GS Nguyễn Văn Tuấn - Bao giờ Việt Nam có đại học đẳng cấp quốc tế?

  • Bởi Mắt Bão
    22/08/2014
    13 phản hồi

    Nguyễn Văn Tuấn

    Đại học Giao thông Thượng Hải của Tàu mới công bố danh sách “top 500” đại học trên thế giới (1). Không có một đại học VN nào trong danh sách. Câu hỏi mỗi năm lại đặt ra: bao giờ VN có đại học nằm trong top 500? Câu trả lời đơn giản là “còn rất lâu”. Phải cần một thời gian dài, một cuộc cách mạng trong suy nghĩ, những hành động tích cực về nghiên cứu khoa học, chúng ta mới có thể nghĩ đến đại học VN có tên trong các bảng xếp hạng top 500. Còn hiện tại, chỉ nên lo cải tổ và làm nghiên cứu khoa học cho thật tốt, chứ đừng đặt câu hỏi “bao giờ cho đến bao giờ”.

    Báo Lao Động (2) có đặt câu hỏi theo kiểu khiêu khích Bộ trưởng (“Top 500 chờ “trận đánh lớn” của Bộ trưởng Luận”). Cần nhắc lại rằng cách đây vài tháng, ngài Bộ trưởng GDĐT tuyên bố rằng cải cách giáo dục là một “trận đánh lớn”. (Ông bộ trưởng này có vẻ thích quân sự, vì mới đây vài ngày ông có một phát ngôn mang mùi súng đạn). Nay nhà báo đem chữ đó ra làm cái “twist of the tongue” hỏi ngài bộ trưởng. Tuy nhiên, bài báo viết rằng do chất lượng đào tạo còn thấp nên các đại học VN chưa có trong top 500. Theo tôi quan điểm đó chưa hẳn đúng. Vấn đề “top 500” không phải là chất lượng đào tạo, mà là nghiên cứu khoa học.

    Điều đáng chú ý năm nay là trong khối ASEAN nước mới nổi trong giáo dục đại học là Mã Lai Á có 2 đại học trong top 500: đó là Đại học Malaya và Đại học Khoa học Malaysia (USM). Hai đại học này trước đây còn kém hơn Mahidol và Chulalongkorn của Thái Lan, nhưng khoảng 5 năm trước họ đã vượt qua hai đại học danh tiếng của Thái Lan một cách ngoạn mục. Họ vượt qua Thái Lan không phải do đào tạo của họ có chất lượng hơn Thái Lan, mà là nghiên cứu khoa học của họ tốt hơn 2 đại học hàng đầu của Thái Lan. Trong thời gian 2006-2010 ĐH Malaya công bố 6755 bài báo khoa học trên các tập san ISI, vượt qua Mahidol (6217). Nên nhớ trước 2006, ĐH Mahidol đứng hạng cao hơn ĐH Malaya.

    Cả hai đại học của Mã Lai trong top 500 đều còn “trẻ”. USM chỉ mới thành lập năm 1969, tức mới 45 năm. Ngay cả ĐH Malaya cũng chỉ thành lập từ năm 1949, tức 65 tuổi đời. Hai đại học này đều có “tuổi đời” trẻ hơn các đại học lâu đời của VN. ĐH Bách Khoa Sài Gòn thành lập năm 1957, ĐH Khoa học Sài Gòn và ĐH Khoa học Hà Nội thành lập từ 1949, tức cùng năm với ĐH Malaya. Nhưng khác với các đại học VN còn đang mơ mộng đẳng cấp, hai đại học Mã Lai đã vươn lên nhanh chóng trong vòng 20 năm qua và trở thành tên tuổi trên trường quốc tế. Điều này minh chứng cho phát biểu tôi từng nói trước đây là một số đại học chỉ cần 30-40 năm là trở thành đẳng cấp quốc tế. Tại sao VN vẫn chưa có đại học nào đạt tiêu chuẩn đó. Đó là một vấn đề cần phải suy nghĩ …

    Theo tôi câu trả lời rất đơn giản là đại học VN chưa có thương hiệu trong trường khoa học quốc tế. Tôi có cảm giác ở nước ngoài giới khoa học chẳng ai biết đến hay quan tâm đến đại học VN. Tôi thỉnh thoảng nói về đại học VN làm cái này cái kia, họ chỉ ậm ừ, chẳng quan tâm. Nhiều lần như thế tôi đi đến kết luận rằng các đại học VN và nhà nghiên cứu VN chưa tạo được dấu ấn, chưa có thương hiệu khoa học. Mấy tuần trước, khi ngồi trong hội đồng cố vấn faculty của UTS, tôi thấy các thành viên tiêu ra gần nửa ngày để thảo luận phải làm gì để nâng cao thương hiệu trên trường quốc tế (UTS có trong bảng top 500, hình như là hạng 300-400 gì đó, nhưng UTS chưa hài lòng với hạng đó). Chúng tôi đi đến kết luận thương hiệu khoa học của một đại học chủ yếu được xây dựng qua nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng viên và giáo sư, và sinh viên tốt nghiệp.

