GS Nguyễn Văn Tuấn - Xuất bản khoa học: một mạo hiểm cần sự cẩn thận

  • Bởi Cát Bụi
    24/08/2014
    13 phản hồi

    GS Nguyễn Văn Tuấn

    Xin giới thiệu một bài tôi viết cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần (tuần này 22/8) về tạp chí khoa học. Hiện nay, nhiều đại học Á châu và Trung Đông có phong trào lập tạp chí khoa học, nhưng trước mắt là một mạo hiểm có thể nói gần như vô định. Thành ra, cần phải cẩn thận khi bắt đầu. Kinh nghiệm của những tạp chí trước chỉ ra đời vài năm thì đóng cửa. Ở VN bây giờ có vài đại học đang lăm le làm tạp chí khoa học, nhưng khả năng sống sót thì hình như chưa được xem xét cẩn thận.

    Nhiều đại học ở Á châu lập tạp chí khoa học để quảng báo nghiên cứu của trường và qua đó nâng cao uy danh của trường trên thế giới. Ở Việt Nam một số trường đại học cũng có ý định lập tạp chí khoa học quốc tế. Tuy nhiên, đằng sau ý tưởng là những khó khăn trong việc điều hành và duy trì sự sống còn của tạp chí mà có khi ít ai nghĩ đến.

    Tạp chí khoa học có bình duyệt (1) là một trong những yếu tố định hình khoa học hiện đại, nhưng có một lịch sử khá lâu đời. Có thể xem tạp chí Philosophical Transactions of the Royal Society của Anh, xuất bản lần đầu năm 1665, là tạp chí khoa học đầu tiên trên thế giới vì tạp chí công bố những kết quả nghiên cứu khoa học. Từ truyền thống đó, tạp chí khoa học được xem là một diễn đàn, nơi mà các nhà khoa học công bố kết quả nghiên cứu, chia sẻ ý tưởng và phương pháp. Vì tính liên tục trong xuất bản, tạp chí khoa học là một phương tiện chuyển tải thông tin từ thế hệ này sang thế hệ tiếp nối. Gerard Piel (người đầu tiên xuất bản tạp chí Scientific American) từng nói một câu chí lí rằng nền khoa học sẽ chết nếu không có công bố (“Without publication, science is dead”).

    Tôi nghĩ tạp chí khoa học còn mang ý nghĩa xã hội. Đó là nơi để chúng ta lưu trữ chứng từ khoa học về một vấn đề nào đó. Chứng từ khoa học rất quan trọng vì nó có thể được sử dụng chẳng những trong khoa học, sinh hoạt hàng ngày, mà còn trong toà án. Chẳng hạn như thông tin khoa học về biển đảo của Việt Nam nếu được công bố trên các tạp chí khoa học thì nó trở thành chứng từ khoa học để có thể đề cập đến. Còn nếu chúng ta nói những thông tin đó công bố trên báo [chỉ là ví dụ] Tuổi trẻ thì nó khó thể xem là chứng từ khoa học được vì chưa qua bình duyệt bởi đồng nghiệp. Do đó, tạp chí khoa học đóng vai trò quan trọng là ở chỗ lưu trữ và “đóng dấu” chứng từ có thế hệ hôm nay và mai sau.

    Phong trào thành lập tạp chí khoa học

    Tạp chí khoa học xuất phát từ Âu châu, và sau này được phát triển mạnh ở Mĩ, nên các nước Âu Mĩ đã và đang “thống trị” các diễn đàn khoa học thế giới. Có thể nói rằng 99% các tạp chí khoa học hiện nay là do Mĩ và vài nước Tây Âu như Anh, Đức, và các nước Bắc Âu chiếm lĩnh. Tiêu chuẩn công bố cũng do các nước này, đặc biệt là Mĩ, đề ra và xét duyệt. Hiện nay, có thể nói hầu hết những tạp chí danh giá nhất, uy tín nhất và có ảnh hưởng lớn nhất đều xuất phát từ Mĩ. Nhà khoa học có công trình có chất lượng cao đều có xu hướng gửi bài và công bố trên các tạp chí của các nước Âu Mĩ.

    Trong vài thập niên gần đây, khi kinh tế các nước Á châu phát triển, nghiên cứu khoa học rất được quan tâm. Tuy nhiên, các nhà khoa học Á châu dần dần nhận ra rằng các bài báo của họ bị từ chối nhiều hơn các bài báo của các đồng nghiệp Âu Mĩ. Trong một phân tích do tập san quang tuyến American Journal of Roentgenology thực hiện, trong số hơn 5000 bản thảo của các tác giả trên khắp thế giới nộp trong vòng 2 năm, các bài từ Mĩ có tỉ lệ từ chối là 28%, còn các nước Châu Á thì cao hơn, như Ấn Độ 73%, Đài Loan 54%, China 42%, Nhật 42%, v.v. Những khác biệt đó làm nhiều người suy nghĩ vì rõ ràng đó là những khác biệt mang tính hệ thống và có thể làm thiệt thòi các nước khác.

    Tuy chưa có bằng chứng để nói sự khác biệt về tỉ lệ từ chối bài báo khoa học là thể hiện sự kì thị, nhưng các nhà khoa học Á châu nhận ra rằng họ cần có những tạp chí cho riêng họ. Nhật đã từng lập tạp chí khoa học cho Nhật hơn 50 năm qua. Thế là một phong trào lập tạp chí khoa học ở các nước đang phát triển bắt đầu. Ở Trung Quốc và Trung Đông nhiều đại học kí hợp đồng với các nhà xuất bản nổi tiếng trên thế giới để lập tạp chí khoa học. Phong trào lập tạp chí khoa học do các trường làm chủ quản tuy có vài lợi thế nhưng cũng đặt ra vài vấn đề thực tế.

