Asia Times Online: Hoàng Tứ Duy - Nhân quyền phải đi trước vũ khí cho Việt Nam

  • Bởi Mắt Bão
    21/08/2014
    8 phản hồi

    Hoàng Tứ Duy


    Ngày 20/8/2014

    Vào đầu tháng này, Thượng Nghị Sĩ John McCain tỏ ý rằng đã đến lúc Hoa Kỳ nên xem xét lại việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sau 30 năm cấm vận. Cuộc đối đầu ngoài biển gần đây giữa Việt Nam và Trung Quốc về việc Trung Quốc thăm dò dầu khí ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam đã lộ rõ nhiều yếu kém về mặt chiến lược của Hà Nội.

    Việc cung cấp cho Việt Nam những hệ thống hàng hải và bảo vệ vùng ven biển như là bước đầu — và sau đó là hệ thống radar, máy bay chiến đấu và phụ kiện cho những thiết bị quân sự Mỹ còn xót lại — sẽ tăng cường khả năng của Việt Nam và thực chất hóa mối "quan hệ toàn diện" đã được công bố bởi Hà Nội và Washington vào năm ngoái.

    Nhưng trên cả những hệ thống vũ khí hiện đại, cái mà Việt Nam thực sự cần cho sự an ninh lâu dài là những giá trị chính trị hiện đại. Chỉ có thể huy động sự đoàn kết dân tộc và giàu mạnh cần thiết để bảo vệ chủ quyền đất nước trong một xã hội tự do và cởi mở.

    Vấn nạn của giới lãnh đạo Hà Nội là sự lựa chọn giữa quyền lợi quốc gia và bảo vệ chế độ, thường dẫn tới những hành động thiếu mạch lạc và mâu thuẫn. Từ những năm thuộc thập niên 1950, điều đó có nghĩa là mặc nhận những lấn chiếm đất đai của Trung Quốc bất chấp những tổn hại vê chủ quyền đất nước. Trong những năm gần đây, Hà Nội đã lấy lòng Trung Quốc bằng cách đàn áp những tiếng nói phê phán trong nước về sự bành trướng của Trung Quốc.

    Những mâu thuẫn cộng sản

    Trong thời gian chiến tranh, cộng sản Bắc Việt đã trông cậy rất nhiều vào viện trợ quân sự từ Trung Quốc. Nhưng sự giúp đỡ của Bắc Kinh cũng thật là đắt giá. Năm 1958, trong một công hàm ngoại giao, thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đã ngầm công nhận những đòi hỏi về chủ quyền của Bắc Kinh đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Rồi năm 1974, Hà Nội đã yên lặng hoàn toàn khi Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, lúc đó đang do Miền Nam Việt Nam quản lý.

    Sau chiến tranh, Hà Nội ngã về phía Liên Sô và xâm lăng nước láng giềng Cambodia, gây nên đổ vỡ quan hệ với Trung Quốc mà cực điểm là cuộc chiến biên giới đẫm máu năm 1979. Nhưng tới năm 1990, khi mà Liên Sô ngưng viện trợ và các nước Đông Âu xụp đổ hàng loạt như quân cờ, Hà Nọi lại tái thiết lập quan hệ với Bắc Kinh.

    Việc nối lại tình hữu nghị đã được thương thảo trong một cuộc họp bí mật tại Thành Đô, một tỉnh phía nam Trung Quốc, vào tháng chín năm 1990. Những thỏa thuận giữa lãnh đạo cao cấp của hai đảng cộng sản cho tới nay vẫn chưa được công bố. Căn cứ trên những tiết lộ có giới hạn của một số viên chức đã hồi hưu, những bloggers Việt Nam suy đoán rằng Hà Nội đã có những nhượng bộ then chốt về biên giới đất liền và biển như là cái giá phải trả cho việc bình thường
    hóa quan hệ.

    Từ sau Hội nghị Thành Đô, Hà Nội đã theo sát mô hình "Chủ nghĩa Lenin tư bản" của Bắc Kinh mà đặc điểm là một nền kinh tế mở nửa chừng dưới một thể chế chính trị khép kín. Trong khi những người dân Việt bình thường lo lắng về Trung Quốc dựa trên lịch sử hai ngàn năm chống ngoại xâm phương Bắc, thì những thành phần cốt cán của đảng lại thủ lợi vì những đầu tư kinh tế của Trung Quốc cũng như sự nương tựa về mặt ý thức hệ.

