Nguyễn Thanh Giang - Có nên đặt vấn đề thoát Trung?

  • Bởi Khách
    20/08/2014
    24 phản hồi

    Nguyễn Thanh Giang

    Tôi không muốn nghe hai chữ “thoát Trung” vì nó đau lòng quá khi bị gợi lên cảm giác tủi buồn, yếm thế của sự trốn chạy.

    Thật vậy. Thoát là gì? Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Thoát là “ra khỏi nơi kìm hãm, nguy hiểm thoát chết trong gang tấc”. Thoát, muốn dịch ra tiếng Pháp phải dùng chữ sortir hoặc échapper. Muốn dịch ra tiếng Anh phải dùng một trong các chữ: to escape, to exit, to quit.

    Thực tế, đã bao giờ chúng ta nhập vào đâu mà phải hò nhau thóat ra, đã bao giờ entrer đâu mà phải xin sortir. Và, việc gì mà phải “escape”.

    Ông Hoàng Cao Khải chắc chắn không đúng khi nói: “Dân tộc Nam ta là Hán tộc không còn nghi ngờ gì nữa”.

    Cũng không thể đồng ý với GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) trong bài “Một phiên bản của Tàu”:

    Nói “tương đồng” thì có vẻ oai, chứ Tàu nó chỉ xem Việt Nam chỉ là một phiên bản của họ. Chính vì thế mà các quan chức Tàu có thể hống hách và ngổ ngáo trong các tuyên bố như là lời phán của cha mẹ dành cho con. Việt Nam có vùng vẫy hay suy nghĩ gì thì Tàu cũng đoán trước được, vì Việt Nam chỉ học từ Tàu thôi, và đâu có thầy nào (nhất là thầy Tàu) mà dạy cho trò 100% sở trường. Sự lệ thuộc ngoại bang nó ghê gớm ở chỗ làm cho dân tộc không còn tự chủ và độc lập trong suy nghĩ, và người ngoài nhìn vào với ánh mắt khinh thường.”

    Hãy nghe Nguyễn Trãi dõng dạc tuyên cáo:

    Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác
    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

    Nguyễn Du thì từng dè bỉu Trung Quốc khi ông đi sứ ở bên ấy:

    Hồn ơi! Hồn ơi! sao chẳng về?
    Đông tây nam bắc không nơi tựa.
    Lên trời xuống đất đều không ổn,
    Đất Yên đất Dĩnh về làm chi?
    Thành quách chẳng khác xưa nhưng lòng dân đã khác,
    Bụi nhiều nhuốm bẩn dơ quần áo.
    Đi ra thì xe ngựa, ở nhà thì vênh váo,
    Ngồi bàn tán chuyện ông Quì ông Cao.
    Không hề để lộ nanh vuốt ác độc.
    Nhưng cắn xé người ngọt như đường!
    Hồn có thấy cả trăm châu vùng Hồ Nam,
    Toàn người gầy ốm có ai mập đâu.
    (Bản dịch bài “Phản chiêu hồn”)

    Nguyễn Trường Tộ cũng khẳng định:

    Nước ta trên cũng có trời che, tức thiên văn, dưới cũng có đất chở, tức địa lý. Trong khoảng trời đất, nước ta cũng là một đất nước tốt lành hẳn hoi, đâu phải một miền phụ dung của Tàu” (Bản tấu “Về việc học thực dụng”).

    Cha ông ta chưa bao giờ chịu là một miền phụ dung, một phiên bản của Trung Quốc bởi vấn đề thoát Trung đã được đặt ra từ rất lâu. Không chỉ thóat mà còn chống, còn đánh. Không chỉ đánh cho… cút, đánh cho… nhào mà “Đánh một trận sạch sanh kình ngạc”, “Đánh cho dài tóc, đánh cho đen răng”. Đánh bằng quân sự, đánh bằng văn hóa. Mặt trận nào cúng quyết liệt, cũng dữ dội. Có thế ta mới còn được “Bốn ngàn năm ta lại là ta” ít nhất cho đến trước năm 1945 chứ. Chỉ tiếc rằng, do cần đạt mục tiêu giành quyền thống trị, những người cộng sản Việt Nam đã rước ảnh mấy ông Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông về treo lên bên trên cả bàn thờ Tổ quốc. Càng đáng căm giận hơn là, cho đến bây giờ, trong những người lãnh đạo còn có những kẻ/thằng do lú lẫn hay do cần nơi nương tựa vẫn dùng quyền hành cố ấn sâu đất nước vào vòng đô hộ của Trung Quốc!

    Bây giờ đặt vấn đề “Thoát Trung” thì nghĩa là thoát cái gì?

    Đọc một số bài viết, dự mầy buổi Hội thảo thấy ý kiến lộn xộn, ngổn ngang quá. Người thì cho rằng “Thoát Trung” chủ yếu phải là thóat về chính trị, về tư tưởng. Người lại bảo “Thoát Trung” về chính trị thật ra cũng là “Thoát Trung” về văn hóa, văn hóa quỳ lạy, văn hóa thảo dân, văn hóa giả dối… Người bảo muốn “Thoát Trung” phải diệt Cộng, người bảo muốn “Thóat Trung”, trước hết phải đổi tên Đảng… . Rồi hàng loạt câu hỏi nêu ra: “Thoát Trung” hay thoát Mác – Lênin?, “Thoát Trung” hay thoát Khổng Mạnh?, “Thoát Trung” hay thoát Hoa?, hay thóat Á?, hay là “giải Hán hóa”? vv…

    Loanh quanh luẩn quẩn một hồi, có ý kiến như là tổng kết: “Rút cuộc, Thoát Trung là phải tự thoát” (Nguyễn Ngọc Lanh).

    Tôi thì tôi nghĩ rằng, không nên hô hào thoát cái gì cả.

    Thoát Trung ư?

    Nhưng, nhà nghiên cứu Đinh Bá Anh nêu nhận xét mà tôi rất tán thưởng: “Trên nhiều phương diện, Trung Quốc còn “thoát Trung” một cách chủ động hơn, nhanh và xa hơn Việt Nam”; “cả tư duy và tầm nhìn của giới lãnh đạo lẫn ý thức của người dân về quyền và trách nhiệm ở Trung Quốc đều cao hơn ở Việt Nam” (Bài “Việt Nam có cơ hội thoát Trung?”).

    Thóat Mác-Lenin ư?

    Chủ nghĩa Mác-Lenin có cái phần xác rất thối tha với những đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản… nhưng có phần hồn khả dĩ thơm tho với những mộng tưởng; xóa áp bức, bất công, san sẻ tư bản về cho vô sản, thiết lập công bằng xã hội…

    Thoát Khổng - Mạnh ư?

    Đạo Nho đâu chỉ dạy “Trung quân” mà còn khẳng định “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Đạo Nho đâu chỉ có “Tam cương” mà còn có “Ngũ thường”. Trong ngũ thường thì đứng đầu là chữ nhân. Chữ lễ chỉ ở vị trí thứ ba: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Bản thân chữ “Nho” được giải thích là do chữ “Nhân” ghép với chữ “Nhu” mà chữ “Nhu” ở đây nghĩa là hội ý. Xem vậy đủ thấy trong chữ “Nho” cũng có hàm chứa yếu tố dân chủ đấy chứ.

    Chủ nghĩa Mác-Lenin cũng như Đạo Nho, Đạo Phật, Đạo Gia tô, Đạo Hồi… đều có mặt sáng, mặt tối, yếu tố dương, yếu tố âm. Vấn đề là ta cần tiếp thu những gì và nên né tránh những gì trong đó chứ không nên phủi bỏ toàn bộ.

    Xã hội Mỹ sở dĩ bền vững lâu dài và phát triển rực rỡ vì không cưỡng bức “thoát” cái gì cả mà tất cả các đạo đều được trân trọng. Đảng Cộng sản Mỹ vẫn hoạt động công khai, có trụ sở treo ảnh Mác, Lênin trang trọng, có cơ quan ngôn luận đàng hoàng (Daily Worker, People’s World). Nền văn hóa Mỹ không có bản sắc riêng nhưng là tích hợp của nhiều nền văn hóa. Mọi nền văn hóa đều được góp những bông hoa đẹp của mình trên cái nền cỏ xanh dân chủ nhân quyền bất diệt.

    Lịch sử nhân loại từng có những trang đau thương do những kẻ hoạt đầu lợi dụng yếu tố này, yếu tố kia trong các đạo để trị vì những cộng đồng dân tộc bằng độc tài, chuyên chế. ĐCSVN cũng vậy, đã lợi dụng chủ nghĩa Mác-Lenin để huy động xương máu nhân dân cướp chính quyền rồi lại tiếp tục lợi dụng chủ nghĩa Mác-Lenin để duy trì ách thống trị hà khắc trên đầu nhân dân Việt Nam.

    Mục tiêu “Thoát Trung” đặt ra có lẽ quá rộng, quá sâu nên mông lung không biết nhằm vào đâu, không biết thực hiện thế nào.

    Có quá nhiều mục tiêu, nhiệm vụ cần đặt ra cho tình hình hiện nay: chống tham nhũng, chống lãng phí, chống độc tài đảng trị, chống cường quyền… nhưng khẩn thiết hơn cả phải là chống Đại Hán bành trướng, chống ách đô hộ từ xa của Trung Quốc, chống âm mưu xâm lăng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Tuy nhiên, đặt vấn đề “Thoát Trung” e không cụ thể.

    Thay vì vận động “Thoát Trung” xin đề nghi nêu cao khẩu hiệu “Hãy cảnh giác với Bắc Triều”.

    Hãy khắc ghi vào tâm trí chúng ta khẩu hiệu “Hãy cảnh giác với Bắc Triều” bằng chỉ thị, nghị quyết, bằng thường xuyên nêu trong mục kiểm điểm ở các chi bộ Đảng, các buổi hội họp của các tổ chức dân sự, bằng thơ văn, nhạc, họa…

    ”Cảnh giác với Bắc Triều” thì các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười không dại dột ký Thỏa ước Thành Đô 1990.

    “Cảnh giác với Bắc Triều” thì Lê Khả Phiêu không mắc điều tiếng là đã bị chúng đưa gái ra nhử để rồi phải dâng tặng Ải Nam Quan, Vịnh Bắc Bộ… .

    “Cảnh giác với Bắc Triều” thì Nông Đức Mạnh không ngu ngơ mời Trung Quốc vào khai thác Bauxite Tây Nguyên.

    “Cảnh giác với Bắc Triều” thì Nguyễn Phú Trọng không tệ hại đến mức tạo tiền đề mở rộng cửa đón Trung Quốc và công an của họ tràn vào toàn bộ lãnh thổ Việt Nam (Xin mời đọc bài “Mấy nghi vấn đối với tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc do ông Nguyễn Phú Trọng ký kết” trong trang web www. nguyenthanhgiang.com).

    “Cảnh giác với Bắc Triều” thì các tỉnh không “vô tư” bán nhiều khu rừng đầu nguồn trọng yếu, không cho thiết lập những Vũng Áng, Nghĩa Hưng…

    “Cảnh giác với Bắc Triều” thì các nhà quản lý không để Trung Quốc dễ dàng thắng thầu tới 90% các dự án kinh tế quan trọng.

    “Cảnh giác với Bắc Triều” thì nhân dân không nhẹ dạ nghe thương lái Trung Quốc đào rễ hồi, trộn chè bẩn, bóc móng trâu, nuôi đỉa, nuôi ốc bươu vàng…


    Thay vì chủ trương “Thoát Trung”, đề nghị hãy vận động mạnh mẽ cho xu hướng “Khuynh Tây”.

    “Khuynh Tây” để tiếp thu sâu sắc những giá trị cơ bản của nhân loại tiến bộ, trong đó có dân chủ, nhân quyền.

    “Khuynh Tây” để có nền giáo dục đào tạo nên những con người tài năng có tinh thần độc lập, ý chí sáng tạo, bản lãnh tự chủ.

    “Khuynh Tây” để có nền hành chính phục vụ nhân dân đắc lực.

    “Khuynh Tây” để nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    “Khuynh Tây” sẽ mặc nhiên đạt được mục tiêu “Thoát Trung”. Do “Khuynh Tây” mà ta thấy đấy, giới trẻ đã mặc nhiên “Thoát Trung” trong lĩnh vực ca vũ nhạc một cách ngoạn mục. Họ sống rất mạnh mẽ sôi động với những pop ballad, jaz, heavy metal, hip hop, dance sport, break dance… chứ còn ai chịu “hái chè bắt bướm” với “Lương Sơn Bá, Trúc Anh Đài” nữa đâu.

