GS Nguyễn Văn Tuấn - Bằng tiến sĩ y Việt Nam không được thế giới công nhận?

  • Bởi Cát Bụi
    28/08/2014
    6 phản hồi

    GS Nguyễn Văn Tuần


    Ảnh minh họa.

    Nói rằng bằng tiến sĩ y khoa VN không được thế giới công nhận (1) cũng không hẳn sai, nhưng cũng nên nói thêm rằng bằng bác sĩ của VN cũng chẳng được ai công nhận. Hai chữ “công nhận” ở đây còn tuỳ vào bối cảnh. Nếu ứng viên tốt nghiệp tiến sĩ ở VN mà có bài báo khoa học công bố trên những tập san quốc tế có impact tốt thì ứng viên vẫn có thể xin việc bất cứ nơi nào trên thế giới.

    Còn nếu tiến sĩ VN không có công bố gì thì đúng là chẳng ai công nhận. Nhưng bác sĩ thì khác, hai chữ “công nhận” gắt gao hơn tiến sĩ. Bác sĩ có bằng cấp từ VN không được hành nghề khám chữa bệnh ở các nước phương Tây, vì bằng cấp của họ không được công nhận và họ chưa qua tái huấn luyện lâm sàng ở nước sở tại.

    Bài viết này (1) có vài so sánh theo tôi là dễ gây ngộ nhận, có lẽ do người phát biểu chưa am hiểu vấn đề đào tạo đại học ở các nước như Mĩ hay Úc. Không nên so sánh kiểu như “Ở Mỹ không coi trọng TS bằng bác sĩ. Người Mỹ ít làm TS, và nếu muốn người ta có thể có bằng TS trước khi trở thành BS” (1). Tôi đồ rằng chính người nói chưa chắc hiểu hệ thống đào tạo ở các nước như Mĩ hay Úc. Bằng tiến sĩ là thuộc loại academic (hàn lâm), còn bằng bác sĩ là thuộc loại vocational training (hướng nghiệp). Không nên lẫn lộn hai triết lí đào tạo này và môi trường tác nghiệp. Nếu hành nghề khám chữa bệnh thì dĩ nhiên bác sĩ quan trọng hơn tiến sĩ. Nhưng nếu hành nghề nghiên cứu trong các đại học, viện nghiên cứu, thì tiến sĩ quan trọng hơn bác sĩ.

    Nói người Mĩ ít làm tiến sĩ là không hẳn đúng. Trước đây, các đại học đào tạo ra bác sĩ, nhưng họ chỉ loay hoay khám chữa bệnh và nặng với nhiệm vụ lâm sàng, nên kiến thức khoa học rất kém. Làm bác sĩ mà kém khoa học thì chẳng khác gì thợ khám chữa bệnh. Thế là sau này có “phong trào” học tiến sĩ để thăng tiến trong nghề nghiệp. Nhưng bác sĩ quá bận nên làm sao có thì giờ đi học tiến sĩ. (Ở Mĩ đâu có học tiến sĩ tại chức như VN). Thế là có trường đại học đề ra sáng kiến chương trình MD-PhD. Hình như là Đại học Johns Hopkins có sáng kiến này đầu tiên, rồi sau đó các trường khác làm theo. Theo chương trình MD-PhD sinh viên học tiền lâm sàng 2 năm, sau đó chuyển sang chương trình PhD từ 3-5 năm, và sau đó là hoàn tất chương trình lâm sàng 2 năm. Do đó, khi tốt nghiệp, sinh viên vừa trở thành bác sĩ mà cũng là nhà khoa học tạm hoàn chỉnh.

    Xem thường nghiên cứu cơ bản

    Có một câu phát biểu tuy đúng nhưng tôi nghĩ có hơi hám… nguỵ biện vì so sánh giữa táo và cam: “TS nhiều khi ở lĩnh vực chuyên sâu quá, làm việc ở các viện nghiên cứu, các labo chưa chắc đã đáp ứng được nhiệm vụ ở BV là khám chữa bệnh giỏi.”