    Xét trên cả ba khía cạnh tôi nghĩ các đại học VN khó có cơ may trở thành “đẳng cấp quốc tế”. Sau đây là một vài lí do giải thích tại sao:

    Trước hết là về nghiên cứu khoa học. Ba đại học có nhiều công bố quốc tế nhất ở VN là [theo thứ tự] Đại học Quốc gia (ĐHQG) TPHCM, ĐHQG Hà Nội, và Đại học Bách khoa Hà Nội. Hai ĐHQG công bố nhiều vì nhân sự đông hơn các trường khác, chứ không có nghĩa là năng suất khoa học cao. Tuy nhiên, mỗi năm ĐHQG-HCM cũng chỉ công bố trên dưới 150 bài. Con số này còn rất khiêm tốn nếu so với các trường trong vùng. Chẳng hạn như Đại học Chulalongkorn, Mahidol, Malaya, mỗi năm công bố được từ 1700 đến 2500 bài. Còn so với ĐHQG Singapore thì con số công bố quốc tế của các đại học hàng đầu VN chẳng có ý nghĩa gì! (Năm 2009, ĐHQG Singapore công bố 4285 bài, tương đương với ĐH Sydney của Úc; cùng năm, ĐHQG Seoul công bố 5120 bài). Như vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học của các đại học hàng đầu VN còn quá kém và quá lu mờ so với các đại học lớn trong vùng.

    Nếu số công trình của VN tăng 20% mỗi năm và liên tục, thì cũng phải tốn 15 năm ĐHQG-HCM mới bằng ĐH Mahidol và 20 năm sau mới bằng ĐHQG Seoul năm 2009. Như vậy có một khoảng cách rất xa về nghiên cứu khoa học giữa các đại học hàng đầu VN và đại học đẳng cấp quốc tế.

    Một điểm khác cũng đáng chú ý là phần lớn những bài báo khoa học từ VN là do hợp tác quốc tế. Hiện nay, khoảng 70-80% các bài báo khoa học từ VN hoặc là kết quả của hợp tác quốc tế hoặc do nghiên cứu sinh đi học ở nước ngoài cùng nghiên cứu với thầy cô ở nước ngoài. Số bài báo “thuần Việt Nam” (tức tất cả tác giả và công trình thực hiện ở VN) còn rất ít. Điều này nói lên rằng khoa học VN đang trong thời kì hay có nguy cơ lệ thuộc.

    Thứ hai là tầm ảnh hưởng của các đại học VN trong khoa học cũng rất thấp. Trong một phân tích trước đây, tôi có chỉ ra rằng gần 50% những bài báo công bố quốc tế của VN chưa bao giờ được trích dẫn (có ngành như kĩ thuật con số lên đến 70%). Ngay cả số bài báo được trích dẫn thì cũng rất thấp. Tính trung bình chỉ số trích dẫn 10 năm của các bài báo khoa học từ ĐHQGHCM là 3.5, còn rất kém so với ĐHQG Singapore là 8.82. Sau đây là vài con số để chúng ta so sánh về chất lượng khoa học của vài trường tiêu biểu (tất cả là tính trong thời gian 5 năm 2006-2010):

    Số bài báo khoa học
    ĐHQG-HCM: 720 bài
    ĐH Malaya: 6755
    ĐH Mahidol: 6217
    ĐHQG Singapore: 28972
    ĐHQG Seoul: 27089
    UNSW (Úc): 21459
    ĐH Sydney: 26865

    Chỉ số tác động (% cao hơn hay thấp hơn trung bình thế giới)
    ĐHQG-HCM: 26.9
    ĐH Malaya: 26.9
    ĐH Mahidol: 47.7
    ĐHQG Singapore: 54.9
    ĐHQG Seoul: 60.6
    UNSW (Úc): 57.1
    ĐH Sydney: 61.8

    Chỉ số xuất sắc (là % bài báo được trích dẫn nhiều nhất; “nhiều” ở đây là nằm trong nhóm “top 10%” trong mỗi chuyên ngành)
    ĐHQG-HCM: 16.1
    ĐH Malaya: 18.1
    ĐH Mahidol: 9.9
    ĐHQG Singapore: 13.1
    ĐHQG Seoul: 19.7
    UNSW (Úc): 17.9
    ĐH Sydney: 18.0

    Thứ ba là đội ngũ giáo sư, giảng viên và nhà khoa học. VN chưa có một giáo sư hay một nhà khoa học nào đứng vào hàng các nhà khoa học “eminent” (lừng danh) trên thế giới. Dĩ nhiên, VN có vài nhà khoa học có tiếng trên thế giới trong chuyên ngành của họ, nhưng ngay cả trong chuyên ngành, cái “có tiếng” đó cũng chỉ là hạng trung bình hay trên trung bình một chút. Theo tôi biết, VN chưa có một nhà khoa học được mời diễn thuyết trong phiên họp khoáng đại của các hội nghị số 1 trong chuyên ngành. Chính vì thế mà VN chưa có dấu ấn khoa học trên trường quốc tế.

    Nói ngoài lề một chút, ngay cả đi dự hội nghị nước ngoài mà còn bị hạn chế thì nói gì đến chuyện giáo sư VN có thể quảng bá đại học của mình. Những chuyện nhỏ như thế có tầm ảnh hưởng lớn đến thương hiệu của đại học.