    Niềm trông đợi rất tha thiết của “Khuynh Tây” trước mắt là để nhanh chóng thiết lập được Liên Minh Việt Mỹ đặng giữ lấy Biển Đông và tạo cơ hội đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa.

    Trước tình hình một bộ phận trong giới lãnh đạo vẫn chủ trương tiềp tục coi Trung Quốc là bạn “4 tốt” “16 chữ vàng”, Mỹ là kẻ thù truyền thống; trước những nghi vấn xã hội: liệu Hoa Kỳ có thực tâm muốn liên minh với ta không, cần tổ chức nhiều cuộc Hội thảo, Tọa đàm nhằm giải quyết những vấn đề tư tưởng ấy. Từ đấy tạo sức ép để lãnh đạo phải từ bỏ ý đồ “ỷ Trung bảo toàn Đảng”, để vì dân vì nước mà “Khuynh Tây” và chủ động nỗ lực thiết lập liên minh với Hoa Kỳ.

    Hà Nội 20 tháng 8 năm 2014
    Nguyễn Thanh Giang
    Số nhà 6, ngõ 125, đường Trung Văn
    Quận Nam Từ Liêm – Hà Nội
    Mobi: 0984 724 165

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    24 phản hồi

    Kính bác Ong Cay,

    Xin được nhắc lại, là tôi vui khi nhận còm bác đáp lời. Còm
    dài cho tôi hiểu thái độ đàm luận nghiêm chỉnh suy tư, đúng
    sai cả tôi lẫn bác đều không thể tuyệt đối. Thôi thì, sau còm ngắn này, chúng ta tạm dừng nhé, trên tinh thần dân chủ tôn trọng ý tha nhân.

    Các đoạn khác, thôi thì tùy bác, chỉ xin nêu chút ý ở chỗ bác viết:

    "Như thế, hệ thống tư tưởng của Khổng đã tồn tại một lổ hổng quá lớn, đã để lại cho Nho sinh đời sau bẻ ngoặt tư tưởng 180 độ, từ tư tưởng nhân trở nên bất nhân, như vậy thì Khổng tử không nên được ca tụng là một nhà giáo dục lớn."

    Bác ạ,

    Khổng Tử, không phải chỉ các nước Nho giáo mới xem ông là nhà giáo dục lớn. Cả thế giới này, gồm học giới phương Tây,
    đã có vô số công trình nghiên cứu nghiêm túc tính hàn lâm, về cuộc đời và sự nghiệp Khổng tử. Trừ những ai không biết,
    còn lại đều nhìn ông là con người kỳ vĩ, một trong các đại danh nhân thế giới. Ông là người đầu tiên trên thế giới, trước cả Socrate, chuyên nghiệp hóa nghề dạy học. Trước ông,
    thế gian chưa từng có. Việc tôn ông là bậc vĩ đại hay không, chẳng phải cỡ tư cách của bác (và tôi) có thể quyết được. Đó
    là đánh giá của cộng đồng nhân loại, và nhân loại chứ không phải chỉ Á Đông, trừ CS Tàu hàm hồ, đều tôn vinh ông, bác à!

    Xin lỗi nhá, cỡ chúng ta dù có khen ngợi Khổng tử cũng đã hỗn rồi, đừng nói tới bày đặt khinh chê. Khen ư? Có hiểu hết học thuật của ông chưa mà khen? - Chê ư? Hiểu tới đâu mà đã chê?

    Khen hay chê, đều là sự đánh giá. Chúng ta liệu có đủ tư cách để có thể đánh giá được đại vĩ nhân tên tuổi mấy ngàn năm cùng sự nghiệp văn hóa? Tôi nói khen cũng đã là láo rồi,
    là vậy! Có nhiều người còn khen chê cả Phật cả Chúa nữa, mà
    bật miệng ra toàn nói bậy mới nực cười. Thử bỏ ra một đời để trầm tư thử xem ngộ được bao nhiêu Phật lý? Loét xoét vài quyển sách, mà chưa chắc sách đúng đắn, đã vội tưởng mình triệt ngộ.

    Tôi có nói nhiều lần rằng các vua Tàu ưa Pháp trị, dù bề ngoài dùng Nho để an lòng dân. Biết tỏng tâm ý đó, ĐTT có thể nói đã "xét lại" (tôi viết trong ngoặc kép) tư tưởng Khổng. ĐTT sống sau Khổng nhiều thế kỷ, việc môn đồ các học phái "xét lại" theo nhu cầu riêng, là chuyện thường thấy. Bản chất là xuyên tạc học thuyết, mượn học thuyết để làm chánh trị.

    Chắc chắn Khổng chẳng có trách nhiệm nào trong chủ trương phi nhân của Đổng. Độc đoán là do cái hồn Pháp gia nhập vào. Ngay đến các đại tôn giáo, sau khi các đấng giáo chủ tạ thế, các môn đồ hay chia phái, thậm chí ly khai. Việc này không thể lấy làm căn cứ để cho rằng hệ thống có lỗ hổng! Lỗ hổng, nếu có, cũng không chắc chỉ vì thấy có sự xuyên tạc sửa đổi. Giáo lý nhất quán xuyên suốt đại tạng kinh điển Phật giáo, đã biết bao phen bị giải thích theo ý riêng của các Phật tử, thậm chí ngụy tạo kinh luận mang danh Phật học. Không dễ cho ai soi thấu tà ý của kẻ có trình độ cao. Họ thường là trí thức, khiến phát ngôn diễn giải rất thuận nhĩ mà thật ra thậm điêu trá. Bác có nghe: "đại trí như ngu, đại gian như thật"? Hạng trí thức thừa sức xảo biện trước đám ngu dân, nếu lời ngoa ngụy ấy lại trúng ý nhà đương quyền, thì cái gian càng thêm sức mạnh, càng được bảo vệ, càng được a dua truyền bá..., trăm vạn con người đều bị cái "đại gian như thật" khuất phục chẳng khác cừu non!

    Chủ trương cách sống trong lòng Phúc Âm, cũng nhiều lần Giáo hội Vatican cho sửa đổi (hihi, cũng 180 độ như bác nói). Để đạt mục đích cá nhân hay bè phái, nhà chính trị hay chỉnh sửa phương tiện. Giáo dân có thời bị cấm ngặt thờ cúng và dùng thức do người khác cúng giỗ tổ tiên, nhưng sau thì khác hẳn, họ được phép cả nhang khói lẫn thức ăn.

    Đạo Phật từng chia Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, nhiều khi khích bác chê bai nhau. Tăng đồ 2 phái lớn ấy còn chia nhiều chi phái. Hiện ở VN, trong khi các phái Đại thừa chủ trương cứu cánh Boudha thì phái Nguyên thủy lấy sự thành tựu đạo nghiệp Arehat. Có phái tuyệt đối trường trai, có phái kỳ trai tức vẫn ăn thịt ngoài trai kỳ. Ngoài giáo hội PG, còn hiện hữu giáo hội PGHH.

    Thế bác có thể nói tại lỗi hệ thống và do đó, Thích Ca không xứng đáng được xem là đấng Giác Ngộ chăng?

    Hễ cứ thấy môn sinh đời sau, vốn chẳng do thầy trực giáo, làm khác di huấn, là liền cho rằng thầy sai và không xứng đáng?

    Lại câu này: Vậy ý bác là gì khi viết "Cứ nhìn lá cờ Hàn Quốc kìa, đậm đặc tinh thần Kinh Dịch đó, mà ai dám bảo dân Hàn "quỳ lạy" Tàu".?, phải chăng bác đã xác quyết kinh dịch là của Tàu ?

    Bác lại nói như lối nói còm trước nữa rồi! Mắc mớ gì việc tôi có xác hay không xác quyết kinh Dịch là di sản văn hóa của dân tộc nào, lại liên quan với sự tôn trọng Dịch học của
    người nước khác? Với người Hàn, họ nào hay biết ý nghĩ của cái thằng tôi ở VN?

    Tôi nói họ không hề "quỳ lạy" Tàu dù có cờ Kinh Dịch, vì hiện tại đến nay thế giới vẫn cho là thế, của Tàu. Cho dù tôi có xác quyết (thật ra chỉ có lòng tin căn cứ trên cơ sở cả đời tìm hiểu) là của Ta đi nữa, thì câu trên vẫn dùng được. Chẳng lẽ phải nói Hàn không quỳ lạy VN? Ngoài một số các Dịch học gia VN, từ kiến thức và công phu chuyên khảo đã khai quật dưới bao lớp trầm tích văn hóa, được nhiều chứng cứ khả tín, hợp logique, về nguồn cội văn minh phi vật thể này. Đó là một nổ lực đáng kính trọng, nhưng không dễ một sớm một chiếu thay đổi được định kiến nhân loại. Trước mắt, phần đông ai cũng coi nó là của Tàu.

    Tôi nhớ ai đó nói, Einstein thì phải, rằng: "Phá vỡ một hạt nhân nguyên tử, dễ hơn nhiều so với phá một định kiến".

    Chúc bác vui khỏe nha.

    OK, đàng hoàng 1 tẹo

    Theo tớ, "Thoát" ở đây có nghĩa thoát khỏi sự lệ thuộc quá đáng, thoát khỏi thái độ sùng bái, đưa lên làm quốc giáo, quốc kế, ... bất cứ một tư tưởng nào, kể cả Mác, Khổng (sêm xít), hay Hồ Chí Minh (nếu có). Thoát thái độ hễ khó khăn là cảo thối lần dở trước đèn mà không biết có những vấn đề Khổng, Mác hay Hồ Chí Minh không thể giải quyết được . Thậm chí có (rất) nhiều vấn đề không thể giải quyết được bằng chỉ 1 hoặc 1 vài chủ thuyết, mà là tổng hợp tất cả các kiến thức của nhân loại + kinh nghiệm của tập thể lãnh đạo mới có thể giải quyết tạm gọi là ổn thỏa .

    Chủ nghĩa Mác phê bình Tư bản "khá" chính xác, nhưng không có nghĩa cách giải quyết -hay đúng hơn là đạp đổ- của Mác về những vấn đề Tư bản có thể áp dụng được .

    Khổng cũng vậy, áp dụng vào cá nhân có thể đưa ra một loại người vâng lời và ít sáng kiến, nhưng con người đó không còn thích hợp với ngày nay . Well, Trung Quốc và Việt Nam có thể vẫn còn cần .

    Các bác cứ coi phim "Jurassic Park" sẽ biết, không thể cứ bạ cái gì của quá khứ cũng đưa vào hiện tại được . Ngay cả những thứ hiện tại chưa chắc đã xài được hết, nói gì tới quá khứ . Nhập nguyên con cái tàn bạo của quá khứ vào hiện đại thì kết quả không tránh khỏi phải là những trại cải tạo, lò thiêu người và những cánh đồng chết .

    Như vậy chỉ còn cách "xét lại hiện đại" đối với tất cả các tư tưởng, bất kể đó là Khổng hay Mác .

    Thái độ đạp đổ hoặc chí ít nghi ngờ, đ/v tớ, hiện bây giờ là healthy. Chúng ta cần nó hiện nay để có đủ can đảm không xem nó như những thứ để trên bàn thờ bất khả xâm phạm. Sau này sẽ bình tâm lại mà gạn hết các thứ dơ -hơi bị nhiều- từ các tư tưởng đó .

    Chào bác LNP.

    Cám ơn bác đã trả lời, qua mấy chử của tôi "kinh dịch của Lão tử" ; bác đã không như "đám nho chùm" nhận bừa của Khổng, tôi cảm thấy vui khi trao đổi với bác. Tôi không nghiên cứu kinh dịch, nhưng có biết sơ qua nguồn gốc tam sao thất bổn của nó, bác nêu ra ông Lương Kim Định chứng tỏ rằng bác có thể ũng hộ ý tưởng nguồn gốc của kinh dịch vẫn còn là một ẩn số. Vậy ý bác là gì khi viết "Cứ nhìn lá cờ Hàn Quốc kìa, đậm đặc tinh thần Kinh Dịch đó, mà ai dám bảo dân Hàn "quỳ lạy" Tàu".?, phải chăng bác đã xác quyết kinh dịch là của Tàu ?

