Nguyễn Tường Tâm – Bộ Giáo dục & Đào tạo bắt học sinh tiểu học đấu tố nhau

  • Bởi Cát Bụi
    13/09/2014
    7 phản hồi

    Nguyễn Tường Tâm

    Chuyện nhỏ nhưng không nhỏ. Một qui định “nhỏ” của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo (GD & ĐT) sẽ ảnh hưởng xấu lâu dài và sâu rộng tới nhân quyền, và văn hóa của toàn thể xã hội. Báo Giáo dục điện tử ngày 4/9/2014 có đăng một bài về sự đổi mới trong giáo dục tiểu học với tựa đề “Chính thức áp dụng không chấm điểm cấp tiểu học,” của tác giả Xuân Trung (1). Theo bài báo, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo chính thức ra thông tư qui định hủy bỏ việc chấm điểm học sinh tiểu học như hiện nay và thay vào đó là biện pháp đánh giá học sinh tiểu học bằng nhận xét. Với sự đổi mới này, ngoài biện pháp nhận xét, đánh giá học sinh của giáo viên, còn có đánh giá của cha mẹ, của bản thân, của đồng bạn, và của người khác nếu có (chưa biết là ai!). Bài báo viết, “Bên cạnh đó, học sinh cũng tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn.” Bài báo cũng viết tiếp, “Hàng tháng, giáo viên thông qua quá trình quan sát, ý kiến trao đổi với cha mẹ học sinh và những người khác (nếu có) để nhận xét học sinh, ghi vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục.” Dựa theo những qui định trên, ngoài biện pháp đánh giá của giáo viên, các biện pháp còn lại đều vi phạm luật pháp, xâm phạm quyền riêng tư (privacy), là một sự xách nhiễu tinh thần học sinh, có tính cách vô nhân đạo, vô văn hóa, và phản giáo dục.

    Trước hết một cụm từ trong thông tư viện dẫn cần được tìm hiểu rõ đó là cụm từ “tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn.” Cụm từ này đương nhiên bắt học sinh sau khi viết bản tự đánh giá phải mang ra đọc trước lớp. Như vậy hành vi “tự đánh giá” ở đây không khác gì hành vi “tự kiểm điểm trước tổ, đội, cơ quan hay khu phố”; và đó cũng chính là hình thức “đấu tố trước tổ, đội, khu phố hay trước nhân dân”, một biện pháp được đảng Cộng sản áp dụng từ thời cải cách ruộng đất cho tới ngày nay thỉnh thoảng vẫn được chính quyền địa phương áp dụng đối với các nhà bất đồng chính kiến. Nói cách khác, cụm từ vừa nêu chính là hình thức bắt buộc mỗi học sinh tiểu học, theo thường kỳ, phải bị mang ra đấu tố trước toàn lớp.

    Việc bắt buộc người công dân viết tự kiểm điểm mọi sinh hoạt hàng ngày của họ là một vi phạm pháp luật. Trong một xã hội pháp quyền, văn minh, người công dân không thể bị bắt buộc làm điều gì luật pháp không đòi hỏi; và luật pháp Việt Nam hiện hành thì không đòi hỏi người công dân phải viết tự kiểm điểm. Vậy thì hà cớ gì bộ GD& ĐT lại có quyền ra thông tư qui định bắt học sinh tiểu học viết tự kiểm điểm (tức tự đánh giá) thường kỳ?

    Viết kiểm điểm khác viết bản tường thuật. Câu hỏi được đặt ra là khi học sinh vi phạm nội qui của trường thì giáo viên phải làm sao? Câu trả lời là nếu giáo viên chứng kiến thì sẽ cho học sinh biết hành động của học sinh là vi phạm nội qui. Học sinh có quyền hỏi vi phạm điều nào của nội qui thì giáo viên phải chỉ rõ. Và giáo viên chỉ có thể áp dụng biện pháp kỷ luật đã được qui định trong nội qui chứ không được có biện pháp kỷ luật nào khác. Trong trường hợp học sinh vi phạm kỷ luật mà giáo viên (hay hiệu trưởng) không chứng kiến, ví dụ một học sinh báo cáo bị học sinh khác hành hung trong trường (nếu sự việc xảy ra ngoài trường thì không thuộc thẩm quyền của nhà trường), thì giáo viên phải gọi học sinh bị tố cáo lên và yêu cầu tường thuật (miệng hay văn bản). Cần phân biệt đây là bản tường thuật chứ không phải bản tự kiểm điểm. Có nghĩa là trong bản tường thuật này, học sinh tác giả của hành động không bị buộc phải nhận khuyết điểm. Việc nhận xét tác giả của hành động có khuyết điểm hay không chính là và chỉ có thể là giáo viên, sau khi chỉ ra hành vi đó vi phạm điều thứ mấy của nội qui.

    Ngoài vi phạm luật pháp, việc bắt học sinh đọc bản tự đánh giá trước bạn đồng lớp để các bạn đồng lớp góp ý lại là một vi phạm vào quyền riêng tư, vốn là một quyền quan trọng được luật pháp bảo vệ. Trong bài Sự riêng tư và luật pháp (Privacy and the Law) của Micheal McFarland, tác giả viết rằng “hầu hết các chính quyền đều công nhận sự cần thiết phải bảo vệ sự riêng tư của công dân, ít nhất ở một mức độ nào đó” (2). Sự bảo vệ sự riêng tư theo luật Anh – Mỹ thì “Việc tiết lộ những thông tin riêng tư là bất hợp pháp, nếu việc tiết lộ đó khiến người đó cảm thấy khó chịu, nếu người đó không phải nhân vật của công chúng (public figure) và nếu việc tiết lộ đó không vì quyền lợi công cộng một cách chính đáng (It is illegal to reveal private facts about someone if the average person would find it objectionable to have that information made public, provided that the subject of the information is not a public figure and there is no legitimate public interest in making the information known (3). Trong giáo dục thì Hoa Kỳ có đạo luật bảo vệ quyền và sự riêng tư trong giáo dục của gia đình (The Family Education Rights and Privacy Act (1974)). Đạo luật này kiểm soát việc tiếp cận hồ sơ của học sinh trong trường học. Những thông tin này gồm điểm học, các lần bị kỷ luật, tình trạng tâm lý, bệnh tật, lý lịch gia đình, các thông tin cá nhân khác và các nhận xét, phê bình của giáo viên. Luật này cho phép học sinh hay cha mẹ (nếu học sinh còn vị thành niên, tức dưới 18 tuổi) quyền được xem hồ sơ của học sinh và yêu cầu sửa đổi những điều cần thiết. Luật cũng giới hạn người ngoài tiếp cận hồ sơ học sinh (4). Theo đạo luật này, ngay cả cha mẹ cũng không có quyền tiếp cận hồ sơ con mình khi chúng đã đủ 18 tuổi. Bởi thế, việc qui định cho phép bạn học trong lớp tiếp cận thông tin đời tư của học sinh để nêu nhận xét, đánh giá và góp ý là hoàn toàn bất hợp pháp và vi phạm trầm trọng quyền riêng tư của học sinh.