    Điều này giải thích tại sao Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh mới đây đã mô tả việc Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) như là một sự bất đồng nhỏ giữa "anh em". Phát biểu tại cuộc đối thoại quốc phòng Shangri-La ngày 31 tháng năm, Đại Tướng Thanh ngần ngại không phê bình Bắc Kinh một cách công khai, mặc dù hải quân Trung Quốc đang sách nhiễu những tầu tuần duyên và tầu đánh cá Việt Nam trong vùng lân cận của giàn khoan đồ sộ của Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc.

    Như là một hành động của sự tôn trọng đối với Bắc Kinh, bộ chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ngăn cản chuyến đi Mỹ của Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh trong thời gian diễn ra sự đối đầu trên biển giữa hai quốc gia. Chỉ sau khi Trung Quốc di dời giàn khoan, Hà Nội mới cử một lãnh đạo cấp cao của đảng đi Mỹ, mặc dầu điều đáng ngạc nhiên là người này không phải là bộ trưởng ngoại giao được xem là thân thiện với Hoa Kỳ.

    Cũng không rõ ràng là tại sao Việt Nam vẫn còn chưa tiến hành một hành động pháp lý tại Liên Hiệp Quốc, giống như Phi Luật Tân đã làm trong việc tranh chấp về biển đảo với Trung Quốc. Mặc dù theo hầu hết các nhà quan sát quốc tế, Việt Nam chiếm ưu thế đối với Trung Quốc, nội bộ Hà Nội lại có nhiều mâu thuẫn trong việc có nên quốc tế hóa sự tranh chấp hay không. Kết quả là Trung Quốc vẫn còn có thể định nghĩa cuộc tranh chấp là song phương và có lợi thế nước lớn trong tương tác một đối một.

    Cho tới khi lãnh đạo đương thời Hà Nội có ý chí thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc, việc tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí của Hoa Kỳ sẽ không giải quyết sự yếu kém của Việt Nam, sự yếu kém về chính trị chứ không phải là quân sự.

    Lộ đồ nhân quyền

    Thượng Nghị Sĩ McCain đã đúng khi gắn liền viện trợ quân sự với nhân quyền: "Chúng ta có thể làm nhiều tới đâu về vấn đề này, cũng như với những mục tiêu thương mại và an ninh đầy tham vọng, tùy thuộc rất nhiều vào những hành động thêm nữa của Việt Nam về nhân quyền."

    Đúng vậy, bây giờ chính là thời điểm mà Hoa Kỳ xác định những điều kiện cụ thể và hợp lý để tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí. Qua việc nhấn mạnh những điều kiện mà tối hậu sẽ củng cố sự an ninh của Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ có thể nâng cấp quan hệ đôi bên lên một mức cao hơn.

    Điều kiện trước nhất là phải thả vô điều kiện tất cả các tù nhân chính trị. Thật là nghịch lý khi Hà Nội vừa thúc đẩy Hoa Kỳ phải có lập trường mạnh mẽ hơn về vấn đề Biển Đông, đồng thời lại tiếp tục bắt giữ những công dân Việt Nam lên tiếng một cách ôn hòa chống lại sự xâm lăng của Trung Quốc.

    Điều kiện thứ hai là phải hủy bỏ những điều khoản mơ hồ về an ninh quốc gia, được sử dụng một cách có hệ thống để hình sự hóa tự do ngôn luận và những hành động chính trị ôn hòa. Cho tới khi nào nhà cầm quyền Việt Nam còn coi việc viết blog hay cổ vũ cho dân chủ là một đe dọa đối với an ninh quốc gia, họ không thể nào tập trung một cách đúng mức vào mối đe dọa sống chết từ một Trung Quốc ngày một hung hăng.

    Điều kiện thứ ba là nhiệm vụ của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (QĐND) chỉ tập trung vào một mục tiêu duy nhất là phòng thủ ngoại xâm. Hiện này nhiệm vụ của QĐND gồm ba mục tiêu: bảo vệ chế độ, phòng thủ ngoại xâm, phát triển kinh tế. Vũ khí từ Hoa Kỳ không bao giờ nên giao cho một quân đội sẵn sàng đàn áp những bất đồng ý kiến nhân danh an ninh nội tại.

