASEAN – Trung Quốc. Về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam hết sức coi trọng việc phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, phía Việt Nam sẵn sàng cùng phía Trung Quốc thúc đẩy quan hệ hai nước có những bước phát triển mới thực chất và sâu rộng hơn nữa trên các lĩnh vực. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đề nghị hai bên tiếp tục duy trì trao đổi cấp cao giữa hai Đảng, hai nước; thực hiện hiệu quả Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, triển khai đúng kế hoạch các cơ chế, chương trình hợp tác giữa các Bộ/ngành, địa phương hai nước.
    Về vấn đề Biển Đông, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đề nghị hai bên cần kiểm soát tốt tình hình trên biển, không có những hành động làm phức tạp thêm tình hình, thúc đẩy các cơ chế đàm phán tiến triển, nghiêm túc thực hiện Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc; tôn trọng Luật pháp quốc tế, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.
    Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ hoan nghênh việc Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam sang dự Hội chợ và Hội nghị thượng đỉnh đầu tư thương mại ASEAN – Trung Quốc lần thứ 11 tại Quảng Tây; thể hiện sự coi trọng của Chính phủ Việt Nam đối với hợp tác ASEAN - Trung Quốc nói chung, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc nói riêng; đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN. Về quan hệ song phương, Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ khẳng định Đảng, Chính phủ Trung Quốc luôn kiên trì phương châm láng giềng hữu nghị, hợp tác cùng có lợi với Việt Nam, luôn mong muốn xử lý thỏa đáng các vấn đề khó khăn phát sinh trong quan hệ hai nước, cùng thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định và bền vững.
    Cũng trong dịp này, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đã có cuộc gặp với Thủ tướng Campuchia Hun Sen, Phó Chủ tịch nước Lào Bounnhang Vorachith và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Thanasak trao đổi về các biện pháp thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và các nước trên.

    Tác giả viết: "Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phải nhìn nhận lại về Trung Quốc, bản chất đảng và nhà nước Trung Quốc hiện nay là gì, có còn theo Chủ nghĩa Mác – Lênin nữa không".

    Đến bây giờ mà tác giả bài viết còn nêu lên câu hỏi này ư? Ông còn ngủ hay đã thức?

    Ngay từ thời Đặng Tiểu Bình thì ông này đã tuyên bố: "Dù là mèo trắng, dù là mèo đen, cứ bắt được chuột đều là mèo tốt." Ông Đặng này quá thức thời, ông ta nói câu ấy từ khi Liên xô và các nước Đông Âu chưa sụp đổ. Giá mà ta bắt chước (hay noi gương) ông Đặng này thì tốt quá. Nếu thế thì nay ta còn đặt vấn đè thoát Trung nữa không? Đặng đánh ta năm 1979 thì ta ghét, nhưng cái gì hay của Đặng thì ta học.

    Nay Trung quốc áp dụng hình thức một quốc gia hai chính thể, cứ để Hồng Kông và Ma cao theo chính thể cũ, chỉ có đại lục theo CN Mác (không có Lênin) biến tướng "theo mầu sắc Trung quốc" mà thôi.

    Tác giả viết: "mọi tranh chấp sẽ được giải quyết qua con đường lãnh đạo giữa 2 Đảng Cộng sản trên tình thần đồng chí anh em?

    Xin hỏi: Thế ai là anh? Ai là em?

    Tác giả viết: "Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phải nhìn nhận lại về Trung Quốc, bản chất đảng và nhà nước Trung Quốc hiện nay là gì, có còn theo Chủ nghĩa Mác – Lênin nữa không"

    Xin hỏi: Thế Đảng ta trong thực tế còn "có còn theo Chủ nghĩa Mác – Lênin nữa không"?

    Nếu còn theo CN Mác Lênin thì sao lại đồng minh chiến lược với nhiều nước tư bản và cho tư bản vào bóc lột công nhân ta? Theo CN Mác Lênin thì trong hàng ngũ lãnh đạo có ai thuộc giai cấp công nhân không? Theo CN Mác Lênin thì sao cán bộ cao cấp lại cho con cháu sang các nước tư bản học tập?