    Tôi trích dẩn Wiki cốt để bác thấy, ở Champa đạo Phật hưng thịnh hồi thế kỷ IX, nếu lý luận theo kiểu của bác thì có lẻ Đại Việt đã gồm thâu Chămpa, bằng văn hóa quân tử thắng văn hóa Arehat (Alahán, quả vị giác ngộ Phật giáo tiểu thừa) vào thế kỷ IX. Tôi được biết Champa mất nước là bởi các mâu thuẩn dòng họ, mâu thuẩn tôn giáo chứ không phải do người Chăm "tu giỏi". Tuy nhiên, tôi vẫn không đưa ra ý kiến cá nhân ( được học qua trường lớp ). Lịch sử không thể suy diển theo ý kiến cá nhân (dẫu của thầy cô giáo ), cho nên buộc phải trích dẩn wiki với bác. Wiki chưa hoàn toàn đúng nhưng ít ra có nhiều người chấp nhận, hơn là tôi với bác tự ngộ.Nói đến việc trích dẫn wiki ắt bác sẽ hiểu ý của tôi khi viết "kinh dịch của Lão tử". Dốt, viết bừa hay dò xem ý tứ của bác, tùy bác phán.

    Tôi không phê phán Nho trên điểm đứng đạo Phật (áo vàng ) hay đạo Chúa (áo đen) như bác nhắc.
    Tôi không muốn dân tộc Việt đi vào vết xe đổ của Champa, nhất là vào lúc này.

    Về câu phán "quân xử thần tử.....bất hiếu", tôi không mất công truy tìm Khổng nói nó ở đâu, sách nào. Vì sao ? Bởi lẻ => Bác viết kẻ tùy tiện vận dụng Khổng học, nói ra câu bất nhân....là Nho sĩ Đổng Trọng Thư. Như thế, hệ thống tư tưởng của Khổng đã tồn tại một lổ hổng quá lớn, đã để lại cho Nho sinh đời sau bẻ ngoặt tư tưởng 180 độ, từ tư tưởng nhân trở nên bất nhân, như vậy thì Khổng tử không nên được ca tụng là một nhà giáo dục lớn.

    Trên diển đàn này, tôi có 1 phản hồi đã đăng. Qua đó, tôi trích trong chương Khổng tử của sách điện tử Sử ký Tư Mã Thiên, ở phản hồi đó tôi không phê phán Khổng mà chỉ viết "nhận định Khổng như thế nào tùy các còm sĩ". Lý do, tôi biết rằng ở TQ thời Mao, họ đã phỉ báng Khổng, có thể sách điện tử Sử ký Tư Mã Thiên mà VN dịch lấy từ nguồn Sử ký Tư Mã Thiên do CSTQ thời Mao phát hành. Bẻ cong lịch sử, bôi bát lịch sử là nghề của chàng CS. Tôi không có Sử ký Tư Mã Thiên thời trước Mao ( mà dẫu có cũng bó tay, i tờ rít chử Tàu ), ở đây tôi xin post lại, mong bác LNP thấy có gì không đúng, chỉ giáo cho.(Những dòng chử đậm là của tôi ).

    Khổng tử tự sướng

    Một hôm Diệp Công hỏi Tử Lộ : - Khổng Tử là người như thế nào? Tử Lộ không biết trả lời ra sao. Khổng Tử nghe vậy nói: - Này anh Do, tạo sao anh không trả lời như thế này: con người ấy học đạo không biết mỏi, dạy người không biết chán. Khi chưa biết đạo thì phát phẫn đến nỗi quên ăn, khi biết đạo thì vui đến nỗi quên lo, không biết tuổi già sắp đến.

    Nói lời phải giử lấy lời của Khổng tử.

    Phật Bật là quan cai trị đất Trung Mâu, Triệu Giản Tử đánh họ PHạm, họ Trung Hàng, và đánh Trung Mậu. Phật Bật làm phản sai người mời Khổng Tử. Khổng Tử muốn đến. Tử Lộ nói: - Do này nghe thầy nói: "Người làm việc không phải thì người quân tử không vào nước của họ". Nay chính Phật Bật làm quan cai trị đất Trung Mâu làm phản, tại sao thầy lại muốn đến? Khổng Tử nói: - Ta có nói như vậy thật đấy. Nhưng chẳng phải ta có nói rằng "cái mà thật cứng thì mài cũng không mòn; cái mà thật trắng thì bỏ vào thuốc nhuộm cũng không đen. Ta không phải vỏ quả bầu, sao chỉ có thể treo lên mà không thể ăn"?

    Con chó của nhà có tang.

    Khổng Tử đến nước Trịnh, thầy trò lạc nhau. Khổng Tử đứng một mình ở phía đông cửa thành. Có người nước Trịnh bảo Tử Cống: - Ở phía đông có một người trán giống Nghiêu, cổ có vẻ Cao Dao, vai ông ta giống Tử Sản, nhưng từ lưng trở xuống thì kém vua Vũ ba tấc, có vẻ băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang. Tử Cống nói thực với Khổng Tử. Khổng Tử mừng rỡ cười mà rằng: - Hình dáng bên ngoài là việc vụn vặt, nhưng nói "giống như con chó của nhà có tang" thì đúng làm sao! Đúng làm sao!

    Khổng tử ngụy biện

    Năm thứ 14 đời Định công, Khổng Tử 56 tuổi, rời chức tư khấu, quyền giữ chức tướng quốc. Thấy Khổng Tử có vẻ mừng rỡ, một người học trò nói: - Tôi nghe thầy nói: "Người quân tử khi tai họa đến thì không sợ, khi phúc đến thì không mừng". Khổng Tử nói: - Câu nói ấy cũng có đấy. Nhưng chẳng có câu: "Vui vì ở địa vị cao quý mà khiêm tốn đối với mọi người" hay sao?

    Lời thề của Khổng tử.

    Người đất Bồ sợ hãi, bảo Khổng Tử: - Nếu ông không đến nước Vệ thì chúng tôi sẽ cho ông đi. Khổng tử cùng họ ăn thề. Họ cho Khổng Tử đi ra phía cửa đông. Khổng Tử liền đến đất Vệ. Tử Cống hỏi: - Có thể phụ lời thề được sao? Khổng Tử nói: - Đó là vì ta bắt buộc phải thề cho nên quỷ thần không nghe.

    Đạo của Khổng tử trên thực tế.

    Kiệt Nịch nói ( với học trò Khổng tử ): - Thiên hạ như nuớc chảy cuồn cuộn đều thế cả, ai mà thay đổi được? Vả lại ông theo một kẻ sĩ lo tránh người chi bằng theo một kẻ sĩ lo tránh đời.(hết trích Sử ký Tu Mã Thiên)

    Trích phần Kiệt Nịch này, tôi không đồng quan điểm chi bằng lo tránh người để tránh ngộ nhận, trích để thấy người đương thời Khổng đánh giá ông ta là một kẻ sĩ lo tránh người.

    (KT) Ta chạy vòng vòng, (KT) ta chạy vòng quanh, nào có hay trời cạn, nào có hay cạn trời...

    Chào đại ca Tuấn,

    Nho giáo hay là Thể Chế?

    Thật ra, vị thủ lãnh đại tài của phong trào thoát Trung triệt đề là đồng chí Mao Trạch Đông. Người đả dẩn dắt nhân dân Trung Quốc làm cuộc cách mạng Bài Phong Đả Khổng, long trời lở đất, quét sạch mọi tàn dư phong kiến, đập tan, đốt phá mọi vật thể liên hệ tới Nho Giáo.

    Kết quả: Sau phong trào thoát Trung, nhân dân Trung Quốc thành nửa người, nửa thú.

    ------

    Từng là học trò dưới mái trường XHCN, nên tôi biết nền giáo dục của Ta là dạy học trò phê phán, chê bai mọi tổ chức không phải cộng sản, nào là Tư Bổn giãy chết, Mỹ Ngụy mổ bụng trẻ em, Công Giáo theo Tây, Sài Gòn 500,000 gái điếm…và tất nhiên phong kiến và Nho Giáo.

    Đọc lịch sử mới biết, nhà Sản mới bế môn tỏa Cãng, chứ nhà Thanh không có bế môn tỏa Cãng. nhà Sản mới là bài phương Tây triệt để, chứ Nhà Thanh đả học tập Tây Phương, hiện đại hóa quân đội, cải cách thề chế…Thí dụ: 100 ngày cải cách của vua Quang Tự.

    Tất nhiên, nền giáo dục Việt Cộng đâu có dậy mấy cái này.

    ---------

    Alan Greenspan, trong cuốn The Map and the Territory, viết rằng là 200 năm vừa qua, phương tây đả có nhửng tiến bộ cực kỳ ấn tượng trong đời sống vật chất là nhờ Pháp Luật, sự bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền tư hữu.

    Nhân dân phương tây đâu có tính chuyện thoát Thiên Chúa Giáo đâu, mà làm Kách Mệnh liên niên. Thí dụ: Chỉ riêng tại Pháp, sau Cách Mạng Pháp, thì tới cuộc cách mạng 1848 (cuộc cách mạng 1848 trở nên bất tử nhờ tác phẫm bất hủ của VicTor Hugo, Những người khốn khổ), rồi cuộc cách mạng Công Xã Ba Lê… để có Pháp Luật, quyền con người, quyền tư hữu.

    ---

    Nếu thế kỷ 19 là thế kỷ Nhân dân phương tây làm Kách Mệnh dể dành quyền con người, thì thế kỷ 21 sẻ là thế kỷ Nhân dân Trung Quốc làm Kách Mệnh để dành quyền con người.

    --

    Thoát Trung là tạo ra hỏa mù để Nhân dân quên làm Kách Mệnh để dành quyền con người.

    Bác Tuan 34344,

    Tôi nghĩ rằng, khi Khổng tử tại thế độ hơn 5 tk TTL, chưa có khái niệm nước Tàu gồm thâu đa quốc như từ Tần Thủy Hoàng.
    Ông là người Lỗ, khi thiên hạ bị bạo lực lần hồi quy tập, các nhà cầm quyền mới gom hết văn hóa sáng đẹp khắp nơi nhận là của dân tộc Hoa (sau này VN ta gọi là Tàu). Vậy nguồn cội Khổng học vốn từ Lỗ, mà thành của chung các dân tộc đã chọn nó. Ngày nay, thế giới quen gọi vậy, chứ khi khi KT dạy học,học trò ông từ đa quốc gia (thiên hạ) tìm đến thọ giáo.
    Thật ra, nội dung Nho học, đâu phải đều do Khổng sáng tạo?
    Nó là cái văn hóa có trước rãi rác trong thiên hạ mênh mông đa quốc gia mà Khổng tử có công thu về, hệ thống sắp xếp theo tầm nhận định và chủ trương cứu đời của ông là phần chính.

    Trong ngũ kinh,
    1) Kinh Thi là những ghi chép các phong dao, dân ca khắp cùng thiên hạ có tự bao đời trong các sắc dân.

    2) Kinh Dịch, là sách khó học nhất, vì không diễn tả bằng chữ, chính KT đến già ngót 70 tuổi mới lần đầu được đọc. Ông đã say sưa nghiền ngẫm đến nỗi sách 3 lần đứt cả dây da (lời KT nói, xưa sách chép ký hiệu quẻ trên thẻ tre kết bằng dây da). DỊCH lưu truyền trong dân, đặc biệt trong dân Lạc Việt, như tên gọi Lạc Thư mà người Tàu đành không sửa được tên dù rất muốn. Lạc Việt có vua Lạc Long, ruộng Lạc điền, văn quan Lạc hầu, võ quan Lạc tướng, lê thứ Lạc dân, và thế giới quan kinh Dịch hậu thiên Lạc thư (sách của người Lạc)có truyền thuyết trên dòng Lạc thủy. Người Lạc gắn với Nước, lúa nước, cha Lạc Long là ẩn dụ dòng sông (Long, như Cửu long là 9 rồng, nên truyền thuyết nói cha Lạc Long thường ở thủy phủ, và Lạc dân là con rồng cháu tiên).

    Kinh Dịch là thứ KT may mắn đến già mới được học, thấy ảo diệu minh triết bèn san định chú thích để dạy lại học trò, chứ kinh này chẳng mắc mớ gì là của KT mà nay cứ đổ riết cho ông ta, rất đỗi hồ đồ!

    3) Kinh Xuân Thu, chỉ kinh này mới chứ đựng sáng tác luận bàn chính sự nước Lỗ một cách có chủ ý chọn lọc.

    4) Kinh Lễ & Nhạc cũng của dân gian, ghi nhận các nghi tiết nhân văn giao tế vốn đã lâu xưa trước Khổng tử. Phương Đông vốn nội cương ngoại nhu, bề ngoài mềm mỏng (Nhu, Nho) để kín đáo che giấu bên trong, nên ưa lễ tiết cẩn trọng, y phục thùng thình để che kín thân động, vái chào khiêm cung để chế ước vọng động nội tại...