    Thứ tư là sinh viên tốt nghiệp trong môi trường toàn cầu hoá. Có thể nói rằng các đại học VN hiện nay chỉ đào tạo chuyên viên cho thị trường lao động ở VN là chính, chứ chưa thể vươn ra thế giới. Nhưng chất lượng đào tạo nói chung chưa cao. Ngay cả ở trong nước các sinh viên ra trường cũng chưa đáp ứng yêu cầu của kĩ nghệ. Khi được hỏi nguồn nhân lực công nghệ cao của VN ở đâu trên thế giới, tổng giám đốc Intel Việt Nam cho biết “lực lượng lao động trong lĩnh vực này vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về cả số lượng lẫn chất lượng trước nhu cầu tuyển dụng.” Sau khi tuyển dụng được nhân viên, Intel vẫn phải gửi họ sang Malaysia để đào tạo.

    Đào tạo trong nước còn chưa đạt, thì làm sao nói đến chuyện đào tạo cho nhân lực toàn cầu. Đại học là một trung tâm khoa học và văn hoá quốc tế, nhưng số sinh viên và giảng viên nước ngoài ở các đại học VN hầu như chỉ đếm đầu ngón tay. Đại học VN vẫn chưa có tính quốc tế. Chưa có quốc tế hoá thì nói gì đến “đẳng cấp quốc tế”.

    Bốn yếu tố trên tương tác với nhau. Có giáo sư giỏi thì mới có nghiên cứu khoa học có phẩm chất tốt; nghiên cứu sẽ tạo ra “ngôi sao”; ngôi sao sẽ đào tạo sinh viên giỏi; sinh viên giỏi mang tiếng thơm cho trường. Bản thân giáo sư giỏi qua công bố quốc tế cũng tạo danh cho trường. Tôi nghĩ tất cả đều bắt đầu từ con người và nghiên cứu khoa học. Các trường đại học VN thiếu cả hai thì rất khó trở thành “đẳng cấp quốc tế” trong tương lai gần.

    Cơ chế hiện nay chưa cho phép các trường đại học VN thu hút nhân tài trên thế giới. Thật ra, cho dù VN có cơ chế và tiền bạc để thu hút nhân tài, các giáo sư đẳng cấp quốc tế cũng ngần ngại đến VN vì các đại học VN chưa có “thương hiệu” trong khoa học và cũng chưa biết tương lai ra sao. Mỗi người thường chỉ có 5-10 năm để dấn thân vào một thách thức mới, nếu cuộc dấn thân thất bại thì sự nghiệp coi như thất bại. Do đó, vấn đề lại xoay quanh vòng tròn luẩn quẩn: thiếu người tài dẫn đến nghiên cứu kém chất lượng, nghiên cứu kém chất lượng → đại học không có tiếng tốt → khó thu hút người tài.

    VN vẫn hay hô hào “đẳng cấp quốc tế” nhưng tiếc thay phần lớn có vẻ chỉ nặng về hình thức. Chẳng hạn như 6 năm trước, ĐHQG-HN có kí kết hợp đồng với Tập đoàn Dầu khí (3) để xây kế hoạch có giải Nobel! Cho đến nay, chưa biết khả năng có giải Nobel là bao nhiêu, nhưng rõ ràng đó là một điều rất bất khả thi. Giải Nobel không có được từ hợp đồng, mà từ nghiên cứu khoa học có phẩm chất cao. Một hình thức khác là xem nghiên cứu khoa học như là một phong trào. Khắp nơi người ta làm nghiên cứu để có cái chứng từ làm … “chiến sĩ thi đua”. Đó là những cách làm rơi rớt từ thời bao cấp XHCN. Không ai khuyến khích nghiên cứu khoa học như kiểu VN.

    Tôi nghĩ nên dẹp bỏ những hình thức như thế, và thay vào đó là khuyến khích các nhà khoa học làm nghiên cứu có chất lượng cao và công bố trên các tập san tốt. Cần phải có hình thức tưởng thưởng những nhà khoa học có thành tích tốt. Tôi tính ra mỗi đại học lớn như ĐHQG-HCM hay ĐHQG-HN chỉ cần tổ chức lại lực lượng nhà khoa học theo nhóm, và chỉ cần chừng 1000 nhà nghiên cứu (dĩ nhiên kể cả nghiên cứu sinh) công bố thường xuyên. Với lực lượng đó thì số bài báo mỗi năm dễ dàng đạt con số 1500-2000. Chỉ vài năm là có “momentum” để tiến lên một nấc cao hơn. Một khi đã có số lượng, bước kế tiếp là nâng cao phẩm chất. Từ đó, giấc mộng đẳng cấp quốc tế sẽ không xa.

    —-

    (1) http://www.shanghairanking.com/ARWU2014.html

    (2) “Top 500 chờ “trận đánh lớn” của Bộ trưởng Luận” http://laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/top-500-cho-tran-danh-lon-cua-bo-truong-luan-235301.bld

    (3) http://www.baomoi.com/Xay-dung-de-an-chien-luoc-de-VN-co-giai-Nobel/122/1446593.epi

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    Phản hồi: 

    Tội quá GS Tuấn ơi; Tôi làm đại khái một nghiên cứu rồi lấy tước hiệu PGS-TS-BS in vào danh thiệp để kiếm ăn. Ông kêu tôi làm nghiên cứu thì lấy cái giống gì ra để ăn. Hơn nữa nếu tôi làm nghiên cứu đàng hoàng thì ai đánh giá đây? Mấy thầy của tôi cũng lấy bằng cấp cùng kiểu thì làm sao đánh giá không chừng còn đánh rớt nữa. Những gì ông viết đâu phải chúng tôi không biết. Ông sống ngoại quôc nên không biết kiếm ăn tại VN vất vả như thế nào nhất là cho những sinh viên không nằm trong thế hệ "trăm năm trồng người". Nói theo kiểu tây là không nằm trong "food chain" của VN