    Thông tư của bộ GD& ĐT lại còn cho phép người khác, không phải là cha mẹ và bạn đồng lớp biết và góp ý về các thông tin cá nhân của học sinh lại là một vi phạm nữa vào quyền riêng tư của học sinh. Trong trường học mọi cấp ở Hoa Kỳ, việc trả bài thi, bài trắc nghiệm của học sinh, sinh viên với điểm số và lời phê bình, nhận xét, giáo viên phải úp mặt có điểm và lời phê xuống bàn để không cho học sinh khác trông thấy điểm và lời phê, vì đó là những thông tin cá nhân, tuyệt đối có tính cách riêng tư. Hành động của giáo viên Hoa Kỳ như vậy là việc thực thi hàng ngày “đạo luật bảo vệ quyền và sự riêng tư trong giáo dục của gia đình.”

    Ngoài việc vi phạm luật pháp, vi phạm quyền riêng tư, việc bắt học sinh viết tự đánh giá mọi sinh hoạt hàng ngày để đem ra cho bạn đồng lớp nhận xét, đánh giá, góp ý là một hành vi sách nhiễu tinh thần (mental abuse). Thế nào là sách nhiễu tinh thần là điều người Việt Nam quá thấu hiểu, mà không cần tìm một giải thích kinh điển (academic) nào khác. Người Việt Nam nào mà không thường xuyên bị chính quyền sách nhiễu tinh thần từ trong trường học, cơ quan và phường khóm, nhất là thời bao cấp. Ngay bây giờ, không còn bao cấp nữa, nhưng công an khu vực, an ninh thành phố, tổ dân phố, tổ an ninh, tổ văn hóa v.v… vẫn thường xuyên xâm nhập gia cư bất hợp pháp, không có sự đồng ý của chủ nhà, mà người dân có khiếu nại cũng không được giải quyết. Đặc biệt, trong trường học, học sinh thường bị sách nhiễu tinh thần dưới các hình thức như bị đòi hỏi quá đáng trong học tập và kỷ luật (abusive expectations), bị chỉ trích vô lý (criticism), (5). Theo Maria Bogdanos, có thêm hai trong nhiều hình thức sách nhiễu tinh thần là khi bạn bị nhắc nhở về khuyết điểm của mình và khi kẻ sách nhiễu tinh thần là kẻ không bảo vệ những thông tin riêng tư của bạn, mà lại chia sẻ những thông tin đó trong khi bạn không đồng ý (Do they remind you of your shortcomings? Do they not protect your personal boundaries and share information that you have not approved?) (6) Rõ ràng hai hình thức sách nhiễu tinh thần mà Maria Bogdanos đề cập là hai hình thức nằm trong sinh hoạt tự đánh giá của học sinh tiểu học theo đòi hỏi trong thông tư của bộ GD & ĐT.

    Sách nhiễu tinh thần là hành vi vô nhân đạo và sẽ mang lại những chấn thương tinh thần có hậu quả lâu dài vì khiến người bị sách nhiễu luôn sống trong lo sợ. Người bị sách nhiễu tinh thần thường có các triệu chứng như trầm cảm (depression), tránh giao tiếp (withdrawal from social interaction), thiếu tự tin (low self-esteem), hay sợ sệt (fearfulness), luôn lo âu (increased anxiety, nervous), cảm thấy mình có lỗi (guilty feeling), không tin tưởng ai (not trusting others) (7) và mất tính độc lập (8). Hậu quả rõ ràng nhất của việc tự kiểm điểm trước tổ, đội, lớp, hay khu phố là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mọi người dù là dân hay cán bộ, đảng viên đều lo sợ sự theo dõi của công an, của đồng nghiệp trong cơ quan, của hàng xóm láng giềng, và của “bạn bè” trong trường học. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, người ta không bao giờ tâm tình những chuyện bí mật riêng tư với đồng nghiệp trong cơ quan, với đồng chí trong cùng tổ đảng, với hàng xóm, vì sợ có nguy cơ một ngày nào đó chỉ vì một bất đồng hay tranh dành quyền lợi nhỏ, họ sẽ bị tố cáo trong cơ quan, trong tổ đảng hay trong tổ dân phố.

    Không những vô nhân đạo, việc bắt người dân viết tự kiểm điểm định kỳ còn là biện pháp vô văn hóa vì nó gây chia rẽ, nghi kỵ, thậm chí hận thù giữa những người trong một lớp, trong một tổ, trong một cơ quan, trong một khu phố. Nó khiến người dân không còn dám tin ở ai. Có thể nói không ngoa, không có ai là bạn bè chí cốt dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Bạn bè hôm nay có thể chính là người sẽ tố cáo mình ngày mai. Bạn bè hôm nay, có thể sẽ là người ngoảnh mặt làm ngơ, thậm chí bước sang bên kia lề đường để tránh mặt, khi mình bị hoạn nạn do kết quả của tự kiểm điểm và “góp ý xây dựng” của tổ, lớp. Những ví dụ của hiện tượng này ngày nay đã được các nạn nhân phổ biến trên mạng quá nhiều khiến không cần trích dẫn. Tương tự, đòi học sinh viết bản tự đánh giá định kỳ để mang ra toàn lớp “góp ý xây dựng” chính là biện pháp đấu tố có hậu quả phá hủy văn hóa tốt đẹp của dân tộc vì sẽ tạo sự mất đoàn kết, nghi kỵ, lừa dối và hận thù trong toàn lớp.