    Thách thức ngoại giao

    Một cuộc thăm dò ý kiến do BBC Tiếng Việt thực hiện vào tháng bảy đã hỏi thính giả của đài là muốn Việt Nam làm đồng minh của quốc nào. Hoa Kỳ là nước mà 87% những người trả lời đã chọn, trong khi chỉ có 1% chọn Trung Quốc.

    Kết quả của cuộc thăm dò đã xác nhận sự nhận xét của hầu hết những người theo dõi về tình hình Việt Nam: Người dân Việt Nam muốn có quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ và khoảng cách ngoại giao với Trung Quốc xa hơn. Đáng buồn thay, kết quả thăm dò cũng nói lên một thực tế khắc nghiệt khác: đa số công dân Việt Nam hiện thời không có tiếng nói trong những vấn đề quốc gia dưới chế độ độc tài hiện tại.

    Vần đề cung cấp vũ khí sát thương cho Việt Nam có lẽ sẽ được chính quyền Obama và Quốc Hội xem xét trong tương lai gần. Lo lắng về sự trỗi dậy của Trung Quốc, một số nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ có thể có quan điểm là việc cấm vận vũ khí là trở ngại chính cho quan hệ gần gũi hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

    Nhưng vũ khí của Hoa Kỳ sẽ không làm cho Việt Nam mạnh hơn cũng như không khiến cho quan hệ chiến lược giữa hai nước sâu hơn. Cuộc tranh luận sắp tới cũng nên được hướng dẫn bởi sự đánh giá đúng mức cái gì làm tăng cường sức mạnh cho nước Việt Nam và người dân Việt Nam. Đó là sự cải thiện nhân quyền và gia tăng tự do dân sự.

    Nguồn: Asia Times Online

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    TÀN dƯ "MẶt trẬn tÌm xÁc lÍnh MỸ" cỦa HoÀng CƠ Minh lÀ ViỆt TÂn lỘ rÕ bẢn mẶt tay sai Tàu khựa qua cÂu làm-báo-nói-láo là "sau chiến tranh, Hà Nội ngã về phía Liên Sô và xâm lăng nước láng giềng Cambodia, gây nên đổ vỡ quan hệ với Trung Quốc mà cực điểm là cuộc chiến biên giới đẫm máu năm 1979"

    Thưa ông Phiên Ngung,

    Tôi không có ý trao đổi tay đôi,nhưng xin thưa rằng tôi không nhầm lẫn về hai tổ chức như ông đã nêu. Sự ngờ vực mà tôi nói đó là dành cho Mặt Trận QGTNGPVN, gọi tắt là Mặt Trận, tiền thân của đảng Việt Tân sau này. Trước đây có nhiều nguồn tin cho rằng vị lãnh tụ sáng lập của Mặt Trận,và một số giới chức khác của tổ chức đó, như Hoàng Cơ Định, Hoàng Cơ Thuỵ, v.v...đã mon men tiếp xúc với phía Trung Quốc, thông qua Hoàng văn Hoan. Tất nhiên là không ai ở bên ngoài tổ chức nắm được bằng cớ, cũng như kết quả, của những cuộc tiếp xúc như vậy.Nhưng sự ngờ vực đã một thời lan truyền khá rộng rãi . Những người am tường họat động của Mặt Trận thì nay đều đã quá già. Các ghi chép liên quan đến tổ chức đó cũng rất ít ỏi; rời rạc chỉ vài ba quyển, như quyển Một Ngày Có 26 Giờ của tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, tức cưụ nhà văn quân đội QLVNCH Nguyên Vũ, chính yếu kể lại vụ kiện giữa Mặt Trận và báo giới Việt ở Mỹ, ra năm 1995; và bộ hồi ký Trả Ta Sông Núi của cựu Đại Tá Phạm văn Liễu, một nhân vật kỳ cựu của Mặt Trận, xuất bản năm 2002.