    Đằng sau một tạp chí khoa học

    Xây dựng một tạp chí khoa học mới là một việc làm đầy gian nan. Một tạp chí khoa học cần phải có một cơ quan chủ quản, tổng biên tập, một ban biên tập, và một nhà xuất bản. Cơ quan chủ quản thường là hội chuyên môn hoặc trường đại học hoặc viện nghiên cứu. Khái niệm chủ quản ở đây không giống như chủ quản của báo chí phổ thông. Nếu cơ quan chủ quản là một hiệp hội chuyên môn, họ thường có một uỷ ban xuất bản, và uỷ ban này lo việc thành lập và quản lí tạp chí. Quản lí về nội dung khoa học, định hướng, bổ nhiệm tổng biên tập, quảng lí ban biên tập, và quản lí tài chính. Dĩ nhiên, cơ quan chủ quản không can thiệp vào quyết định công bố hay từ chối bài báo vì đó là nhiệm vụ của ban biên tập và tổng biên tập.

    Một tạp chí khoa học phải có một ban biên tập mà đứng đầu là tổng biên tập. Tổng biên tập của tạp chí khoa học không phải và không cần phải là một nhà khoa học lừng danh thế giới. Người ta chọn tổng biên tập dựa vào thành tích khoa học khá và có kinh nghiệm xuất bản khoa học cũng như kinh nghiệm quản lí khoa học, kể cả đạo đức khoa học. Tổng biên tập không phải do nhà xuất bản bổ nhiệm như vài người hiểu lầm. Nếu cơ quan chủ quản là trường đại học hay hiệp hội chuyên môn thì họ chính là cơ quan bổ nhiệm tổng biên tập. Tổng biên tập là người lập ban biên tập của tạp chí. Thành viên ban biên tập thường là người quen của tổng biên tập hoặc người trong chuyên ngành. Nếu là tạp chí nghiêm chỉnh, tất cả thành viên của ban biên tập là những nhà khoa học có tiếng tốt trên trong chuyên ngành. Nhưng trong thực tế vì bè bạn nên một số thành viên ban biên tập xuất hiện như là một cái tên không hơn không kém chứ chẳng có đóng góp gì cho tạp chí.

    Tạp chí khoa học phải có một nhà xuất bản. Trước đây, một số hiệp hội và trường đại học lớn họ có nhà xuất bản riêng, nên họ tự xuất bản. Tuy nhiên, đối với các hiệp hội nhỏ và các trường chưa có kinh nghiệm xuất bản thì thường kí hợp đồng với một nhà xuất bản. Trong thế giới khoa học, chỉ có một số nhà xuất bản đang thống trị kĩ nghệ này như Elsevier, Springer, Wiley, Blackwell, Taylor & Francis, v.v. Trong vài trường hợp nhà xuất bản cũng có thể thành lập và đóng vai trò chủ quản tạp chí khoa học.

    Nhà xuất bản là một doanh nghiệp, và họ lúc nào cũng tìm thị trường mới. Một số tập đoàn xuất bản khoa học nổi tiếng như Nature và Elsevier đã có mặt ở Á châu hơn 10 năm, vì họ thấy nghiên cứu khoa học ở China và Á châu đang phát triển rất nhanh, nên nhu cầu xuất bản rất lớn. Do đó, đối với nhà xuất bản, họ không quá quan tâm đến sự danh tiếng của tổng biên tập hay ban biên tập, nhưng họ quan tâm đến lợi nhuận và thị trường đầu tiên. Mỗi một bài báo được xuất bản họ lấy tiền ấn phí từ tác giả từ 600 USD đến 2000 USD, tuỳ theo hình thức xuất bản và tuỳ theo tạp chí. Xuất bản theo mô hình Mở (còn gọi là Open Access, chỉ “in” online chứ không có in trên giấy) thường có ấn phí đắt hơn gấp 2 lần xuất bản theo mô hình truyền thống (tức in trên giấy). Tuy nhiên, một số nhà xuất bản miễn phí cho các tác giả từ các nước nghèo như Việt Nam.

    Lập tạp chí đã khó, duy trì còn khó hơn

    Một tạp chí mới lập ra như một doanh nghiệp mới được thành lập có một tương lai mịt mờ. Trên thế giới ngày nay có hơn 100,000 tạp chí khoa học, nhưng chỉ có trên dưới 5,000 hay 10,000 (tuỳ vào dữ liệu) được công nhận. Được công nhận ở đây là được các tổ chức như Viện thông tin khoa học Hoa Kì (ISI) đưa vào danh mục các tạp chí khoa học.

    Quá trình từ lúc ra đời đến lúc một tạp chí được chấp nhận vào danh mục ISI là một phấn đấu gian nan. Trước hết, ngoài ban biên tập có thành viên quốc tế, tạp chí phải chứng minh là có bài vở công bố thường xuyên. Không chỉ công bố thường xuyên, những bài công bố phải được các đồng nghiệp trích dẫn (chứ không phải tự trích dẫn!) Nói cách khác, tạp chí phải có bài và bài vở phải có chất lượng, và chất lượng phản ảnh qua tần số trích dẫn.

    Hơn 50% (có nơi 70%) các bài báo công bố trên các tạp chí không bao giờ được ai trích dẫn. Không được trích dẫn là một tín hiệu cho thấy công trình nghiên cứu có chất lượng quá kém hay vô bổ. Một tạp chí mới thành lập phải rất gian nan để có bài vở tốt. Nhưng các tác giả, ngay cả tác giả có tên trong ban biên tập, có công trình tốt sẽ gửi cho các tạp chí có hệ số ảnh hưởng (impact factor – IF) cao, chứ không bao giờ gửi cho các tạp chí mới vì chưa có IF. Các nghiên cứu sinh mới vào nghiên cứu cũng sẽ không gửi bài cho các tạp chí mới vì họ sẽ không có điểm và khó bảo vệ luận án.

    Có một nhóm có thể gửi bài cho tạp chí mới, đó là những bài báo đã bị tất cả các tạp chí có IF từ chối công bố, nên họ sẽ gửi cho các tạp chí mới. Dù không ai muốn nói ra, ai cũng nghĩ rằng các tạp chí mới ra đời chỉ có thể công bố những bài báo có chất lượng thấp hay rất thấp. Như vậy, nếu không khéo, các tạp chí mới hứng lấy những bài báo mà các nơi đều bác bỏ và trở thành những thùng rác khoa học. Trong nhiều trường hợp tạp chí mới chỉ tồn tại một thời gian ngắn sau khi tổng biên tập không còn nữa.

