Đỗ Kim Thêm - Tư Bản Trong Thế Kỷ XXI

  • Bởi Admin
    13/08/2014
    11 phản hồi

    Đỗ Kim Thêm

    Giới thiệu sách: Capital in the Twenty-first Century, by Thomas Piketty, translated by Arthur Goldhammer, Belknap Press/Harvard University Press, 2014, 696 pp, $39.95.

    Bối cảnh

    Suy trầm kinh tế 2008, khủng hoảng tài chính, ngân hàng và nợ công gây hoang mang cho dân chúng về khả năng lãnh đạo của chính giới tại Hoa Kỳ và châu Âu và phương cách vận hành của nền kinh tế thị trường.

    Bất trắc kinh tế làm không ai tin là trước mắt sẽ có giải pháp hồi phục cho các nước phương Tây, cho giới trẻ thất nghiệp tại Tây Ban Nha và khả năng trả nợ cho Hy Lạp.

    Bất công xã hội lan rộng đến một mức độ báo động mà phong trào Occcpy Wall Street là một thí dụ và động loạn sẽ còn tiếp diễn. Triển vọng thăng tiến cho mọi người nay đã tiêu tan, vì chi phí giáo dục quá mắc hoặc thiếu động lực khích lệ. Giới trung lưu trí thức, một cột trụ chính cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường, đang co cụm.

    Ngược lại, khi thực lực kinh tế của Trung Quốc càng lớn mạnh làm cho mô hình “đồng thuận Bắc Kinh” và “tư bản nhà nước” thuyết phục được nhiều hơn. Theo lập luận này, các nước chậm tiến đang chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường cần tập trung cho các biện pháp mạnh để xoá đói giảm nghèo. Do đó, ước mơ phát triển dân chủ, cải cách chính trị và tôn trọng nhân quyền trong trường kỳ phải nhường bước.

    Trong bối cảnh bất an kéo dài này, những người ưu tư thời cuộc đã có hằng loạt các câu hỏi: Chủ nghiã tư bản sẽ đi về đâu? Hình thái mới của tư bản trong thế kỷ XXI là gì? Và đâu là giải pháp cho các vấn đề bất công xã hội?

    Học giới phương Tây đã có vô số các hội luận và lý giải cho các câu hỏi này, nhưng gần đây một tác phẩm đã gây nhiều tranh luận sôi nổi là Capital in the Twenty-First Century của Thomas Piketty, mà bài viết sau đây sẽ giới thiệu các luận điểm chính.

    Tác giả

    image001_41.jpg

    Thomas Piketty sinh ngày 7.5.1971 tại Clichy, Pháp. Ông theo học khoa Kinh tế tại École Normale Supérieure (ENS), trình luận án tiến sĩ tại École des Hautes Etudes en Sciences Sociale và London School of Economics với chuyên đề về phân phối tài sản. Từ năm 1993 đến 1995 ông phụ giảng tại Massachusetts Institute of Technology (MIT), Hoa Kỳ. Năm 1995 ông là thành viên nghiên cứu thuộc Centre National de la Recherche Scientifique (CNRS) và 2000 ông là Giám Đốc của École des Haute Études en Sciences Sociales (EHESS). Từ năm 2007 ông giảng dạy tại Paris School of Economics.

    Ông nghiên cứu chuyên về phân phối lợi tức, phân phối tài sản và công bình xã hội. Hợp tác với các chuyên gia nổi danh khác là Anthony Atkinson (Oxford) và Emmanuel Saez (Berkeley) ông đã trình bày về bất công xã hội tại các nước công nghiệp phương Tây từ năm 1940 đến 1970. Với nhiều sách và luận văn kinh tế ông nhận được giải thưởng Prix de meilleur jeune économiste de France (2002) và Yro-Jahsson Preis (2013). Nhưng với tác phẩm Capital in the Twenty-First Century, do Harvard University Press xuất bản năm 2014 ông là tác giả nổi danh, vì tác phẩm này đang bán chạy nhất và được thảo luận sôi nổi tại Hoa Kỳ và Tây Âu.

    Tác phẩm

    Tư bản trong thế kỷ XXI là một luận đề mà Piketty giới thiệu những hình thái mới của tư bản tạo bất công xã hội và đề xuất giải pháp san bằng trên căn bản toàn cầu. Ông nhận xét là dù đề tài tích lũy tư bản thành tích sản và di sản không được kinh tế gia đương đại quan tâm, nhưng hiệu ứng lại quan trọng hơn là tài sản được làm ra và tiết kiệm.

    Đồng ý với Marx tư bản là một yếu tố sản xuất, nhưng ông không dừng lại ở các khái niệm thặng dư giá trị và bóc lột nhân công để giải thích. Tích lũy tư bản là hình thái mới vì nó không là một tiến trình do tiết kiệm, đầu tư và tạo lập tài sản mà David Ricardo và John Stuartz Mill đề cập.

    Piketty định nghiã tư bản là khoản thu được tính thành tiền và có thể có nhiều hình thức khác nhau, thí dụ như động sản, bất động sản, doanh lợi do cổ phiếu chứng khoán, lãi xuất công khố phiếu, bồi thường và các thu khoản đủ loại do lợi nhuận từ tư bản.

    Một yếu tố khác quan trọng trong xã hội tư bản hiện nay là hố cách biệt giữa thu nhập lợi tức của công nhân và doanh thu của doanh nghiệp và thu nhập của giới lãnh đạo doanh nghiệp (CEO). Hai hình thái tương phản này đang lên đến mức độ báo động, tạo thành bất công xã hội.