    Tôi đồng ý với ý kiến chính của bạn Khương Việt trong vấn đề quan hệ Việt-Mỹ trong giai đoạn này. Quan điểm/mục đích của nhiều người trong và ngoài nước muốn ràng buộc nhân quyền vào bang giao Việt Mỹ mặc dù đúng và cần làm. Tuy nhiên, không nhất thiết phải đòi hỏi mọi quan hệ phải bị ràng buộc với việc cải thiện nhân quyền, đặc biệt là việc trao đổi, liên lạc quân sự giữa Mỹ và Việt nam trong lúc này.

    Khương Việt viết:
    Thiết nghĩ, những thắc mắc trên đây về sự " giúp đỡ về Dân Chủ-Nhân Quyền" của Mỹ dành cho VN nói riêng, và cho các nước khác nói chung rất đáng được tác giả, và giới lãnh đạo đảng Việt Tân phân tích tường tận, bởi vì có lẽ đó là cơ hội tốt để đảng này ,nhân dịp đó, giải thích về mối quan hệ đáng ngờ của họ đối với Trung Quốc trước đây trong thập niên 1980s.

    Tôi nghĩ bạn Khương Việt nhầm lẫn giữa Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam của Việt Tân và Mặt trận Thống nhất các Lực lượng Yêu nước Giải phóng Việt Nam của ông Lê Quốc Tuý. Tổ chức của ông Tuý ban đầu có tên Mặt trận Thống nhất các Lực lượng Yêu nước Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau đó mới bỏ chữ "miền Nam". Tổ chức này được sự hổ trợ của Trung cộng qua việc trang bị quân nhu và võ khí. Ngoài ra qua Trung cộng, họ cũng liên lạc được một vài tên Việt cộng thân Tàu. Vì sự nhập nhằng này, phản gián Việt cộng đã tương kế tựu kế cho lãnh đạo của tổ chức ông Tuý vào tròng và bắt trọn.

    Trước việc có vẻ như có nhiều người, trong cũng như ngoài Nước,đang khản cổ ra sức tán dương cho vai trò cao cả của Mỹ trong việc bảo vệ Dân Chủ-Nhân Quyền, nay xin được gởi lại trong link sau đây một bài của ông TĐT viết, đã từng đăng trên Dân Luận trước đây vài năm, nhằm giúp "hạ nhiệt" cho những tán dương như vậy.

    http://www.danluan.org/tin-tuc/20120106/truong-dinh-trung-su-that-ve-truyen-ba-va-bao-ve-dan-chu

    Khương Việt viết:

    Điểm quan trọng nhất là thế này: Mọi cản trở, trì hoãn, bất kỳ núp dưới chiêu bài nào, cho việc giải bỏ cấm vận vũ khí của Mỹ dành cho VN đều chỉ mang lại lợi ích không cho một ai khác, mà chỉ cho một người duy nhất; đó là nhà cầm quyền Trung Quốc.

    Tôi nhận thấy ý trên có nhiều vấn đề cần bàn: 1- "Cản trở, trì hoãn" đến từ đâu?; nếu đến từ lập pháp Mỹ mới ảnh hưởng đến chính sách của chính phủ Mỹ; nếu đến từ người Mỹ gốc Việt thì chẳng có ảnh hưởng gì đến chính sách của chính phủ Mỹ nên chẳng có lợi gì cho Trung Quốc cả. 2- Nếu chỉ nhìn về mặt vũ khí, việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí cho CSVN và CSVN có mua vũ khí của Mỹ thì chẳng làm Trung Quốc rung sợ gì cả mà vấn đề Trung Quốc lo sợ là Mỹ sẽ làm gì từ việc đó và mức độ và bước hợp tác tiếp theo của CSVN với Mỹ sẽ là gì?

    "Nhưng trên cả những hệ thống vũ khí hiện đại, cái mà Việt Nam thực sự cần cho sự an ninh lâu dài là những giá trị chính trị hiện đại. Chỉ có thể huy động sự đoàn kết dân tộc và giàu mạnh cần thiết để bảo vệ chủ quyền đất nước trong một xã hội tự do và cởi mở."