    AP: Vì đâu Việt Nam chi gấp đôi, Nhật tăng đầu tư quốc phòng kỷ lục?

    Trong bài bình luận mới đây, hãng tin AP (Mỹ) cho rằng, việc một vài quốc gia châu Á đẩy mạnh năng lực quân sự quốc gia không nằm ngoài mục đích đề phòng và ngăn chặn sự hung hăng và hiếu chiến của Trung Quốc trong cuộc chiến giành chủ quyền tại những vùng biển đang xảy ra tranh chấp tại Đông Á.
    Ngoài ra, thông tin liên quan tới khoản tăng ngân sách quốc phòng của các nước được công bố trong bối cảnh Trung Quốc ngang nhiên khẳng định chủ quyền với nhiều bãi đá và hải phận tranh chấp với các quốc gia láng giềng. Thậm chí, một số quốc gia như Ấn Độ và Hàn Quốc còn nhanh chóng hiện đại hóa các lực lượng quân sự mặc dù những tranh chấp của họ với Trung Quốc chủ yếu vẫn diễn ra trên mặt trận ngoại giao.
    Theo AP, các quốc gia châu Á hiện đang chiếm một nửa số lượng vũ khí nhập khẩu trên thế giới. Trong đó, Trung Quốc đang trở thành quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất khu vực khi mà ngân sách quân sự thường niên của nước này đã tăng gấp 4 lần trong một thập niên qua.
    Nhà phân tích địa chính trị Robert D. Kaplan thuộc Công ty nghiên cứu tình báo Stratfor tại Mỹ cho rằng mục tiêu trang bị thêm vũ khí của Trung Quốc là nhằm đánh bật vị thế thống trị của Mỹ tại Thái Bình Dương. Bắc Kinh đang âm mưu giành quyền kiểm soát các tuyến đường biển nhộn nhịp tại Biển Đông cùng giếng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên tại các vùng biển Đông Á.
    “Trung Quốc tự cho rằng họ có thể tăng cường năng lực quân sự tại khu vực Biển Đông và Hoa Đông nhanh hơn Việt Nam và Philippines. Nếu Trung Quốc có thể di chuyển tự do và giành quyền kiểm soát các vùng biển phụ cận, Bắc Kinh sẽ chính thức trở thành một cường quốc biển”, ông Kaplan chia sẻ.
    Trong khi đó, Viện Hòa bình quốc tế Stockholm nhận định Bắc Kinh vẫn chưa thể bắt kịp tốc độ tăng chi tiêu quốc phòng với mức 665 tỷ USD/năm của Mỹ. Theo đó, mức chi tiêu quốc phòng của Mỹ bằng tổng 8 quốc gia đứng sau cộng lại và gấp 3 lần so với Trung Quốc. Tuy nhiên, số tiền Trung Quốc chi cũng đã ngang hàng với tổng chi tiêu quốc phòng của 24 quốc gia tại khu vực Đông và Nam Á.
    Hiện nay, hạm đội tàu ngầm của Trung Quốc đang trở thành đề tài nhận được nhiều sự quan tâm nhất của dư luận quốc tế. Bắc Kinh còn tham vọng nâng tổng số tàu ngầm lên 78 chiếc ngang hàng với Mỹ vào năm 2020. Theo đó, phần đông tàu ngầm của Trung Quốc sẽ neo đậu tại căn cứ cảng biển lớn nhất nước này tại đảo Hải Nam trên Biển Đông.
    Động thái của Trung Quốc cũng đã làm thay đổi thị trường mua bán tàu ngầm tại châu Á. Trong năm nay, Việt Nam đã tiếp nhận 3 trong số 6 chiếc tàu ngầm mua của Nga cùng với các máy bay tuần tra đường biển có khả năng phát hiện tàu ngầm Trung Quốc. Hiện nay, Nga đang là nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu tại khu vực châu Á, theo sau là Mỹ và các quốc gia châu Âu như Hà Lan.