    Câu nói trên nếu từ một bệnh nhân thì có thể bỏ qua, nhưng nếu từ một bác sĩ thì nó thể hiện cái “ignorance” và thiếu hiểu biết của người bác sĩ. Nói ngắn gọn: Không có nghiên cứu cơ bản thì không có nền y khoa hiện đại như hiện nay. Anh chàng bác sĩ cho một viên thuốc và bệnh nhân khỏi bệnh, và tưởng đó là công của mình, nhưng anh quên rằng để có viên thuốc đó là một quá trình nghiên cứu công phu, lâu dài, và phải qua bao nhiêu thất bại mới có được viên thuốc đó. Cách nói đó cho thấy người bác sĩ hời hợt, chỉ nhìn thấy cái ngọn mà không nhìn thấy cái gốc.

    Câu hỏi quan trọng hơn là: Thế nào là “giỏi”? Ai đánh giá anh là “giỏi”? Ngày ngày khám bệnh, cho thuốc, và thấy bệnh nhân cải tiến, có bác sĩ nghĩ như vậy mình là giỏi. Bệnh nhân cũng nói mình là giỏi. Thế là bác sĩ nghĩ mình giỏi thật, và tự hào với cái giỏi đó, xem ai cũng không giởi bằng mình, ai cũng không quan trọng bằng mình. Có bác sĩ tự xem mình là thánh, là ông trời con. Một kiểu nói theo tiếng Anh là self-serving và self-important.

    Cho dù có định nghĩa giỏi là gì và có đánh giá khách quan, một người bác sĩ có thể chữa bệnh giỏi nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chỉ là người thợ. Ở quê tôi ngày xưa có chú Sáu T, chú chỉ là y tá nhưng do kinh nghiệm lâu năm, chú là vị cứu tinh cho dân làng mấy chục năm trời (nhưng cũng không biết bao nhiêu là nạn nhân). Nhưng dù sao thì chú vẫn là “thợ”, chứ không phải “sĩ”. Để thành “sĩ” người thầy thuốc cần phải biết về khoa học. Để “giỏi” bác sĩ không chỉ dừng ở chỗ thấy bệnh nhân tốt hơn mà còn phải tìm hiểu có thật sự thuốc có tác dụng hay cái gì khác, tại sao thuốc có tác dụng và cơ chế tác dụng là gì, tại sao kháng thuốc, cơ chế kháng thuốc là gì, v.v. Những câu hỏi đó không thể trả lời bằng lâm sàng, mà phải có nghiên cứu cơ bản. Đó chính là lí do tại sao nhiều bác sĩ bỏ cả sự nghiệp để theo đuổi nghiên cứu cơ bản.

    Tôi nghĩ cái quan điểm nằm trong câu “Tiến sĩ nhiều khi ở lĩnh vực chuyên sâu quá, làm việc ở các viện nghiên cứu, các labo chưa chắc đã đáp ứng được nhiệm vụ ở BV là khám chữa bệnh giỏi” nó nguỵ biện và nguy hiểm. Nguy hiểm là vì nó khuyên bác sĩ không nên làm nghiên cứu khoa học. Nguy hiểm là vì nó xem thường nghiên cứu cơ bản và những người dấn thân làm nghiên cứu cơ bản. Chính vì xem thường nghiên cứu cơ bản nên y khoa VN không phát triển nổi, không sáng chế được cái gì quan trọng. Để sáng chế cần phải có nghiên cứu cơ bản. Nhưng nghiên cứu cơ bản ở VN không được xem trọng (thể hiện qua câu phát biểu vô trách nhiệm trên) thì làm sao sáng chế được gì. Không sáng chế được thì phải dùng cái của người khác, và thế là biến VN thành một nước lệ thuộc vào nước ngoài.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Trả lời bác Khách mn :

    1) Tôi chỉ bổ túc một vài nhận xét của Gs Nguyễn Văn Tuấn khi nói: "trên thế giới nói chung chỉ còn 2 loại tiến sĩ: tiến sĩ nghiên cứu và tiến sĩ nghề nghiệp" :

    "Thế giói" không có nghĩa là 200 nước nằm trong ONU trong đó thế nào cũng có nước công nhận bằng tiến sĩ Y VN, mà là những nước có nền học vấn cao tôi đã kể tên : Mỹ, Anh, Canada, Úc, UE (không phải toàn thể 27 nước), Nhật. Giũa Anh, Úc... và các nưức trong LHA (Commonweath), cả thẩy 53 nước, tuyệt đại đa số là những nước trong thế giới thứ Ba cũng khác nhau một trời một vực.