    Theo ông, trước khi tìm hiểu về hình thái bất công và tư bản trong thế kỷ XXI có hai luận điểm chủ yếu cần làm sáng tỏ là:

    Có phải động lực của việc tích lũy tư bản tư nhân tất yếu đưa tới việc tập trung tài sản vào trong tay một thiểu số người như Marx đã mô tả trong thế kỷ XIX không? và

    Có phải tăng trưởng, cạnh tranh và tiến bộ kỹ thuật là những động lực đưa tớí những phát triển trong giai đoạn sau đó và nó làm giảm bớt bất công xã hội và hài hoà giai cấp như Simon Kuznets giải thích trong thế kỷ XX không?

    Ông phản bác cả hai. Thứ nhất, ông không tin về thuyết định mệnh kinh tế như Marx cổ vũ. Cho dù quy luật kinh tế là chính, nhờ đó để tìm ra quy luật phát triển tổng quát, nhưng không phải đó là tất cả và đấu tranh cách mạng vô sản là giải pháp tối hậu. Bất công trong thu nhập là một vấn đề kinh tế tiền lương mà còn có hậu quả cho xã hội, vì sự vận hành của các động lực chính trong xã hội tư bản qua thời gian sẽ đưa tới bất công hoặc công bình.

    Thứ hai, luận điểm của Kurnets cũng không thuyết phục vì lẽ cạnh tranh, tiến bộ kỹ thuật và tăng trưởng không thể xem là một tiến trình tự nhiên hay tình cờ, thiếu chỉ đạo, mà tự nó sẽ có hiệu ứng ngăn ngừa mọi bất công xã hội. Ngược lại, chính giới cần có kế hoạch kiên quyết để đối phó và tìm các hợp tác quốc tế.

    Đúc kết từ những tài liệu thuế vụ tại Pháp, Hoa Kỳ, Anh, Ấn Độ, Nhật Bản, Mã Lai, Nam Phi, Uruguay và nhiều nước khác ông cho là di sản là một hiện tượng không bình thường trong việc tạo lập và tích lũy tư bản, mà đó chính là nguyên nhân sinh ra bất công trong việc phân phối lợi tức xã hội trong thế kỷ XXI. Nếu bất công, trước đây theo Marx, là một động lực thúc đẩy cho giới vô sản đấu tranh, hay sau này, giới trung lưu tìm đường thăng tiến qua cơ hội giáo dục, thì hiện nay, triển vọng giải quyết công bình xã hội càng lu mờ vì lẽ không còn cơ hội đấu tranh chuyên chính cách mạng và giới trung lưu co cụm.

    Dùng tài liệu thuế vụ để chứng minh bất công nên ông cũng đề nghị dùng biện pháp đánh thuế lũy tiến giới hữu sản tại các nuớc công nghiệp là một giải pháp san bằng và sự hợp tác quốc tế là một phương tiện để đạt mục tiêu. Ông hy vọng là chương trình này sẽ tạo ra một sự tái phân phối lợi tức, đem lại công bình xã hội, nâng cao thành quả của chủ nghĩa tư bản, nhưng quan trọng nhất là giúp cho chủ nghĩa này sóng sót. Dù là người đề xuất, chính ông cũng nghi ngờ giải pháp này là khả thi, nhất là trong tình hình chung hiện nay.

    Bố cục

    Sách gồm có bốn phần gồm 16 chương. Phần I bàn về lợi tức và tư bản gồm có hai chương. Chương 1 trình bày hai khái niệm này và lý giải về mối quan hệ giữa hai khái niệm. Chương 2 phân tích tỷ lệ tăng trưởng dân số và năng xuất, sự thành hình của các khái niệm trong thế kỷ XVIII.

    Phần II gồm có 4 chương giới thiệu về những năng động trong mối quan hệ giữa tư bản và thu nhập, mà nội dung là bàn đến mối quan hệ giữa tư bản và lao động trong thế kỷ XIX. Chương 3 nói về sự hình thành khái niệm tư bản tại Pháp. Chương 4 so sánh chủ đề này với Đức và Hoa Kỳ. Chương 5 mở rộng khái niệm và đặt ra mối quan hệ trên căn bản toàn cầu.

    Phần III bàn về cấu trúc của bất công gồm có 6 chương. Chương 7 xét đến vấn đề bất công trong thực tế dựa trên việc nghiên cứu về phân phối lợi tức và tư bản. Chương 8 lý giải về những động lực lịch sử của bất công giữa Pháp và Hoa Kỳ. Hai chương 9 và 10 mở rộng tầm phân tích đến nhiều quốc gia khác. Chương 11 soi sáng tầm quan trọng của thừa kế. Chương 12 tìm hiểu sự phân phối tài sản của thế kỷ XX.

    Phần IV thảo luận về việc điều tiết tư bản trong thế kỷ XXI và gồm có 4 chương. Chương 13 nói đến mô hình nhà nước xã hội. Chương 14 giới thiệu nội dung chương trình về thuế lợi tức lũy tiến, đặc biệt giới thiệu kinh nghiệm trong quá khứ và khuynh hướng gần đây. Chương 15 đề ra những điều kiện áp dụng chương trình này trong thế kỷ XXI, so sánh tình trạng lý tưởng với thực tế, trong đó có một số vấn đề liên quan là quản lý và di dân. Chương 16 bàn về hậu qủa của nợ công.