    Vừa vi phạm pháp luật, vừa vi phạm quyền riêng tư, vừa là sự sách nhiễu tinh thần, vừa vô nhân đạo, vừa vô văn hóa, biện pháp bắt học sinh tiểu học viết tự đánh giá thường kỳ còn là một biện pháp phản giáo dục. Để học sinh có thể phát triển toàn diện, học đường phải là môi trường thân thiện, trong đó giáo viên và bạn bè phải là những người được cá nhân học sinh tin tưởng, yêu thích. Trong bài Ước gì con tôi không phải đi du học của nhà báo Nguyễn Anh Thi, bà viết về môi trường giáo dục trung học ở Hoa Kỳ như sau, “các thày cô dạy chuyên môn thì sẵn sàng chào đón cháu ở văn phòng riêng khi cần và tận tâm chỉ dạy cháu học hành đến nơi đến chốn. Cháu luôn nói với gia đình là mọi người xung quanh rất tốt và thân thiện, con cảm thấy vui vẻ và thoải mái.” (9). Việc bắt học sinh viết tự đánh giá để mang ra đọc cho các bạn đồng lớp góp ý chỉ tạo mâu thuẫn, hận thù, nghi kỵ, chia rẽ giữa các học sinh. Một môi trường giáo dục như vậy rõ ràng đi ngược lại phương pháp giáo dục văn minh.

    Với một biện pháp vừa vi phạm pháp luật, vừa vi phạm quyền riêng tư, vừa là sự sách nhiễu tinh thần, vừa vô nhân đạo, vừa vô văn hóa, vừa phản giáo dục như trong thông tư viện dẫn của bộ GD & ĐT, tại sao không thấy phụ huynh nào lên tiếng phản đối, mặc dù họ từng có nhiều kinh nghiệm đau thương của biện pháp đấu tố, kiểm điểm này? Điều này chỉ có thể hiểu được là vì quần chúng vẫn còn ngây thơ trước những ngôn từ lừa dối của cộng sản. Cũng là đấu tố nhưng có khi được gọi với tên khác là tự kiểm điểm, để rồi bây giờ lại được đổi thành một từ mới là tự đánh giá. Cộng sản vẫn là siêu lừa và người dân vẫn hết thế hệ này tới thế hệ kia mắc lỡm.

    Thế thì cần phải đặt câu hỏi là tại sao giới lãnh đạo giáo dục lại áp dụng chính sách tàn bạo lâu đời như vậy với lớp học sinh tiểu học? Có quan điểm cho rằng cộng sản muốn rèn luyện dân chúng từ lúc mới lọt lòng. Người CS từng nói đi nói lại trồng người để mưu lợi trăm năm cơ mà! Nhưng cũng có quan điểm cho rằng giới lãnh đạo giáo dục thiếu trình độ. Quan điểm thứ hai này có vẻ hữu lý vì có nhiều bằng chứng cụ thể.

    Giới gọi là trí thức xã hội chủ nghĩa nói chung đều thiếu trình độ. Đó là nhận xét của chính những con người xã hội chủ nghĩa đã từng được du học Liên Sô và các nước cộng sản Đông Âu. Đã có vài người trong số họ từng viết lên báo rằng con bò được mang sang Liên Sô cũng có thể trở thành tiến sĩ. Không ít bài báo của những người có hiểu biết mới đây cũng nhận định giới gọi là “trí thức xã hội chủ nghĩa” đều có trình độ kém cỏi và thiếu đạo đức khoa học, trong đó có một số bài của GS Nguyễn Văn Tuấn (dậy đại học Y Khoa Australia) (10), bài của Tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng (hoạt động khoa học nguyên tử tại Nhật) (11), hay bài mới đây của luật sư Lê Công Định khi ông tự đánh giá kiến thức của chính ông (12). Thêm nữa, ngày nay môi trường đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ nhiều phần trăm là dùng luận án đạo văn. Chính các hội đồng chấm thạc sĩ, tiến sĩ cũng đồng ý không những cho đỗ mà còn đỗ hạng cao những luận văn có đạo văn. Đó là tiết lộ của Tiến sĩ ngữ văn Hà Thanh Vân (13).

    Không những kém cỏi về chuyên môn, đạo đức, trí thức xã hội chủ nghĩa còn hoàn toàn thiếu kiến thức tổng quát, gọi là liberal arts, trong đó cái thiếu nhất và quan trọng nhất là tư duy độc lập (critical thinking), và khả năng lý luận (logic), tức là những kiến thức để một người đi học trở thành “người” chứ không chỉ trở thành một người máy robot. Trong nền giáo dục của Miền Nam Việt Nam trước 1975, cũng như nền giáo dục của các nước tiên tiến khác trên thế giới, ngoài chuyên môn, kỹ thuật, người ta chú trọng cung cấp cho học sinh, sinh viên những kiến thức tổng quát của các bộ môn nhân văn như âm nhạc, hội họa, văn chương, triết học, luật học (ở trung học người ta gọi là môn công dân, hay công quyền (government)), tâm lý học, xã hội học, các vấn đề xã hội (social problems), kinh tế học, thống kê học cơ bản, quản trị v.v… Và đặc biệt, học sinh được học tập suy nghĩ độc lập (critical thinking) và lý luận. Khả năng này hoàn toàn không có trong môi trường giáo dục xã hội chủ nghĩa. Một học sinh lớp 12 đang du học tại Hoa Kỳ đã nhận xét về trường học Việt Nam như sau, “Đối với Việt Nam, hầu hết các tiết học đều như sau: giáo viên đọc, học sinh chép, về học thuộc lòng, hôm sau kiểm tra. Mọi lời giáo viên nói ra đều là “chân lý” và không thể có bất cứ tranh luận gì thêm.” (14) Một học sinh lớp 12 trong nước cũng gửi bức thư lên Bộ Trưởng Giáo Dục & Đào Tạo nêu tình trạng như vậy (15). Đào tạo như thế thì bảo sao trí thức xã hội chủ nghĩa có khả năng để tìm ra những sáng kiến, đưa ra những giải pháp và hoạch định kế hoạch.