    Khi xếp loại 2 cấp bậc tiến sĩ, tôi cũng không có ý phân biệt 2 loại tiến sĩ này loại nào hơn loại nào mà chỉ muốn bỏ túc thêm ý của Gs Tuấn : Ph.D thuộc vào loại "hàn lâm", M.D thuộc vào loại hướng nghiệp. Tôi cũng xin nói thêm là "bác sĩ" là một từ ngữ đặc biệt VN để gọi những người (ngày xưa) có bằng tiến sĩ y học (M.D). VN quá lệ thuộc Tàu nên những từ ngữ xuất xứ từ Tây phương đều bị Tàu hóa nên mới có chuyện bác sĩ với tiến sĩ, "tuy hai mà một". Từ Doctor, như vẫn được giữ nguyên trong hầu hết mọi tiếng trên thế giới, chỉ phiên âm, thí dụ như Thổ Nhĩ Kỳ, Indonêsia... VN ngày xưa cũng phiên âm thành "Đốc tờ"(miền Bắc) "Đốc Tưa" (miền Nam). Còn từ ngữ PhD, tôi cũng nói rõ là VN dịch là Tiến sĩ khoa học. Việt Nam rất sính từ ngữ (khoa học) này. Từ ngũ "Khoa học" được nhét cùng mọi chỗ kể cả trong chủ nghĩa Mác-Lênin, được coi là chủ nghĩa XH khoa học. Chữ "Science" trong Philosophy, không biết tại sao tiếng Việt dịch là "khoa học", chứ theo gốc La tinh của nó, chỉ có nghĩa là "biết".

    Tôi cũng không biết tại sao VN lại quá coi trọng danh hiệu "tiến sĩ" đến như vậy. Bằng tiến sĩ "hàn lâm" chỉ có giá trị trong ngành ngiên cứu và giảng dạy nên ở các nước Tây phương bằng này không được coi trọng vì có tiếng mà không có miếng, những người có bằng này đa số là thất nghiệp. Việt Nam đã đào tạo được 72 ngàn cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp rồi còn muốn đào tạo thêm 20 ngàn tiến sĩ thất nghiệp nữa !

    2) Về bằng cấp y khoa thì tôi chỉ biết ở 2 nước Pháp và Mỹ, 2 nước có nhiều sinh viên VN học y khoa nhất và nhiều bậc phụ huynh ở VN cũng muốn biết rõ hơn một phần nào để gửi con em qua học. Tôi đã nói là ở Mỹ sau 4 năm Undergraduate, qua một cuộc tuyển lựa rất là khó khăn, ứng viên mới được nhận học 4 năm Y khoa và sau khi thi năm cuối được coi là đã có M.D, nghĩa là Tiến sĩ Y khoa tuy không nhất thiết phải trình luận án, nhưng cũng không được hành nghề nếu không làm 3-7 năm Residency. Có lẽ đó cũng là điểm khác biệt với Anh ( và một vài nước trong Commonweath) về danh xưng M.D hay Bachelor ? Theo tôi biết ở Mỹ, như Gs Tuấn đã nói, PhD làm thêm, hay đã làm từ trước chỉ có mục đích thêm bằng để nghiên cứu hay thêm điểm để đuợc nhận làm giáo sư giảng dạy, chứ không phải là văn bằng cần thiết để hành nghề. Hành nghề là sau M.D phải làm Residency và muốn tiếp tục trong ngành nghiên cứu giảng dạy phải làm thêm Fellowship. Ở miền Nam ngày xưa có Gs Trân Đình Đệ, khoa phụ sản bv Từ Dũ, qua Mỹ làm Fellowship rồi qua Pháp làm thạc sĩ.

    Bàn về đề tài này một cách khái quát, bao gồm nhiều nuớc, với các hệ thống giáo dục khác biệt, thì khó đầy đủ để chính xác với tất cả mọi người. Đơn giản, không có một tiêu chuẩn chung. Chưa kể đến những phong tục tập quán khác biệt của từng nuớc, kể cả cùng chung một hệ thống giáo dục tuơng đối đồng nhất như các nuớc trong Liên Hiệp Anh (LHA). Tôi chỉ mong góp một vài thông tin cho rõ ràng hơn.

