David Brown - Việt Nam xoay trục: Để Hà Nội không còn lo lắng và gần Washington hơn

  • Bởi Cát Bụi
    11/09/2014
    3 phản hồi

    Tác giả: David Brown/ Người dịch: Huỳnh Phan

    Chiến lược quốc tế của Việt Nam đang chuyển dịch một cách kịch tính. Trong nhiều năm qua, Việt Nam hy vọng rằng họ có thể đối phó được động lực nắm quyền bá chủ khu vực của Trung Quốc bằng cách thể hiện nhượng bộ Bắc Kinh đúng mức. Vì mục đích đó, các quan chức tại Hà Nội đã cố gắng nuôi dưỡng nhiều mối quan hệ với các đối tác Trung Quốc, đồng thời theo đuổi quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, đặc biệt là các nước láng giềng ASEAN, nhưng không liên minh với nước nào cả.

    Tuy nhiên, chiến lược đó đã đảo ngược trong những tháng gần đây. Đầu tháng Năm, Trung Quốc đã triển khai một giàn khoan dầu trị giá 1 tỷ USD cùng với hơn 100 tàu tới địa điểm chỉ cách bờ biển miền Trung Việt Nam 130 hải lý, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ). Hà Nội phản ứng với 30 lần tiếp xúc ngoại giao với Bắc Kinh nhưng đều bị Trung Quốc bác bỏ, thậm chí từ chối tiếp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Khi Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì đến Hà Nội vào ngày 18, không phải là để ngỏ lời xin lỗi, mà là để trách mắng Việt Nam vì các hành vi của mình – tức là, vì có các phản kháng đối với giàn khoan dầu và vì các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vượt ngoài tầm kiểm soát. Các phương tiện truyền thông Trung Quốc miêu tả ông Dương mang đến Việt Nam một cơ hội “tự kiềm chế bản thân trước khi quá muộn”.

    Việc TQ triển khai giàn khoan nước sâu không phải là một bất ngờ. Ít nhất là từ năm 2009, Bắc Kinh đã nhắm tới việc đạt được quyền bá chủ ở biển Đông trên thực tế, và khu vực dầu khí ngoài khơi của Việt Nam đã trở thành một mục tiêu chính. Bắc Kinh đã đe doạ hai công ty đa quốc gia khai thác dầu BP và ConocoPhillips, đều có đầu tư lớn vào Trung Quốc, từ bỏ những khu chuyển nhượng khai thác trong vùng biển Việt Nam vào năm 2009 và 2012. Trong năm 2011, các tàu Trung Quốc quấy rối hai tàu khảo sát thuộc công ty dầu khí PetroVietnam. Trong năm 2012, Tập đoàn Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) mời các công ty nước ngoài đấu thầu quyền thăm dò 9 lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt nam.

    Vào cuối tháng 7, cả Việt Nam tràn ngập các tin đồn rằng Bộ Chính trị đã bỏ phiếu 9-5 ủng hộ “việc đứng lên chống lại Trung Quốc.” Cũng có tin nói rằng một phiên họp bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng sẽ tiến hành xem xét và xác nhận chủ trương mới của Bộ Chính trị. Những tin đồn có thể chỉ đơn thuần là phản ánh sự mơ tưởng của công chúng mong muốn chống lại Trung Quốc. Bắc Kinh và Hà Nội trên hình thức vẫn là bạn; Lê Hồng Anh, người từng đứng đầu công an và thuộc phe quyết thân Trung Quốc, đã được chào đón đúng nghi thức ở Bắc Kinh vào giữa tháng 8 và chắc chắn bị cảnh báo không được có những động thái không thân thiện. Dù vậy, có nhiều cơ may Việt Nam sẽ sớm chấp nhận tiến hai bước thay đổi trò chơi.