    Kế hoạch kinh tế sai có thể sửa chữa sau một thời gian không lâu. Kế hoạch khoa học kỹ thuật sai có thể sửa chữa mau chóng hơn. Nhưng kế hoạch giáo dục mà sai thì di hại ít nhất vài chục năm. Ví dụ, sự sai lầm của chính sách giáo dục và những lần cải tổ kế tiếp từ sau 1975 đã di hại tới mãi bây giờ vẫn chưa tìm được giải pháp. Cái kém cỏi của trí thức giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt nam đã được khẳng định bởi ông Trần đình Sử, tổng chủ biên SGK THPT từ năm 2002 đến năm 2008. Ông Sử thú nhận nhiều khuyết điểm lớn của chính ông, trong đó khuyết điểm “viết sách trước, hoàn chỉnh chương trình sau. Nguyên văn ông Sử viết, ” tổng chủ biên SGK THPT từ năm 2002 đến năm 2008, ròng rã hơn mười năm trời, tôi đã nhận ra nhược điểm lớn của cuộc đổi mới ấy. Ngoài các nhược điểm như việc biên soạn chương trình cắt khúc tiểu học, THCS, THPT, làm theo quy trình ngược, viết sách trước, hoàn chỉnh chương trình sau, xây dựng chương trình giáo dục toàn thể cuối cùng…” (16). Sự kém cỏi này thật khó ai có thể tưởng tượng được. Ngay một người có sức học bình thường, không tốt nghiệp trung học phổ thông, trong một nền giáo dục bình thường phi xã hội chủ nghĩa, cũng hiểu rằng, chương trình phải là một tổng thể thống nhất từ mẫu giáo tới tốt nghiệp trung học phổ thông và phải hình thành trước rồi mới dựa vào đó để soạn sách. Thế mà giới lãnh đạo cải tổ giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại làm ngược lại. Làm sao hiểu nổi mức độ ngu dốt của giới lãnh đạo giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam như vậy.

    Một ví dụ phản giáo dục, vô nhân đạo của việc bắt buộc học sinh tiểu học phải viết bản tự kiểm điểm (tức tự đánh giá và nhận khuyết điểm trước lớp) là bản kiểm điểm của một học sinh lớp bốn dưới đây: Bản kiểm điểm với “tội danh” “nghịch bóng bay” và “không đứng thẳng”.(17)

    Theo như bản kiểm điểm của em thì em chẳng có một vi phạm gì mà chỉ nghịch bóng bay, và không đứng thẳng hàng trong giờ khai giảng. Nhưng phải nhớ rằng em mới học lớp 4. Lớp tiểu học không phải là trại lính mà bắt học sinh kỷ luật như quân đội. Vả chăng, cứ cho là việc nghịch bóng bay và không đứng thẳng trong giờ khai giảng là điều cần chấn chỉnh, thì giáo viên chỉ cần chấn chỉnh bằng động tác nhắc nhở ngắn và nhẹ nhàng ngay tại chỗ, đâu cần phải về lớp bắt viết kiểm điểm nhận lỗi, một hình thức quá nghiêm trọng, khiến em học sinh trở nên sợ sệt. Tạo cho học sinh sự khiếp sợ là biện pháp phản giáo dục.

    Giải pháp đề nghị:

    Đối phó với biện pháp trong thông tư viện dẫn của bộ GD & ĐT, một biện pháp vừa vi phạm pháp luật, vừa vi phạm quyền riêng tư, vừa là sự sách nhiễu tinh thần, vừa vô nhân đạo, vừa vô văn hóa, vừa phản giáo dục như đã trình bày, để cứu con em mình, thì chính các phụ huynh phải lên tiếng đòi hỏi bộ GD & ĐT hủy bỏ tức khắc biện pháp này. Không những vậy, mọi người dân đều cần lên tiếng đòi hỏi chính quyền phải hủy bỏ mọi biện pháp có tính cách đấu tố người dân và cương quyết không chấp hành biện pháp viết tự kiểm điểm, đấu tố khi bị chính quyền đòi hỏi, nếu muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền như chính quyền từng tuyên bố.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Sau khi có thông báo này, một số người quen biết ở HN thuộc giai tầng trung lưu gồm những người kinh doanh và cán bộ trung cấp vì muốn thoát nạn đấu tố cho con cái nên nay đổi ý định và muốn cho con nhỏ đi gấp ra nước ngoài học ngay từ bậc tiểu học, dù rằng biết tốn kém rất nhiều hơn thay vì đợi đến học xong trung học mới cho đi du học.

    Không biết dân chúng và cán bộ thuộc giai tầng này ở trong Sài Gòn và các thành phố lớn khác có suy nghĩ giống vậy không?

    Như vậy, nạn nhân của đấu tố tân thời trong giáo dục ở thế kỉ 21 tại Việt Nam lại chính là con cái của các bần cố nông ở vùng thôn quê, và chính là con cái của các bần cùng công nhân ở các thành phố và đô thị.

    Người người đấu tố Nhà nhà đấu tố cho nó hợp trào lưu CCRĐ 60 năm về trước:

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    QUY ĐỊNH
    Đánh giá học sinh tiểu học
    (Ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

    Chương I
    QUY ĐỊNH CHUNG
    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
    1. Văn bản này quy định về đánh giá học sinh tiểu học bao gồm: nội dung và cách thức đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá.
    2. Văn bản này áp dụng đối với trường tiểu học; lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường chuyên biệt; cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục tiểu học.
    Điều 2. Đánh giá học sinh tiểu học
    Đánh giá học sinh tiểu học nêu trong Quy định này là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học.
    Điều 3. Mục đích đánh giá
    1. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học.
    2. Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ.
    3. Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh.
    4. Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục.
    Điều 4. Nguyên tắc đánh giá
    1. Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.
    2. Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học.
    3. Kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất.
    4. Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.