    5) Kinh Thư, chỉ là san định bố cục lại những ghi chép có trước, về các triều đại từ huyền sử cổ sơ đến cận đại hiển sử (so với thời KT). Cần biết rằng, các ghi chép ấy là ghi chép việc thiên hạ khắp nơi, trong đó có nhiều điều thuộc về các bộ tộc Việt ở phía Nam Trường giang ( Nghiêu/Thuấn), ví dụ. Ngày sau, Tàu gom 2 vị vua có đức lớn này vào lịch sử tổ tiên họ để tự hào. Thật ra, truyền thuyết về 2 ông kèm giai thọai Hứa Do - Sào Phủ, đều nằm ở địa bàn lưu vực sông Dương tử của Bách Việt. Thế nên, họ là những nhân vật thuộc chủng Việt cổ. Đế quốc Tàu, như vậy, đã thôn tính cả văn hóa và lịch sử các tộc người.

    Cũng như, giả sử đế quốc La Mã mà tồn tại đến nay, ắt thế
    giới nghĩ rằng tín ngưỡng và văn minh Thiên Chúa Giáo là của
    họ, mà kỳ thật là từ tín ngưỡng Do Thái, một thuộc địa khi đó.

    Qua đó thấy rằng, Khổng học là hệ thống văn hóa chung khắp đại lục đa quốc đa chủng mênh mông, ngay thuở ra đời nào của riêng ai? Ông Khổng sở dĩ được nhiều nước tôn sùng vì sự nghiệp giáo dục mà vinh danh là vạn thế sư biểu. Ông không là thầy riêng của nước nào, dân ở đâu cũng học được. Về sau cuộc đánh nhau, đồng hóa nhau, gồm thu nhau mà quen nghĩ là văn hóa Tàu, làm như thể có một nước Tàu quê riêng KT. Chẳng qua nước Lỗ nằm lọt vào vùng về sau bị Tần thôn tính mà thôi, trong khi Khổng học trước đó đã khai giảng bao lâu từ thời còn đa quốc. Chính vì thế, mặc dân Tàu giành độc bản quyền, Nhật- Hàn/Triều- Việt vẫn không việc gì mặc cảm. Chưa nói, trải mấy ngàn năm, Nho học không ngừng được vun bồi bởi Nho gia tứ xứ. Cũng như nền Tây Y, vốn gốc Hy Lạp, nhưng biết bao công sức đắp xây của toàn thế giới mới nên kích cỡ nguy nga hôm nay.

    Học Tây Y, có gì mà phải mặc cảm với Hy Lạp? Vấn đề đáng nói là nên hay không nên học vì tự thân giá trị của nó chứ không vì nó vốn từ đâu. Cái dở của nước đồng minh cũng không nên học, và ngược lại rất nên thu thập cái gì hay dù của kẻ thù.
    Văn minh cơ giới Tây Phương tạo ra súng đạn tân tiến, và dân
    Việt đã từng dùng súng đạn ấy đánh lại phương Tây. Nay lại càng cần học hỏi kỹ thuật của nền văn minh ấy biết bao!

    Cùng thế ấy, giá trị tự thân học thuật và con người ứng dụng học thuật không đồng một nghĩa. Tây Y cứu muôn người mà cũng có lúc làm chết người. Cứu được hay làm chết còn tùy bác sĩ. Bác sĩ khi hay khi dở, kẻ tốt kẻ xấu, có BS Trần đông A mổ cứu Việt - Đức thì lâu lâu cũng có BS ném xác bệnh nhân Thanh Huyền xuống sông. Hai sự kiện này là do con người BS chứ chẳng phải do Tây Y. Y học chỉ là phương tiện cứu người.
    Tương tự, Lê thánh Tông hay Lê chiêu Thống cùng dùng Nho như phương tiện trị quốc, trị ra sao là do con người mỗi ông.

    Nho đạo cũng như Y đạo, là con đường, là phương pháp. Y để cứu người, còn Nho thoạt cũng chỉ để cứu đời (trong bối cảnh các nước đánh nhau liên miên, lúc đó có rất nhiều môn phái xã hội học gọi là bách gia cùng tranh minh đua tiếng, muốn đưa ra giải pháp trị an thiên hạ, chẳng phải có mình Nho).

    Thiên hạ, trong tầm nhìn còn giới hạn khi ấy, giống cách hiểu như thế giới ngày nay. Nho học thời ấy cùng các học thuyết khác, cũng như học thuyết Montesquieur, Rouseau, John Locke, và cả Mác - Lê, cả Nieztche ...sau này bên Tây. Còn Thi - Thư - Dịch - Xuân thu hay Đại học - Trung dung - Luận ngữ thì cũng chỉ là sách vở, như Vạn Pháp Tinh Lý , Nguyên Tắc Phân Quyền, Tư Bản Luận ..., vậy thôi.

    Đa phần THẾ GIỚI NAY thích chọn Rousseau - Montes..., thì THIÊN HẠ XƯA ưa Pháp hay Nho hay Mặc ...là tùy nơi tùy lúc. Lịch sử là như vậy, cái xưa mà còn mặt tốt, lại vốn quen lâu đã thành thuần phong mỹ tục, sao lại vất hết?

    Các bác có lường hết hậu quả sau khi vất hết (giả sử có thể vất được)? Thật ra, đó là sự duy ý chí không tưởng, chẳng bao giờ vất được, chỉ là cảm xúc bồng bột nhất thời.

    Vất Nho, tức là vất luôn khả năng tìm hiểu lịch sử nước nhà. Không còn biết Nho, sao có thể hình dung xã hội VN xưa bóng dáng ra sao? Chẳng lẽ lại hồ đồ đem cái bụng Tây học hiện đại ướm vào dĩ vãng Á Đông để tỉ giảo, khác gì xách thước đo lòng?

    Còn như bác nào thích làm người vong bản, phủ nhận cả ngàn năm xã hội VN hàm triêm Nho giáo, thì tôi chẳng dám tiếp chuyện. Tôi không cổ súy cho ý tưởng Phục Nho, nhưng tôi muốn hiểu Nho để có thể cảm thông cùng ông bà và quốc sử trên mọi phương diện xã hội Nho giáo bấy giờ. Hiện đại không rời cổ đại như 2 thực thể độc lập, mà chỉ là những khúc sông có vị trí không/thời khác nhau, nhưng mang chung chất liệu NƯỚC chảy một dòng.

    Nền cổ văn VN, nền võ học cổ truyền VN, nền Đông Y VN, nền ẩm thực VN...đậm đặc Dịch Lý. Võ Taekwondo mang tên là quy luật vũ trụ, Thái Cực Đạo, theo Dịch học của người Triều Tiên xem như quốc túy, cố phổ biến toàn thế giới. Võ Karatedo, Không Thủ đạo, là bản thể Vô Cực trong ý niệm về vũ trụ, cũng từ Dịch lý mà dân Nhật tự hào.

    Hàn quốc và Nhật vì xu thế phát triển văn minh cơ giới của nhân loại thời đại này, nên đã nương theo quy luật vận động mà canh tân xứ sở cho phù hợp. Đó gọi là THỨC THỜI, mà THỨC THỜI là nội dung cốt lõi của Dịch học, như Nguyễn Hiến Lê gọi là "đạo của người quân tử". Nho, đề cao Dịch học lên hàng đầu kinh điển, Dịch là biến đổi. Biến đổi theo thời gian. Đạo quân tử, là biết theo THỜI mà thay đổi. Như vậy, NHO không bảo thủ ù lỳ mà chỉ có con người Nho sĩ bảo thủ ù lỳ làm trái sở học. Hàn - Nhật ngàn năm trong Nho đạo, sở dĩ quá khứ nghèo khó, thì cũng là chung trong toàn cảnh thế giới. Âu châu cũng mới khá lên vài thế kỷ gần đây, chứ xưa kia cũng bần cùng rách nát.

    Có nhiều Nho sĩ nhưng ảnh hưởng Đạo học do tam giáo đồng nguyên, nên cái tinh thần quân tử mạnh mẽ đã pha chất đạo sĩ cầu nhàn, ưa thủ thường an phận. Nhưng cũng chính các Nho sĩ Nhật - Hàn phát động cuộc canh tân Dịch động theo THỜI. Họ chính là các nhà Nho đúng nghĩa thời đại. Biết bỏ cái cũ đã lỗi thời, theo kịp cái mới đương thời, là tinh thần Dịch học như tên gọi của nó.

    Á châu cũng có lỗi hơi chậm chân biến dịch, nhưng đâu vì con người chậm chân mà quy tại học thuyết ù lỳ? Giáo dục VNCH có dạy ai làm CS đâu, mà vẫn có người theo CS? Nho, không hề rao giảng sự ù lỳ bất động, mà chỉ ra quy luật thường động cho quân tử nương theo.

    Tôi có thể chỉ ra vô số ca dao tục ngữ, lục bát trong Kiều, từng bài quyền thuật, mỗi thang thuốc ta, mỗi món ăn Việt... dậm đà lý Dịch. Nhưng đó, có lẽ chỉ nên thưa trên một diễn đàn học thuật chuyên sâu.

    Đôi lời quê vụng xin trò chuyện cùng bác Tuấn 34334.

    Thoát Chaina nghĩa là không cho phép mấy thằng Háng rộng dịch giùm chúng ta chữ " Chaina" ra là Trung Quốc, chữ Washington ra là Hoa Thịnh Đốn. Vì như thế là xúc phạm tiếng Việt. Hãy lọc nước Việt. hãy cởi trói nước Việt hãy độ tất cả bệnh hoạn chaina trong cơ thể nước Việt. hãy đọc Việt Nam Phật Giáo Lịch Sử của Nguyễn Lang. Hãy biết cái quá khứ của tổ tiên huyết thống và tâm linh chúng ta. Thí dụ hải tặc hiếp dâm bà nội mình thì mình cũng phải chấp nhận để tu và sống. Sống tức là tu. Cục đá có tu không?

    Kính bác Ong Cày,

    Hân hạnh được bác tiếp chuyện, dù quan kiến 2 chúng ta có phần khác biệt, tôi vẫn rất vui vì có bạn thảo luận đứng đắn.

    Cám ơn bác phân tách và phản biện nhiều đoạn, điều này cho tôi biết bác đọc còm cẩn thận. Có điều, tôi là Luong ngọc chứ không phải Lương Mạnh Phát ạ.

    Tôn trọng nhận thức của bác, khác nhau càng đa sắc chứ có sao đâu. Tuy nhiên, cũng có đôi điều tôi muốn nêu lại cho rõ:

    1) Còm tôi viết, là có ý nhắc nhiều bài báo khác nhau đã từng đăng nhiều nơi, cũng về đề tài thoát Trung này. Qua đó, mỗi t/g mỗi quan điểm, và trọng tâm thoát cũng không đồng nhất. Người này coi trọng thoát cái móng vuốt CS Trung Nam Hải, người xem thoát Khổng Nho là căn bản, người muốn thoát lệ thuộc kinh tế là chính, kẻ lại đòi thoát tất tần tật .v.v ...

    Tôi chỉ không đồng tình thái độ cực đoan bài Trung tất cả mọi lĩnh vực, không có nghĩa là không muốn thoát những hủ lậu có nguồn Trung Hoa ảnh hưởng lên VN ta lâu đời. Tôi có nói rõ rằng tôi không ủng hộ sự thủ cựu mù quáng.

    Về ý của từ "thoát", có lẽ cách hiểu của chúng ta không đồng nhất. Khi bảo miền Nam chẳng cần phải "thoát", tôi không tự mâu thuẫn gì như bác nghĩ. Không biết bác vô tình hay cố ý vận dụng phép phản chứng khi lý luận rằng đã muốn "thoát" tức là đã bị buộc rồi. Điều này tuy không phản logic, nhưng tôi có bảo miền Nam phải thoát đâu, để bác nghĩ là tôi mâu thuẫn? "Không cần thoát" ý tôi là vì không bị buộc trói, nên mới không cần( như bây giờ nhiều người muốn), dù miền Nam không bài Nho theo cách cực đoan. Không bài Nho một cách cực đoan không có nghĩa là ôm giữ khư khư cả phần cặn bã!

    2)Bác viết: "Kinh dịch của Lão tử có thể nói như là một thành quả của nhân loại"

    Thưa rằng, đây mới là sự nhầm lẫn lớn. Cổ lai, trong hàng ngàn trước tác, của hàng ngàn học giả Đông Tây, nguồn gốc Kinh Dịch từ truyền thuyết huyền thoại chứa nhiều ẩn nghĩa, cho chí những nghiên cứu hiện đại mấy chục năm nay, không hề có ai tìm thấy chứng tích tác giả bộ kinh này. Theo huyền sử, đầu tiên là phát hiện Hà Đồ do Phục Hy thấy được trên lưng long mã ở sông Hoàng. Sau lại phát giác Lạc Thư là những xoáy trắng đen trên mu rùa Lạc thủy, bởi Đại Vũ trong kỳ hồng thủy cửu niên. Đó là truyền thuyết khởi thủy của Lý học và Tượng số, đời Tam hoàng cách nay đã 5-6 ngàn năm.