    Thứ nhất, có khả năng Việt Nam sẽ thách thức Trung Quốc ở tòa án quốc tế, nhằm có được một phán quyết tuyên bố khẳng định “chủ quyền lịch sử” của Bắc Kinh trên gần như toàn bộ biển Đông là bất hợp pháp và chiến thuật của họ là không được phép. Hà Nội ban đầu đã từng xem xét thực hiện một động thái như vậy năm ngoái, khi Philippines mời Việt Nam cùng tham gia với họ vụ kiện Trung Quốc tại Tòa án Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Lúc đó Hà Nội quyết định không tham gia. Nhưng vào ngày 14 tháng 5, hai tuần sau khi Bắc Kinh đặt giàn khoan ngoài khơi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói với hãng tin điện tử rằng Chính phủ của ông đang nhắm tới hành động pháp lý. Vào cuối tháng 7, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức một cuộc họp các chuyên gia có nổi tiếng, theo yêu cầu của Chính phủ để khuyến nghị các chiến lược pháp lý.

    Thứ hai, có khả năng Việt Nam sẽ hun đúc một mối quan hệ ngoại giao và quân sự thân mật hơn với Hoa Kỳ – không phải là một liên minh chính thức mà là một quan hệ đối tác dựa trên lợi ích chung trong việc ngăn chặn bá quyền Trung Quốc ở biển Đông. Phạm Bình Minh, trong tư cách bộ trưởng ngoại giao và là một trong bốn phó thủ tướng của Việt Nam, giữ vai trò trung tâm trong vấn đề nầy. Vài ngày sau khi Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry mời ông Minh đến thăm Washington: chuyến đi sẽ diễn ra vào cuối tháng 9.

    Trước chuyến đi của ông Minh, Evan Medieros, viên chức điều hành các vấn đề châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, đã có một chuyến đi thầm lặng tới Hà Nội vào cuối tháng 7. Theo sau Medieros là thượng nghị sĩ Mỹ John McCain và Sheldon Whitehouse, và hai tuần sau đó là Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ, có chuyến thăm bốn ngày được truyền thông Việt Nam tường thuật tận tình. Cả ông McCain lẫn Dempsey đều đưa ra nhiều gợi ý rằng Washington sẵn lòng nới lỏng lệnh cấm chuyển giao vũ khí gây sát thương cho quân đội Việt Nam. Cả hai ông đều đề cập đến sự cần thiết phải tăng cường “nhận thức về lĩnh vực hàng hải” của Việt Nam

    Một số nhà quan sát cho rằng, bằng việc tự tách mình ra khỏi Bắc Kinh về mặt chính trị, Việt Nam có thể kích động một cuộc chiến tranh kinh tế với Trung Quốc mà VN không thể có đủ sức chống trả. Nhưng nỗi sợ hãi này là thổi phồng. Việt Nam xuất khẩu than, dầu, gỗ và các sản phẩm nông nghiệp sang Trung Quốc và nhập khẩu máy móc thiết bị và hàng tiêu dùng giá rẻ; phần này của mối quan hệ thương mại song phương không chỉ là tương đối cân bằng mà cả hai nước cũng có thể dễ dàng tìm thấy các thị trường khác cho những thứ đó. Nếu có vấn đề thì nó nằm ở các phụ tùng điên tử, dệt may, dây kéo, nút, và các phu liệu giày dép từ Trung Quốc được đưa đến Việt Nam để lắp ráp và tái xuất: mặc dù những món nhập khẩu này tạo ra một thâm hụt rất lớn cho Hà Nội, nhiều hơn phần bù đắp bởi doanh số bán hàng may mặc thành phẩm và các thiết bị kỹ thuật số của Việt Nam sang châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ và các nơi khác trên thế giới. Có thể mất một hoặc hai năm để thiết lập lại các chuỗi giá trị này, nếu Trung Quốc giận dữ đến mức cắt đứt chúng.