    Viết như vậy là khá chung chung, không rõ ràng, dù độc giả thừa biết là tác giả, với cụm từ " giá trị chính trị hiện đại", muốn ám chỉ về Nhân Quyền và Dân Chủ. Hơn nữa, liệu là những giá trị đó, cùng với sự đoàn kết dân tộc, có thể thực hiện được với sự giúp đỡ của Mỹ? Hay là phải do chính nỗ lực tự thân của người Việt?

    Nói về sự " giúp đỡ" của Mỹ đối với việc thực thi Nhân Quyền-Dân Chủ, sao tác giả không thử duyệt lại những gì Mỹ, qua nhiều chính phủ, đã làm ở Miền Nam trước đây, hay ở các quốc gia Nam Mỹ, như Chi-Lê; hay ở Iraq, ở Afghanistan, v.v... để thấy sự " giúp đỡ" ấy là như thế nào? Chẳng hạn như đã " giúp" lật đổ nền Đệ I Cộng Hoà, không những thế còn " giúp " giết luôn lãnh tụ của nền CH đó. Hoặc như đã " giúp" bắn chết sinh viên phản chiến Nguyễn Thanh Bình, rồi quẳng xác ra khỏi máy bay. Hay " giúp " can thiệp vào chuyện nội trị của Miền Nam bằng cách buộc chính phủ của ông Thiệu phải cách chức ông Hoàng Đức Nhã chỉ vì ông này vạch ra sự "giúp đỡ" theo lối bán đứng của Mỹ trong Hiệp Định 1973.

    Chưa hết, có thể nào xem như là sự " giúp đỡ " của Mỹ đối với Nhân Quyền VN về việc từ sau năm 1975 cho đến 1989, Mỹ do nhu cầu chống Liên Xô, âm thầm liên minh với Trung Quốc, gián tiếp hậu thuẩn cho bọn diệt chủng Pol Pot ,là kẻ đã gây chiến tranh biên giới phía Tây Nam, tàn sát hàng chục ngàn người Việt vô tội sống dọc biên giới?

    Hoặc có nên xem là một bài học về việc Mỹ " giúp đỡ" Dân Chủ-Nhân Quyền cho Việt Nam,khi nhớ lại vào năm 1978 Mỹ không những đã ngấm ngầm đồng ý ,mà còn cung cấp tin tức tình báo về việc chuyển quân của Liên Xô cho Trung Quốc, để tạo thuận lợi chiến lược cho cường quốc này tấn công Việt Nam tháng Ba,năm 1979?

    Thiết nghĩ, những thắc mắc trên đây về sự " giúp đỡ về Dân Chủ-Nhân Quyền" của Mỹ dành cho VN nói riêng, và cho các nước khác nói chung rất đáng được tác giả, và giới lãnh đạo đảng Việt Tân phân tích tường tận, bởi vì có lẽ đó là cơ hội tốt để đảng này ,nhân dịp đó, giải thích về mối quan hệ đáng ngờ của họ đối với Trung Quốc trước đây trong thập niên 1980s.

    Cuối cùng, nếu cho rằng Mỹ là " vị anh hùng" luôn phò tá cho Nhân Quyền-Dân Chủ, vậy xin hỏi tác giả của đảng Việt Tân là tại sao trong lịch sử bang giao Việt-Mỹ-Hoa, cũng là ba nước đó cả,nhưng trước đây, vào cuối thập niên 1970s thì Mỹ cố quyết lập quan hệ với Trung Quốc,ủng hộ nước này trong mọi chiến lược chống VN mà nay vào đầu thế kỷ 21 này, thì tìm cách o bế VN và rời xa TQ? Nếu Mỹ đã luôn vì Nhân Quyền-Dân Chủ trên hết thì sao lại có sự bất nhất, quay ngoắt 180 độ, trong chính sách đối ngoại của mình như vậy? Chẳng lẽ Nhân Quyền-Dân Chủ cho Việt Nam vào những thập niên cuối thế kỷ 20 lại khác với Nhân Quyền-Dân Chủ cho VN vào lúc này?

    Điểm quan trọng nhất là thế này: Mọi cản trở, trì hoãn, bất kỳ núp dưới chiêu bài nào, cho việc giải bỏ cấm vận vũ khí của Mỹ dành cho VN đều chỉ mang lại lợi ích không cho một ai khác, mà chỉ cho một người duy nhất; đó là nhà cầm quyền Trung Quốc.