    Chương II
    NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC ĐÁNH GIÁ
    Điều 5. Nội dung đánh giá
    1. Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.
    2. Đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh:
    a) Tự phục vụ, tự quản;
    b) Giao tiếp, hợp tác;
    c) Tự học và giải quyết vấn đề.
    3. Đánh giá sự hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh:
    a) Chăm học, chăm làm; tích cực tham gia hoạt động giáo dục;
    b) Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm;
    c) Trung thực, kỉ luật, đoàn kết;
    d) Yêu gia đình, bạn và những người khác; yêu trường, lớp, quê hương, đất nước.
    Điều 6. Đánh giá thường xuyên
    1. Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện, của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục khác, trong đó bao gồm cả quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình và cộng đồng.
    2. Trong đánh giá thường xuyên, giáo viên ghi những nhận xét đáng chú ý nhất vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục, những kết quả học sinh đã đạt được hoặc chưa đạt được; biện pháp cụ thể giúp học sinh vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ; các biểu hiện cụ thể về sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh; những điều cần đặc biệt lưu ý để giúp cho quá trình theo dõi, giáo dục đối với cá nhân, nhóm học sinh trong học tập, rèn luyện.
    Điều 7. Đánh giá thường xuyên hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học, hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học
    1. Tham gia đánh giá thường xuyên gồm: giáo viên, học sinh (tự đánh giá và nhận xét, góp ý bạn qua hoạt động của nhóm, lớp); khuyến khích sự tham gia đánh giá của cha mẹ học sinh.
    2. Giáo viên đánh giá:
    a) Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học, của mỗi hoạt động mà học sinh phải thực hiện trong bài học, giáo viên tiến hành một số việc như sau:
    - Quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của học sinh, nhóm học sinh theo tiến trình dạy học;
    - Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với học sinh hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của học sinh về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được; mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của học sinh;
    - Quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của học sinh; áp dụng biện pháp cụ thể để kịp thời giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn. Do năng lực của học sinh không đồng đều nên có thể chấp nhận sự khác nhau về thời gian, mức độ hoàn thành nhiệm vụ;
    b) Hàng tuần, giáo viên lưu ý đến những học sinh có nhiệm vụ chưa hoàn thành; giúp đỡ kịp thời để học sinh biết cách hoàn thành;
    c) Hàng tháng, giáo viên ghi nhận xét vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục về mức độ hoàn thành nội dung học tập từng môn học, hoạt động giáo dục khác; dự kiến và áp dụng biện pháp cụ thể, riêng biệt giúp đỡ kịp thời đối với những học sinh chưa hoàn thành nội dung học tập môn học, hoạt động giáo dục khác trong tháng;
    d) Khi nhận xét, giáo viên cần đặc biệt quan tâm động viên, khích lệ, biểu dương, khen ngợi kịp thời đối với từng thành tích, tiến bộ giúp học sinh tự tin vươn lên;
    đ) Không dùng điểm số để đánh giá thường xuyên.
    3. Học sinh tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn:
    a) Học sinh tự đánh giá ngay trong quá trình hoặc sau khi thực hiện từng nhiệm vụ học tập, hoạt động giáo dục khác, báo cáo kết quả với giáo viên;
    b) Học sinh tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập môn học, hoạt động giáo dục; thảo luận, hướng dẫn, giúp đỡ bạn hoàn thành nhiệm vụ.
    4. Cha mẹ học sinh tham gia đánh giá:
    Cha mẹ học sinh được khuyến khích phối hợp với giáo viên và nhà trường động viên, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện; được giáo viên hướng dẫn cách thức quan sát, động viên các hoạt động của học sinh hoặc cùng học sinh tham gia các hoạt động; trao đổi với giáo viên các nhận xét, đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp, thuận tiện nhất như lời nói, viết thư.
    Điều 8. Đánh giá thường xuyên sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh
    1. Các năng lực của học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và ngoài nhà trường. Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi như sau:
    a) Tự phục vụ, tự quản: thực hiện được một số việc phục vụ cho sinh hoạt của bản thân như vệ sinh thân thể, ăn, mặc; một số việc phục vụ cho học tập như chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà; các việc theo yêu cầu của giáo viên, làm việc cá nhân, làm việc theo sự phân công của nhóm, lớp; bố trí thời gian học tập, sinh hoạt ở nhà; chấp hành nội quy lớp học; cố gắng tự hoàn thành công việc;
    b) Giao tiếp, hợp tác: mạnh dạn khi giao tiếp; trình bày rõ ràng, ngắn gọn; nói đúng nội dung cần trao đổi; ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng; ứng xử thân thiện, chia sẻ với mọi người; lắng nghe người khác, biết tranh thủ sự đồng thuận;
    c) Tự học và giải quyết vấn đề: khả năng tự thực hiện nhiệm vụ học cá nhân trên lớp, làm việc trong nhóm, lớp; khả năng tự học có sự giúp đỡ hoặc không cần giúp đỡ; tự thực hiện đúng nhiệm vụ học tập; chia sẻ kết quả học tập với bạn, với cả nhóm; tự đánh giá kết quả học tập và báo cáo kết quả trong nhóm hoặc với giáo viên; tìm kiếm sự trợ giúp kịp thời của bạn, giáo viên hoặc người khác; vận dụng những điều đã học để giải quyết nhiệm vụ trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện những tình huống mới liên quan tới bài học hoặc trong cuộc sống và tìm cách giải quyết.
    2. Hàng ngày, hàng tuần, giáo viên quan sát các biểu hiện trong các hoạt động của học sinh để nhận xét sự hình thành và phát triển năng lực; từ đó động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy ưu điểm và các năng lực riêng, điều chỉnh hoạt động để tiến bộ.
    Hàng tháng, giáo viên thông qua quá trình quan sát, ý kiến trao đổi với cha mẹ học sinh và những người khác (nếu có) để nhận xét học sinh, ghi vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục.
    Điều 9. Đánh giá thường xuyên sự hình thành và phát triển phẩm chất của học sinh
    1. Các phẩm chất của học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và ngoài nhà trường. Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi như sau:
    a) Chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt động giáo dục: đi học đều, đúng giờ; thường xuyên trao đổi nội dung học tập, hoạt động giáo dục với bạn, thầy giáo, cô giáo và người khác; chăm làm việc nhà giúp đỡ cha mẹ; tích cực tham gia các hoạt động, phong trào học tập, lao động và hoạt động nghệ thuật, thể thao ở trường và ở địa phương; tích cực tham gia và vận động các bạn cùng tham gia giữ gìn vệ sinh, làm đẹp trường lớp, nơi ở và nơi công cộng;
    b) Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm: mạnh dạn khi thực hiện nhiệm vụ học tập, trình bày ý kiến cá nhân; nhận làm việc vừa sức mình; tự chịu trách nhiệm về các việc làm, không đổ lỗi cho người khác khi mình làm chưa đúng; sẵn sàng nhận lỗi khi làm sai;
    c) Trung thực, kỉ luật, đoàn kết: nói thật, nói đúng về sự việc; không nói dối, không nói sai về người khác; tôn trọng lời hứa, giữ lời hứa; thực hiện nghiêm túc quy định về học tập; không lấy những gì không phải của mình; biết bảo vệ của công; giúp đỡ, tôn trọng mọi người; quý trọng người lao động; nhường nhịn bạn;
    d) Yêu gia đình, bạn và những người khác; yêu trường, lớp, quê hương, đất nước: quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh em; kính trọng người lớn, biết ơn thầy giáo, cô giáo; yêu thương, giúp đỡ bạn; tích cực tham gia hoạt động tập thể, hoạt động xây dựng trường, lớp; bảo vệ của công, giữ gìn và bảo vệ môi trường; tự hào về người thân trong gia đình, thầy giáo, cô giáo, nhà trường và quê hương; thích tìm hiểu về các địa danh, nhân vật nổi tiếng ở địa phương.
    2. Hàng ngày, hàng tuần, giáo viên quan sát các biểu hiện trong các hoạt động của học sinh để nhận xét sự hình thành và phát triển phẩm chất; từ đó động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy ưu điểm và các phẩm chất riêng, điều chỉnh hoạt động, ứng xử kịp thời để tiến bộ.
    Hàng tháng, giáo viên thông qua quá trình quan sát, ý kiến trao đổi với cha mẹ học sinh và những người khác (nếu có) để nhận xét học sinh, ghi vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục.
    Điều 10. Đánh giá định kì kết quả học tập
    1. Hiệu trưởng chỉ đạo việc đánh giá định kì kết quả học tập, mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học vào cuối học kì I và cuối năm học đối với các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc bằng bài kiểm tra định kì.
    2. Đề bài kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức độ nhận thức của học sinh:
    a) Mức 1: học sinh nhận biết hoặc nhớ, nhắc lại đúng kiến thức đã học; diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình và áp dụng trực tiếp kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập;
    b) Mức 2: học sinh kết nối, sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết tình huống, vấn đề mới, tương tự tình huống, vấn đề đã học;
    c) Mức 3: học sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được hướng dẫn hay đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống.
    3. Bài kiểm tra định kì được giáo viên sửa lỗi, nhận xét những ưu điểm và góp ý những hạn chế, cho điểm theo thang điểm 10 (mười), không cho điểm 0 (không) và điểm thập phân.
    Điều 11. Tổng hợp đánh giá
    1. Vào cuối học kì I và cuối năm học, hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm họp với các giáo viên dạy cùng lớp, thông qua nhận xét quá trình và kết quả học tập, hoạt động giáo dục khác để tổng hợp đánh giá mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của từng học sinh về:
    a) Quá trình học tập từng môn học, hoạt động giáo dục khác, những đặc điểm nổi bật, sự tiến bộ, hạn chế, mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng; năng khiếu, hứng thú về từng môn học, hoạt động giáo dục, xếp loại từng học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục thuộc một trong hai mức: Hoàn thành hoặc Chưa hoàn thành;
    b) Mức độ hình thành và phát triển năng lực: những biểu hiện nổi bật của năng lực, sự tiến bộ, mức độ hình thành và phát triển theo từng nhóm năng lực của học sinh; góp ý với học sinh, khuyến nghị với nhà trường, cha mẹ học sinh; xếp loại từng học sinh thuộc một trong hai mức: Đạt hoặc Chưa đạt;
    c) Mức độ hình thành và phát triển phẩm chất: những biểu hiện nổi bật của phẩm chất, sự tiến bộ, mức độ hình thành và phát triển theo từng nhóm phẩm chất của học sinh; góp ý với học sinh, khuyến nghị với nhà trường, cha mẹ học sinh; xếp loại từng học sinh thuộc một trong hai mức: Đạt hoặc Chưa đạt;
    d) Các thành tích khác của học sinh được khen thưởng trong học kì, năm học.
    2. Giáo viên chủ nhiệm ghi nhận xét, kết quả tổng hợp đánh giá vào học bạ. Học bạ là hồ sơ chứng nhận mức độ hoàn thành chương trình và xác định những nhiệm vụ, những điều cần khắc phục, giúp đỡ đối với từng học sinh khi bắt đầu vào học kì II hoặc năm học mới.
    Điều 12. Đánh giá học sinh khuyết tật và học sinh học ở các lớp học linh hoạt
    Dựa trên quy định đánh giá học sinh tiểu học, việc đánh giá học sinh khuyết tật và học sinh học ở các lớp học linh hoạt bảo đảm quyền được chăm sóc và giáo dục đối với tất cả học sinh.
    1. Đối với học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục hoà nhập, nếu khả năng của học sinh có thể đáp ứng được yêu cầu chương trình giáo dục chung thì được đánh giá như đối với học sinh bình thường nhưng có giảm nhẹ yêu cầu về kết quả học tập. Những môn học hoặc hoạt động giáo dục mà học sinh không có khả năng đáp ứng yêu cầu chung thì được đánh giá theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
    2. Đối với học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục chuyên biệt, nếu khả năng của học sinh đáp ứng được yêu cầu chương trình giáo dục chuyên biệt thì được đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt. Những môn học hoặc hoạt động giáo dục mà học sinh không có khả năng đáp ứng yêu cầu giáo dục chuyên biệt thì được đánh giá theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
    3. Đánh giá học sinh học ở các lớp học linh hoạt: giáo viên căn cứ vào nhận xét, đánh giá thường xuyên qua các buổi học tại lớp linh hoạt và kết quả đánh giá định kì môn Toán, môn Tiếng Việt được thực hiện theo quy định tại Điều 10 của Quy định này.
    Điều 13. Hồ sơ đánh giá
    1. Hồ sơ đánh giá là minh chứng cho quá trình học tập, rèn luyện và kết quả học tập của học sinh; là thông tin để tăng cường sự phối hợp giáo dục học sinh giữa giáo viên, nhà trường với cha mẹ học sinh.
    2. Hồ sơ đánh giá từng năm học của mỗi học sinh gồm:
    a) Học bạ;
    b) Sổ theo dõi chất lượng giáo dục;
    c) Bài kiểm tra định kì cuối năm học;
    d) Phiếu hoặc sổ liên lạc trao đổi ý kiến của cha mẹ học sinh (nếu có);
    đ) Giấy chứng nhận, giấy khen, xác nhận thành tích của học sinh trong năm học (nếu có).