    Nhưng ở đây một lần nữa, nước Mỹ dường như cấp cho một hình thức bảo vệ tiềm năng. Đó là hiệp định thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cuộc đàm phán mà Việt Nam đã tham gia từ năm 2009. Việt Nam là nước kém phát triển nhất trong số 12 đối tác đàm phán TPP và rất có thể xuất khẩu của nước này sẽ nhảy vọt lên một phần ba nếu hiệp ước có hiệu lực. Các quy định dự kiến trong hiệp định sẽ giành đặc quyền cho hàng may mặc được làm ra hoàn toàn tại các nước thành viên TPP. Do đó, các công ty của Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam đang xây dựng năng lực cho đầu vào nguồn cho hàng may mặc và giày dép làm tại Việt Nam.

    Hà Nội muốn Mỹ đồng ý dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí gây sát thương, một bước mà Washington có ra điều kiện trên việc Hà Nội cải thiện cách đối xử với những người bất đồng chính kiến. Đối với cả hai chính phủ, đó là một vấn đề nguyên tắc. Có một khoảng cách lớn giữa việc Hoa Kỳ kiên quyết đòi hỏi chế độ Việt Nam phải tôn trọng các quyền chính trị cơ bản và việc các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam tin rằng nương nhẹ việc kích động cho dân chủ đặt ra một mối đe dọa hiện hữu với hệ thống của họ.

    Về vấn đề các quyền tự do chính trị này, Hà Nội hoặc Washington hay cả hai phải thỏa hiệp nếu họ muốn tiến lên phía trước, nhưng cả hai nước đều không có nhiều chỗ để linh động. Nhiều thành viên Quốc hội Mỹ sẽ cảnh giác việc ôm lấy Hà Nội, ngay cả khi họ thừa nhận rằng ngăn chặn trước việc TQ thành bá quyền khu vực là mối quan tâm của cả hai nước. Về phần mình, tầm nhìn của Bộ Chính trị về trật tự chính trị đã giới hạn khả năng thỏa hiệp về quyền con người. Tuy nhiên, nếu Hà Nội không thể cam kết để mở ra không gian cho việc tham gia chính trị, hay Washington không thể có một cái nhìn dài hơn, các mối quan hệ chiến lược thảo luận từ lâu sẽ vẫn nằm ngoài tầm với.

    Đó là một quyết định khó khăn đối với chính quyền Obama. Ở biển Đông, Bắc Kinh không còn “trỗi dậy một cách hòa bình” nữa – mà họ đã trở thành kẻ bắt nạt láng giềng. Việt Nam, dù nền chính trị cũng khó ưa, lại là nước duy nhất ở Đông Nam Á vừa có khả năng và, nếu khuyến khích đúng cách, vừa sẵn sàng chống lại tham vọng Trung Quốc.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Phản hồi: 

    Vấn đề của VN hiện nay chỉ có thể được giải quyết bằng cách 'giải sợ'. Dân phải hết sợ chính quyền, chính quyền phải thôi sợ dân. Được như thế thì VN sẽ thay đổi nhanh chóng, tiến bộ, giàu mạnh, chẳng phải sợ ai !

    Phản hồi: 

    Thế giới chúng ta sống rất hỗn mang, không một quốc gia nào dù mạnh tới đâu, không một tổ chức quốc tế nào có đủ khả năng lập ra luật lệ và cưỡng bức mọi quốc gia thi hành. Điều này không phải chỉ đúng ở ngày hôm nay, nhưng nghĩ tới hai cuộc thế chiến, và chiến tranh lạnh - khi nước lớn không trực tiếp đánh nhau nhưng cung cấp tài lực khí tài cho các đối thủ địa phương như tại Triều tiên và VN, hay Do thái và các quốc gia Ả rập - là tình trạng căn bản đúng từ trước tới giờ. Thế giới hổn mang và không nước nào có thể bá chủ.