    Với bài viết này, phải chăng giới lãnh đạo đảng Việt Tân đang tự mình tiếp tay cho nỗ lực tâm lý chiến của Trung Quốc trong việc cản trở sự xích lại gần nhau giữa Mỹ và VN, và như vậy gây tổn hại cho lợi ích lâu dài của dân tộc?

    TêN này đúng là Tàu khựa. Chỉ có dân "trí" mới không nhận ra nổi:Nhưng vũ khí của Hoa Kỳ sẽ không làm cho Việt Nam mạnh hơn cũng như không khiến cho quan hệ chiến lược giữa hai nước sâu hơn = Sau chiến tranh, Hà Nội ngã về phía Liên Sô và xâm lăng nước láng giềng Cambodia, gây nên đổ vỡ quan hệ với Trung Quốc mà cực điểm là cuộc chiến biên giới đẫm máu năm 1979.(!)

    Điều gì sẽ xảy ra khi Mỹ đồng đồng hành cùng chế độ Cộng Sản và phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam?

    Vài ngày qua, sự kiện đại tướng quân đội Hoa Kỳ là Martin Dempsey sang thăm Việt Nam đã đánh dấu một mốc quan trọng trong chương trình Mỹ tiến tới hợp tác toàn diện với Việt Nam, nhất là về quân sự, đặc biệt trong lĩnh vực hải quân.

    “Việt Nam” ở đây chính là nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, là Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh – những kẻ tai to mặt lớn, nắm quyền sinh sát của chế độ hiện nay – những kẻ đã đại diện Việt Nam tiếp đón và hội đàm cùng đại tướng Martin.

    Một điều không thể chối bỏ từ phía Mỹ đó là: Mỹ không thể làm ngơ trước việc quyền lợi của mình và của các đồng minh ở Châu Á có nguy cơ bị xâm hại từ thế lực Trung Cộng, và vị trí địa lý của Việt Nam là đặc biệt quan trọng trong chiến lược phòng thủ của Mỹ tại Châu Á.

    Người ta có thể đặt ra câu hỏi, “Mỹ có yêu chế độ Cộng Sản hay không?” và đương nhiên một câu hỏi khác đặt ra là, “Mỹ có muốn có dân chủ (ở Việt Nam) hay không?” Câu trả lời (của rất nhiều người Việt) sẽ là: Mỹ không yêu Cộng Sản cũng chẳng mến dân chủ ở Việt Nam. Họ chỉ làm những gì có lợi cho bản thân họ và đồng minh mà thôi.

    Hiện nay chế độ Cộng Sản Việt Nam đã buộc phải bắt tay với Mỹ để chống Trung Cộng. Nhưng mặt khác họ cũng rất lo ngại Mỹ hậu thuẫn cho phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam.

    Qua tin rò rỉ từ Wikileaks và từ những người như điệp viên đào tẩu Snowden trong những năm qua, người ta biết rằng, nhiều thập kỷ qua, bằng những tổ chức trung gian, Mỹ vẫn ngầm hỗ trợ đối kháng chống độc tài tại rất nhiều quốc gia từ Đông Âu, Phi Châu, Trung Đông cho đến Việt Nam…

    Khoảng 5 năm trở lại đây phong trào dân chủ Việt Nam đã có những chuyển biến tương đối rõ nét. Có được điều đó là do nhu cầu đấu tranh nội tại ngày một gia tăng, nhưng cũng không thể không nhắc đến yếu tố quan trọng nhất đó là sức mạnh chính trị và tiền bạc từ người Mỹ.

    Về mặt chính trị, bằng con đường vận động hành lang ngoại giao, Hoa Kỳ đã gây áp lực buộc nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải cải thiện dân chủ, trả tự do cho một số nhà đối kháng đang bị cầm tù như Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Phương Uyên, Đỗ Thị Minh Hạnh v...v…

    Trong những hành động đó, cả phía Mỹ và chế độ Cộng Sản Việt Nam đã cùng thắng, nếu như không muốn nói đầy đủ là “ba bên cùng thắng”, vì đó cũng là một trong những thắng lợi của phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam.