    Có nên lập tạp chí khoa học?

    Việc các trường đại học Việt Nam muốn có một tạp chí khoa học bằng tiếng Anh có lẽ xuất phát từ truyền thống trước đây trường nào cũng có một tạp chí khoa học viết bằng tiếng Việt. Nhưng như tôi mô tả trên tạp chí khoa học rất khác với những tạp chí mang tính nội bộ trong trường. Lập tạp chí đã khó, nhưng duy trì nó có chất lượng là một thách thức lớn vì đòi hỏi nhân lực có kinh nghiệm, tiền bạc, và thời gian. Các đại học VN có lẽ không thiếu tiền để làm tạp chí khoa học, nhưng nhân sự có kinh nghiệm trong xuất bản khoa học chắc chắn thiếu.

    Ngoài ra, còn vấn đề bài vở có chất lượng là một thách thức lớn. Ở VN nghiên cứu khoa học còn rất kém, nên bài vở sẽ không nhiều, và như nói trên nếu công bố những bài có chất lượng kém thì tạp chí sẽ có nguy cơ cao trở thành là một thùng rác khoa học không hơn không kém, và sẽ khó vào danh mục ISI. Hiện nay, theo tôi biết chưa có tạp chí nào của VN có trong danh mục ISI. Bất cứ trường nào muốn có tạp chí khoa học cần phải suy nghĩ nhiều lần trước khi thực hiện.

    Thật ra, câu hỏi nghiêm chỉnh cần đặt ra là: các đại học Việt Nam có cần có một tạp chí khoa học bằng tiếng Anh như các nơi khác? Theo tôi là KHÔNG. Câu trả lời “không” là vì trong rừng tạp chí trên thế giới, một tạp chí khoa học từ VN khó có khả năng sống sót lâu dài do khả năng cạnh tranh không cao. Thay vì tốn tiền lập tạp chí khoa học bằng tiếng Anh, nên dành tiền đó để lập quĩ nghiên cứu cho các nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu. Thay vì lập tạp chí khoa học tiếng Anh, các đại học VN nên tập trung vào nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, và công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín và có ảnh hưởng cao.

    —–

    Chú thích:
    (1) tiếng Anh hay gọi là “peer reviewed journals” hay tạp chí có bình duyệt để phân biệt với các tạp chí không có bình duyệt. Để đăng bài trên các tạp chí có bình duyệt, các bài phải trải qua một qui trình phê bình và xét duyệt trước khi được chấp nhận (phần lớn là từ chối) cho công bố.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    Khách Kẹt Đường viết:

    Tôi nghĩ bạn Mường Mán nói có lý. Trước đây, vào khoảng năm 1976 tôi có lần thấy tạp chí Acta mathematica, một tạp chí của các nhà toán học miền Bắc. Tạp chí này có lẽ đã ra đời lâu lắm rồi thời những năm còn chiến tranh, ít nhất là hơn nửa thế kỷ. Hy vọng là nó vẫn còn sống. Nếu Giáo sư Ngô Bảo Châu và các nhà toán học VN đã thành danh, không cần phải đăng bài trên những tạp chí toán học nổi tiếng, thì có lẽ nên đăng một số bài nghiên cứu của mình, và khuyến khích các học trò (Tây, Mỹ, Úc, v.v...) của mình đăng vào Acta mathematica để dần dần nâng cao GIÁ TRỊ và UY TÍN của tạp chí này. Dần dần theo thời gian Acta mathematica cũng sẽ khá lên, và trở nên một tạp chí toán học VN được thế giới biết tên. Vì, như bạn Mường Mán đã nói rất đúng, nếu cứ theo lời khuyên của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn mà không CỐ LÊN MỘT CHÚT thì muôn đời nên khoa học của VN cũng không NGÓC ĐẦU lên nổi, không có lấy một tạp chí khoa học có tên tuổi như các nước BA LAN, HUNG GIA LỢI v.v... đã có được.

    Tạp chí Acta Mathematica Vietnamica hiện vẫn tồn tại và do Springer xuất bản bằng Anh ngữ; tổng biên tập và các phó tổng biên tập đều là nguời Việt (http://www.springer.com/mathematics/journal/40306?detailsPage=editorialBoard) và cơ quan chủ quản là Viện Khoa Học và Kỹ Thuật (Vietnamese Academy of Science and Technology)(không biết có dính dáng gì đến cái viện khoa học và kỹ thuật mà tác giả Trung Ngôn đã từng viết bài tố khổ đăng trên DL).

    Ngoài ra còn có tạp chí Vietnam Journal of Mathematics do giáo sư Hoàng Xuân Phú làm tổng biên tập và hai phó tỗng biên tập cũng là người Việt.

    Cả hai tạp chí đều không nằm trong danh sách ISI để được đánh giá, trong khi đó một tạp chí toán học của Trung Quốc (Acta Mathematica Scientia) đã lọt vào danh sách ISI và có impact factor = 0.6.

    Đối với VN, làm sao để hai tạp chí kể trên được lọt vào danh sách ISI và có chỉ số impact factor kha khá không phải chỉ cần "một chút cố gắng" mà phải là một nỗ lực phi thường. Trước hết, muốn lọt vào danh sách ISI thì phải nâng số người đọc (chưa phải là số trích dẩn). Đây là vấn đề marketing không những của nhà xuất bản mà còn cả tổng biên tập và ban biện tập. Xin kể sơ về kinh nghiện để được lọt vào danh sách ISI chỉ trong vòng 1 năm sau khi xuất bản của tạp chí mà tôi có chân trong ban biên tập (và tám năm sau đã có chỉ số impact factor cao hơn 1.0):

    1. Nhà xuất bản và những người liên quan phải quảng cáo đến thư viện của các trường đại học để họ mua cho các giáo sư và sinh viên đọc. Sau đó là đếm số "hits" mỗi khi có người mở tạp chí đọc online ở những cơ sở nói trên. Do đó, làm sao khuyến khích các giáo sư dùng những bài trong tạp chí để làm tài liệu giảng dạy, sinh viên phải đọc (mà phải đọc trực tiếp online qua thư viện nơi đã mua tạp chí để có thểm đếm số lần mỗi bài viết được accessed)

    2. Không những quảng cáo ở các trường ở Mỹ mà còn phải quảng cáo ở các trưòng ở nước ngoài. Thị trường Á châu được đặc biệt lưu ý, nhất là Trung Quóc và Ấn độ.