    Nhưng trong cái hỗn mang đó có những lực chảy luôn luôn giống nhau chi phối các nước liên quan. Tác nhân trong bàn cờ với bản vị là nhà nước luôn hành động để bảo vệ lợi ích chính trị: gia tăng quyền lực của mình. Hòa hay chiến,liên minh hay trung lập, tất tất cho mục đích này. Ở việc lựa chọn quyết định, người ta không thấy chỗ đứng cho cái gì vĩnh cửu như liên minh, tiến thoái trên chiến trường vì tình hình luôn biến động.Bao nhiêu chủ thuyết đã chết. Bao nhiêu liên minh đã tan rã vì qui luật này: sự thay đổi quyền lợi trước tình hình thay đổi.

    Thế giới mà VN đang sống trong thế kỷ này có hai nước lớn có thể chi phối tình hình. Một là Mỹ hai là Trung quốc. Các tác nhân cỡ trung là Nhật, Ấn, Úc, EU.

    Mỹ tuy suy yếu kinh tế không còn như thời làm ra 1/2 của cải thế giới như vào cuối thế chiến 2 nhưng GDP của nó vẫn là 1/4 tới 1/3 GDP toàn cầu, gấp đôi GDP Trung quốc. Về chính trị nó có một chuỗi liên minh các quốc gia và các định chế thế giới như LHQ, các hiệp ước thương mại toàn cầu hỗ trợ. Văn hóa dân chủ là lý tưởng kích thích sự say mê toàn cầu. Không phải vô tình người ta chọn Mỹ làm nơi sinh sống kể cả giới nhà giàu Trung quốc. Chưa kể tới sức mạnh quân sự bá chủ của nó được chứng minh trong hai trận chiến I-raq, cùng đội hải quân bao phủ cả 4 biển thế giới. Người ta ước tính phải mất 20 năm quân đôi Tq mới bắt kịp mức kỷ thuật quân sự Mỹ.

    TQ nhờ thực thi canh cải kinh tế mèo trắng mèo đen của họ Đặng, bắt tay thân thiện với Mỹ chống LX, nói trắng ra đổi liên minh và chệch ý thức hệ quá khứ, đã vươn lên ngôi vị thứ hai về kinh tế hoàn vũ, vượt qua Nhật bản. Ngoài thành tựu này, Tq còn xây dựng và hiện đại hóa quốc phòng thành một lực lượng đáng nể. Ngoài hai thành tựu này Tq là một nước không gợi hứng cho bất cứ ai noi theo, dân chúng còn lạc hậu so với Âu Mỹ, chính sách đối ngoại cá lớn nuốt cá bé dựa trên chủ nghĩa dân tộc Đại Hán mua thù chuốc oán khắp vùng Á châu. Tq không có đồng minh đáng kể cũng như các thể chế thế giới yểm trợ. Khả năng lớn nhất của Tq chỉ có thể là bá chủ vùng. Việc bá chủ thế giới là không thể.

    VN là quốc gia nằm sát TQ, trước mộng bành trướng làm bá chủ của dân Đại Hán do BK chủ trương, trong tình hình như thế, nên lựa chọn sách lược ngoại giao nào? Nên tiếp tục thống thuộc kinh tế và chính trị như hiện nay để yên thân và chờ ngày bị nuốt gọn? Hay nên vì quyền lợi sống còn dành lấy cơ may tái cấu trúc liên minh, độc lập kinh tế, mở rộng dân chủ để thu phục nhân tài và phát huy sinh lực kinh tế?

    Trước khi trả lời câu hỏi nên phân tích cái gì thay đổi trong cục diện thế giới sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt làm quền lợi VN cần thay đổi theo? Còn ý thức hệ xhcn một thời gióng chiêng trống? Còn tình đồng chí anh em và những khoản viện trợ hàng tỷ tỳ rúp hay nhân dân tệ không? Hay chỉ là thân ai nấy lo. Cái tính tón của anh cả anh hai có đụng chạm tới quyền lợi VN hiện giờ?

    Viết tới đây tôi dừng, mong các bạn triển khai thêm.