    Phản hồi: 

    Kg quí vị GS TS đang công tác ở Viêt Nam,
    Chắc rồi vụ "tiến sĩ lái gỗ" sẽ chỉ "rút kinh nghiệm" thôi. Nếu thế thì không biết người bên ngoài ngành như tôi đây làm sao phân biệt được ai là thầy đáng kính, ai là thầy biến lái gỗ, lái lợn thành Tiến sĩ?? Cho nên quí vị bác sĩ ở BV, quí vị giáo sư ở các trường ĐH, nếu quí vị tự trọng, quí vị nên bỏ cái dây "lòng thòng" trước tên quí vị đi. Vã lại trong BV chữ BÁC SĨ đủ nói lên công việc của quí vị và lòng tin của bệnh nhân đối với quí vị. Còn quí vị giáo sư đang giảng dạy, quí vị chỉ nên ghi bằng cấp của quí vị trong bài báo hoặc giáo trình có tính cách chuyên môn thôi, đúng như những gì mà thế giới người ta đang làm. Sinh viên sẽ gọi quí vị là Thầy. Chữ Thầy trong tiếng Việt chúng ta còn to và mười phần đáng kính hơn cái dây "lòng thòng" trước tên quí vị. Còn những vị chưa có bằng Tiến sĩ, xin nói cho quí vị nghe là trên thế giới này chẳng có ở đâu người ta ghi: Cử nhân Nguyễn văn X, kế toán trưởng, hoặc Thạc sĩ Nguyễn thị Y, trưởng phòng Giáo dục cả.
    Phải tự trọng quí vị ạ. Nếu lời nói thật có làm quí vị mất lòng, xin thông cảm.

    Phản hồi: 

    [quote=Tran Thi Ngự]
    ...
    1. Đa số những người làm công tác giáo dục đại học ở VN không thích thú và cũng không quan tâm đến nghiên cứu bởi vì nghiên cứu không đem lại cho họ lợi ích gì cụ thể. Đây là một điểm khác biệt với Hoa Kỳ vì đa số những người làm công tác giáo dục đại học ở Hoa Kỳ làm nghiên cứu vì lòng say mê tìm tòi những cái mới lạ, chứ không nhất thiết phải do lợi lộc.
    ...
    [/quote]

    Tại sao thế bác Ngự ?

    Tôi cũng có nhận xét là ngay khi còn ở những năm đầu của đại học, ở Âu châu, một số bạn học đã tỏ ra say mê nghiên cứu.
    Họ có say mê, có vocation, thì mới bỏ công sức nghiên cứu. Sau này họ trở thành nghiên cứu sinh, lấy luận án tiến sĩ, ở lại đại học làm trợ giảng và đồng thời hợp tác với các công ty để triển khai các nghiên cứu đem vào áp dụng

    Phản hồi: 

    Một vài điều

    Trước hết ta phải xác định mục tiêu giáo dục của mình là gì . Nếu muốn đào tạo ra con người XHCN ? Đàng sau quay! Dẹp hết những gì dính tới tư bẩn . Muốn đào tạo ra con người tư bản ? Dẹp chính thể Xã Hội Chủ Nghĩa . Để 2 thứ xập xí xập ngầu, không khủng hoảng mới là chuyện lạ .

    Nếu mục tiêu là xây dựng XHCN, cần quái gì tiêu chuẩn sắp xếp đại học của Quốc tế "tư bản". Còn xét về tiêu chuẩn Quốc tế XHCN, chỉ còn 4 nước, VN nên tự hào vì giá chót cũng nằm trong Top 5, chưa kể những học viện như học viện chính trị Hồ Chí Minh, trường Đảng Nguyễn Văn Cừ ... chỉ thua có Trung Quốc . Ngành tuyên truyền và an ninh cần phải học thêm Bắc Hàn, và tất cả những thứ khác cần học thêm Trung Quốc .

    Cần gì phải so sánh với tư bản!

    Về nghiên cứu, nội đọc Tạp Chí Cộng Sản cũng biết nội lực nghiên cứu của cán bộ ta vô cùng lớn . Cứ mỗi lần bí lối, các vị ấy lại "cảo Mác lần dở trước đèn", có những tư duy đột phá, chủ yếu là phá, để mở lối ra cho dân tộc . Chị Ngự nhắc những lời thừa thãi .

    Nói chung, đại học Việt Nam phù hợp với thể chế chính trị . Chỉ cần các bác tôn trọng chủ nghĩa Cộng Sản, không chống nó, mà chỉ phản biện ôn hòa, phù hợp với cương lĩnh của Đảng, mọi thứ sẽ đều đặn mà phát triển . Tất nhiên, phát triển ở đây là theo quan điểm XHCN, năm nào cũng thắng lợi từ 1954 tới giờ .

    Ai nhìn mô hình giáo dục Việt Nam thành hình cái cầu tuột là phiến diện, tư bản và phản động . Theo cách nhìn XHCN, đó là bệ phóng tiến lên những tầm cao mới . Giáo sư Hoàng Tụy rất đáng kính trọng vì ông là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho bệ phóng đó .