    3. Tạp chí phải nâng cao chất lượng bằng những bài viết có giá trị, do đó phải khuyến khích, kêu gọi những người nổi tiếng trong ngành gởi vài cho tạp chí. Ban biên tập phải dùng sự quen biết cá nhân, kêu gọi bạn bè gởi bài cho tạp chí. Có khi nhà xuất bản có danh sách email những học giả chuyên về lãnh vực của tạp chí, gởi email đến mời gởi bản thảo đến cho tạp chí, v.v.

    4. Khi tạp chí bắt đầu có người đọc, có những bài viết của những người đã nổi tiếng, thì số ngưòi đọc tăng dần lên, các bản thảo gởi đến tăng lên, sự lựa chọn sẽ gắt gao hơn lại làm tăng giá trị của bài báo và cứ như thế, uy tín của tạp chí tăng dần lên.

    Việc mở rộng quen biết để quảng bá cho một tạp chí ở VN rất khó khắn vì các giáo sư và sinh viên ở VN không thường đọc các tạp chí chuyên ngành, không thường xuyên tham gia các hội nghi chuyên ngành quốc tế, và không có những mối giao thiệp rộng rãi với các đồng nghiệp trong ngành. Trong trương hợp như vậy, có một tạp chí đươc lọt vào danh sách ISI không phải là vấn đề đơn giản.

    'Làm khoa học' mà trong óc lúc nào cũng nghĩ về danh lợi thì chả thể làm nên trò trống gì được (NBC từng loay hoay mãi hàng chục năm trời, trong đầu chỉ nghĩ về mỗi một bài toán, cuối cùng mới lóe ra được lời giải), thậm chí có kẻ bí quá khiến phải đi ăn cắp thành quả của người khác, hoặc phịa kết quả hòng đạt 'danh lợi' !

    Muốn bay lên đỉnh núi thì phải nhắm đến mặt trăng, để nhỡ bay lên không tới mặt trăng thì sẽ rơi xuống nằm trên đỉnh núi :)

    Mường Mán viết:
    Cứ như bài viết này chỉ ra thì cái tạp chí gì đó do GS Nguyễn Đăng Hưng làm biên tập khó sống lâu. Tạp chí mới, VN không có tiếng, thì chắc nhận toàn bài kém. GS Tuấn gọi là "thùng rác khoa học". Rất có thể. Nhưng nếu không làm thì có lẽ VN chẳng bao giờ có tap chí khoa học xứng tầm. Do đó, tôi nghĩ cũng nên mạo hiểm một vài phen để xem sao.

    Tôi nghĩ bạn Mường Mán nói có lý. Trước đây, vào khoảng năm 1976 tôi có lần thấy tạp chí Acta mathematica, một tạp chí của các nhà toán học miền Bắc. Tạp chí này có lẽ đã ra đời lâu lắm rồi thời những năm còn chiến tranh, ít nhất là hơn nửa thế kỷ. Hy vọng là nó vẫn còn sống. Nếu Giáo sư Ngô Bảo Châu và các nhà toán học VN đã thành danh, không cần phải đăng bài trên những tạp chí toán học nổi tiếng, thì có lẽ nên đăng một số bài nghiên cứu của mình, và khuyến khích các học trò (Tây, Mỹ, Úc, v.v...) của mình đăng vào Acta mathematica để dần dần nâng cao GIÁ TRỊ và UY TÍN của tạp chí này. Dần dần theo thời gian Acta mathematica cũng sẽ khá lên, và trở nên một tạp chí toán học VN được thế giới biết tên. Vì, như bạn Mường Mán đã nói rất đúng, nếu cứ theo lời khuyên của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn mà không CỐ LÊN MỘT CHÚT thì muôn đời nên khoa học của VN cũng không NGÓC ĐẦU lên nổi, không có lấy một tạp chí khoa học có tên tuổi như các nước BA LAN, HUNG GIA LỢI v.v... đã có được.

    Theo tôi, Việt Nam nên thành lập (ít nhất) một tạp chí khoa học .

    1- Nếu không tạp chí nào nhận bài mình, tự mình có thể lập nên tạp chí riêng để tự đăng .
    2- Việt Nam có những nhu cầu phát triển riêng, dẫn tới những đòi hỏi riêng . Với tạp chí khoa học của riêng mình, chúng ta có thể bao gồm những đề tài cả thế giới cho là khùng khiệu nhưng phù hợp với tình hình nước ta . Như tư tưởng Bác Hồ vĩ đại chẳng hạn, hoặc trận đánh Đoàn Văn Vươn của (giờ đã thành) Tướng Đỗ Hữu Ca ...
    3- Chúng ta có thể phát triển những phân ngành mới, đặc trưng với tình hình Việt Nam, và qua đó, đóng góp cho kiến thức chung của nhân loại . Ví dụ như ngành tội phạm học (Criminology), chúng ta có ngành riêng là chống phản động học, cho những quốc gia nào cần bảo vệ nền độc tài của mình .
    4- Với việc tự đăng sẽ phát sinh nhiều nguồn lợi, tạo ra nhiều tiêu chuẩn tưởng thưởng . Như các nhà khoa học có thể hối lộ để bài được đăng . Và ai được đăng nhiều bài nhất sẽ nhận giải thưởng mang tên Bác Hồ vĩ đại .

    ........

    Nói chung, lợi nhiều hơn hại .