    Hồi tháng Năm, hành động Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam đã khiến mối quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Thậm chí, các tàu thuyền của Trung Quốc còn ngăn cản tàu Việt Nam thực thi nhiệm vụ. Do đó, AP cho biết trong 5 năm qua, ngân sách chi tiêu quân sự của Việt Nam đã tăng thêm 83%, chiếm 8% khoản chi tiêu của chính phủ.
    Tương tự, Nhật Bản cũng đang dần thay thế toàn bộ hạm đội hiện thời bằng lực lượng tàu ngầm hiện đại hơn. Hàn Quốc thì trang bị thêm các tàu ngầm tấn công cỡ lớn và Ấn Độ lên kế hoạch đóng thêm 6 tàu ngầm mới.
    “Những nước yếu thế hơn thường chọn tàu ngầm để đối phó với đối thủ mạnh hơn. Bởi tàu ngầm có thể di chuyển mà không phát ra tiếng ồn và tránh được sự kiểm soát từ lực lượng trên không và trên biển”, nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Stockholm, Siemon Wezeman nói.
    So với Việt Nam và Nhật Bản, mức chi tiêu quốc phòng của Philippines vẫn còn xếp sau. Sau khi đứng nhìn một cách vô vọng để Trung Quốc chiếm nhiều bãi đá ngầm, Manila đã chào mời quân đội Mỹ trở lại những căn cứ quân sự vốn vắng bóng binh sĩ trong vòng 20 năm qua. Ngoài ra, Philippines còn lên kế hoạch tăng chi tiêu quân sự để mua thêm các máy bay kiểm soát đường biển, máy bay ném bom và nhiều loại khí tài khác.
    “Philippines đang nỗ lực đầu tư hiện đại hóa quân sự. Trong nhiều năm, nền kinh tế của Philippines vẫn đang tăng trưởng và cũng trong nhiều năm qua, quốc gia này không thể đáp trả những yêu cầu của họ”, nhà phân tích quốc phòng châu Á – Thái Bình Dương thuộc nhóm nghiên cứu IHS Jane, Jon Grevatt chia sẻ.
    Ngay cả tại Nam Á, khu vực Trung Quốc dường như không thể xâm chiếm, Ấn Độ cũng đã trang bị thêm xe tăng và chiến đấu cơ đồng thời trở thành nhà nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới. Thậm chí, Ấn Độ đã thành lập quân đoàn sơn cước với 100.000 quân nhân gần khu vực biên giới tranh chấp với Trung Quốc.
    Hồi tháng Sáu, Nhật Bản đã quyết định tặng 6 tàu tuần tra bờ biển cho Việt Nam sau khi cam kết tặng 10 chiếc cho Philippines hồi năm ngoái. Theo viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế tại Anh, Việt Nam đã tăng gần gấp đôi hạm đội tàu Bảo vệ bờ biển lên 68 chiếc trong vòng 5 năm qua.
    Trong khi đó, Nhật Bản đã mở rộng hạm đội Bảo vệ bờ biển thêm 41 tàu nâng tổng số lên 389 chiếc. Trong vòng 2 năm qua, những chiếc tàu này đã được Nhật Bản sử dụng để bảo vệ chủ quyền tại quần đảo đang xảy ra tranh chấp với Trung Quốc trên biển Hoa Đông, Senkaku/Điếu Ngư.
    Thậm chí, Nhật Bản còn chuẩn bị sẵn phương án tự bảo vệ mình trong trường hợp căng thẳng leo thang với Trung Quốc. Điển hình, hồi tháng trước, chính quyền của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đề xuất khoản chi tiêu quốc phòng cao kỷ lục 48 tỷ USD để trang bị máy bay tuần tra P-1, chiến đấu cơ tàng hình và nhiều khí tài khác của Mỹ.
    Hồi tháng Bảy, Nội các của Thủ tướng Abe cũng đã đồng thuận thay đổi hiến pháp cho phép quân đội nước này tham gia chiến đấu bảo vệ Mỹ và quân đội nước ngoài trong trường hợp họ bị tấn công. Hồi đầu tháng này, Nhật Bản và Ấn Độ cũng đã cam kết chia sẻ công nghệ quốc phòng và tổ chức các cuộc tập trận chung.
    (Theo Infonet)