    Nội dung

    Nguyên nhân của bất công xã hội

    Lập luận chính của ông là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chậm hơn so với tích lũy tư bản nên bất công gia tăng, nhưng đến thế kỷ XXI trào lưu này đưa đến hậu quả nghiêm trọng nhất: sự cách biệt lợi tức thu nhập và di sản tích lũy không thể thu hẹp được nữa và tác hại nặng nề đến phân phối tài sản xã hội. Ông đã tìm ra mối tương quan này và nêu lên nhiều thí dụ ở Hoa Kỳ và châu Âu để chứng minh.

    Tại Hoa Kỳ, thuế lợi tức được áp dụng kể từ năm 1913. Qua các hồ sơ khai thuế ông chứng minh là vào thế kỷ XIX mức cách biệt trung bình giữa thu nhập lãnh đạo doanh nghiệp và nhân viên bình thuờng là 1/20, ngày nay hố cách biệt trung bình trong 500 doanh nghiệp lớn nhất là 1/200. Cao hơn nữa là trường hợp của Tim Cook, lãnh đạo của Apple kiếm được 378 triệu đô la trong năm 2011, thu nhập này do tiền lương, tiền chia lời cổ phiếu và doanh thu đủ loại của doanh nghiệp, và tỷ lệ cách biệt ước tính là 1/6.258. Trong năm 2012, công nhân bình thường của Wall Mart kiếm không quá 25.000 đô la/năm, trong khi Michael Duke, lãnh đạo phụ trách bán lẻ kiếm được 23 triệu. Một thí dụ nổi bật nhất là tài sản của 85 người giàu nhất thế giới mà trong đó có ba người nối tiếng nhất là Bill Gates, Warren Buffet và Carlos Slim, tổng cộng tài sản của họ là 3 nghìn 500 tỷ đô la, có nghiã là bằng 1/2 tài sản của dân số trên thế giới cộng lại. Dĩ nhiên, còn vô số thí dụ về tài sản kếch sù của giới siêu giàu, họ là minh tinh điện ảnh, doanh nhân quốc tế, danh tài thể thao hay các tác giả sách bán chạy nhất.

    Piketty không đồng ý là giới siêu giàu mới là những người có tài năng siêu việt, đóng góp to lớn cho nhân loại và đáng hưởng những phần thưởng vật chất tương xứng. Dù khó tìm ra một chuẩn mực để đo lường thành quả, nhưng không thể nói họ làm việc cực nhọc, thông minh và tiết kiệm nhiều hơn. Thực ra, các khoản thu nhập này là một hiện tượng bất thường vì không theo quy luật thị trường lao động, phần thì do các lãnh đạo cấu kết để chia chác, trục lợi qua nhiều hình thức, phần khác thì họ tìm mọi cách không cho công nhân được chia phần thành quả doanh nghiệp. Ngoài ra, họ là những người biết cách khai thác kỹ thuật mới trong lĩnh vực internet hay truyền thông để làm giàu nhanh. Đó là một quy luật nội tại của doanh nghiệp mà người ta dễ nhận ra. Nhưng theo ông, khi chính quyền không thể điều tiết và tỷ lệ thu nhập này tăng nhanh hơn tăng trưởng kinh tế thì bất công có thể xác định được. Tích lũy tư bản trong thời hiện đại đến từ những hình thức tích sản này và đang biến thành di sản.

    Vấn đề châu Âu được Piketty thảo luận sâu rộng hơn vì các tài liệu khả dụng về thuế khoá từ có từ cuối thế kỷ XVIII. Ông cho là lịch sử kinh tế là một cuộc chay đua bất phân thắng bại giữa tích lũy tư bản và tăng trưởng kinh tế mà các yếu tố chính là do phát triển dân số và canh tân kỹ thuật.

    Ông kết luận là trước khi thế chiến thứ nhất bùng nổ, giá trị tư bản tích lũy tại châu Âu cao từ sáu đến bảy lần hơn thu nhập quốc gia. Tuy nhiên, qua bốn thập niên, châu Âu vì bị hai cuộc thế chiến tàn phá và mức tiết kiệm không còn nhiều, mà tỷ lệ này giảm đi một nửa. Sau thế chiến thứ hai, tích lũy tư bản tăng lên. Đó là thời kỳ kinh tế phồn thịnh từ năm 1945 đến năm 1973 và được sách vở kinh tế gọi là thời kỳ Hoàng Kim, mà điển hình là lợi tức công nhân tăng làm mức sống của đại chúng tăng. Trong khi các kinh tế gia xem đây là một hiện tượng phát triển bình thường và tất yếu trong bối cảnh tái thiết hậu chiến, thì ông giải thích đó là một ngoại lệ của lịch sử và đã chấm dứt vì trào lưu sẽ không trở lại.

    Về vai trò của di sản trong lịch sử phát triển kinh tế thì Piketty chứng minh là di sản chiếm một vai trò khiêm nhượng so với thu nhập quốc dân trong thời kỳ chiến tranh, nhưng lại tăng nhanh trong thời hậu chiến, vào năm 1970 chiếm khoảng dưới 50%, nhưng hiện nay đã lên đến 70% và còn tiếp tục tăng. Tầm quan trọng của di sản là do ảnh hưởng của giới siêu giàu, mà ngày nay được goị chung là thành phần thượng tầng 1% trong xã hội. Mực sống cực kỳ xa hoa phung phí của giới thượng lưu qúy tộc, mà người Việt quen gọi là giới ngồi nhà mát ăn bát vàng, trong thế kỷ XIX được các tiểu thuyết gia Pháp như Balzac và Austen mô tả khá chi tiết. Mức sống cao sang này có giảm đi trong thời kỳ 1910 cho đến 1950, nhưng sau 1970 thì tăng nhanh trở lại, dù trong mức độ có ít hơn so với thế kỷ XIX.