    Mường Mán viết:
    Cứ như bài viết này chỉ ra thì cái tạp chí gì đó do GS Nguyễn Đăng Hưng làm biên tập khó sống lâu. Tạp chí mới, VN không có tiếng, thì chắc nhận toàn bài kém. GS Tuấn gọi là "thùng rác khoa học". Rất có thể. Nhưng nếu không làm thì có lẽ VN chẳng bao giờ có tap chí khoa học xứng tầm. Do đó, tôi nghĩ cũng nên mạo hiểm một vài phen để xem sao.

    Khi muốn xây dựng một tạp chí khoa học, câu hỏi đầu tiên cần trả lời là với mục đích gì.

    Hẳn nhiên người ta có nhiều mục đích để cho ra đời một tạp chí. Nói chung, lý do thông thường là để truyền tải những thành quả nghiên cứu và những phát minh với mọi người trong một lãnh vực chuyên môn nào đó. Đối với những người làm việc trong một lãnh vực chưa được nhiều người biết đến, tạp chí khoa học là phương tiện hữu hiệu để quảng bá kiến thức trong lãnh vực chuyên môn cũng như quan điểm của họ. Các hội chuyên ngành cũng muốn có một tạp chí để phổ biến thành quả nghiên cứu đại diện cho quan điểm của hội, v.v. Ở các trường đại học Âu Mỹ, vì nghiên cứu là một tiêu chuẫn quan trọng để đánh giá các giáo sư nên có người muốn lập ra một tạp chí khoa học để có credit.

    Tuy nhiên, cho rằng lập một tạp chí chuyên ngành nổi tiếng để mang lại vẻ vang cho một trường đại học, hay một khoa trong trường đại học, hay cá nhân người sáng lập là điều không thực tế.

    Thực tế thì một tạp chí nổi tiếng là do phẫm chất nội dung của tạp chí, và người đọc chỉ biến đến tên của tạp chí, chứ ít ai biết đến tên của tổng biên tập (có thể thay đổi theo định kỳ), người sáng lập, hay nơi sáng lập. Hơn nữa, tạp chí hay hay dở phần lớn là do sự đóng góp bài vở của các tác giả bài viết, chứ không do nơi sáng lập.

    Trước đây, tổng biên tập thường chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và tổ chức. Dù tổng biện tập quyết định về nội dung tạp chí, quyềt định này phần lớn dựa vào các nhà bình duyệt (reviewers). Hiện nay, với việc xuất bản và điều hành tạp chí bởi các nhà xuất bản lớn, vai trò tổ chức và quản lý của tỗng biên tập còn mờ nhạt hơn, vì việc điều hành phần lớn đã được tỗ chức theo khuôn mẫu và tự động hoá bởi các nhà xuất bản: bản thảo được gởi online đến tạp chí qua nhà xuất bản; nhà xuất bản tự động tìm người xét duyệt, bài xét duyệt được gởi online đến nhà xuất bản, khi đó tỗng biên tập mới đọc các bài xét duyệt và ra quyết định. Với cách điều hành như thế, cả tác giả bản thảo lẫn người đọc tạp chí, chẵng ai biết đến nơi xuất xứ của tạp chí từ đâu, kể cả các tạp chí rất nổi tiếng, sống lâu gần trăm tuổi.

    Hiện nay, ngưòi ta thường gầy dựng một tạp chí chuyên ngành bằng cách ký hợp đồng với một nhà xuất bản, và tuỳ theo hợp đồng, việc tổ chức một tạp chí có nhiều hình thức khác nhau. Cơ quan chủ xướng tập chí có thể được ghi nhận và công bố ngay trên tạp chí, như thí dụ của Feminist Criminology lầ tạp chí của nhóm (division) phụ nữ trong Hội Phạm Tội Học Hoa Kỳ (American Society of Criminology), hay American Sociological Review là tạp chí chính thức của Hội Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Sociology Association). Hoăc nếu là cá nhân chủ xướng thì chỉ ghi tên tổng biên tập, v.v.

    Trường hợp lộn xộn xảy ra giửa GS Nguyễn Đăng Hưng và trường đại học TĐT có thể do sự bàn bạc không rõ ràng khi thành lập tạp chí Asia Pacific Journal on Computational Engineering, hay do ban quản lý trường đại học TĐT không nắm vững cách tổ chức các tạp chí, đem giao cho GS Hưng, và tưởng rằng trường TĐT sẽ là chủ quản.

    Webwite của tạp chí (http://www.apjcen.com/about/edboard)
    cho thấy một ban điều hành . . . đồ sộ với khá nhiều ban bệ ít khi thấy ở các tạp chí trong ngành khoa học xã hội, vốn thường chỉ có một tổng biên tập (editor in chieft), một assistant cho tổng biên tập và một hội đồng biên tập (editorial board) hay ban cố vấn (advisory board). Không thấy chỗ nào ghi tên trường đại học TĐT ở trên tạp chí. Bời vì nhà xuất bản nắm giữ bản quyền các bài đăng trên tạp chí, nhà xuất bản cũng thường là . . . chủ (quản) của tạp chí, ngoại trừ hợp đồng qui định một cách khác. Như vậy, mục đích được người ta biết đến trường đại học TĐT thông qua tạp chí APJCE chắc chắn không thể đạt được.

    Tôi đồng ý với gs Nguyễn Văn Tuấn là thay vì dùng tiền bạc để thành lập một tạp chí, các nhà nghiên cứu ở VN hãy tập trung vào viết các bài báo cáo khoa học có chất lựợng để gởi đăng ở những tạp chí đang nổi tiếng. Qua các bài báo cáo có chất lượng, tên tác giả và nơi tác giả làm việc sẽ được biết đến dể dàng hơn là lập một tạp chí mà không ai biết đến nơi chủ xướng là ở đâu (trong trang web của tạp chí APJCE, nơi làm việc của tổng biên tập Nguyển Đăng Hưng là University of Liège, Belgium).