    Hơn lúc nào hết, hiện cả hai phe Cộng Sản và chống Cộng đều đang cần dựa vào người Mỹ.

    Đối với nhà cầm quyền Cộng Sản, cả thế giới đều nhìn thấy là họ đang cố gắng dựa vào Mỹ để tồn tại. Nhưng còn phe chống Cộng Sản, họ dựa vào người Mỹ như thế nào?

    Là một người đấu tranh chống Cộng Sản hoạt động độc lập trong nước từ năm 2003; sau này chạy sang Thái Lan gần 5 năm, nay lại đang sống ở Úc, qua tiếp xúc với rất nhiều thành phần đấu tranh tại hải ngoại, tôi biết rõ: Phong trào đối kháng trong nước tồn tại được đều nhờ người Mỹ. Cơ sở nào để nói như vậy?

    Thứ nhất, bằng con đường phi chính phủ, Mỹ (tôi đã dùng từ “Mỹ” từ đầu bài viết, chứ không nói “chính phủ Mỹ”) đã ngầm tài trợ cho một số tổ chức chống Cộng có thực lực ở nước ngoài, cụ thể là các tổ chức được đánh giá “làm được việc” hoặc ít nhất là “có cố gắng làm việc”. Những tổ chức đó đã triển khai được một thế trận đấu tranh tại Việt Nam.

    Một điều không thể bác bỏ khác, đó là: Bằng hình thức này hay hình thức khác, tất cả các hội đoàn đối kháng trong nước đều “sống” được là do tiền tài trợ thông qua các tổ chức yểm trợ đấu tranh hải ngoại. Tiền của các tổ chức hải ngoại vừa kể lại đến từ hai nguồn: Từ người Mỹ như đã nói, và từ sự đóng góp của các công dân Mỹ (Úc, Canada, Châu Âu…) gốc Việt.

    Cũng phải giải thích rằng chuyện đối kháng “sống” được trong chế độ Cộng Sản Việt Nam là điều khó khăn vì các thành viên đều bị o bế kiềm tỏa, phá hoại về kinh tế, do chính sách đàn áp của nhà cầm quyền. Chỗ dựa chính của họ chính là nguồn tài chính từ hải ngoại.

    Một câu hỏi đặt ra là: Mỹ có bình đẳng trong quan hệ với cả hai phe, nhà cầm quyền và phe đấu tranh đối kháng tại Việt Nam hay không? Chắc chắn là có! Nhưng cái cần quan tâm nhất đối với người Mỹ đó vẫn là quyền lợi của họ và đồng minh. Chính vì điều này Mỹ phải đặt quan hệ với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam lên hàng đầu vì hiện nay chỉ họ mới có thể đáp ứng được các yêu cầu chiến lược cấp bách của Mỹ.

    Nhưng có lẽ người Mỹ sẽ chỉ ủng hộ phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam ở mức độ nào đó vì nhiều lẽ. Bài học đau đớn Việt Nam Cộng Hòa năm xưa người Mỹ không thể quên: Họ đã tốn hàng núi Dollas chỉ để tạo được một thể chế gia đình trị lạc hậu trong Đệ nhất VNCH; do Mỹ hậu thuẫn, sống nhờ tài chính Mỹ nhưng lại không chịu làm theo ý đồ chiến lược của Mỹ. Sau này Đệ nhị VNCH cũng lại trượt theo “vết xe đổ Ngô Đình Diệm” và trong khủng hoảng chính trị bởi nguy cơ đảo chính thường trực…

    Vậy lấy gì để người Mỹ tin rằng, nếu giả sử như chế độ thối nát Độc tài Cộng Sản Việt Nam hiện nay bị lật đổ thì chế độ tiếp sau nó có hoàn toàn thân Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc hay không. Điều này người Mỹ biết rõ vì bản thân những nhà lãnh đạo của các tổ chức có thực lực ở hải ngoại phần lớn đều là các cựu quân cán chính của VNCH khi xưa, nhiều người vốn tận đáy lòng vẫn ghét Mỹ vì họ luôn cho rằng “Mỹ bỏ rơi đồng minh” năm xưa.