    Chương III
    SỬ DỤNG KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ
    Điều 14. Xét hoàn thành chương trình lớp học, hoàn thành chương trình tiểu học
    1. Xét hoàn thành chương trình lớp học:
    a) Học sinh được xác nhận hoàn thành chương trình lớp học phải đạt các điều kiện sau:
    - Đánh giá thường xuyên đối với tất cả các môn học, hoạt động giáo dục: Hoàn thành;
    - Đánh giá định kì cuối năm học các môn học theo quy định: đạt điểm 5 (năm) trở lên;
    - Mức độ hình thành và phát triển năng lực: Đạt;
    - Mức độ hình thành và phát triển phẩm chất: Đạt;
    b) Đối với học sinh chưa hoàn thành chương trình lớp học: giáo viên lập kế hoạch, trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ từng học sinh; đánh giá bổ sung để xét Hoàn thành chương trình lớp học;
    c) Đối với những học sinh đã được giáo viên trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ mà vẫn chưa đạt ít nhất một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này: tùy theo mức độ chưa hoàn thành ở các môn học, hoạt động giáo dục, bài kiểm tra định kì, mức độ hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất, giáo viên lập danh sách báo cáo hiệu trưởng xét, quyết định việc lên lớp hoặc ở lại lớp;
    d) Kết quả xét hoàn thành chương trình lớp học được ghi vào học bạ.
    2. Xét hoàn thành chương trình tiểu học:
    Học sinh hoàn thành chương trình lớp 5 (năm) được xác nhận và ghi vào học bạ: Hoàn thành chương trình tiểu học.
    Điều 15. Nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh
    1. Nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh nhằm đảm bảo tính khách quan của kết quả đánh giá chất lượng học sinh cuối năm học hoặc cuối cấp học và đảm bảo trách nhiệm của giáo viên dạy lớp năm học trước và giáo viên nhận lớp ở năm học sau; giúp giáo viên nhận lớp trong năm học tiếp theo có đủ thông tin cần thiết về quá trình và kết quả học tập, mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh để có kế hoạch, biện pháp giáo dục hiệu quả.
    2. Hiệu trưởng chỉ đạo nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh như sau:
    a) Đối với học sinh lớp 1 (một), 2 (hai), 3 (ba), 4 (bốn), hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, giáo viên cùng dạy trong lớp và giáo viên sẽ nhận lớp vào năm học tiếp theo:
    - Cùng ra đề kiểm tra định kì cuối năm học và cùng tham gia coi, chấm bài kiểm tra;
    - Bàn giao hồ sơ đánh giá học sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 13 của Quy định này; trao đổi các nhận xét về những nét nổi bật hoặc hạn chế cần khắc phục về mức độ nhận thức, mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học, hoạt động giáo dục, mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh; ghi biên bản nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh;
    b) Đối với học sinh khối lớp 5 (năm):
    - Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn ra đề kiểm tra định kì cuối năm học chung cho cả khối; tổ chức coi, chấm bài kiểm tra có sự tham gia của giáo viên trường trung học cơ sở sẽ nhận học sinh lớp 5 (năm) vào học lớp 6 (sáu). Trong quá trình thực hiện, nếu có ý kiến chưa thống nhất thì hiệu trưởng xem xét, quyết định và báo cáo phòng giáo dục và đào tạo biết để theo dõi, chỉ đạo;
    - Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm hoàn thiện hồ sơ đánh giá học sinh, bàn giao cho nhà trường.
    3. Trưởng phòng giáo dục và đào tạo chỉ đạo các nhà trường trên địa bàn tổ chức nghiệm thu, nhận bàn giao chất lượng giáo dục học sinh lớp 5 (năm) hoàn thành chương trình tiểu học lên lớp 6 (sáu) phù hợp với điều kiện của các nhà trường và địa phương.
    Điều 16. Khen thưởng
    1. Cuối học kì I và cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn học sinh bình bầu những học sinh đạt thành tích nổi bật hay có tiến bộ vượt bậc về một trong ba nội dung đánh giá trở lên, đạt thành tích nổi bật trong các phong trào thi đua hoặc thành tích đột xuất khác; tham khảo ý kiến cha mẹ học sinh; tổng hợp và lập danh sách đề nghị hiệu trưởng tặng giấy khen hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng.
    2. Nội dung, số lượng học sinh được khen thưởng, tuyên dương do hiệu trưởng quyết định.
    Chương IV
    TỔ CHỨC THỰC HIỆN
    Điều 17. Trách nhiệm của sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo
    1. Giám đốc sở giáo dục và đào tạo chỉ đạo các trưởng phòng giáo dục và đào tạo tổ chức thực hiện đánh giá học sinh tiểu học trên địa bàn; báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    2. Trưởng phòng giáo dục và đào tạo chỉ đạo các hiệu trưởng tổ chức thực hiện đánh giá học sinh tiểu học, nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh; báo cáo kết quả thực hiện về sở giáo dục và đào tạo.
    Điều 18. Trách nhiệm của hiệu trưởng
    1. Chịu trách nhiệm về tổ chức thực hiện đánh giá học sinh; báo cáo kết quả thực hiện về phòng giáo dục và đào tạo.
    2. Chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh; xét hoàn thành chương trình lớp học, cấp học; xét lên lớp; duyệt kết quả đánh giá học sinh cuối năm học; quản lí học bạ trong thời gian học sinh học ở trường; chỉ đạo nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh.
    3. Tiếp nhận, giải quyết ý kiến thắc mắc, đề nghị của học sinh, cha mẹ học sinh về nhận xét, đánh giá, khen thưởng theo phạm vi và quyền hạn của hiệu trưởng.
    4. Hướng dẫn giáo viên sử dụng học bạ đang dùng của học sinh các lớp tuyển sinh từ trước khi Thông tư này có hiệu lực để ghi nhận xét theo quy định tại Điều 11 của Quy định này hoặc dùng học bạ mới để thay thế trong những năm học sinh còn tiếp tục học tiểu học.
    Điều 19. Trách nhiệm của giáo viên
    1. Giáo viên chủ nhiệm:
    a) Chịu trách nhiệm chính trong việc đánh giá học sinh, chất lượng giáo dục học sinh trong lớp; hoàn thành hồ sơ đánh giá học sinh theo quy định; thực hiện nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh;
    b) Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện hàng tháng;
    c) Cuối học kì I, cuối năm học hoặc khi được yêu cầu, có trách nhiệm thông báo đánh giá quá trình học tập, rèn luyện và kết quả học tập của học sinh cho cha mẹ học sinh. Không thông báo trước lớp và trong cuộc họp cha mẹ học sinh những điểm chưa tốt của học sinh. Duy trì mối liên hệ với cha mẹ học sinh để phối hợp giáo dục học sinh.
    2. Giáo viên không làm công tác chủ nhiệm:
    a) Chịu trách nhiệm đánh giá quá trình học tập, rèn luyện và kết quả học tập của học sinh đối với môn học, hoạt động giáo dục theo quy định;
    b) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên cùng lớp, cha mẹ học sinh lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện đối với môn học, hoạt động giáo dục;
    c) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp đánh giá quá trình học tập, rèn luyện và kết quả học tập của học sinh; hoàn thành hồ sơ đánh giá học sinh; nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh.
    Điều 20. Trách nhiệm và quyền của học sinh
    1. Thực hiện tốt các nhiệm vụ quy định trong Điều lệ trường tiểu học; tiếp nhận sự giáo dục để luôn tiến bộ.
    2. Có quyền nêu ý kiến và được nhận sự hướng dẫn, giải thích của giáo viên, hiệu trưởng về kết quả đánh giá.