    Gần đây, giới Dịch học VN, với nhiều nỗ lực đáng kính, đã từng bước giải được nhiều mật mã về xuất xứ bộ kỳ thư vô tiền khoáng hậu và độc nhất vô nhị này. Công việc thầm lặng này, ở miền Nam trước đây bắt đầu từ những suy tư uyên bác của cố GS Linh mục.Lương Kim Định. Tại miền Bắc, có GS.Hà văn Tấn không hẹn mà cùng chí hướng. Kế tục sự nghiệp to lớn này, giới Dịch học VN vẫn đang tham vọng đòi lại công bằng cho cội nguồn văn hóa Kinh Dịch trước ngộ nhận vạn niên của nhân loại, về danh dự tác quyền. Chưa hội ý họ, nên tôi không nêu tên tuổi ra đây, ai biết thì ắt đã biết, ai không dẫu có nói cũng bàng thừa.

    Chắc chắn là, Kinh Dịch có trước Lão tử ít cũng 3 ngàn năm, thời chưa có văn tự. Kinh Dịch vốn không có chữ. Chỉ hội ý qua tượng quái. Thời Lão tử, Xuân Thu, nước Sở đã rất văn minh, chữ nghĩa dồi dào, và tác phẩm duy nhất của ông được trình bày súc tích bằng văn chương sáng sủa, ĐĐK của ông ra đời sau cả bộ Luận ngữ/ Nho gia.

    Tóm lại, dù chỉ có vài dòng nhắc tới Âm - Dương, thứ nhất đó là vào thời đại bách gia, Lý học đã rất phổ biến, có cả học phái mệnh danh Âm Dương gia. Đông Y học vốn đặt cơ sở lý luận trên Dịch tượng và Dịch lý, cũng phát triển nhiều, Biển Thước là ví dụ. Kinh Dịch gồm 3 bộ, một đã thất lạc, chỉ còn Hà - Lạc cho đến ngày nay.

    Nhưng dù thế nào, bảo Kinh Dịch của Lão tử thì rõ là chưa biết kinh Dịch.

    3) Bác viết:"Trẻ em Âu, Mỹ cũng được giáo dục về lòng tự trọng ; công chức Âu, Mỹ cũng biết gánh trọng trách, biết từ chức ; phải chăng Âu, Mỹ học những điều này từ Tàu !?"

    Ồ, tôi có nói Âu Mỹ không được giáo dục về lòng tự trọng v.v... hồi nào đâu? Tôi chỉ nhận định những đức tính họ có ắt ảnh hưởng sâu đậm văn hóa quân tử. Bác có thể tìm hiểu vô số giai thoại đẹp về giới nhà Nho, Chu văn An, Đồ Chiểu ví dụ. Phương trời nào có nền nhân văn của phương trời nấy, tôi chưa có một lời chê bai Âu Mỹ, bác đừng nói vậy chứ. Tôi không bị mê hoặc đến nỗi vọng đông bài tây, mà chỉ muốn cách đánh giá thật công bằng trên cơ sở hiểu biết rõ về điều mình đánh giá. Tôi không thích hồ đồ, thế thôi bác ạ. Tôi cho rằng người Á Đông chịu ảnh hưởng sâu nặng Nho giáo về cả 2 mặt tốt/xấu. Tôi không cho là Khổng tử vĩ đại hơn Socrate, Cũng không nói Socrate vĩ đại hơn Khổng tử!

    4) Tôi nói Nhật - Hàn - Đài - Sing đâu có đòi "thoát" trong khi họ rất trọng phong hóa Nho mà vẫn không hề bị trói buộc lệ thuộc chính trị Tàu. Vì không hề bị cột buộc, nên họ không có nhu cầu phải thoát. Ý tôi, dù trọng Nho cũng không vì thế mà lệ thuộc. Rõ thế sao bác cứ phản chứng thoát/buộc làm chi!?

    5) Về trường hợp Chăm/Việt, đó là nhận định cá nhân tự cá nhân tôi, không mượn wiki như bác.Tôi cũng không nói Champa kém oai hùng trong lịch sử, họ cũng từng chặn được quân Nguyên, nhiều lần đánh phá Thăng long. Nhưng đó là nhờ nhân của các vị vua anh hùng trong từng lúc. Tôi nhìn thấy yếu tố thế giới quan siêu hình sẽ tác động mạnh mẽ lên nhân sinh quan người Chăm. Bà la môn hay Phật, chỉ khác ở cứu cánh rốt ráo Nirvane hay Bharma, còn lại thì đều tin lý nghiệp báo và luật nhân quả. Xin nói để bác rõ, nhân quả và
    nghiệp báo không là giáo lý của riêng đạo Phật như rất nhiều người tưởng. Chỉ biết tín ngưỡng vào giáo lý này, sẽ làm con người thuần hậu và bớt dục vọng tham tàn, chuộng an phận tri
    túc, ít cao vọng thế gian...là điều không thể cãi! Tôi muốn nói văn hóa chuộng siêu hình ưa thích hạnh phúc tâm linh, dù
    cao thượng giúp nhân loại hòa bình thân ái, nhưng đồng thời
    dễ bị văn hóa chuộng hiện thực- ưa tranh đấu- chấp lợi quyền thế tục...đánh bại.

    Tây Tạng là một xứ tu hành, dân chúng rất hiền ít tranh đua. Họ có thể rất hạnh phúc trong tín ngưỡng Mật tạng, và thật họ đã từng được an lạc như thế. Nhưng cũng vì thế mà chậm tiến (theo cách nhìn thế tục), nghèo vật chất, không giỏi hơn thua nên khi bị Tàu thôn đoạt, chỉ biết tự thiêu phản đối! Tôi chỉ nhận định mà không phê bình khen chê ai cả.

    5) Bác có thể chỉ giúp tôi, Khổng tử nói câu "Quân sử thần tử..." trong trường hợp nào không, được chép trong sách nào?

    Này bác, Khổng tử bình sinh không từng nói câu nào như thế. bác đừng nghe lời ông Nguyễn thanh Giang. Như tôi đã trình bày rất rõ mà bác không thấy, là các triều đại sau Tần, áp dụng ngoại Nho nội Pháp. Nho để giáo dụ làm ân, Pháp để cứng rắn thị uy. Mỗi triều đều tùy cá tính nhà vua và quần thần à uyển chuyển dụng Nho sai khác, thành ra có Hán Nho, Tống Nho.v.v.. Các Nho sĩ mỗi thời đều viết sách theo sở kiến và chủ trương chánh trị.

    Và, kẻ tùy tiện vận dụng Khổng học, nói ra câu bất nhân Quân sử thần tử thần bất tử bất trung-Phụ sử tử vong tử bất
    vonh bất hiếu", là Nho sĩ Đổng Trọng Thư, đời Hán Vũ Đế, cùng làm quan với Tư Mã Thiên, thế kỷ 2 TCN, sau Khổng tử những hơn 3 thế kỷ.

    Khổng tử dạy Nhân đứng đầu luân lý ngũ thường, làm gì có huyện phát ngữ bất nhân như thế? Vì thật ra, từ Hán Cao tổ, Nho bất đắc dĩ phải dùng chứ Lưu Bang vốn chẳng ưa Nho, ông ta thích tái lập Pháp trị kiểu Tần. Mãi đến đời vua cháu Vũ Đế, Đổng Trọng Thư vì muốn tôn Nho khi ông làm quan đại thần đầu triều, bèn thuyết phục vua trọng Nho bằng cách gieo rắc tư tưởng độc đoán để tăng uy quyền cho vua. Dân chúng bấy giờ ta thán sự hà khắc, Tư Mã Thiên viết rõ như vậy. Để bịt miệng dân than khóc, trấn an vua hoang mang, Đổng xui vua và lên kế hoạch xâm chiếm lân bang (trong đó có Nam Việt năm 111 TCN)để lạc hướng dư luận và tâng công cho vua thấy lợi ích của chính sách trọng Nho do Đổng bày ra.

    Khổng tử, bác nên nhớ là một nhà giáo dục lớn. Còn ĐTThư là một chính trị gia. Hai tính cách rất khác nhau.

    Cuối cùng, tôi muốn thưa là tôi viết còm bằng chính nhận thức cá nhân tôi không nói theo người khác. Và những gì tôi không biết, tôi chẳng liều mạng nói bừa ra vẻ ta hiểu biết.
    Qua bài của TS.NTG, cho thấy ngay cả ông cũng còn sai sót khi nhét câu nói phi luân trên vào miệng Khổng tử. Sẽ thú vị nếu như người thảo luận chỉ khen chê cái gì mình biết rõ.

    Còn chuyện bọn khựa đem Khổng tử chạy tứ tung viện đây viện đó, cũng là trò đểu chính trị không khác mượn Mác mượn Lê, rồi sẽ lại mèo đen mèo trắng mà thôi. Và, điều đó dĩ nhiên là nên chống. Nhưng đừng quên, đạo Phật không phải nhìn qua cái áo vàng, đạo Công giáo chẳng ví qua cái áo đen.

    Ong Cày viết:
    LMP (*) viết Lòng tự trọng cao độ của công chức cao cấp Hàn Quốc, biết tiến biết thoái, biết gánh trọng trách, biết từ chức, cũng từ chánh tâm quân tử mà có thái độ đáng kính đó. Trẻ em Âu, Mỹ cũng được giáo dục về lòng tự trọng ; công chức Âu, Mỹ cũng biết gánh trọng trách, biết từ chức ; phải chăng Âu, Mỹ học những điều này từ Tàu !? hay phải chăng dòng chử in nghiêng ở trên của người Hàn là do họ học từ Âu, Mỹ.

    Hề hề, có nhiều người cứ thấy cái gì Nhật và Hàn làm coi bộ ra hồn một chút thì bảo đấy là nhờ truyền thống Khổng giáo, hay là do hấp thụ văn hoá Tàu, còn những cái gì tệ hại mà hai nước ấy làm thì lại làm ngơ đi, không lôi ông Khổng vào ấy nữa. Trước khi Nhật tiếp xúc với văn minh Tây phương, nước Nhật rất lạc hậu, nghèo, lôi thôi lếch thếch, và hiển nhiên là lúc ấy ảnh hưởng của Tàu-Khổng mạnh hơn thời kỳ canh tân nhiều; tại sao không ai nói lúc ấy (thời sứ quân) người Nhật nhờ hấp thụ văn hoá Tàu mà duy trì được một xã hội phong kiến mà trong ấy người mạnh tước đoạt tài sản của người yếu?

    Có người lại thấy người Nhật, vốn thành công về mặt khoa học kỹ thuật và kinh tế, thường cúi gập người chào nhau, lại xuýt xoa bảo: "Ấy, đó là nhờ ảnh hưởng tốt của Khổng giáo mà họ thành công mau chóng như vậy. "Lễ" vốn xuất phát từ Khổng tử mà lị!"

    * LNP, chứ không phải LMP
    .
    .

    Trích viết:
    Cuối cùng, Đại Việt gồm thâu Chămpa, bằng văn hóa quân tử thắng văn hóa Arehat (Alahán,

    Tự nhiên đi đánh giặc, thắng trận lại bảo đấy là văn hoá này thắng văn hoá nọ, hay là "Nhập thế 'tích cực' đã thắng xuất thế 'tiêu cực'.
    Cái gọi là "Văn hoá quân tử" của VN hiển nhiên là di sản trực tiếp, hay là copycat, của Tàu. Người Tàu mà có văn hoá quân tử? Ngày nay chúng ta chỉ thấy tại nước Tàu một bọn người tham tàn, dối trá; còn trước đây khoảng hai trăm năm (trước khi CS nắm quyền) thì đó là xứ sở của gã ốm yếu ho hen, kèn cựa của châu Á. Tại sao không nói là nhờ Nho học mà gã Tàu bệnh hoạn được "nổi tiếng" trên thế giới như thế? Tại sao văn hoá Nho học "tích cực", "chuộng đời thực đua chen" lại bị bọn người man di, phi "quân tử" (Mông Cổ và Mãn Thanh) xơi tái dễ dàng như thế?

    .