    Mường Mán viết:
    Cứ như bài viết này chỉ ra thì cái tạp chí gì đó do GS Nguyễn Đăng Hưng làm biên tập khó sống lâu. Tạp chí mới, VN không có tiếng, thì chắc nhận toàn bài kém. GS Tuấn gọi là "thùng rác khoa học". Rất có thể. Nhưng nếu không làm thì có lẽ VN chẳng bao giờ có tap chí khoa học xứng tầm. Do đó, tôi nghĩ cũng nên mạo hiểm một vài phen để xem sao.

    GS Nguyễn Đăng Hưng đang gặp rắc rối về việc bị Trường Đại Học Tôn Đức Thắng thưa kiện, và đã bị công an gởi giấy mời đến để điều tra. Hiệu trưởng TĐH đã trả lương và cộng tác với GS Hưng để cho lưu hành tạp chí Asian-Pacific Journal of Computational Engineering (APJCEN). Tuy nhiên, hợp đồng bị đã bị chấm dứt ngày 27-3-2014 vì ông Hưng không đồng ý việc đòi hỏi quyền sáng lập và quyền bổ nhiệm tổng biên tập của tạp chí thuộc về TĐH. Trường đòi tiền (kinh phí mà trường đã đầu tư) lại, và khởi đơn kiện.
    Theo ông Hưng:

    Ông hiệu trưởng Trường ĐH Tôn Đức Thắng yêu cầu đăng thông tin cảm ơn trường với tư cách là người sáng lập tạp chí APJCEN, tôi thấy đây là một đòi hỏi, thành thật mà nói là khá lố bịch. Ông hiệu trưởng Trường ĐH Tôn Đức Thắng tự phong cho mình sáng lập tờ báo mà không có văn bản nào thừa nhận cả."

    "Việc thành lập tờ báo chỉ có một văn bản thỏa thuận giữa Nhà xuất bản Springer và GS Nguyễn Đăng Hưng, người đề xướng sáng lập. Chỉ có hai bên này mới là người sáng lập tạp chí nên hiệu trưởng Trường ĐH Tôn Đức Thắng không thể nào tự xưng thế được. Đó là đòi hỏi không chính đáng. Tôi không biết phải cảm ơn điều gì đây theo yêu cầu của trường”. (1)

    Ông Hưng kể tiếp: “Tôi ký hợp đồng làm việc với Trường ĐH Tôn Đức Thắng để giúp trường tổ chức cao học, phát triển khoa học và làm một tờ báo. Trong đó không nói gì về tổng biên tập và tờ báo là của ai”. Về quyền sở hữu của tạp chí APJCEN, ông Hưng kể hiệu trưởng Trường ĐH Tôn Đức Thắng nói với ông: “Thầy làm cố vấn của tôi thì tờ báo là của tôi”.

    Trường rất nhầm về sở hữu trí tuệ. Thuyết tương đối là của Einstein. Ông ta làm việc cho ĐH Zurich, Thụy Sĩ nhưng Zurich không đòi thuyết tương đối là của trường.

    Ông Hưng nói thêm: “Tôi làm tạp chí với tư cách là cố vấn của Trường ĐH Tôn Đức Thắng. Khi viết thư tôi cũng đề là Nguyễn Đăng Hưng - cố vấn Trường ĐH Tôn Đức Thắng. ĐH Tôn Đức Thắng giữ vai trò từ đó tôi làm ra tạp chí. Chỗ tôi làm ra không có nghĩa những gì tôi làm đều thuộc về ĐH Tôn Đức Thắng... Tôi làm hợp đồng nghiên cứu với nhiều nơi. Những nơi trả cho tôi 100% cũng không đòi là sở hữu. Do đó, khi tôi làm tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng không có nghĩa là sản phẩm đó của Trường ĐH Tôn Đức Thắng. Trường hiểu sai về sở hữu trí tuệ...”.

    (1) Công an Q.7 mời GS Nguyễn Đăng Hưng làm việc

    (2)Đại học Tôn Đức Thắng kiện giáo sư Nguyễn Đăng Hưng

    Như vậy Việt Nam ta cũng đã lăm le cho xuất bản một tạp chí có "tầm vóc quốc tế" đấy chứ, nhưng chưa chi người bỏ tiền ra đầu tư (= tiền do Đảng cung cấp) đã chực giành lấy quyền sáng lập và sở hữu trí tuệ, nên xí bùm bum tất cả rồi!

    Thế các ông bà không biét vụ lãnh đạo Liên hiệp các hội khoa học và ky thuật việt nam đóng cửa tạp chí Khoa học và Tổ quốc đuổi 8 phóng viên ra đường vất vưởng 01 năm nay à. Vụ việc kiện cáo ỏm tỏi và ông Trực Ngôn đã viết 9 bài báo tố cáo cái liên hiệp này tham nhuõng , xôi thịt , trấn lột các nhà khoa học trên Dân Luận cả năm nay rồi nhưng chưa thấy cơ quan nào đọng tĩnh. Trí thức VN đáy các quý ngài ạ. Chuyện nhỏ như con thỏ.

    Cứ như bài viết này chỉ ra thì cái tạp chí gì đó do GS Nguyễn Đăng Hưng làm biên tập khó sống lâu. Tạp chí mới, VN không có tiếng, thì chắc nhận toàn bài kém. GS Tuấn gọi là "thùng rác khoa học". Rất có thể. Nhưng nếu không làm thì có lẽ VN chẳng bao giờ có tap chí khoa học xứng tầm. Do đó, tôi nghĩ cũng nên mạo hiểm một vài phen để xem sao.

    Trích dẫn:
    Tran Thi Ngự
    Có lẽ GS Tuấn muốn nói đến 5000 bản thảo gởi đến tập san Roentgenology trong hai năm. Nếu tính chung số các bản thảo của tất cả các tập san xuất bản trên thế giới thì con số còn cao hơn gấp bội ...

    Đọc dòng này của bác Ngự cho thấy bác không đọc kỹ bài viết của GS Tuấn. Ông Tuấn đã viết rõ "Trên thế giới ngày nay có hơn 100,000 tạp chí khoa học, nhưng chỉ có trên dưới 5,000 hay 10,000 (tuỳ vào dữ liệu) được công nhận."