    Một câu hỏi khác nảy sinh là, tại sao người Mỹ vẫn hậu thuẫn đấu tranh? Rất dễ hiểu, đó chính là chính sách dân chủ hóa toàn cầu của họ, và họ muốn có lý do để gây áp lực với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Tuy nhiên, để tránh bị coi là chống lại xu thế dân chủ, một điều trớ trêu thay là nhà cầm quyền Cộng Sản lại dùng chiêu bài trả tự do nhỏ giọt cho một vài tù nhân chính trị để đổi lấy sự ấm lên trong quan hệ ngoại giao với Mỹ!

    Bằng các động thái ngoại giao song phương dần tiến tới quan hệ đối tác toàn diện Việt – Mỹ, bằng việc cử một viên đại tướng sang thăm Việt Nam, có vẻ như Mỹ đã đạt được mục đích then chốt của mình tại khu vực Biển Đông. Nếu tiến xa hơn trong quan hệ và dần loại bỏ tầm kiềm tỏa của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chính phủ Việt Nam có thể tồn tại lâu hơn nếu thực lòng trở thành đồng minh của Mỹ.

    Đối với giới đấu tranh dân chủ, tất nhiên họ phải cố gắng hết mình, sẵn sàng đối đầu với công an, nhà tù để đấu tranh đến cùng. Nhưng hơn bao giờ hết, họ phải thực sự quên đi câu chuyện “đồng minh” ngày trước với Mỹ. Và có lẽ điều quan trọng nhất là họ cần làm cho người Mỹ thấy được, họ (đặc biệt là những nhà đấu tranh hải ngoại) thực sự có tâm và có tầm.

    “Tâm và tầm” ở đây cụ thể là gì? Có tâm là làm việc hết mình, không tư lợi, đừng tham nhũng, đừng lừa dối, đừng tiểu xảo với những nhà tài trợ. Có tầm là tập hợp được những con người có năng lực thực sự gia nhập các tổ chức đảng phái đấu tranh của mình, vì chỉ có sức mạnh của tập thể gồm nhiều người có thực tài mới có thể làm nên việc lớn. Tai mắt của Mỹ khắp nơi, chẳng có tật xấu nào của người Việt hải ngoại che được mắt họ.

    Như vậy có thể thấy: Chuyện Mỹ đồng đồng hành với cả hai phe Cộng Sản và chống Cộng là điều có lý. Phía nhà cầm quyền chỉ cần cải thiện dân chủ nhỏ giọt để làm hài lòng người Mỹ là đủ. Về phía những người đấu tranh, ngoại trừ họ có khả năng phát động một cuộc lật đổ thần thánh (điều này chưa thể xảy ra trong tương lai gần) thì cũng hãy nên tạm bằng lòng với vị thế hiện nay của mình.

    “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền” hay “có thực mới vực được đạo”, người Mỹ có quyền vì họ có sức mạnh vật chất. Nhưng vốn tôn thờ Chủ nghĩa Thực dụng, họ sẽ nhìn thấy ngay đâu là điều họ nên làm. Khi nhà nước Việt Nam Cộng Sản đồng hành với Mỹ thì đó cũng chính là lúc lợi thế giữa hai phe Cộng Sản và đối kháng thêm sự mất cân bằng.

    Trong đấu tranh, nếu biết tận dụng mọi nguồn lực, cụ thể (đối với người Việt đối kháng) đây là nguồn lực Mỹ, thì không gì khôn ngoan hơn. Nhưng họ phải làm sao để người Mỹ có cơ sở tin tưởng mình. Rất dễ và cũng thật khó!

    Tuy nhiên, với những con người thông minh và giàu ý chí, có nghị lực, chỉ có cái chưa thể chứ không có cái không thể! Cơ hội vẫn còn đang ở phía trước cho những người đấu tranh chống Cộng Sản. Chẳng có gì hạnh phúc hơn là tự mình làm nên mọi chuyện mà chẳng cần dựa vào ai. Nhưng điều này quả là không hề đơn giản!

    Lê Nguyên Hồng – Sydney, Australia

    Đọc bài viết trên trang blog Lê Nguyên Hồng:

    https://lenguyenhong.blogspot.com.au/2014/08/le-nguyen-hong-ieu-gi-se-xay-ra-khi-my.html