    Nhắc lại, chỉ có tư bản mới nhìn cái bệ phóng của những nhân sĩ đáng kính như Giáo sư Hoàng Tụy là cái cầu tuột thôi .

    Phản hồi: 

    Các bác cứ phê bình một chiều về đẳng cấp, phẩm chất của đại học ta. Ngược lại, tớ có thể kể các chuyên ngành sau đây mà đại học Việt nam đứng hạng "top 10" hay có thể là "top 5" trên thế giới:

    + Hồ chí Minh học: đạo đức, tư tưởng Hồ chí Minh,

    + chính trị học: chuyên ngành xây dựng và bảo vệ Đảng Cộng sản,

    + triết học Mác-Lênin,

    + công an học: công nghệ xây dựng án dựa trên bao cao su đã qua sử dụng, công nghệ đạp mặt dân biểu tình,

    + quân sự học: chiến thuật hải chiến Gạc Ma,

    + quản lý kinh tế: quản lý doanh nghiệp Nhà nước Vinashin, Vinalines,

    + kinh tế học: quản lý kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với định hướng xã hội chủ nghĩa,

    + ngoại giao học: tù trao đổi với vũ khí sát thương và TPP,

    + ngoại giao học: ngoại giao 4 tốt + 16 vàng,

    Thế đấy, đại học của ta cũng có chuyên ngành đứng hàng đầu trên thế giới đấy chứ. Phải nhìn thấy mặt mạnh để phát triển, nhân cấp các ưu điểm lên thì mới thấy rõ vai trò lãnh đạo tiên phong của Đảng ta trong sự nghiệp giáo dục đại học ở nước ta.

    Phản hồi: 

    Cá nhân tôi coi việc xếp hạng đại học chỉ có giá trị tương đối, vì mỗi kiểu xếp hạng có các tiêu chuẩn khác nhau tùy theo mục đích của cơ làm công việc xếp hạng. Tuy nhiên, tôi cũng phần nào đồng ý với GS Nguyễn Văn Tuấn là các đại học lớn ở VN (như Đại Học Quốc Gia) cần phải thúc đẩy việc nghiên cứu nhiều hơn nữa bởi vì chức năng của đại học bao gồm việc truyền bá kiến thức (tức là giảng dạy những kiến thức đã được tìm ra) và tìm ra kiến thức mới qua nghiên cứu để phát triển đất nước đồng thời đóng góp vào sự phát triển khoa học với cộng đồng quốc tế.

    Tôi không ở "trong chăn" của đại học VN nhưng qua những gì tôi đọc được trên báo mạng cũng như báo giấy, tôi cho rằng có nhiều lý do khiến VN không có nhiều bài báo cáo khoa học đăng ở các tạp chí quốc tế:

    1. Đa số những người làm công tác giáo dục đại học ở VN không thích thú và cũng không quan tâm đến nghiên cứu bởi vì nghiên cứu không đem lại cho họ lợi ích gì cụ thể. Đây là một điểm khác biệt với Hoa Kỳ vì đa số những người làm công tác giáo dục đại học ở Hoa Kỳ làm nghiên cứu vì lòng say mê tìm tòi những cái mới lạ, chứ không nhất thiết phải do lợi lộc.

    2. Vì không có tự do học thuât, đề tài nghiên cứu bị giới hạn làm mất đi sự thích thú trong công tác nghiên cứu. Đó là chưa kể người làm nghiên cứu nhiều khi không được làm theo tinh thần khách quan khoa học, mà phải báo cáo kết quả theo chỉ đạo từ . . . đảng, làm nản lòng những người muốn làm công tàc nghiên cứu một cách khách quan.

    3. Vì không quan tâm đến nghiên cứu nên việc trau dồi kỹ năng nghiên cứu hầu như không có, ít nhất là đôí với ngành khoa học xã hội. Tôi đã có dịp xem xét(review) một số tạp chí của ngành khoa học xã hội ở VN như Tạp Chí Khoa Học Xã Hội Viêt Nam, Vietnam Social Science Review, Thông Tin Khoa Học Xã Hội, Tạp Chí Khoa Học Xã Hội, v.v. và nhận thấy rằng hoạt động nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam còn rất kém cỏi, đặc biệt là về phương pháp nghiên cứu. Có thể nói hầu hết những bài gọi là báo cáo khoa học đăng ở các tạp chí kể trên không có được những yêu cầu tối thiểu cho một bài một báo cáo khoa học theo tiêu chuẩn của các tạp chí chuyên ngành quốc tế (giống như tiêu chuẩn của một bài báo cáo khoa học ở Hoa Kỳ và những nước phát triển khác). Mặc dù VN luôn tự hào về thành tích giỏi toán, nhưng phương pháp phân tích nghiên cứu định lượng vốn có liên hệ đến toán học thì lại rất sơ đẳng (elementary). Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu xã hội học chiếm gần một nửa tổng số nghiên cứu các loại, nhưng nghiên cứu xã hội ở Việt Nam rất hiếm thấy xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế.