    Một số lớn tạp chí khoa học nổi tiếng ấn hành hàng tuần, vị chi - chỉ riêng cho các tạp chí nổi tiếng - có ít nhất khoảng trên 1/4 triệu bài báo khoa học/xã hội/nhân văn ấn hành hàng năm. Và đó là số bài viết ấn hành chứ không phải bản thảo gửi đến.

    Chỉ riêng cho tạp chí khoa học nổi tiếng hàng đầu thế giới, Nature, hàng năm đã có đến trên 10,000 bản thảo gửi đến, dù chưa đến 8% được chọn đăng (tức trên 92% bị từ chối). Tương tự là tạp chí khoa học Science. Do đó hàng năm có ít nhất vài triệu bản thảo gửi đến các tạp chí khoa học trên thế giới.

    Tôi cũng từng được biếu tặng một số các "tạp chí khoa học" của một vài hội Y học của VN. Các bài viết phần lớn chỉ là những con số thống kê, những ghi nhận lâm sàng cho các ca bệnh đặc biệt nào đó. Chưa đạt được trình độ, hay yêu cầu, là những khám phá gì mới trong y học.

    Có lẽ còn lâu (lắm) VN mới có khả năng bước vào việc xuất bản các tạp chí khoa học. Chuyện chấn chỉnh các đại học cho nó xứng đáng với danh xưng "Đại học" còn chưa làm được mà đã muốn đi một bước xa hơn khả năng của mình.

    Đó cũng chính là tư duy, có thể nói trong mọi ngành, của nước VN hiện nay. Thích làm chuyện cho thật nổi dù khả năng hay thực lực không có.

    Nói chung bài viết của GS Nguyễn Văn Tuấn có nhiều điểm chính xác, nhưng cũng có vài chỗ cần giải thích thêm để tránh ngộ nhận:

    Nguyển Văn Tuấn viết:
    Trong một phân tích do tập san quang tuyến American Journal of Roentgenology thực hiện, trong số hơn 5000 bản thảo của các tác giả trên khắp thế giới nộp trong vòng 2 năm, các bài từ Mĩ có tỉ lệ từ chối là 28%, còn các nước Châu Á thì cao hơn, như Ấn Độ 73%, Đài Loan 54%, China 42%, Nhật 42%, v.v. Những khác biệt đó làm nhiều người suy nghĩ vì rõ ràng đó là những khác biệt mang tính hệ thống và có thể làm thiệt thòi các nước khác.

    Có lẽ GS Tuấn muốn nói đến 5000 bản thảo gởi đến tập san Roentgenology trong hai năm. Nếu tính chung số các bản thảo của tất cả các tập san xuất bản trên thế giới thì con số còn cao hơn gấp bội, vì chỉ riêng nhà xuất bản Sage, đuợc coi là lớn nhất Hoa Kỳ và có nhiều chi nhánh ngoài Hoa Kỳ, đã đứng ra xuất bản hơn 700 tập san thuộc các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuât và khoa học xã hội, và mỗi tập san nhận trung bình từ 300 tới 500 bản thảo hàng năm.

    Riêng trong lãnh vực khoa học xã hội, tỷ lệ chấp nhận (acceptance rate) bản thảo của các các tạp nổi tiếng và khá nằm trong khoảng từ 10% tới 25%, không phân biệt nguồn gốc bản thảo từ đâu. Tôi thường xuyên xét duyệt bản thảo và có chân trong ban biên tập (editorial board) của hai tạp chí chuyên ngành (một xuất bản bởi Sage và một bởi Taylor & Francis) nên tôi không tin có sự kỳ thị nào trong việc xét duyệt (review) bản thảo. Theo tôi, lý do duy nhất khiến một bản thảo không đưọc chấp nhận là do phẩm chất (quaility) kém của nó, trong đó chủ yếu là phưong pháp nghiên cứu (research methods). Trong việc xét duyệt một bản thảo, phương pháp nghiên cứu được coi là quan trọng số 1 vì nó liên hệ kết quả chính xác hay không chính xác của nghiên cưú và giá trị của bản thảo.

    Có vấn đề về phương pháp nghiên cứu là tình trạng chung của các bản thảo từ các nước Á châu, nơi người ta chưa quen với việc làm nghiên cứu theo tiêu chuẩn quốc tế (Mỹ và các nước tây phương). Do đó sự kiện bản thảo từ các nước Á châu bị từ chối thường xuyên hơn là điều rất dể hiểu. Ngoài ra, còn phải kể đến ngôn ngữ dùng trong bài viết (thường là Anh Ngữ) cần phải đạt trình độ ngôn ngữ được xử dụng trong học thuật (academic), chứ không phải ngôn ngữ nói thường ngày. Đây cũng là thiếu xót mà các bản thảo từ Á châu hay gặp phải.

    Nguyễn Văn Tuấn viết:
    Mỗi một bài báo được xuất bản họ lấy tiền ấn phí từ tác giả từ 600 USD đến 2000 USD, tuỳ theo hình thức xuất bản và tuỳ theo tạp chí. Xuất bản theo mô hình Mở (còn gọi là Open Access, chỉ “in” online chứ không có in trên giấy) thường có ấn phí đắt hơn gấp 2 lần xuất bản theo mô hình truyền thống (tức in trên giấy). Tuy nhiên, một số nhà xuất bản miễn phí cho các tác giả từ các nước nghèo như Việt Nam.

    Việc tác giả phải trả tiền xuất bản bản thảo của họ chỉ xảy ra trong một số ngành như Y khoa, hay Luật khoa (?). Riêng trong lãnh vực hoa học xã hội, tác giả không phải trả tiền xuất bản có lẻ bởi vì nhà xuất bản đã thu được rất nhiều tiền từ người mua tạp chí và hợp đồng mua mão của các trường đại học để cho sinh viên vào giáo sư xử dụng. Tuy nhiên, nếu xuất bản dạng "open access" (ai cũng có thể đọc được khiến nhà xuất bản không thu được tiền) thì tác giả thường phải trả chi phí cho nhà xuất bản.