    KT. BỘ TRƯỞNG
    THỨ TRƯỞNG

    Đã ký

    Nguyễn Vinh Hiển

    Đây thật là lối nghĩ CS hóa toàn diện của đảng đấy. Ngay từ tuổi thơ các công dân nhí của VN đã được nhét vào đầu mầm mống suy nghĩ: Mọi thứ từ trong ra ngoài của mỗi người dân đều tất tần tật bị sự kiểm soát của đảng CS. Đừng tin tưởng rằng tương lai của các người là do chính các người tự quyết, mà phải nhớ rõ rằng đảng vẫn tiếp tục vo tròn bóp méo mỗi số phận theo cách mà đảng thấy còn có ích làm công cụ cho đảng, nhược bằng chẳng được như thế đảng sẽ nhanh chóng cho tiêu luôn, vì con người CS không có lòng khoan dung, hận thù và tàn độc là chất liệu chính tạo ra CS.

    Tên tác giả viết:
    Tạo cho học sinh sự khiếp sợ là biện pháp phản giáo dục.

    Phản giáo dục hử? Đây nà chính sách giáo dục vì lợi ích trăm năm "trồng" người nhá!

    Câu nì phản ảnh rõ nhứt phương pháp giáo dục chế độ ta. Ví người (một sinh vật biết suy nghĩ, có cảm xúc) như một cái cây, được trồng. Cây nì phải phát triển theo ý người trồng là đảng cộng sản. Các nhánh mọc ra ngoài hướng đã định sẽ bị chặt bỏ.

    Tên tác giả viết:
    Có quan điểm cho rằng cộng sản muốn rèn luyện dân chúng từ lúc mới lọt lòng. Người CS từng nói đi nói lại trồng người để mưu lợi trăm năm cơ mà! Nhưng cũng có quan điểm cho rằng giới lãnh đạo giáo dục thiếu trình độ. Quan điểm thứ hai này có vẻ hữu lý vì có nhiều bằng chứng cụ thể.

    Chiến sĩ Tâm nghĩ, chỉ có quan điểm thứ hai hữu lý hử?
    Anh thì, cả hai quan điểm đìu đúng cả, nhá.

    Nghe đây, tại sao giới lãnh đạo thiếu trình độ? Vì bỏn được "ráo rục" theo chủ trương Hồng hơn Chuyên, bỏn là kết quả của trăm năm trồng người. Bọn nhãi ranh tiểu học cũng sẽ được huấn luyện (cbn) mần công an từ nhỏ, để khi nhớn lên quen với tính chất công an, đi rình rập, đàn áp, bắt bớ, trấn lột dân tuỳ hứng.
    Cả xã hội sẽ sống trong sợ hãi, như những con thú của một đoàn xiếc có tên huấn luyện viên tay cầm roi điện, tay cầm cục đường, quả chuối.
    Có dzư thế, đảng ta mới dễ bề cai và trị, nhá.
    cbn.

    Chuyện trường lớp bắt học sinh đấu tố lẫn nhau, chẳng phải đã xảy ra từ 1975 ở khắp các trường ở miền Nam hay sao (ở miền Bắc thì tôi không biết nên không dám mạn bàn)?

    Các phong trào "đội cờ đỏ" đi bắt học sinh cúp cua, vi phạm luật của trường. Trong lớp học thì có phong trào phê bình và tự phê, trong mỗi lớp thì có đội cờ đỏ riêng của lớp, chuyên ngồi rình bạn bè đứa nào nói chuyện, ăn hàng, copy...thì ghi vào sổ đỏ, rồi cuối tuần đem ra đấu tố trước cả lớp. Tôi vẫn nhớ mỗi cuối tuần, trong giờ chủ nhiệm thì bạn bè cãi lộn và khóc inh ỏi.

    Rồi còn có cả chuyện là học sinh rình rập lẫn nhau: đứa nào cũng có thể rình và tố cáo bạn mình vi phạm luật trong lớp học. Đứa nào tố cáo trúng thì được cho điểm thưởng, cộng dồn vào hàng tuần hàng tháng và sau đó được tính vào điểm đạo đức.

    Thử hỏi còn có một chế độ nào khốn nạn và thâm độc hơn chế độ này? Ngay từ ở tiểu học cho đến khi vào trung học, tôi đã thấy sự quái gỡ của cái chính sách khuyến khích đám con nít trở nên những chuyên đi bới móc cái xấu của bạn bè mình để xây dựng thành tích cho bản thân mình.

    Đã rời VN 26 năm, tôi không biết chính sách này có còn tiếp tục những năm sau này hay gần đây hay không? Tôi cũng chẳng nghĩ bao giờ đến việc hỏi đám con cháu sau này về việc chuyện tồi bại này có tiếp tục xảy ra hiện nay hay không?

    Tôi có đứa cháu nội 9 tuổi, năm nay học lớp 4. Mục tiêu của tôi và cha của cháu là phấn đấu đến năm cháu 11 tuổi đưa cháu ra nước ngoài học. Học ở Việt Nam, thành con bò còn khó chứ chưa nói chuyện thành người.

    Ôi, chuyện dài nhân dân tự vệ mà ông thầy! Bắt học sinh tiểu học viết bản tự kiểm là chuyện nhỏ. Tui có thời cũng phải viết bản tự kiểm dài dài mà chả biết "kiểm" chi. Chuyện lớn là giờ học quá tải, chương trình học quá nặng cho học sinh tiểu học; sáng sớm bảnh mắt, chưa kịp ăn sáng, 0700 giờ sáng là phải đến trường, chiều mới về. Rồi con học thêm, học nếm, học phụ trội cho những đứa trẻ độ tuổi đang phải chơi là chính :)