    Vì không quan tâm đến nghiên cứu, có vẻ như các đại học ở VN cũng không có hứng thú trau dồi phương pháp nghiên cứu (research methods). Cá nhân tôi đã vài lần đề nghị dạy phương pháp nghiên cứu cho mấy trường đại học đều không được chấp thuận. Gần đây, một đồng nghiệp (người Mỹ) của tôi có dịp làm việc với trường Đại Học Quốc Gia VN ở Saigon trong chương trình Fulbright, theo đó ông ta sẽ giảng dạy một lớp trong một 4 tháng (semester) đồng thời làm nghiên cứu về môi sinh ở VN. Ông ta đề nghị dạy một lớp về phương pháp nghiên cứu cho sinh viên cao học để các sinh viên có dịp thực tập làm nghiên cứu về môi sinh với ông, nhưng trường không đồng ý và đề nghị ông chỉ giảng (lecture) về đề tài môi sinh.

    Vì số lượng và chất luợng nghiên cứu là một trong những tiêu chuẩn chính để xếp hạng đại học, nên chỉ khi nào các đại học ở VN quan tâm đến nghiên cứu, trau dồi kỷ năng nghiên cứu để gia tăng số lượng các bài báo cáo khoa học đăng ở các tạp chí chuyên ngành quốc tế thì lúc đó mới có thể nghĩ đến việc được đứng vào hàng ngũ những trường đại học có đẳng cấp quốc tế.

    Phản hồi: 

    [quote=Phong Uyên]1) Đại học Hà Nội không phải chỉ mới ra đời từ năm 1949 mà từ cách đây đúng 108 năm, từ năm 1906, bắt đầu bằng Đại học Y, theo sắc lệnh của toàn quyền Pháp Paul Doumer ký năm 1902. Đại học Hà Nội là đại học chung cho cả Đông Dương thuộc Pháp. Ngày 15-5-2006 ở Hà Nội có làm lễ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập. Nếu kề về lâu đời thì Đại học Hà Nội có trước Đại học Chulalongkorn của Thái Lan, chỉ đưực thành lập từ năm 1917, cũng bắt đầu bằng sự kết hợp của 2 trường : trường đào tạo những đồng tử (Pages) hoàng gia và trường Y khoa. Người chủ nhiệm đầu tiên của trường Y khoa Hà Nội là nhà bác học Yersin, người khám phá ra vi trùng bệnh dịch hạch va cũng là nhà thám hiểm đã khám phá ra Đà Lạt. Bắt đầu từ năm 1935, Đại học Y khoa Hà Nội cho mở những kỳ thi lâm sàng (examens cliniques) năm học cuối và cho trình luận án tiến sĩ (bác sĩ) y khoa (Doctorat en médecine) để sinh viên năm cuối khỏi phải đi Pháp thi và cũng được cấp bằng cấp tương đương với bằng của một đại học Pháp. Đại học Y khoa Hà Nội lại còn được Đại học Y khoa Paris bảo trợ nên đa số giáo sư là của Đại học Paris phái qua dạy trừ một vài giáo sư người Việt cựu nội trú các bệnh viện Paris như giáo sư Hồ Đắc Di và giáo sư Trần Quang Đệ. Khi Pháp trao trả Đại học Hà Nội cho Bảo Đại, số giáo sư ngừoi Việt tăng lên sau khi được cử đi thi thạc sĩ ở Paris như giáo sư Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Hữu... nhưng số lớn vẫn là giáo sư người Pháp. Năm 1954, gần như toàn thể Đại học Hà Nội gồm đủ các phân khoa di chuyển vô Nam và Y khoa vẫn được Đại học Paris bảo trợ, vẫn dạy và làm luận án bằng tiếng Pháp cho tới năm 1965, nên những sinh viên và bác sĩ thời đó di tản sau 75 qua Pháp vẫn được văn bằng tương đương, chỉ phải làm lại luận án. Ở thời trước chiến tranh thứ 2, đại học Y khoa Hà Nội, cũng như Phân khoa Luật đều có tiếng ở Đông Nam Á và trường Viễn Đông Bác Cổ còn nổi tiếng thế giới. Nên muốn nói gì thì nói, nền đại học Việt Nam thời Pháp thuộc vẫn có giá trị nhiều hơn bây giờ đối với quốc tế thời đó.
    [/quote]

    Hèn gì các vị BS thời xưa thật đáng kính. Quả là 'một thời vang bóng' ! Phải chi đừng 'đánh Pháp' thì VN bây giờ ắt đã có 'đại học đẳng cấp quốc tế' hay chí it ra cũng là 'đẳng cấp Pháp' (de facto) rồi nhỉ :)

    [quote=Phong Uyên]Trái với ý nghĩ của ông Nguyễn Văn Tuấn, tôi thấy bản xếp hạng của trường Giao Thông Thượng hải thiếu sót khi chỉ chú trọng về nghiên cứu mà không đưa ra một tiêu chuẩn nào về chất lượng của sự giảng dạy và trình độ của sinh viên. Nhiệm vụ của một trường đại học không phải chỉ đào tạo những nhà nghiên cứu mà là giáo dục, nghĩa là làm tăng sự hiểu biết và đào tạo nghề nghiệp.[/quote]
    Nhận định này có lẽ còn được tranh cãi. Giáo dục đại học đỉnh cao phải hướng đến nghiên cứu, cả thầy lẫn trò. Giáo dục đại học theo hướng huấn nghệ thì ở cấp dưới một bậc. Đại học Mỹ được phân loại rất rõ. Một môn học có thể được dạy theo hai nội dung, phương pháp khác nhau (về chiều sâu) giữa một đại học nghiên cứu và đại học huấn nghệ. Tuy nhiên muốn đánh giá cả nền giáo dục đại học về mặt học thuật thì đương nhiên phải đặt thành tựu nghiên cứu khoa học lên hàng đầu thang điểm. Vả lại, với lối dạy và học lấy sinh viên làm trung tâm, nhấn mạnh khả năng chủ động tự đào sâu tìm hiểu của sinh viên với sự 'trợ giúp' của thầy giáo, môi trường đại học có hoạt động nghiên cứu khoa học càng sôi động, trình độ nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy càng cao sẽ dẫn đến hiệu quả giảng dạy càng cao.