    Qua nhiều dẫn chứng ông kết luận là mức độ bất công tại châu Âu ít hơn tại Hoa Kỳ vì châu Âu can thiệp chặt chẽ hơn về luật lao động, các chương trình an sinh xã hội và thuế khoá, nhưng cả hai có một đặc điểm chung trong thế kỷ XXI là hình thức tích lũy và tạo lập tư bản do di sản và tỷ lệ taọ lập di sản tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Do đó, bất công lan rộng đến mức độ không thể san bằng. Giải pháp cho vấn đề là chính quyền cần có một biện pháp đánh thuế giới hữu sản trong tầm vóc quốc tế.

    Giải pháp san bằng

    Làm sao đem lại công bình xã hội khi năng động nội tại của chủ nghiã tư bản hướng theo một chiều mới là tạo lập tích sản và di sản?

    Tăng trưởng là cần thiết để đem lại quân bình giữa lao động và tư bản. Nhìn chung, Piketty thực tế hơn khi cho là tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt được 1% đến 1,5% là nhiều, nhưng phải liên tục. Khi mức tăng trưởng 1,5% là đi vào ổn định, đạt đến gần mức tăng trước năm 1914. Hiện nay, theo ông, không có điều kiện để đạt đến tỷ lệ tăng trưởng từ 4% đến 5%, và nhất là trong trường hợp dân số đình trệ hay giảm sút.

    Đánh thuế nhà giàu là một biện pháp để chống lại tập trung tư bản, nhưng đó không phải chuyện đấu tranh giai cấp của Marx mà phải là một chính sách thuế khoá công minh. Xác định tỷ lệ thuế suất là một nhiệm vụ chính trị nhưng cũng cần có sự hợp tác quốc tế và nhiều mô hình có thể áp dụng. Ông đề nghị là có thể miễn thuế đối với tài sản cá nhân có đến 1 triệu Euro, đánh 1% thuế cho ai có tài sản từ 1 đến 5 triệu, tăng lên 2% cho ai có trên 5 triệu và cứ như thế lên từ 5 đến 10% khi trên mức 1 tỷ.

    Nhưng người ta cũng có thể quyết định khác hơn là những loại tài sản khiêm nhường cũng bị ảnh hưởng, thí dụ như 0,1% cho dưới 200.000 Euro, 0,5% cho khoảng từ 200.000 và một triệu.

    Theo ước tính của Piketty tỷ lệ thu cao nhất là 3 đến 4 tỷ lệ phần trăm điểm của thu nhập quốc gia, vì mục tiêu của đánh thuế tư bản lũy tiến không phải là phát triển một nguồn thu mới cho nhà nước, nhưng là điều tiết hợp lý cho chủ nghiã tư bản. Gánh nặng về thuế khóa tại Tây Âu hiện nay đã quá mức, với nguồn thu nhập mới làm cho việc đóng góp của giới trung lưu giảm đi.

    Ông ý thức được vấn đề tư bản từ các nuớc công nghiệp phát triển đang tháo chạy khắp thế giới để trốn thuế, trong khi sự hợp tác ngay trong châu Âu trong lĩnh vực này đã không đạt được kết quả, thì đề xuất của ông lập một biểu thuế áp dụng trên toàn cầu là một ảo tưởng. Ông lạc quan hơn khi cho rằng đó là một giải pháp hữu ích, vì đến một lúc nào đó thì cộng đồng quốc tế sẽ thấy nhu cầu áp dụng là cần thiết và sẽ khởi động.

    Nhận xét

    Dù sách bán chay nhất và được giới thiệu như là một tác phẩm quan trọng về lịch sử tư tuởng kinh tế hiện đại và đem lại những chuyển biến trong nhận thức về chủ nghiã tư bản cho tương lai, nhưng Piketty không tránh khỏi nhiều phê bình mà một số ý chính có thể tóm lược như sau.

    Tri thức công nghệ (Know-How)

    Piketty đề ra hai thành tố chính là tư bản và lao động trong tiến trình sản xuất. Ông tập trung lý giải về mối quan hệ này đóng góp cho tăng trưởng như thế nào.

    Theo ông, tư bản là yếu tố sản xuất mà người ta có thể mua, bán, tặng, tiết kiệm và tích lũy thành di sản như giới siêu giàu hiện nay đang làm. Ngược lại, lao động là yếu tố cá nhân, chỉ có thể mua bán qua thị trường nhân dụng mà luật lao động là cơ sở. Không ai có thể mua bán sức lao động của người khác vì thời kỳ nô lệ không còn. Tư bản có hai đặc điểm:

    Một là khả năng sinh lợi trong tương lai mà ước tính triển vọng là quan trọng. Từ đó một mảnh đất có thể bán giá quá cao trong khi một mảnh đất bên cạnh không đem lại một thu khoản đặc biệt cho sở hữu chủ, đây là một thí dụ quen thuộc trong sự biến động giá cả trên thị trường bất động sản mà triển vọng sẽ quyết định giá tương lai của tư bản.

    Hai là tư bản có thể được tích lũy và sinh lợi qua tiết kiệm. Một người có thể tiết kiệm 100 đơn vị của lợi tức thu nhập, và trong điều kiện bình thường sẽ tăng thêm được 4 đến 5 đơn vị trong một năm. Do đó, có triển vọng tái đầu tư và nhờ thế mà tư bản và lợi tức cùng song hành tăng gia.