    Trích dẫn:
    Phong Uyên:

    Nói chung, ở những nước này chỉ còn 2 loại cấp bậc tiến sĩ(không kể tiến sĩ danh dự):

    - Tiến sĩ nghiên cứu (Doctorat de recherche): Tiêu chuẩn quốc tế của cấp bậc này là Philosophy Doctorat (PhD). Philosophy ở đây không có nghĩa là triết học mà có nghìa là Science, khoa học) : Tiếng Việt dịch là Tiến sĩ khoa học.

    - Tiến sĩ nghề nghiệp (doctorat professionnel). Phần nhiều nằm trong lãnh vực y khoa và kỹ thuật : tiến sĩ y khoa (Docteur en médecine, Medecine Doctor), Tiến sĩ-kỹ sư (Docteur-ingénieur)...

    Phát biểu này của độc giả PU không chính xác lắm, nhất là cho các nuớc trong LHA. Không có sự phân biệt TS nghiên cứu TS và nghề nghiệp.

    Bằng TS (Doctor of Philosophy, PhD) được xem là bằng cấp cao nhất của ĐH, được trao cho những ai đã học tập-nghiên cứu và hòan thành luận án về một đề tài nào đó (không hẳn về khoa học, có thể văn chuơng, xã hội, âm nhạc) và đựơc xét duyệt chấp thuận bởi (thuờng là) ba giám khảo trong lãnh vực luận án đệ trình. Do đó văn bằng PhD thuờng được ghi thêm chữ "trong lãnh vực ..." (Doctor of Philosophy, in the field of Medicine, hay Law chẳng hạn).

    Từ "philosophy" ở đây không có nghĩa là triết học, hay khoa học, mà mang ý nghĩa về trí tuệ (wisdom), gốc từ tiếng Hy lạp. Có lẽ vì các triết gia xưa (philosopher) thuờng là những nhà thông thái (Socrates, Plato, v.v...). Đây là suy luận của tôi, không biết phải thế không. :)

    Ở các nuớc LHA, bằng cấp bác sĩ y khoa chỉ là bằng cử nhân đôi, dù học 6 năm (hệ tuyển vào sau trung học) hay 4 năm (hệ thi tuyển vào sau khi có một bằng cử nhân nào đó, kể cả cử nhân ... âm nhạc). Bằng Bs đó là bằng Bachelor of Medicine, Bachelor of Surgery (MBBS), tức Cử nhân Y khoa và Cử nhân Giải phẩu. Với một số ĐH, có thể kết hợp đồng thời học lấy bằng Bs cùng TS. Thuờng phải học-nghiên cứu thêm 3-4 năm nữa, cho những ai thích làm nghiên cứu song hành cùng điều trị sau này. Nghiên cứu là một đam mê mạnh mẽ, dù không mang lại tiền tài như điều trị.

    Danh xưng Doctor (Dr) trong LHA được dùng khá dễ dãi, không là phạm pháp, cho hầu hết những ai hành nghề điều trị. Cả cho mấy ông châm cứu (thuờng gốc Hoa, không có bằng cấp chính qui theo Tây học), cho Nha sĩ, và một số ngành khác như điều trị về xuơng khớp (Chiropractor), v.v... dù bằng cấp của họ chỉ là cử nhân. Do đó, danh xưng Dr trong các truờng hợp này không có nghĩa là một bằng cấp (PhD) ĐH.

    Vì chỉ có bằng Cử nhân, các Bs trong LHA không được phép giãng dạy trong ĐH. Họ có thể học thêm lên cao học (Master, tức ThS), Doctor of Medicine (M.D., phải trình luận án nghiên cứu hay đệ trình một số bài viết y-khoa học đã được ấn hành để dược xét duyệt), hoặc TS (dĩ nhiên phải có làm nghiên cứu và trình luận án). Khi có PhD, các Bs này có thể vừa điều trị, đồng thời làm nghiên cứu cùng giãng dạy. Đa số các GS trong truờng Y khoa nằm trong diện này, thuờng là một Bs chuyên khoa (specialist) nổi tiếng. Nếu chỉ có bằng TS Y khoa (PhD) thì không được phép điều trị bệnh nhân.