    Tại sao lại bảo rằng "Có t/g chê nhà Hậu Lê đã lấy Nho làm tôn chỉ. . Thưa rằng do tinh thần ấy mà vua Lê thánh Tông được ca ngợi là đấng minh quân bậc nhất lịch sử. Lê Chiêu Thống"? Còn Lê Chiếu Thống (cũng nhà Hậu Lê) thì sao? Có chắc là tại vì hắn đã không chịu rèn luyện tinh thần Nho giáo cho nên mới mới trở thành ông vua đệ nhất ươn hèn trong lịch sử không?

    Vũ văn Mộc viết:
    Nền Văn minh, Văn hoá Trung Hoa có được ai theo đâu mà lo thoát ? Nó không có TƯ TƯỞNG, Hegel nhận định.

    Ái chà chà ! cái này thì đúng là 'ngoài tầm'. Nhờ bác 'triển khai' thêm cho em được khai sáng ạ, thật tình đấy !

    Kêu gọi "thoát trung", hàm ý VN đã bị "thuộc Trung". Ông NTG kêu gọi "cảnh giác với Bắc triều", hàm ý VN chưa "thuộc Trung". Để nhận định cụm từ nào đúng, chắc chắn phải trả lời "liệu VN đã thuộc Trung chưa ?"

    Với bối cảnh chính trị, kinh tế, ngoại giao, xã hội VN gần đây mà vụ HD981 là đỉnh điểm, tôi cho rằng "VN đã bị lệ thuộc Trung quốc", vậy yêu cầu "thoát Trung" là hoàn toàn đúng đắn. Lời kêu gọi "cảnh giác với Bắc triều" của ông NTG chỉ đúng với bối cảnh lịch sử cách nay hơn 60 năm, khi người Việt ngữa tay nhận súng đạn từ China để tìm độc lập trong chiếc bóng nô thuộc.

    Với còm của bác Lương mạnh Phát, tôi xin được trao đổi :

    LMP viết Cứ nhìn lá cờ Hàn Quốc kìa, đậm đặc tinh thần Kinh Dịch đó, mà ai dám bảo dân Hàn "quỳ lạy" Tàu, khi ngày ngày họ nghiêm trang kính cẩn chào lá cờ ấy? Ai dám bảo dân Hàn kém ý thức quốc gia dân tộc? Ai dám bảo Hàn Quốc nô lệ văn hóa Tàu?.

    Thưa với bác, China có bề dày lịch sử văn hóa to lớn, họ có nhiều danh nhân văn hóa. Tuy nhiên, đã từ lâu Tàu không chọn ông Lão tử như là nét đặc trưng cho tính cách Tàu. Kinh dịch của Lão tử có thể nói như là một thành quả của nhân loại, nó không đem lại cho con người sự u mê "quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" như của Khổng tử, một nhân sinh quan đang được nhận làm đại diện cho tính cách Tàu.

    LMP viết Miền Nam chủ trương khử thô thủ tinh nền cựu học, gạn lọc tinh hoa mà bảo lưu Nho Giáo làm nền trong bước học hỏi Âu Mỹ.
    Tôi nhận biết bác LMP là người trưởng thành ở miền Nam trước 1975, vậy có lẻ bác đã biết câu nói đùa rất phổ biến ở miền Nam trước 75 "nhân bất học, bất tri lý; nhỏ không học lớn làm đại úy". Tôi thấy rỏ cái xã hội chủ trương khử thô thủ tinh nền cựu học như bác viết đã bị lung lay tận gốc rể, trước ngọn gió "tây" vẫn cứ ôm cái mộc nho gia lụn bại đã đem lại cho xã hội miền Nam trước 75 những mâu thuẩn không thể giải quyết được. Chính điều này đã làm cho nhân tâm người miền Nam phân hóa, một môi trường tốt đẹp cho CS tuyên truyền.

    LMP viết Lòng tự trọng cao độ của công chức cao cấp Hàn Quốc, biết tiến biết thoái, biết gánh trọng trách, biết từ chức, cũng từ chánh tâm quân tử mà có thái độ đáng kính đó. Trẻ em Âu, Mỹ cũng được giáo dục về lòng tự trọng ; công chức Âu, Mỹ cũng biết gánh trọng trách, biết từ chức ; phải chăng Âu, Mỹ học những điều này từ Tàu !? hay phải chăng dòng chử in nghiêng ở trên của người Hàn là do họ học từ Âu, Mỹ.

    LMP viết Miền Nam luôn canh cánh mối cảnh giác Trung Hoa, thường xuyên trau giồi quốc sử kháng Tàu. Đầu năm 74, cả miền Nam sôi sục căm hờn trận cướp Hoàng Sa.
    Chẳng cần "thoát Trung" "thoát Hán" gì cả, tinh thần tự chủ độc lập vẫn ngời ngời hào sảng.
    Bác đã tự mâu thuẩn với mình khi viết câu này. Thường xuyên trau giồi quốc sử kháng Tàu làm cho con người miền Nam ( trước đây ) không lệ thuộc Tàu thì làm gì còn có chuyện "thoát Trung" "thoát Hán".

    LMP viết Nhật, Hàn, Đài, Sing và cả VNCH xưa, chẳng ai đòi "thoát", mà họ có lệ thuộc chính trị Tàu lục địa đâu?Vấn đề căn bản => có lệ thuộc rồi mới đòi thoát, chẵng ai đòi thoát khi chưa bị lệ thuộc. OK

    LMP viết Đại Việt trong quá trình dài lâu cọ xát với Chămpa: tức cái tinh thần Nho giáo với đạo quân tử nhập thế thực tế, đã giao dịch cùng tinh thần Alahán thoát tục siêu thế của Phật giáo nguyên thủy. Cuối cùng, Đại Việt gồm thâu Chămpa, bằng văn hóa quân tử thắng văn hóa Arehat (Alahán, quả vị giác ngộ Phật giáo tiểu thừa). Nhập thế "tích cực" đã thắng xuất thế "tiêu cực".Thưa, Đạo Bà la môn du nhập vào Chăm Pa từ khoảng thế kỷ thứ II, III, tồn tại và biến đổi trong cộng đồng người Chăm cho đến ngày nay. Trong các thế kỷ XII-XVI, hoạt động hàng hải của người Chăm phát triển mạnh họ tiếp xúc mua bán với các nước Indonesia, Malaysia, Malacca (là những nước theo Hồi giáo) Hồi giáo bắt đầu vào Chăm Pa theo con đường này. Phật giáo do những thương gia Ấn Độ du nhập vào Chăm pa từ những năm trước công nguyên, phát triển và hưng thịnh nhất vào thế kỷ thứ IX. ( https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4n_gi%C3%A1o_c%E1%BB%A7a_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Ch%C4%83m).
    Ba thế kỷ sau sự hưng thịnh của Phật giáo ở Champa. "Năm 1167, Jaya Indravarman IV (sử Việt gọi ông là Chế Chí) lên ngôi vua Chăm Pa. Tài liệu văn bia mô tả ông dũng cảm, sử dụng thành thạo mọi loại vũ khí, và thông hiểu triết học, thuộc hết các lý lẽ Dharmasutra (một kinh Ấn Độ giáo) và các học thuyết Phật giáo Đại thừa. Sau khi thiết lập hòa bình với Đại Việt năm 1170, vua Jaya Indravarman đã đánh sang Khmer. Năm 1177, một lần nữa quân đội của nhà vua đã bất ngờ tấn công thủ đô Khmer là Yasodharapura từ các thuyền chiến đi ngược sông Mekong đến hồ lớn Tonle Sap ở Khmer. Quân Chăm đã chiếm thủ đô Khmer, giết vua Khmer, và mang về nhiều chiến lợi phẩm".(https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Ch%C4%83m_Pa). Trích dẩn thế này để bác thấy Champa mất nước không vì văn hóa quân tử thắng văn hóa Arehat.

    LMP viết Để phong phú văn hóa ẩm thực, có thể đưa vào thực đơn thêm món bánh mì, nhưng cơm vẫn phải giữ. Bỏ hẳn cơm, chẳng lẽ ăn bánh mì với cà pháo hay canh chua cá lóc? Tập Cận Bình với "giấc mơ Hoa", người CSTQ đã biết chọn Khổng tử để bọc lót cho mớ lý thuyết Mao-ít đang lổi thời, tiếp tục độc tài. Có lẻ không bao lâu nửa, bác sẻ nhìn thấy Hoàn cầu thời báo thuyết giảng Khổng tử hay gấp trăm lần những gì bác đã biết. Họ càng thuyết giảng Khổng tử bao nhiêu, họ càng lấn đất, lấn biển, lấn thị trường của VN bấy nhiêu. Cơm đã thiu, đổ đi đừng tiếc, ăn vào chỉ tổ bị Tào Tháo rượt.

    Nền Văn minh, Văn hoá Trung Hoa có được ai theo đâu mà lo thoát ? Nó không có TƯ TƯỞNG, Hegel nhận định. Nó tràn ngập cho đến hôm nay ở Việt Nam dưới dạng một Kĩ nghệ giải trí bình dân, phim ảnh, tiểu thuyết,sách báo, tượng thờ, mê tín, đồng bóng, Chùa chiền...Vài câu nói nhảm nhí của mấy Bác thâm nho trong bàn nhậu, vài bài viết của Sĩ phu bàn về cái Thế Chiến quốc, Thế Xuân Thu, Thế thoát Tàu...
    Cái cần là thoát Bác và thoát Xác.

    Sáng thức dậy, vào đọc các ý kiến của quý vị độc giả, tôi xin nói thêm chút nhận định cá nhân.

    Có bài báo quy những tính cách lỗi thời trong giao tế giữa người và người thời xưa, những u trệ một thời bảo thủ, rồi đổ tội cho Nho, bài bác Nho thiếu tình người- biến người thành công cụ.v.v...

    Thật ra, nếu Phật xây nền giáo lý trên đức Từ Bi, Chúa rao giảng Bác Ái, thì Nho chủ trương Nhân Ái "Tứ hải chi nội giai huynh đệ dã".

    Nhìn qua khu vực Nam Á, Ấn cách Tàu bởi trùng điệp núi non Hi Mã Lạp Sơn, thành 2 cái nôi văn hóa đặc thù riêng. Dân Ấn và dân các nước trong vùng ảnh hưởng đậm sâu lý tưởng siêu thực Ấn, khác với Tàu tuy cũng có Lão học nhưng chỉ một ít trí thức ưa thích.

    Trước cả Nho, văn hóa Ấn đã có Lễ của họ. Các học trò đều quỳ và chắp 2 bàn tay lạy thầy, cùng thế ấy dân lạy vua, người chào người. "Quỳ lạy" không hề là áp đặt của Nho như có t/g hồ đồ quy tội làm hèn nhân cách. Rõ ràng, văn hóa Phi Nho vẫn ưa quỳ lạy, đâu cứ là Nho?

    Người Á Đông nói chung, chào nhau bằng bàn tay trái xòe (tượng trưng cho Dương, Trời) bọc lấy bàn tay phải nắm lại (tượng cho Âm, Đất) theo vũ trụ quan Dương động Âm tĩnh, Dương che chở lãnh đạo Âm, Trời bao bọc Đất, như vua lãnh đạo dân, phu xướng phụ tùy...). Rõ ràng, người Á Đông trong vùng Nho trị, chấp nhận sự đương nhiên cuộc đời vô số cặp mâu thuẫn, cùng hỗ căn tồn tại. Đó là tư tưởng nhập thế tích cực, chấp nhận cõi Ta bà dịch động thị/phi phải trái.

    Đến tận ngày nay ta vẫn thấy dân các nước ảnh hưởng Ấn vẫn giữ Lễ riêng. Do vũ trụ quan 2 trong 1, hiện tượng là 2 nhưng bản chất tức Sự Thật - Chân lý là 1, nên lý tưởng sống là để "quy y" về bản chất vũ trụ mà 2 bàn tay nhị nguyên luôn chắp làm 1 gọi là Hiệp Chưởng. Văn hóa Ấn không thừa nhận cuộc đời giả tạm từng đôi phạm trù này là thật. Họ thích quay về thế giới tâm linh mà triết Ấn cho là chân lý - sự thật - bản thể vạn vật.

    Dù Nho dạy Lễ, nhưng Lễ đâu cứ phải là Nho, mới có?

    Ngược lại, sinh thời, có học trò vấn Khổng Tử về thế giới sau khi chết, ông đã dạy rằng cái sống còn chưa thể biết hết lo chi cái chết. Khi Hạng Thác đặt nhiều câu hỏi về hiện tượng tự nhiên thăm thẳm trời cao biển lớn, ông bảo Thác hãy hỏi việc Trước Mắt. Cái học thuật của Khổng (và môn đồ các thế hệ sau), rõ ràng chỉ xét hiện thực nhân sinh. Ông khuyên "Quỷ Thần, kính nhi viễn chi", không bác bỏ cũng không sa đà huyễn tưởng.