    Thực ra, hai thành tố tư bản và lao động chưa đủ. Ông cũng không thể lý giải vai trò thay đổi kỹ thuật trong tiến trình sản xuất, dù ông có đề cập. Một thí dụ phản bác lập luận của Piketty rõ rệt nhất là vai trò của Know-how.

    Tổng trị giá tài sản hiện nay của ba doanh nghiệp Apple, Google và Facebook lên trên một nghìn tỷ đô la. Piketty không thể dùng yếu tố tạo lập, tích lũy và gia tăng tư bản cuả ba doanh nghiệp này để giải thích sự thành công. Nếu so với giá trị đóng góp của tư bản đầu tư ban đầu và lao động hiện có thì không đáng kể, nếu có so ở đây là với tài năng đóng góp của lãnh đạo và thay đổi kỹ thuật. Bất công thu nhập trong nội bộ của doanh nghiệp là hiển nhiên, nhưng tài năng lãnh đạo và sự thay đổi triệt để của Know how đóng góp nhiều hơn là vai trò di sản, tư bản và lao động như Piketty lý giải.

    Mức tăng trưởng đến 5% mà Piketty đề ra để làm khởi điểm phát sinh cho bất công cũng không thuyết phục. Tăng trưởng là do đầu tư. Đầu tư sinh lợi liên hệ đến vấn đề lĩnh vực đầu tư, mà trào lưu hiện nay cho thấy yếu tố Know how quan trọng hơn là tư bản và lao động. Đã có nhiều thí dụ chứng minh tại Trung Quốc, Chile và Hoa Kỳ cho lập luận này.

    Mức Trung Quốc cho quốc tế vay chiếm tỷ trọng 30% của TSLQG hằng năm, nhưng sinh lợi từ tiền cho vay là bằng không, tình trạng này còn tiếp tục. Cụ thể là Trung Quốc là chủ nợ của Hoa Kỳ, đem tiền vào Hoa Kỳ để tái đầu tư, nhưng chỉ tập trung vào thị trường cổ phiếu và bất động sản, nên mức sinh lợi không thể là đáng kể mà nguy cơ nhiều hơn.

    Trường hợp của Chile khi đầu tư ở hải ngoại cũng tương tự. Trong 30 năm qua, Chile có tiền đem ra hải ngoaị đầu tư là nhờ huy động tiết kiệm quốc nội. Chile không có khả năng thâm nhập lĩnh vực Know how tại hải ngoại, nên đầu tư không sinh lợi và không giúp cho tăng trưởng.

    Ngược lại, dù Hoa Kỳ đang vay của thế giới là 13 nghìn tỷ, phần lớn để trang trải công phí, phần còn lại sử dụng cho các chương trình đầu tư tại hải ngoại, trong đó có các dự án thuộc lĩnh vực Know how tại Trung Quốc và các nước công nghiệp đang trổi dây, nơi mà tỷ lệ tăng trưởng còn ở mức 9%. Triển vọng sinh lợi trong chiến lược này tất nhiên là cao, nhưng có thể giúp gì trong việc san bằng bất công quốc nội là một vấn đề còn tranh luận, nhất là trong bối cảnh suy trầm còn tiếp tục.

    Quyết định lĩnh vực đầu tư là chính để giúp tăng trưởng. Phát sinh bất công không hoàn toàn lệ thuộc vào tỷ lệ trong mối quan hệ tư bản và lao động như Piketty xác định.

    Di sản

    Lo âu của Piketty về mức tác hại của di sản không có cơ sở, vì tại Hoa Kỳ di sản đã không gây bất công trong quá khứ, từ đó mà không thể kết luận là sẽ có hậu quả này trong tương lai. Ảnh hưởng của các gia đình tỷ phú như Rockefeller, Carnegie và Ford là thí dụ. Một phần, các tài sản này đã bị phân tán, phần khác, hậu duệ thụ hưởng cũng không thể trực tiếp tham gia sinh hoạt công quyền để gây thêm bất công, nhằm bảo vệ di sản như nhiều người lầm tưởng. Trong chừng mực nào đó, họ cũng có những hoạt động gây áp lực nhưng không như các lobbyist chuyên nghiệp.

    Điều chắc chắn là hậu duệ của Bill Gates và Warren Buffet sẽ tiếp tục nắm giữ di sản không lồ này, nhưng có thể gây tác hại đến bất công cho toàn xã hội là không thể xác định, nhưng những hoạt động từ thiện hiện nay của Bill Gates đã chứng minh ngược lại. Một suy đoán khác là không ai biết được các diễn biến của lĩnh vực công nghệ thông tin. Các tài năng mới trong lĩnh vực này sẽ có các chuyển biến đột phá làm cho Bill Gates hay Warren Buffet sẽ không còn giữ vững ngôi vị, một vấn đề có thể xãy ra. Giới lãnh đạo này cũng không đến từ thành phần có di sản hay trong chính giới.

    Là người Pháp, Piketty biét rõ là sử dụng di sản vào mục tiêu văn hoá, xã hội hay tôn giáo là một truyền thống của Âu Tây. Nhờ thế, nhiều hoạt động nghệ thuật tại Pháp đều được tài trợ và các danh tài hội hoạ như Courbet, Manet, Cézane, Monet hay các văn sĩ như Baudelaire, Flaubert hay Proust có phương tiện làm việc. Gần đây, Amnesty International và Human Rights Watch cũng đã gia tăng hoạt động nhờ thụ hưởng tài trợ loại này.