    Tổng thư ký ASEAN: “Hành động của Trung Quốc trên biển Đông rất nguy hiểm”

    (Dân trí) - “Những việc xảy ra trong thời gian qua, như Trung Quốc xây đảo nhân tạo thay đổi hiện trạng biển Đông, đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam có chủ quyền chính đáng theo quy định luật pháp quốc tế là việc làm rất nguy hiểm”, Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh nói.
    Ngày 15/9, bên lề buổi hội thảo quốc tế Hợp tác phát triển giữa Việt Nam - ASEAN với Liên bang Nga thực trạng và triển vọng, ông Lê Lương Minh - Tổng thư ký ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) trao đổi với phóng viên Dân trí về những vấn đề liên quan đến tình hình biển Đông hiện nay.

    Mới đây phóng viên BBC đã vạch trần “nhà máy tạo đảo” của Trung Quốc ở Trường Sa. Xin cho biết quan điểm của ông trước hành động trên của Trung Quốc?
    Ứng xử của Trung Quốc và ASEAN trên biển Đông được quy định tại Tuyên bố Ứng xử của các các bên trên biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và ASEAN đã ký kết từ năm 2002. Theo tuyên bố này, các bên không sử dụng vũ lực hay bất cứ hoạt động nào làm thay đổi hiện trạng trên biển Đông.
    Việc xây dựng đảo nhân tạo hay bất cứ hoạt động nào làm thay đổi hiện trạng trên biển Đông đều là những hành vi trái ngược với tinh thần quy định cụ thể Tuyên bố Ứng xử của ASEAN và Trung Quốc trên biển Đông. Điều đó cũng cho thấy giữa ASEAN và Trung Quốc sớm phải có một văn kiện mới về biển Đông. Văn kiện này không chỉ có khả năng ngăn chặn mà còn phải quản lý, xử lý hiệu quả tình hình.
    Việc Trung Quốc vẫn thường xuyên vi phạm DOC, khiến biển Đông ngày càng phức tạp. Ông có quan ngại hành động đó của Trung Quốc khiến tình hình biển Đông ngày càng nguy hiểm hơn không?