    Y khoa/điều trị là lãnh vực mà các bằng cấp từ các nuớc thế giới thứ ba rất khó được công nhận ở các nuớc phuơng Tây. Ngoài trình độ chuyên môn không được đánh giá cao, ngôn ngữ cũng là yếu tố lớn. Sai một tí trong trao đổi chẩn đóan có thể là một mạng người.

    Không chỉ với các bằng Bs hay TS Y khoa ở VN không được công nhận ở phuơng Tây mà hầu hết cho các bằng cấp khác của VN. Với hệ thống giáo dục lạc hậu cùng các truờng ĐH mà hoạt động cùng huớng đi mang nhiều đảng tính (đảng ủy quyết định), thiếu tự chủ, tranh dành, xâu xé nhau trong lãnh đạo như hiện nay thì hậu quả đó là điều không thể tránh khỏi. Thiệt thòi, tiếc thay, là những cá nhân có tài năng thực sự, xuất phát từ một hệ thống suy đồi (corrupt).

    Thế giới thật ra chỉ là Mỹ (Anh,Canada, Úc) và UE, Nhật.

    Nói chung, ở những nước này chỉ còn 2 loại cấp bậc tiến sĩ(không kể tiến sĩ danh dự):

    - Tiến sĩ nghiên cứu (Doctorat de recherche): Tiêu chuẩn quốc tế của cấp bậc này là Philosophy Doctorat (PhD). Philosophy ở đây không có nghĩa là triết học mà có nghìa là Science, khoa học) : Tiếng Việt dịch là Tiến sĩ khoa học.

    - Tiến sĩ nghề nghiệp (doctorat professionnel). Phần nhiều nằm trong lãnh vực y khoa và kỹ thuật : tiến sĩ y khoa (Docteur en médecine, Medecine Doctor), Tiến sĩ-kỹ sư (Docteur-ingénieur)...

    Nếu kể về thời gian thì bằng tiến sĩ nước nào cũng đòi hòi một thời gian tối thiểu 8 nâm sau trung học làm công trình nghiên cứu hay chuyên về một nghề nghiệp nào. Riêng về học y khoa thì ở Pháp hay Mỹ, thời gian học tối thiểu trước khi được hành nghề cũng ít nhất là 8 năm ở Pháp, 9 năm ở Mỹ cho bác sĩ tổng quát (sau 2 năm nội trú hay 1 năm Residency) và 11-12 năm (4- 6 năm nội trú hay từ 3 đến 7 năm Residency).

    Chỉ có khác là ở Mỹ, sau 8 năm học (4 năm Undergraduate + 4 năm y khoa) không phải làm luận án vẫn được bằng M.D, tuy không được hành nghề. Còn ở Pháp tbì phải làm luận án.

    Còn muốn trở thành giáo sư Y khoa ở Pháp thì sau nội trú, phải qua kỳ thi tuyển lựa Trưởng Lâm sàng (chef de clinique), công bố nhiều công trình, thi làm bác sĩ thính giảng (Maitre de conférence) Nhà thương thuộc trường Đại học và phải làm một luận án tiến sĩ khoa học (PhD) để có thể thi giáo sư thạc sĩ, cấp bậc thấp nhất trong hàng giáo sư.

    Ở Việt Nam theo tôi biết, học y khoa chỉ có 6 năm lại không phải làm luận án. Nếu chỉ kể về thời gian học, chỉ bằng sinh viên năm thứ 6 trước khi làm nội trú hay Residency, thì lẽ tất nhiên so với UE và Mỹ, bằng bác sĩ không thể được công nhận.

    Trái lại, nếu có bằng tiến sĩ y khoa đàng hoàng với một luận án có giá trị được dịch ra tiếng Anh tiếng Pháp, thì có thể chỉ phải thi lại lâm sàng và nếu đậu trong số chỗ đã được ấn định mỗi năm cho những bác sĩ lánh nạn nước ngoài thì sẽ đưực phép hành nghề của bộ Y tế.

    Còn đang học dở dang hay đã tốt nghiệp ở Việt Nam thì khó có thể được tiếp tục học ở Pháp nếu không thi lại từ đầu, từ bằng Tú Tài trở lên. Số đậu chắc chắn không tới 1/100.