    Hiện nay, huy động việc sử dụng tích sản và di sản vào các mục tiêu xã hội là một vấn đề trong các lĩnh vực sponsoring và social engeneering tại Hoa Kỳ. Do đó, trước trào lưu này khó có thể xác định mức độ tác hại tuyệt đối của tích sản di sản về bất công xã hội như Piketty tiên đoán.

    Thăng tiến xã hội

    Theo Piketty, thiếu năng động xã hội là không còn cơ hội thăng tiến cho giới trung lưu và giới có lợi tức thấp, một khởi điểm cho bất công. Lập luận này không đúng cho các sắc dân di dân mà thành công của người Việt ty nạn trong thế hệ đầu tiên là một phản bác thuyết phục nhất. Không phải thu nhập, di sản và gia thế sẽ quyết định cơ hội thăng tiến mà là yếu tố văn hoá, lối sống và quyết tâm. Cảm nhận được môi trường tự do mới và có động lực khích lệ do gia đình giúp cho người Việt hội nhập và thăng tiến trong mọi lĩnh vực xã hội nhập cư. Do đó, thu nhập cao và tài sản không thể lý giải cho sự thăng tiến của thành phần di dân.

    Một khó khăn mà giới trung lưu phải chịu trong thời gian qua là mức lương không tăng nhanh so với nhu cầu tiêu thụ đang thay đổi. Mức lương khả dụng và nỗ lực thích nghi trong tình hình biến đổi như người di dân sẽ quyết định thăng tiến và không phải là tích lũy tài sản hay di sản của giới trung lưu là chính. Mối quan hệ lợi tức và lao động mà Piketty đề ra không thể giải thích.

    Có lập luận cho rằng tiền lương của công nhân tại các nước công nghiệp sẽ không tăng vì chủ doanh nghiệp còn tiếp tục đầu tư để hưởng những lợi điểm lương thấp tại các nước chậm tiến. Do đó, bất công sẽ còn kéo dài. Piketty chỉ có thể giải thích sự bất công trong mối tương quan tiền lương và tăng trưởng trong nội bộ từng nước công nghiệp phát triển và không trên căn bản toàn cầu để so sánh ý nghiã đích thực của thăng tiến.

    Nếu thảo luận bất công trong bối cảnh toàn cầu hoá, đầu tư tư nhân và mậu dịch quốc tế giữa các nước công nghiệp phương Tây và đang trổi dậy, ông sẽ có những nhận định toàn diện hơn về cạnh tranh và phát triển.

    Sự trổi dậy kinh tế của Trung Quốc, Ấn Độ, Viêt Nam, các nước khác tại Đông Á và Nam Mỹ trong nhiều thập niên qua đã giúp cho hằng trăm triệu người dân khỏi thoát cảnh nghèo đói tận cùng. Nhờ tham gia hội nhập mậu dịch quốc tế mà các nước đang trổi dậy cũng có điều kiện tốt đẹp hơn, ít nhất là so với tình trạng sống trước đây.

    Nhìn chung, bất công trong từng nước một còn là môt vần đề gay go mà Việt Nam là một thí dụ. Vấn đề phát triển châu Phi sẽ là một thách thức quan trọng nhất cho nhân loại hôm nay. Do đó, lý giải về thăng tiến xã hội của Piketty không toàn diện.

    Công bình thuế vụ

    Đây là một đề tài mà Piketty không phải là người đề ra đầu tiên vì được tranh luận từ lâu. Ai là người được xem là có cuả? Có phải cứ có tài sản nhất thiết là tạo bất công xã hội không? Và doanh nghiệp nào tạo ra bất công? Một vấn đề cần xác định. Đến năm 2010, cá nhân nào thu nhập được 1 triệu rưởi đô la một năm được xếp vào thành phần hữu sản, còn doanh nghiệp thì không có mức độ xác định, thường thì doanh nghiệp có tham gia thị trường cổ phiếu hoặc số thương vụ trên 500 triệu đô la và có 10.000 công nhân, nhưng chuẩn mực này không chính xác, vì hiện nay có nhiều doanh nghiệp vẫn còn do gia đình quản lý nhưng có tài sản kết sù. Ý chính của Piketty về bất công là hướng về việc thu nhập của giới lãnh đạo thuộc dạng CEO của thị trường tài chánh và công nghiệp thông tin.

    Việc đánh thuế tài sản tích lũy của giới CEO, như Piketty đề nghị, gây bất mãn cho giới hữu sản trung bình. Một người làm việc lương thiện, có những thương vụ bình thường, hợp pháp, dành dụm qua một thời gian dài, nay trở thành giới hữu sản, bị đánh thuế, nên họ không còn lại gì cho con cháu. Đây là một hình phạt tối đa có hiệu lực hồi tố, không thể gọi là công bằng xã hội và tác hại trầm trọng vì không khích lệ cho tiết kiệm và tái đầu tư.

    Taị các nước châu Âu, thuế gia sản là một vấn đề được tranh cải khá gay gắt. Phần Lan có đề xuất rồi cũng bị áp lực phải từ bò. Các nước Áo, Đan Mạch, Đức, Thụy Điển và Tây Ban Nha cũng nằm trong tình trạng tương tự. Gần đây nhất là Ý trong năm 2011. Các đảng tại Ý đề ra thuế cho những người có bất động sản để vận động tranh cử. Vì dân chúng phản ứng trước thuế biểu nặng nề nên các đảng phải đành phải rút lại. Chính quyền đảo Cyprus cũng tìm cách đánh thuế tài sản trên tiền ký thác của trương chủ ngân hàng với hy vọng tăng nguồn thu để giải quyết vấn đề kinh tế, nhưng thực tế cho thấy ngược lại, chỉ đem lại bất ổn trong dân chúng.