    Rõ ràng tất cả những việc xảy ra trong thời gian qua, đặc biệt là Trung Quốc triển khai giàn khoan trong vùng biển Việt Nam hoàn toàn có chủ quyền chính đáng theo quy định của luật pháp quốc tế, của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 là một việc làm rất nguy hiểm.
    ASEAN cũng đã có tuyên bố về việc đó và kêu gọi sớm ký kết quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC). Đây là yêu cầu rất cần thiết, vì nó không chỉ ngăn chặn mà còn quản lý, xử lý những vụ việc tương tự xảy ra ở biển Đông. Với việc Trung Quốc đã cam kết cùng ASEAN sớm tiến tới ký kết bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Trung Quốc vừa qua, tôi hi vọng điều đó sớm thành hiện thực.
    Theo DOC thì các bên không sử dụng vũ lực hay bất cứ hoạt động nào làm thay đổi hiện trạng trên biển Đông. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục có những hành động ngang ngược trên biển Đông như việc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam hay mới đây là xây đảo, Việt Nam có nên sử dụng pháp lý đưa họ lên Hội đồng trọng tài quốc tế của Liên Hiệp Quốc như Philippines đang làm hay không?
    Trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng điều khoản của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, cũng như trên cơ sở tinh thần 6 điểm về biển Đông của ASEAN thì các nước hoàn toàn có quyền sử dụng những biện pháp hòa bình để tiến tới giải pháp cho vấn đề biển Đông.
    Nhiều người cho rằng việc chưa đạt được thỏa thuận trong Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) là do còn những quan điểm trái chiều, không chỉ giữa các nước ASEAN – Trung Quốc mà ngay cả giữa các nước ASEAN với nhau?
    Tôi khẳng định tất cả các nước ASEAN cùng lập trường, cùng một quan điểm về vấn đề này. Điều đó được thể hiện qua nguyên tắc 6 điểm về biển Đông. Trong đó những nguyên tắc quan trọng nhất, cơ bản nhất là tôn trọng luật pháp quốc tế, tuân thủ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, nguyên tắc về kiềm chế, nguyên tắc không sử dụng vũ lực, nguyên tắc giải quyết hòa bình về tranh chấp. Đặc biệt trong tuyên bố 6 điểm đó, ASEAN có đề ra yêu cầu cùng Trung Quốc sớm tiến tới có một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông.
    Còn trong vấn đề tranh chấp ở biển Đông có hai vấn đề quan trọng. Một là việc giải quyết yêu cầu chủ quyền - việc này chỉ có thể giải quyết giữa các nước liên quan. Cần nhấn mạnh ở đây "liên quan" không nhất thiết giữa hai bên vì tranh chấp này liên quan đến Trung Quốc và cả bốn nước ASEAN. Do vậy, "liên quan" là tất cả các bên liên quan có thể là hai bên, ba bên thậm chí có thể là nhiều hơn tùy thuộc và việc tranh chấp cụ thể.
    Khía cạnh thứ hai là vấn đề hòa bình, ổn định ở biển Đông liên quan đến an toàn hàng hải và an ninh biển. Việc này liên quan đến tất cả các nước vì ở đây có tuyến vận tải đường biển lớn nhất thế giới.
    Xin cảm ơn ông!
    Quang Phong (thực hiện)

    Xin lỗi đã đánh sai keyboard "viển" thành "viễn": HỮU NGHỊ VIỂN VÔNG CỦA PHE ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG!

    HỮU NGHỊ VIỄN VÔNG CỦA PHE ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG!

    Công bố về "hải phận và các đảo biển" trên một trang mạng của Trung Quốc:

    Đường biển đất liền Trung Quốc đi từ cửa sông Áp Lục Giang tỉnh Liêu Ninh về phía bắc đến cửa sông Bắc Luân Quảng Tây về phía nam, dài khoảng 18 nghìn cây số. Bờ biển địa thế bằng phẳng, có nhiều cảng biển tốt, và phần lớn cảng biển quanh năm không đóng băng. Vùng biển gần bờ Trung Quốc có 5 vùng biển lớn như biển Bột Hải, Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải và vùng biển Thái Bình Dương cách đảo Đài Loan về phía đông. Trong đó, biển Bột Hải là biển nội địa Trung Quốc. Vùng biển Thái Bình Dương cách đảo Đài Loan về phía đông nằm ở chỗ đi từ Quần đảo Chi-shi-ma ở miền tây nam Quần đảo Lưu Cầu Nhật về phía bắc đến Eo biển Ba Sĩ về phía nam.

    Vùng biển Trung Quốc gồm nội thủy và lãnh hải Trung Quốc, tổng diện tích hơn 380 nghìn ki-lô-mét vuông. Nội thủy Trung Quốc chỉ hải phận từ đường lãnh hải cơ bản của Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hướng vào nội địa tới bờ biển. Chiều rộng lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý đo từ đường lãnh hải cơ bản. Đường lãnh hải cơ bản được hoạch định bằng phương pháp đường thẳng đường cơ bản, được hình thành bằng cách nối các đường thẳng nối liền hai điểm gần nhau lại với nhau; ranh giới bên ngoài lãnh hải là một đường mà mỗi điểm của nó đều cách điểm gần nhất của đường lãnh hải cơ bản 12 hải lý.