    Lúc sống, thời Xuân Thu, Khổng du thuyết 14 nước chư hầu,chả có vua nào trọng dụng Nho nên ông mới quay về dạy học.

    Nhà Tần kết thúc thế Chiến Quốc, diệt Nho tôn Pháp, thế mà thời Tần có ai dám không "quỳ lạy" vua Tần? Chính Tần thủy Hoàng lần đầu tiên trong lịch sử, gọi địa vị mình là Hoàng Đế, tự xưng là Trẫm.

    Nhà Chu trước đó, các đời thiên tử đều khá ôn hòa "dân chủ" với chư hầu. Gọi là Thiên tử như một ứng dụng thế giới quan, các nước vẫn được tự lực tự lập, thiên triều Chu rất ít quyền lực cứng với chư hầu, mà chủ yếu chỉ là cái trục văn hóa cho vạn quốc xoay quanh.

    Vua các nước chỉ khiêm xưng mình là Cô, hoặc Quả nhân, với ý mình là người cô quả lẻ loi chỉ vì phải làm vua, mà cả nước không có kẻ thứ hai. Đế là tư tưởng trịch thượng của Tần, phản ánh máu bành trướng thôn tính như họ đã làm với Bách Việt. Hán - Đường về sau ưa Pháp lắm nhưng khéo giấu bụng dạ, mỵ thiên hạ là Nho trị.

    Tần đổ, Hán lên thay. Bề ngoài trọng Nho nhưng bên trong sự thật cai trị bằng Pháp giống nhà Tần, gọi là Ngoại Nho Nội Pháp. Nền quân chủ thời Chu không tập quyền về tay thiên tử, thiên tử gọi là Vương (Chu Văn Vương, Thành Vương.v.v...) chứ không là Đế. Đế là sản phẩm Pháp trị, và do chủ trương Nội Pháp, mà từ Hán về sau tiếng là trọng Nho mà vua vẫn vừa xưng Thiên tử (như Chu) vừa xưng Hoàng Đế (như Tần)! Vẫn áp dụng chính sách cai trị trung ương tập quyền như Tần, giành quyền tuyệt đối.

    Vậy, xét kỹ, những hủ lậu độc tài phi dân chủ, những áp chế ngu dân mà ta lên án, là Pháp hay Nho?

    Pháp, không bao giờ có ý nghĩ Dân Vi Quý...Quân Vi Khinh. Đó là tư tưởng Nho! Chính Pháp học tiên Tần chủ trương coi dân là công cụ máy móc, là "thảo dân" tức cỏ rác. Chính sách Cộng Sản phần lớn bắt chước thuật của Vệ Ưởng, tướng quốc Tần triều. Họ ưa khen thưởng vật chất cho kẻ a dua, ưa trừng trị khốc liệt những ai trái ý. Thuật "tam gia - ngũ gia liên bảo" cứ 5 - 3 hộ ghép thành một tổ kiểm soát lẫn nhau để báo lên quan những ai "phản động" chính trị nhà Tần, sẽ được trọng thưởng vàng bạc. Dân tình do đó nghi kỵ nhau, ai cũng giả dối đóng kịch, mà hậu quả là sự sụp đổ chóng vánh và cái chết của Vệ Ưởng về sau như một quả báo gậy ông đập lưng ông.

    Chẳng ai dám nói thật cả. Dân dối quan, Quan dối Vua. Tần thủy Hoàng bị đám quan lại lừa mị chuyện thuốc trường sinh, vì đón ý thấy vua muốn thế! Thủy Hoàng chết cũng vì ngộ độc uống thuốc trường sinh dỏm, bởi sự gian dối hai chiều ấy.

    Các bác có thấy Pháp trị mà các triều đại Tàu & Ta che dấu dưới lớp Nho phong, có giống CS không? Chính trị Hộ Khẩu, tổ Dân Phố, tổ SX, tổ Đoàn kết, CS khu vực...báo cáo láo, dưới Nịnh - trên ưa nghe Nịnh...dân xạo quan, quan lừa dân...

    Chính vì quân chủ xưa đã cố tình giấu dao Pháp trong nụ cười Nho (Tiếu trung hữu đao), mà bây giờ người ta nhìn Nho với nhiều ác cảm phi lý tính.

    Nói nữa cũng không hết được, xin hẹn các bác dịp khác xin sẽ thưa tiếp.LNP.

    "Chủ nghĩa Mác-Lenin có cái phần xác rất thối tha với những đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản… nhưng có phần hồn khả dĩ thơm tho với những mộng tưởng; xóa áp bức, bất công, san sẻ tư bản về cho vô sản, thiết lập công bằng xã hội…"

    Tớ nhất trí với ý kiến này . Chỉ vứt bỏ phần xác của chủ nghĩa Mác-Lê, còn phần hồn ma vất vưởng mới xài được . Phần chính quyền chuyên chính vô sản là thối nát, cũng (rất) cần vất đi . Theo tớ, phần này phải vất bỏ đầu tiên .

    Tác giả Nguyễn Thanh Giang viết:

    Thay vì vận động “Thoát Trung” xin đề nghi nêu cao khẩu hiệu “Hãy cảnh giác với Bắc Triều”.

    "Hãy cảnh giác với Bắc Triều" thì đúng rồi nhưng từ bây giờ và về sau thôi! Vấn đề là đã quá muộn rồi, từ ngày có bác Hồ và ĐCSVN thì có "cảnh giác" không mà hậu quả Bắc thuộc và mất đất, mất biển đảo và có thể đưa đến mất nước thì rành rành rồi mà bây giờ mới kêu gọi "hãy cảnh giác với Bắc Triều" là sao? ? ? Cho nên nhiều người kêu gọi "Thoát Trung" là thoát Bắc thuộc, thoát mất thêm đất đai, biển đảo, thoát là một tỉnh của Tàu cộng chứ không phải kêu gọi "thoát" mọi thứ của Tàu.

    Tác giả lại viết:

    Trước tình hình một bộ phận trong giới lãnh đạo vẫn chủ trương tiềp tục coi Trung Quốc là bạn “4 tốt” “16 chữ vàng”, Mỹ là kẻ thù truyền thống; trước những nghi vấn xã hội: liệu Hoa Kỳ có thực tâm muốn liên minh với ta không, cần tổ chức nhiều cuộc Hội thảo, Tọa đàm nhằm giải quyết những vấn đề tư tưởng ấy. Từ đấy tạo sức ép để lãnh đạo phải từ bỏ ý đồ “ỷ Trung bảo toàn Đảng”, để vì dân vì nước mà “Khuynh Tây” và chủ động nỗ lực thiết lập liên minh với Hoa Kỳ.

    "Khuynh Tây" thì cũng đúng luôn! Nhưng vấn đề "chủ động nỗ lực thiết lập liên minh với Hoa Kỳ" thì ai chủ động? Nhân dân (các tổ chức XHDS) ư?, có ước muốn đấy nhưng làm sao "chủ động"? (đi tù dài dài); còn chờ ĐCSVN chủ động hả? ! ! ! (miễn bàn!). Lại nữa "Hội thảo, Tọa đàm nhằm giải quyết những vấn đề tư tưởng ấy. Từ đấy tạo sức ép để lãnh đạo phải từ bỏ ý đồ “ỷ Trung bảo toàn Đảng" ===> hội thảo, tọa đàm thì đã có nhiều rồi, tạo sức ép từ các "thế lực" bên ngoài thì đã và đang làm (chỉ hỗ trợ thôi, kết quả thấp, tiệm tiến!), tạo sức ép từ các "thế lực" bên trong thì "ôi thôi" cũng nhiều lắm!, nào là "viết, viết và viết" (hà hà như bài nầy!), nào là "thư ngỏ", "thỉnh nguyện thư", vân vân và vân vân . . . Tóm lại: hành động, hành động và hành động (việc nầy thì các TNLT đã làm, các "thế lực" bên trong thì chưa!).

    Thoát Á là đề tài của Nhật từ trăm năm trước, giúp Nhật hóa rồng.
    Với VN hiện nay, thích hợp là phải thoát Trung.
    Người ta thảo luận lý lẽ để hướng dẫn cho hành động thống nhất và đa diện, tổng hợp, thì... Cái ông Thanh Giang này lại lạc đề, ở chỗ nêu ra một biện pháp cụ thể. Tốt thôi, nhưng lạc đề.

    Ông đưa ra "cảnh giác". Cảnh giác là thái độ, chưa phải là hành động. Thoát trung thì phải hành động.

    Ví dụ, Tàu nó vẫn mời thành lập các viện Khổng Tử, ở VN vẫn có người ham. Vậy đây là một nội dung thoát Trung. Thảo luận đi, sẽ có cơ sở để đông người tán thành vứt cái viện khổng tử đi.
    Còn chuyện cảnh giác của ông Thanh Giang lại khác: Mày cứ việc thành lập viện Khổng Tử ở nước ta, nhưng tao luôn cảnh giác khi mày hoạt động.

    chuckn viết:
    KKD viết:
    Nhân tiện, xin bổ túc với Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG câu này: ”Cảnh giác với Bắc Triều” thì ông Hồ Chí Minh không đưa chủ thuyết Mao-ít về VN, không lấy tư tưởng MAO TRẠCH ĐÔNG làm kim chỉ Nam cho các hoạt động của ĐCSVN và nước VNDCCH trong những năm ông Hồ cầm quyền ở miền Bắc.

    CCRĐ 1954 là sự kiện cuối cùng VN vận dụng Tư tưởng Mao Trạch Đông! Các ông cứ hô hào 'đừng nghe ... nói, hãy xem ... làm'! Thế VN có làm 'Cách mạng Văn Hoá' như TQ dù bị mao Trạch Đông thúc ép hay không?

    Các ông hãy thôi cái trò gắp lửa bỏ tay người đi!

    Mẹ kiếp lịch sử lại đek thuộc nhưng lại lên lớp các ông các bà.

    Mẹ bố nó sau 1954, HCM làm cải cách ruộng đất và nhân văn giai phẩm và hậu quả của nó có thua gì Cách mạng Văn Hoá của Tàu và cái chủ thuyết cuả nó còn định huớng đến ngày nay với cái đuôi định huớng XHCN

    MỘNG HÁN TRIỀU
    Văng Chiêng Vạn Tượng lạc đường
    Bốc căng Băng Cốc nhún nhường ly khai
    Ai Lao Cám Bột rơi đài
    Ba Đình Vọng Các nhân tai láng giềng
    Đồng Chum cúm núm lửa thiêng
    Chiềng Mai té nước cử kiêng tháp mười
    Sa Va Na Khẹc trận cười
    Hán nô tam quốc theo người bất minh
    Bắc Kinh nam tiến lập trình đầu sai diễn Tập Cập Bình tác oai
    Lưỡi bò chín đoạn khó xài giàn khoan chưa thủng vội cài số lui
    Đông dương thất thế bàn lùi lân bang mở tiệc mừng vui MỸ về
    Phi Hàn Mã Nhật đam mê ngựa ông đi trước xe dê vi cường
    “Qua đèo thoang thoảng mùi hương” đem con bỏ chợ thảm thương mặc lòng
    Ao trong không chứa lòng tong lia thia cặn bả Mao hồng xụi lơ
    Asean rõ khéo trở cờ bạn bè tứ tốt chơi dơ rõ ràng
    Mục tiêu không chỉ VIỆT NAM MIÊN LÀO THÁI ẤN một bàn đạp chân
    TÂM THANH

    Nếu “Khuynh Tây” thì y' nghĩa của cuộc chiến ĐBP và chống Mỹ sẽ được nhắc đến trong lịch sử của đảng CSVN như thế nào nhể????? "Chống Tây" xong lại cũng chính Hồ chí minh rước Tây vào Hà Nội ngày 2/9, "chống Mỹ" rồi nay lại rước Mỹ để "chống Tàu". Lịch sử của nước VN chúng ta, từ khi có Hồ chí minh và đảng CSVN cho đến nay, cứ "chống" hoài sao???? Đúng là luẩn quẩn như cái "Đèn Cù". Lại còn phải kể đến đất nước bị tàn phá, bao nhiêu mạng người bị lùa vào 2 cuộc chiến tranh vô nghĩa, cũng chỉ vì chữ "chống" do Hồ chí minh và đảng CSVN luôn hô hào. Hy vọng "chống Cộng" sẽ là cái "chống" cuối cùng cho VN.