    Dù đề xuất giải pháp đánh thuế giới hữu sản, nhưng Piketty không trình bày những khó khăn khi áp dụng, đo lường hậu quả và kiểm soát. Quan trọng nhất là ông không tìm ra một đối sách khi không thể tăng thu và huy động được tiết kiệm quốc nội cho các đầu tư mới. Khi khả năng trốn thuế của giới hữu sản tinh vi trong tầm mức quốc tế, thì phương sách của Piketty cần xét lại.

    Điều kiện lý tưởng để áp dụng một chính sách thuế khoá công minh là hệ thống chính trị dân chủ tốt đẹp lòng trong hoạt động hữu hiệu của một nền kinh tế thị trường tự do. Trong thực tế, công bình thuế vụ không gì khác hơn là có một thể chế dân chủ và luật pháp được mọi thành phần dân chúng triệt để tôn trọng, kể cả giới hữu sản. Lý tưởng này đạt được do thành qủa của một hệ thống giáo dục trọng pháp mà nước giàu đang suy đồi và nước nghèo chưa có. Đóng thuế nhiều là niềm hảnh diện cá nhân và thể hiện lòng yêu nước, hiện nay chỉ có trong truyền thống văn hoá của Nhật Bản.

    Giải pháp tương ứng khả thi

    Nếu giải pháp của Piketty là ảo tưởng, tại sao không thể tìm một giải pháp có hiệu ứng tương tự nhưng khả thi? Một thí dụ được đề cập nhiều nhất là áp dụng thuế tiêu thụ lũy tiến, thay vì áp dụng thuế di sản. Biện pháp này đơn giản vì nhắm vào các mặt hàng xa xĩ dành cho giới thượng lưu và nhất là áp dụng trên căn bản địa phương, nơi mà sở thuế có thể kiểm tra được. Lối đánh thuế này không tác động đến khuynh hướng tiết kiệm như thuế lợi tức hay di sản. Thuế tiêu thụ lũy tiến sẽ hổ trợ cho tăng trưởng nhiều hơn.

    Một biện pháp khác cũng đã từng được đề cập đến là hoàn toàn miễn thuế cho công nhân có thu nhập thấp và giảm thuế cho công nhân có thu nhập cao hơn.

    Chi phí giáo dục hiện nay là một thực tế khó khăn cho giới có lợi tức thấp, nhưng một trào lưu mới đang thịnh hành là giaó dục miễn phí online, mà chương trình trực tuyến của M.I.T. của Hoa Kỳ là một thí dụ. Các chương trình giáo dục trọn đời và từ xa là một mô hình mới khả thi.

    Trong chừng mực giới hạn, triển vọng về các biện pháp tương ứng khả thi là một vấn đề cần thảo luận sâu rộng để san bằng bất công xã hội.

    Bài học cho Việt Nam?

    Độc giả người Việt thất vọng vì Piketty không trực tiếp soi sáng vấn đề Việt Nam.

    Bất công xã hội tại Việt Nam không cần phải tìm hồ sơ thuế vụ để dẫn chứng như Piketty theo đuổi. Dù không có số thống kê cho hố cách biệt giữa thu nhập nông dân và lãnh đạo doanh nghiệp thu mua nông sản, giữa công nhân và lãnh đạo doanh nghiệp xuất khẩu, nhưng thực tế cho thấy phải hơn tỷ lệ 1/6.258 của doanh nghiệp Apple.

    Thành phần 1% dễ nhận diện hơn điều tra hình sự. Theo một báo cáo năm 2013 của UBS và Wealth X, một công ty nghiên cứu tài sản ở Singapore, số lượng người giàu nhất tại Việt Nam đã tăng lên 14,7%, số lượng người có tài sản cá nhân thấp nhất là 30 triệu đô la hay nhiều hơn lên đến 195 người, mà không ai khác hơn là thuộc về lãnh đạo.

    Nguyên nhân bất công? Chuyện dể hiểu vì không có yếu tố hải ngoại. Về lý thuyết, ai cũng biết là do cơ chế chính trị:

    "Đảng lãnh đạo,
    nhà nước quản lý,
    nhân dân làm chủ đất nước",

    nhưng người dân đọc và viết lại bằng cách đánh dấu phẩy một cách khác hơn:

    "Đảng lãnh đạo nhà nước,
    quản lý nhân dân,
    làm chủ đất nước"

    và phản ảnh đúng với thực tế.

    Cơ chế độc đảng cho phép lãnh đạo không cần chứng minh khả năng làm việc, sống thanh liêm, có tiết kiệm và đáng được hưởng thành quả tương xứng. Với đặc thù này lãnh đạo biến Việt Nam thành một nền kinh tế trọng thương bất phú, tư bản thân tộc và xã hội thị trường mà không bị ai truy tố.

    Giải pháp khả thi? Chuyện hão huyền. Đánh thuế giới hữu sản theo cách của Piketty cũng sẽ không thành công, một phần vì luật lệ tài chính không nghiêm minh và phần khác thì tích sản của lãnh đạo đã theo con cháu ra ngoại quốc từ lâu, nên các biện pháp sai áp, nếu có, không thể áp dụng. Piketty chỉ lý giải đúng về nguyên nhân bất công xã hội là do chế độ gây ra và sai là về giải pháp đánh thuế.