    Phản hồi: 

    Bàn ba cái chuyện khi nào... " học đại " VN lên tới hạng 500, mà không biết bi giờ nó đang ở cái " tốp " hay cái " bốt- tồm " bi nhiêu?
    Thì chả khác nào như các chú thày bói mù đang sờ ...MU RÙA đoán chiện tương lai trên sao hoả cả !!!
    Nhứt là cái chú vừa là thày giáo kiêm thày bàn tuy đang là GS ở Úc nhưng lại thường hay nghe hơi bắt chõ, thích..." chỉ đạo " về bên bển theo kiểu " cầm đèn chạy trước ô tô " như chuyện trên kia ấy ấy !!!
    Có điều là các cô chú bên VN thì còn có cái mu rùa để mà sờ, còn chú này lại thiếu không có, nên cứ hay vác cái...MU SÒ nhà hát Sydney kia ra ...Quên ! là cái... MU HÌNH đại học ở Sydney mà ò e mãi không chán...Ui dào ! chăn nào mà chả có rận hay ho gì kia chứ ???

    Phản hồi: 

    1) Đại học Hà Nội không phải chỉ mới ra đời từ năm 1949 mà từ cách đây đúng 108 năm, từ năm 1906, bắt đầu bằng Đại học Y, theo sắc lệnh của toàn quyền Pháp Paul Doumer ký năm 1902. Đại học Hà Nội là đại học chung cho cả Đông Dương thuộc Pháp. Ngày 15-5-2006 ở Hà Nội có làm lễ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập. Nếu kề về lâu đời thì Đại học Hà Nội có trước Đại học Chulalongkorn của Thái Lan, chỉ đưực thành lập từ năm 1917, cũng bắt đầu bằng sự kết hợp của 2 trường : trường đào tạo những đồng tử (Pages) hoàng gia và trường Y khoa. Người chủ nhiệm đầu tiên của trường Y khoa Hà Nội là nhà bác học Yersin, người khám phá ra vi trùng bệnh dịch hạch va cũng là nhà thám hiểm đã khám phá ra Đà Lạt. Bắt đầu từ năm 1935, Đại học Y khoa Hà Nội cho mở những kỳ thi lâm sàng (examens cliniques) năm học cuối và cho trình luận án tiến sĩ (bác sĩ) y khoa (Doctorat en médecine) để sinh viên năm cuối khỏi phải đi Pháp thi và cũng được cấp bằng cấp tương đương với bằng của một đại học Pháp. Đại học Y khoa Hà Nội lại còn được Đại học Y khoa Paris bảo trợ nên đa số giáo sư là của Đại học Paris phái qua dạy trừ một vài giáo sư người Việt cựu nội trú các bệnh viện Paris như giáo sư Hồ Đắc Di và giáo sư Trần Quang Đệ. Khi Pháp trao trả Đại học Hà Nội cho Bảo Đại, số giáo sư ngừoi Việt tăng lên sau khi được cử đi thi thạc sĩ ở Paris như giáo sư Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Hữu... nhưng số lớn vẫn là giáo sư người Pháp. Năm 1954, gần như toàn thể Đại học Hà Nội gồm đủ các phân khoa di chuyển vô Nam và Y khoa vẫn được Đại học Paris bảo trợ, vẫn dạy và làm luận án bằng tiếng Pháp cho tới năm 1965, nên những sinh viên và bác sĩ thời đó di tản sau 75 qua Pháp vẫn được văn bằng tương đương, chỉ phải làm lại luận án. Ở thời trước chiến tranh thứ 2, đại học Y khoa Hà Nội, cũng như Phân khoa Luật đều có tiếng ở Đông Nam Á và trường Viễn Đông Bác Cổ còn nổi tiếng thế giới. Nên muốn nói gì thì nói, nền đại học Việt Nam thời Pháp thuộc vẫn có giá trị nhiều hơn bây giờ đối với quốc tế thời đó.

    2) Bảng xếp hạng của trường Đại học Giao Thông Thượng Hải chỉ có mục đích để trường này gửi những học sinh ưu tú của mình đi học những trường được coi là khá nhất trên thế giới. Vì vậy những tiêu chuẩn được đề ra để xếp hạng sẽ có nhiều bất cập nếu muốn coi nó là mục đích để đi tới "top 500". Những tiêu chuẩn bất cập là

    1° Số lượng các bài khoa học đăng trên 2 tạp chí tiếng Anh Nature và Science :

    Những bài báo đăng trên những tạp chí tiếng nước khác đều không được kể. Tôi nghi ngờ là Đại học Chulalongkorn có cả ngàn bài đăng trên 2 tạp chí này. Nhưng dầu vậy, trong số 150 bài của ĐHQG-HCM có bài nào được đăng trên 2 tạp chí này không? Và nếu chỉ đăng trên các tạp chí VN thì căn cứ vào đâu để định giá trị của nó?