    KKD viết:
    Nhân tiện, xin bổ túc với Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG câu này: ”Cảnh giác với Bắc Triều” thì ông Hồ Chí Minh không đưa chủ thuyết Mao-ít về VN, không lấy tư tưởng MAO TRẠCH ĐÔNG làm kim chỉ Nam cho các hoạt động của ĐCSVN và nước VNDCCH trong những năm ông Hồ cầm quyền ở miền Bắc.

    CCRĐ 1954 là sự kiện cuối cùng VN vận dụng Tư tưởng Mao Trạch Đông! Các ông cứ hô hào 'đừng nghe ... nói, hãy xem ... làm'! Thế VN có làm 'Cách mạng Văn Hoá' như TQ dù bị mao Trạch Đông thúc ép hay không?

    Các ông hãy thôi cái trò gắp lửa bỏ tay người đi!

    Dân Việt có đất Việt, có trời Việt, đặt biệt có CÂY LÚA VIỆT. Chỉ cần "ngồi yên" trồng LÚA là dân Việt đủ một cuộc sống "sung túc" rồi. Dân Việt chỉ bị "rối ren" khi có "ngoại xâm" thăm viếng rồi "vọng ngoại", ham danh, hám lợi, chia rẽ, đánh nhau "u đầu sứt trán".

    Đảng CSVN chẳng phải của Dân Việt nhưng hiện hữu do "lịch sử" làm nên. "thoát Trung" là muốn thay đổi "lịch sử" để làm lại tính "chính danh" của Đảng CSVN đối với dân Việt.

    Bây giờ bác Giang bảo "khuynh Tây" thì khác nào làm lại một "lịch sử" "rượu cũ bình mới".

    Chỉ vì số dân Nga ở CH Crimea muốn trở thành "tự trị" thuộc Nga và họ đã làm được.(bởi lịch sử)

    Dân Việt luôn muốn là nước Việt đó là một điều chắc chắn, không bao giờ thay đổi.

    Phải CẢNH GIÁC VỚI MỌI NƯỚC NGOÀI . Đặt quyền lợi người Dân Việt lên trên hết khi đó "nhà nước " Việt phải biết làm gì là tốt nhất.

    PHẢI CẦN CÓ MỘT ĐẢNG MỚI (bởi nhân dân) CÙNG VỚI ĐẢNG CSVN (bởi lịch sử) THÀNH LẬP MỘT NHÀ NƯỚC MỚI THẬT SỰ CỦA DÂN, DO DÂN, VÀ VÌ DÂN VIỆT.

    Đồng ý với căn bản suy nghĩ của t/g NTG. Không việc gì phải hoảng hốt đòi thoát lung tung như nhiều bài báo bấy nay.

    Cứ nhìn lá cờ Hàn Quốc kìa, đậm đặc tinh thần Kinh Dịch đó, mà ai dám bảo dân Hàn "quỳ lạy" Tàu, khi ngày ngày họ nghiêm trang kính cẩn chào lá cờ ấy? Ai dám bảo dân Hàn kém ý thức quốc gia dân tộc? Ai dám bảo Hàn Quốc nô lệ văn hóa Tàu?

    Tôi e rằng chúng ta chưa bằng được người Hàn về tinh thần quốc gia cực mạnh của họ. Thời VNCH, giáo dục miền Nam lấy tinh thần Nguyễn công Trứ như một tấm gương lập thân cho thanh niên. Nguyễn công Trứ là một nho sĩ nhà nòi, bài bác các học phái khác. Ông từng làm câu đối chế giễu các sư sãi Phật Giáo, lúc đối ứng với một vị hòa thượng:

    HT: - Thuộc ba mươi sáu Đường kinh, không Thiên Địa Thánh Thần song thoát tục.
    NCT: - Hay tám vạn tư Mặc kệ, không Quân Thần Phụ Tử đếch ra người.

    Miền Nam chủ trương khử thô thủ tinh nền cựu học, gạn lọc tinh hoa mà bảo lưu Nho Giáo làm nền trong bước học hỏi Âu Mỹ. Tinh hoa là tinh thần nhập thế tích cực theo đạo quân tử. Thế mà VNCH là quốc gia dân chủ đa nguyên, tam quyền phân lập đang trên đà tiến bộ (thì bị CS phá sập). Cứ xem phim Hàn, nề nếp gia phong còn nặng óc thủ cựu hơn dân miền Nam VN nhiều. Ấy thế mà, họ dân chủ đã tới trình độ lôi cựu TT ra tòa. Lòng tự trọng cao độ của công chức cao cấp Hàn Quốc, biết tiến biết thoái, biết gánh trọng trách, biết từ chức, cũng từ chánh tâm quân tử mà có thái độ đáng kính đó.

    Bảo lưu tinh thần Nho giáo có chọn lọc,từ chánh phủ tới dân chúng không mảy may vì thế mà có óc nô lệ Tàu. Chữ Hán được dạy ở bậc Trung học, không phải vì vâng lệnh bạn 16+4 như bây giờ, mà chính vì bản thân tiếng Việt thân yêu. Dốt Hán tự, rất khó giỏi tiếng Việt. Thực tế là thế!

    Miền Nam luôn canh cánh mối cảnh giác Trung Hoa, thường xuyên trau giồi quốc sử kháng Tàu. Đầu năm 74, cả miền Nam sôi sục căm hờn trận cướp Hoàng Sa.

    Chẳng cần "thoát Trung" "thoát Hán" gì cả, tinh thần tự chủ độc lập vẫn ngời ngời hào sảng.

    Gần đây, có bài báo

    "Nhìn lại nền GD/VNCH, nỗi tiếc nuối khôn nguôi"

    được đông đảo bạn đọc xúc động. Nền GD ấy giữ rất nhiều phong hóa cổ truyền Á Đông, con người VNCH có căn bản đạo đức liêm sỉ hơn hẳn bây giờ. Nó na ná như xã hội Hàn quốc mà ta đang thấy.

    Chữ Hàn, chữ Nhật có nguồn gốc chữ vuông rất gần Hán tự. Tiếng đếm số, tiếng nói còn giao thoa với tiếng Tàu rất nhiều. Đó là lẽ tự nhiên, như người Âu miền Địa trung Hải ảnh hưởng Hy - La, chứ đâu còn phải nô lệ của Hy Lạp hay Roma, các cư dân gần gủi về địa lý đều ảnh hưởng lên nhau ở mọi mặt phong hóa, việc gì phải thoát Hy - La?

    Cái gì tốt đẹp ắt được chọn lọc bảo tồn, cớ gì phải thoát? Mà thoát làm sao được, cho nên hô hào thì dễ, mà có ai thử đưa cụ thể kế sách thoát gì đâu? Chẳng ai biết rõ cần thoát cái gì, thoát thế nào, thoát xong lấy gì thay thế? Nhật, Hàn, Đài, Sing và cả VNCH xưa, chẳng ai đòi "thoát", mà họ
    có lệ thuộc chính trị Tàu lục địa đâu?

    Có t/g chê nhà Hậu Lê đã lấy Nho làm tôn chỉ. Thưa rằng do tinh thần ấy mà vua Lê thánh Tông được ca ngợi là đấng minh quân bậc nhất lịch sử.
    Đại Việt trong quá trình dài lâu cọ xát với Chămpa: tức cái tinh thần Nho giáo với đạo quân tử nhập thế thực tế, đã giao dịch cùng tinh thần Alahán thoát tục siêu thế của Phật giáo nguyên thủy. Cuối cùng, Đại Việt gồm thâu Chămpa, bằng văn hóa quân tử thắng văn hóa Arehat (Alahán, quả vị giác ngộ Phật giáo tiểu thừa). Nhập thế "tích cực" đã thắng xuất thế "tiêu cực".

    Sống bên cạnh ông Tàu, mà không tương kế tựu kế, dĩ Nho trị Nho, thì có nước lên Thiên đàng hoặc vào Niết bàn chứ ở thế gian sao thấu!

    Vậy mà các bài báo, tôi lặng lẽ đọc cứ thấy nói lung tung, chưa thấy ai nhìn ra ưu thế Nho giáo trên phương diện thế tục đầy dẫy đua chen. Chính Việt Nho giúp Đại Việt bảo toàn và mở rộng bờ cõi ngàn năm, chứ không phải văn hóa nào khác trong lịch sử.

    Ngó qua láng giềng, tôi chạnh nghĩ, nếu thế giới không phẳng như hiện nay, không ai biết ai để có thể giúp nhau can thiệp mọi bất bằng, thì Nho Tàu chuộng đời thực đua chen sẽ thắng Ấn giáo siêu thực hiền hòa. Tàu sẽ thôn tính Ấn. Đời là thế, Ta bà là thế!

    Chỉ cần lấy ví dụ văn hóa ngôn ngữ thôi, chưa kể vô vàn thứ khác, nếu bỏ tiếng Hán Việt, vậy còn gì là tiếng Việt? Mất hết ngót 70% rồi, dân mình ú ớ như ngọng à? Khỏi viết lách sách báo luôn ư?

    Một comment là không thể nói tròn lời vẹn ý, tôi không hề có ý thủ cựu hủ nho. Nho, thật ra luôn được vận dụng uyển chuyển qua các thời kỳ. Vậy nên mới phân ra Hán Nho, Đường Nho, Tống Nho, Minh Nho, Thanh Nho...Mỗi thời đều có các danh nho soạn sách luận bàn. Nay vì Nho đã thành "cổ vật", chính trị không lấy làm tôn chỉ vận dụng nữa, nên ta có cảm giác Nho là những giáo điều bất biến hủ lậu.

    Với tinh thần khử ngụy tồn chân, Nho hoàn toàn không gây trở ngại cho bước tiến hóa Việt, mà "thoát" nó thì ta còn gì? Nói thoát Nho, thì từ thời bài Phong phản Khổng trước đây, những người CS Ta & Tàu thật ra đã thay thế văn hóa gì tốt hơn cho đất nước được chưa?

    Để phong phú văn hóa ẩm thực, có thể đưa vào thực đơn thêm món bánh mì, nhưng cơm vẫn phải giữ. Bỏ hẳn cơm, chẳng lẽ ăn bánh mì với cà pháo hay canh chua cá lóc?

    Tôi thấy ý tưởng "Khuynh Tây" tuy còn hơi mơ hồ nhưng là một ý tưởng độc đáo, có thể áp dụng để dân tộc ta thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn nô lệ-đấu tranh giành độc lập-độc lập-bán nước-nô lệ. Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 100 năm đô hộ của Pháp chúng ta thu hoạch nhiều hơn 1 ngàn năm đô hộ của Tàu. Mặc dù sự đô hộ của Pháp không thể gọi là "Khuynh Tây" nhưng yếu tố "Tây" ở đây đã cho thấy sự khác biệt. Tôi hy vọng là trong "Khuynh Tây" ta không thực hiện bằng con đường bán nước vì bán nước là nguyên nhân chính đẩy dân tộc ta vào vòng luẩn quẩn. Thay cho "bán nước" ta có thể tiếp cận theo hướng "cho thuê nước" (như Hồng Kong chẳng hạn), như vậy công cuộc "Khuynh Tây" của chúng ta sẽ dễ bề thực hiện hơn.

    Về việc ĐCSVN giành quyền thống trị, công bằng mà nói thì đó là sứ mệnh của họ. Chính họ đã mang lại độc lập cho Việt Nam. Sẽ không thuyết phục nếu mọi người phủ nhận vai trò của ĐCSVN. Chỉ có điều phải bàn là liệu sứ mệnh của ĐCSVN đã đến lúc kết thúc chưa.

    Còn về vấn đề "Cảnh giác với Bắc Triều" thì tôi nghĩ các nhà lãnh đạo VN có thừa cảnh giác. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ họ không còn lựa chọn nào khác.

    Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG viết bài này rất hay và sâu sắc, đáng ca ngợi. Tôi hoàn toàn đồng ý với khẩu hiệu HÃY CẢNH GIÁC VỚI BẮC TRIỀU (nguyên thủy do luật sư LÊ CHÍ QUANG đưa ra trong một bài viết của ông có tựa đề như vậy vào khoảng cuối thế kỷ 20, bài viết đã đưa ông vào tù suýt bị mất mạng vì bệnh tật). Nhắc đến câu này tôi thật sự thương nhớ và tri ân ông LÊ CHÍ QUANG.

    Nhân tiện, xin bổ túc với Tiến sĩ NGUYỄN THANH GIANG câu này: ”Cảnh giác với Bắc Triều” thì ông Hồ Chí Minh không đưa chủ thuyết Mao-ít về VN, không lấy tư tưởng MAO TRẠCH ĐÔNG làm kim chỉ Nam cho các hoạt động của ĐCSVN và nước VNDCCH trong những năm ông Hồ cầm quyền ở miền Bắc.