    Theo tôi biết, ở Mỹ còn khó khăn hơn nhiều. Ngay đối với sinh viên Mỹ, năm 2012,trong số 636.309 thí sinh hậu undergraduate, chỉ có 19517 được tuyển và chỉ có 50 trong số 141 trường Y khoa nhận sinh viên nước ngoài và niên học 2012-2013, chỉ có 183 sinh viên nước ngoài được nhận.

    Sau này nếu VN thay đổi chế độ, bác GS Tuấn có thể về VN ứng cử chức bộ trưởng y tế. Tôi đã có sẵn một phiếu bầu cho bác :)

    Ở VN ,lãnh vực nghiên cứu và thực hành,thí dụ y khoa,đều kém chứ không hẳn thiên về phía nào do những người ở hai lãnh vực không hiểu hay không nắm bắt đúng nhu cầu của xã hội,đất nước hội nhập với thế giới.Mặt khác có những lãnh vực không nên đề cao hay đặt nặng ,ca ngợi quá đáng (ngoại trừ có ý đồ)bởi có thể làm lệch nhận thức của xã hội.Thí dụ hầu như ai cũng biết Tiến sĩ nghiên cứu Hán Nôm chưa chắc được nhiều người cần bằng một giáo viên dạy đàm thoại tiếng Hoa.Tuy nhiên vì thế có gì lạ không khi báo chí phương tiện truyền thông của nhà nước hàng chục năm trước đây ca ngợi hết mức nghệ sĩ Đặng Thái Sơn(đoạt huy chương vàng piano quốc tế-chỉ là giải trí)và gần đây Giáo sư Bảo Châu với giải nghiên cứu toán học quốc tế Fields ,tưởng chừng họ có thể át giá trị của các Bác sĩ,Dược sĩ,Kỹ sư,...kể cả các dạng toán kinh tế,ứng dụng thực hành khác ?!Nói cách khác,hể bất kỳ lãnh vực gì mà có bàn tay tuyên truyền của nhà nước nhúng vào là lãnh vực đó biến chất hay bị đảo ngược giá trị !

    Gs Tuấn đã viết khá chính xác về sự khác biệt giữa Tiến sỹ y học và bác sỹ. Điều cần phải nói thêm, đó là bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ... thuộc về phạm vi "hành nghề", mà hành nghề tại bất cứ quốc gia nào cũng phải được Bộ Lao Động, Bộ Y Tế... sở tại cho phép. Phép được hành nghề liên quan tới nhiều yếu tố hay điều kiện (như bảo vệ quyền lao động của người bản xứ, ngôn ngữ, tôn giáo (một số nước từ chối bác sỹ có đạo khác với chính sách của họ), và dĩ nhiên năng lực). Do đó, bác sỹ hành nghề tại Mỹ chưa chắc đã được hành nghề tại các nước khác, và ngược lại cũng như thế. Ai muốn hành nghề tại Mỹ (cho dù là bác sỹ tại Đức, v.v.) đều phải thi lại một số kiến thức mà Mỹ đòi buộc. Các quốc gia khác cũng có những quy luật tương tự.
    Tiến sỹ thường là những nhà nghiên cứu và giáo sư y khoa. Đa số các bác sỹ (tương đương với Cử nhân Y khoa, nhưng có thực tập và thông qua kỳ thi sát hạch bác sỹ), nghiên cứu chuyên khoa có thể tiếp tục học Thạc sỹ (sau bác sỹ), và thường nếu muốn dạy học, lên chức Phó Giáo sư thì phải học lấy Tiến sỹ Y khoa. Ở các Trung Tâm Nghiên Cứu Y khoa (thường là bệnh viện lớn và uy tín, University Hospital / Universitaet Krankenhaus) của nhiều nước, giáo sư y khoa thường là những bác sỹ hàng đầu, cả về nghiên cứu lẫn lâm sàng. Họ rất uy tín.
    Phóng viên báo có lẽ chưa tìm hiểu kỹ lưỡng nên viết quá cường điệu cho rằng bác sỹ, tiến sỹ Vn không được quốc tế công nhận.
    Thực ra Vn chưa có loại bệnh viện nghiên cứu theo đúng nghĩa của Trung Tâm Nghiên Cứu, nên bằng cấp Tiến sỹ Y học (như bà bộ trưởng Y tế Tiến) trông ra rất khập khiễng, làm hạ thấp giá trị của Tiến sỹ Y học.