    2° Số các giáo sư giảng dạy có giải Nobel và huy chương Fields. và số cựu sinh viên đoạt được những giải này :

    Tất nhiên là chỉ những trường rất lớn có đông sinh viên, có ngân quỹ rất lớn mới có đủ tiền mượn những người này và mở những phòng nghiên cứu, chẳng hạn như Harvard với 20 ngàn sinh viên nhưng có ngân quỹ năm 2009 là 3 tỷ 8 đô. Thật ra những đại học mượn những người này cốt để lấy tiếng và câu khách vì có chi bảo đảm là những công trình nghiên cứu sau khi được giải Nobel đưa tới kết quả như những công trình trước khi được giải? Còn những nghiên cứu sinh có triển vọng được giải Nobel hay Fields thì cũng câu từ những trường khác qua chứ không phải tự mình đào tạo ngay từ đầu.

    Trái với ý nghĩ của ông Nguyễn Văn Tuấn, tôi thấy bản xếp hạng của trường Giao Thông Thượng hải thiếu sót khi chỉ chú trọng về nghiên cứu mà không đưa ra một tiêu chuẩn nào về chất lượng của sự giảng dạy và trình độ của sinh viên. Nhiệm vụ của một trường đại học không phải chỉ đào tạo những nhà nghiên cứu mà là giáo dục, nghĩa là làm tăng sự hiểu biết và đào tạo nghề nghiệp. Tôi thấy hệ thống đại học của Pháp đạt được những tiêu chuẩn này vì gồm 3 nhánh :1° Những phân khoa đại học ai có bằng tứ tài cũng có thể ghi tên theo học được với mục đích có được sự hiểu biết qua những bằng cấp gọi là LMD (cử nhân-thạc sĩ-tiến sĩ). 2° Những trường lớn (Les Grandes Écoles) đào tạo những ngành có tính cách thực hành, phải qua những lớp dự bị và một kỳ thi tuyển như các trường Bách Khoa, trường Hầm mỏ, Cầu cống, Viễn thông... đào tạo kỹ sư cao cấp. 3° Những trung tâm, những viện nghiên cứu, thực hành các lí thuyết gồm những người được đào tạo từ phân khoa đại học hay các trường lớn. Đại học Việt Nam chỉ nên chú trọng đào tạo những ngành nghề theo mô hình các Trường Lớn của Pháp hơn là chỉ lo phát hành những bằng cấp viển vông như thạc sĩ, tiến sĩ.

    Phản hồi: 

    Bà con cho hỏi: Trường ĐH ở tỉnh thượng du Bắc Việt cũng mở Y Khoa được sao? Lại còn nhận nghiên cứu sinh làm Tiến Sĩ?? Thế thì trường này thuộc đẳng cấp quốc tế rồi còn gì mà hỏi?
    Nhân tiện đây đề nghị với Bộ trưởng GD cho đồng chí y tá Dũng về đấy làm chuyên tu Bác Sĩ. GS Y Khoa ở Úc cỡ GS Tuấn còn lâu mới ngang bằng đại GS Y Khoa 200-triệu của trường này.
    Hình như GS Tuấn thiếu thông tin, hoặc bài này viết trước khi có tin Tiến Sĩ Y KHoa 200-triệu?

    Phản hồi: 

    Khi nào Việt Nam có nền kinh tế đẳng cấp quốc tế thì có khả năng có nền đại học đẳng cấp quốc tế!

    Cho đến khi chưa có nền kinh tế đẳng cấp quốc tế, giả sử có nảy sinh được nhân tài thì cũng không thể giữ hay phát huy được. Vì thế đừng tốn công nhọc sức mơ mộng cái "đại học đẳng cấp quốc tế" ở Việt Nam. Hãy làm cho tốt những việc nhỏ hơn thế đi đã. Hãy xây một nền đại học, đào tạo nghề có khả năng cung cấp nhân lực mà nền kinh tế cần trước. Đừng có quan trọng nó ở đẳng cấp nào.

    Phản hồi: 

    Tôi tin rằng khi nào 'đảng ta' chịu buông tay, không còn lãnh đạo giáo dục thì VN sẽ có đại học đẳng cấp quốc tế, kể cả bậc trung học cũng sẽ có đẳng cấp quốc tế.

    Phản hồi: 

    [quote]VN vẫn hay hô hào “đẳng cấp quốc tế” nhưng tiếc thay phần lớn có vẻ chỉ nặng về hình thức. Chẳng hạn như 6 năm trước, ĐHQG-HN có kí kết hợp đồng với Tập đoàn Dầu khí (3) để xây kế hoạch có giải Nobel! Cho đến nay, chưa biết khả năng có giải Nobel là bao nhiêu, nhưng rõ ràng đó là một điều rất bất khả thi. Giải Nobel không có được từ hợp đồng, mà từ nghiên cứu khoa học có phẩm chất cao. [/quote]

    Đây ắt là kết quả của một cuộc họp kết hợp bữa nhậu rôm rả, quắc cần câu giữa các GS TS và các 'đại gia', sau lúc sương sương cạn vài ba chai Chivas các bố hứng chí 'hạ quyết tâm' làm luôn 'cái Nobel' cho nó oai :))