    Trong vùng biển Trung Quốc rải rác hơn 5000 đảo lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 80 nghìn ki-lô-mét vuông và bờ biển trên đảo khoảng 14 nghìn cây số. Đảo Đài Loan với diện tích 36 nghìn ki-lô-mét vuông được xếp vào hạng đảo có diện tích rộng nhất; Đảo Hải Nam với diện tích 34 nghìn ki-lô-mét vuông được xếp vào hạng đảo lớn thứ hai. Đảo Điếu Ngư và Đảo Xích Vĩ ở vùng biển phía đông bắc Đảo Đài Loan là đảo ở cực đông Trung Quốc. Các đảo lớn nhỏ, đá ngầm, ghềnh rải rác trong vùng biển Nam Hải được gọi chung là các đảo biển Nam Hải, là Quần đảo ở cực nam Trung Quốc, bởi vị trí khác nhau được gọi riêng là Quần đảo Đông Sa, Quần đảo Tây Sa (HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM*), Quần đảo Trung Sa và Quần đảo Nam Sa (TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM*).

    *Chú thích của người viết

    Tập Cận Bình đồng ý cho cậu Út Anh làm nhiệm vụ bưu tá đưa thư, như vậy là phe 'Cung vua' có cửa ăn nói ở ĐH 12 sắp tới. Tập và đồng đảng muốn như vậy. Vì dùng giải pháp quân sự để chiếm biển Đông là chọn lựa cuối cùng, khí kế " Bất chiến tự nhiên thành" không còn hiệu quả.
    Đường nào China cũng 'làm thịt' VN . Và khi ấy , người dân tự đứng lên chiến đấu vs thù trong giặc ngoài thôi. Lịch sử sẽ lặp lại y như giai đoạn Pháp xâm chiếm VN , người dân phải đánh cả Pháp và triều đình nhà Nguyễn.
    Than ôi ! nước Việt điêu linh.

    Malaysia cho Mỹ lập căn cứ máy bay do thám: Thông điệp “phủ đầu” Trung Quốc

    ĐỨC TÂM
    09:46 15/09/2014
    BizLIVE - Theo giới quan sát, cho dù Mỹ có thể chưa chấp nhận đề nghị của Malaysia hoặc sẽ đồng ý trong tương lai, nhưng đây là một thông điệp rõ ràng mà Hoa Kỳ muốn gửi tới Trung Quốc.

    Theo RFI, phát biểu tại viện nghiên cứu Carnegie, có trụ sở tại Washington DC, ngày 8/9 vừa qua, đô đốc Jonathan Greenert, Chỉ huy các hoạt động tác chiến của Hải quân Mỹ (CNO), cho biết, chính phủ Malaysia đã đồng ý mở rộng việc sử dụng lãnh thổ quốc gia như một căn cứ cho máy bay do thám Mỹ. Thông tin này được báo chí quốc tế loan tải ngày 14/9/2014.

    Theo đô đốc Greenert, chính phủ Kuala Lumpur đã chấp thuận để Hoa Kỳ triển khai phi đội máy bay do thám P-8s ở miền đông Malaysia. Đây là một phi đội mới của Hải quân Hoa Kỳ, có nhiệm vụ do thám và phát hiện tàu ngầm. Theo vị tướng này, do vị trí căn cứ nói trên gần Biển Đông, Hoa Kỳ có cơ hội giám sát và cần phải tiếp tục khai thác cơ hội này.

    Tuy nhiên, ngày 12/09, văn phòng của đô đốc Greenert cho biết, việc chấp thuận cho Mỹ dùng sân bay trên lãnh thổ Malaysia không liên quan đến phi đối P-8s. Còn phát ngôn viên Hải quân Mỹ thì cải chính, theo đó, đô đốc Greenert không nói đến việc Malasyia chấp thuận các hoạt động của máy bay do thám P-8s.