    Nguyễn Văn Tuấn viết:
    Một tạp chí mới lập ra như một doanh nghiệp mới được thành lập có một tương lai mịt mờ. Trên thế giới ngày nay có hơn 100,000 tạp chí khoa học, nhưng chỉ có trên dưới 5,000 hay 10,000 (tuỳ vào dữ liệu) được công nhận. Được công nhận ở đây là được các tổ chức như Viện thông tin khoa học Hoa Kì (ISI) đưa vào danh mục các tạp chí khoa học.

    Viện Thông Tin Hoa Kỳ (Institute for Scientific Information) không thuộc chính phủ Hoa Kỳ mà là một tổ chức tư nhân do đại công ty báo chí và xuất bản Thomson Reuters làm chủ.

    Nguyễn Văn Tuấn viết:
    Hơn 50% (có nơi 70%) các bài báo công bố trên các tạp chí không bao giờ được ai trích dẫn. Không được trích dẫn là một tín hiệu cho thấy công trình nghiên cứu có chất lượng quá kém hay vô bổ. Một tạp chí mới thành lập phải rất gian nan để có bài vở tốt. Nhưng các tác giả, ngay cả tác giả có tên trong ban biên tập, có công trình tốt sẽ gửi cho các tạp chí có hệ số ảnh hưởng (impact factor – IF) cao, chứ không bao giờ gửi cho các tạp chí mới vì chưa có IF. Các nghiên cứu sinh mới vào nghiên cứu cũng sẽ không gửi bài cho các tạp chí mới vì họ sẽ không có điểm và khó bảo vệ luận án.

    Impact factor một trong các tiêu chuẩn đánh giá một tạp chí do Thomson Reuters để ra, và nó chỉ có giá trị tương đối bởi vì người ta có thể làm gia tăng impact factor bằng kỹ thuật marketing. Bởi vì impact factor tùy thuộc vào số trích dẫn các bài báo của tạp chí, làm cho tạp chí được nhiều nguời biết đến, đọc và trích dẫn là một cách để làm gia tăng impact factor.

    Cách đây hơn 50 năm, nhiều tạp chí chuyên ngành được ra đời, điều hành và xuất bản bởi các khoa (departments) trong trường đại học. Nhưng gần đây, khi các nhà xuất bản tư nhân chiếm lĩnh việc xuất bản các tạp chí chuyên ngành, họ đặt ra các tiêu chí đánh giá tạp chí như impact factors khiến những người chủ trương tạp chí phải lệ thuộc họ về marketing để gia tăng số lượng bán, số lưọng người đọc, chỉ số trích dẩn và . . . impact factor.

    Vì impact factor tuỳ thuọc một phần vào . . . quảng cáo nên có nhiều chỉ trích về việc dùng chỉ số này để đánh giá một tạp chí. Xin đôc thêm ở đây:
    http://en.wikipedia.org/wiki/Impact_factor#Criticisms

    Trích viết:
    Có thể nói rằng 99% các tạp chí khoa học hiện nay là do Mĩ và vài nước Tây Âu như Anh, Đức, và các nước Bắc Âu chiếm lĩnh.

    Hề hề, Chái-Nà, với dân số 1.4 tỷ ở đâu, sao không thấy vậy mặt mũi vậy cà?

    .
    .

    Trích viết:
    Trong một phân tích do tập san quang tuyến American Journal of Roentgenology thực hiện, trong số hơn 5000 bản thảo của các tác giả trên khắp thế giới nộp trong vòng 2 năm, các bài từ Mĩ có tỉ lệ từ chối là 28%, còn các nước Châu Á thì cao hơn, như Ấn Độ 73%, Đài Loan 54%, China 42%, Nhật 42%, v.v. Những khác biệt đó làm nhiều người suy nghĩ vì rõ ràng đó là những khác biệt mang tính hệ thống và có thể làm thiệt thòi các nước khác.

    Thói đời như thế này: hễ thấy mình thua kém thì việc đầu là tiên nghĩ ngay "tại vì mình bị người ta kỳ thị." Nếu các bài từ Mĩ có tỉ lệ từ chối là 2%, và các bài từ châu Á có tỉ lệ từ chối là 42%, thì "lý thuyết âm mưu" về kỳ thị màu da còn có một chút cơ sở nào khả tín nào đó; đằng này ngay cả Mỹ cũng bị từ chối đến 28%, mà Mỹ là một nước có rất nhiều kinh nghiệm và thành tích về sản xuất tạp chí khoa học (theo bài viết).
    Lại thêm một lãnh vực nữa mà "văn hoá Khổng giáo" chẳng đóng góp được tí tẹo gì hết cho tri thức chung của thế giới.

    Trước đây vài năm, có một bác nông dân nào đó, tuyên bố là không học đại học, mà lại tự biên tự diễn, phang bút viết một bài phản bác thuyết tương đối đặc biệt của Einstein. Bác ta chẳng gởi bài viết cho thế giới (chắc lúc ấy vẫn xem Mỹ là thù địch), mà lại nộp bài đúng thủ tục lên cấp phường, huyện, tỉnh (không biết bí thư tỉnh uỷ có hiểu gì về photon hay là bức xạ điện từ không), chờ mãi mà chẳng thấy bộ chính trị lên tiếng gì hết (hay là Bộ CT lại nộp bài lên cho Chai-Na trước?)

    Có ai biết tin tức gì về Anh-Xì-Tanh của Việt Nam không, việc ấy đi đến đâu rồi? LOL!

    Ông GS Tuấn viết bài này hay, thông tin rõ ràng, cụ thể.

    Cái bệnh nổ như bom của các bố nhà ta xưa nay danh bất hư truyền, càng ngu nặng thì càng nổ to, kiểu điếc đặc không sợ bom nổ :)

    Ông GS Tuấn viết bài này hay, thông tin rõ ràng, cụ thể.

    Cái bệnh nổ như bom của các bố nhà ta xưa nay danh bất hư truyền, càng ngu nặng thì càng nổ to, kiểu điếc đặc không sợ bom nổ :)