    Ông chỉ đang thảo luận để thúc đẩy các cơ hội trong tương lai, đáp ứng các vấn đề nổi lên trong khu vực, và có liên quan đến các hoạt động tìm kiếm chiếc máy bay mất tích MH 370 của Malaysia Airlines.

    Cho đến nay, Washington không có các thỏa thuận quân sự chính thức với Kuala Lumpur, cho phép quân đội Mỹ hiện diện trên lãnh thổ Malaysia. Hai nước chỉ hợp tác theo từng trường hợp cụ thể, như tìm kiếm chiếc máy bay bị mất tích, và máy bay do thám P-8s được dùng vào việc này.

    Cũng trong ngày 12/09, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố rằng Washington "không có kế hoạch hiện diện quân sự thường trực tại Malasyia" và "mọi hoạt động quân sự của Mỹ tại Malasyia đều cần có sự cho phép và hợp tác toàn diện của chính phủ Malaysia".

    Theo giới quan sát, cho dù Mỹ có thể chưa chấp nhận đề nghị của Malaysia hoặc sẽ đồng ý trong tương lai, nhưng đây là một thông điệp rõ ràng mà Hoa Kỳ muốn gửi tới Trung Quốc. Các động thái hung hăng của Bắc Kinh trong các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại Biển Đông đã gây căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước liên quan, như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei.

    Trong tháng Tám, Bắc Kinh và Washington đã đổ trách nhiệm cho nhau trong vụ một máy bay tiêm kích Trung Quốc bay sát gần máy bay tuần tra do thám P-8 của Mỹ, trong không phận quốc tế, gần đảo Hải Nam.

    Trung Quốc tuyên bố biến Đá Châu Viên thành đảo lớn nhất Trường Sa

    (Dân trí) - Trang Sina.com của Trung Quốc hôm nay ngang nhiên đăng bài viết cho biết, Trung Quốc sẽ biến Đá Châu Viên thành hòn đảo nhân tạo lớn nhất mà nước này chiếm đóng tại Trường Sa.


    Hoạt động trái phép của Trung Quốc trên Đá Châu Viên.

    Đá Châu Viên là một rạn san hô thuộc cụm Trường Sa, quần đảo Trường Sa thuộc huyện đảo Trường Sa, Khánh Hòa, Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt năm 1988. Sau khi chiếm đoạt, Trung Quốc đã phái quân đồn trú trái phép và xây dựng nhà nổi kiên cố tại đây.

    Theo bài báo đăng tải trên Sina.com, từ cuối năm 2013 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành hoạt động cải tạo mở rộng đảo nhân tạo tại Đá Châu Viên, để biến Đá Châu Viên thành đảo lớn nhất mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép tại quần đảo Trường Sa. Và tính đến tháng 5/2014 hòn đảo này đã là lớn nhất so với các đảo Trung Quốc chiếm đóng.

    Hiện tại công tác mở rộng đảo vẫn đang được tiến hành và trong tương lai diện tích tại Đá Châu Viên có thể càng rộng lớn hơn.

    Bài báo còn đăng một loạt ảnh về hoạt động như điều nhân công, xe tải công suất lớn, tàu nạo vét, cần cẩu để thực hiện hành vi mở rộng đảo nhân tạo trái phép của Trung Quốc trên Đá Châu Viên.

    Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc công khai hoạt động phi pháp của nước này trên quần đảo Trường Sa.

    Hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc, Tân Hoa xã ngày 9/9 vừa qua đã đăng bài viết nêu rõ hoạt động mở rộng đảo của Trung Quốc tại Trường Sa nhằm mục đích quân sự. Sau khi Trung Quốc hoàn thành mở rộng đảo, Trung Quốc sẽ tiếp tục xây dựng cầu cảng, sân bay nhằm biến các đảo này thành các căn cứ quân sự, khống chế toàn bộ khu vực Biển Đông.

    Nguồn Dân Trí