    Giải pháp tương ứng khả thi để san bằng bất công xã hội hiện nay không còn quan trọng nữa vì giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ và tồn vong của chế độ trở thành hai vấn đề sinh tử cho Việt Nam, một thách thức nằm ngoài tầm nhìn của Piketty và phạm vi của bài giới thiệu sách này.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    11 phản hồi

    Phản hồi: 

    Phương Tây đang tàn lụn vì bốn trụ cột nền tảng là dân chủ đại nghị, kinh tế thị trường, thể chế pháp quyền và xã hội dân sự không còn đứng vững mà suy trầm kinh tế, nợ công chồng chất, dân số lão hoá và thái độ vị kỷ của con nguời là nguyên nhân.

    Dân chủ không còn dựa trên căn bản hợp đồng giữa người dân và chính quyền, không đem đến ổn định chính trị trong hiện tại và công bình cho thế hệ tương lai.

    Quy luật kinh tế thị trường chuyển biến không thể kiểm soát nên gây xáo trộn cơ chế vận hành và thiệt hại cho người tiêu thụ.

    Dù thể chế pháp quyền là để bảo vệ công bình xã hội, nhưng luật pháp trở nên quá chuyên môn làm cho tranh tụng cực kỳ tốn kém và công lý là món hàng đắt giá.

    Xã hội dân sự không còn năng động cải cách, vì con người thờ ơ trước các biến chuyển thời cuộc và các nhóm lơị ích áp lực nặng nề hơn.

    Phương Tây cảnh tỉnh là cải cách rất bức thiết nhưng đâu là vai trò của học thuyết Marxism?

    Dù chế độ cộng sản đã được chôn cất từ lâu và đến thế kỷ XXI rồi mà vẫn còn có một thiểu số trí thức chậu Âu còn muốn hồi sinh giá trị của lý thuyết này. Họ lập luận là công bình xã hội vẫn là một lý tưởng cao đẹp mà mà Marx đề ra, chỉ cách thực hiện là không phù hợp trong bối cảnh mới. Một thiểu số dân chúng trong vùng Đông Đức và Liên Xô củ luyến tiếc lối sống XNCH ngày xưa vì kinh tế thị trường thiếu hẳn tình liên đới xã hội.

    Sau thời khủng hoảng, các lập luận thiên về XHCN tăng cao. Vấn đề giai cấp hữu sản và vô sản được đặt ra theo hình ảnh đối nghịch giữa hai giới 1% và giới 99%, không phải là tranh chấp giữa chủ tư bản và công nhân trong xã hội công nghiệp hoá như Marx giải thích.

    Vai trò học thuyết Marxism tại Hoa Kỳ phức tạp hơn vì bất công xã hội giàu nghèo qúa rõ rệt hơn nếu so với châu Âu nhưng lại thiếu cội rể tinh thần như tại châu Âu. Mặt khác, ý thức của dân chúng chấp nhận cạnh tranh để tồn tại, nổ lực tự thăng tiến cá nhân cao hơn châu Âu.

    Sau thời kỳ toàn cầu hoá ý thức giai cấp vô sản càng tăng cao, áp lực chính trị của công đoàn (AFL- CIO) cực kỳ quyết liệt đối với chính quyền và chủ doanh nghiệp đầu tư quốc tế, nhưng không vì thế mà Marxism có giá trị cao hơn.

    Dù chống đối giới hữu sản, nhưng giới vô sản phương Tây không đấu tranh cách mạng để nắm quyền mà chì muốn cải thiện chính sách công quyền, đặc biệt là phân phối phúc lợi xã hội mà công bình thuế vụ và công bình giữa các thế hệ là những đề tài ưu tiên. Ý thức về dị biệt giai cấp vẫn còn trong sinh hoạt nhưng không phải là một căn bản đấu tranh cách mạng theo truyền thống Marxism.

    Phản hồi: 

    Tôi không chuyên về kinh tế nên ban đấu không có ý kiến ý cò gì về cuốn sách của Piketty. Tuy nhiên, mấy ngày qua tôi ở San Francisco để dự hội thảo chuyên ngành xã hội học, có dịp đi lanh quanh những khu phố sang trọng với khách sạn 4 hay 5 sao nằm sát cạnh nhừng khu phố đấy ngưới homeless, và nhìn thấy chủ đề "From the War on Poverty to the War on the Poor" in trên cuốn chương trình hội thảo để kỷ niệm 50 năm ngày TT Johnson phát động chường trình "giảm nghèo," tôi lại thấy ngứa tay muốn còm.

    Tôi không có dịp đọc cuốn sách của Piketty, nhưng qua tóm lược của tác giả Đỗ Kim Thêm, có thể nói những điều Piketty viết về xã hội tư bản Mỹ trong cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 với khủng hoảng kinh tế và các biệt giàu nghèo gia tăng là chính xác. Tuy nhiên đó không phải là những điều mới mẻ vì những học giả xã hội học thuộc chuyên ngành kinh tế chính trị học (political economy) đã nói đến những vấn đề ấy trong gần 30 năm qua măc dù dưới một nhãn quan khác.

    Đối với giới xã hội học, vấn đề không phải chỉ lá chính sách thuế không tiến bộ (non-progressive tax policy) mà còn là vấn đề giai cấp (social class). Đấu tranh giai cấp trong trong xả hội Mỷ ngày nay không nhất thiết là đấu tranh giũa giới công nhân và chủ nhân như trong xã hội tư bàn thế kỷ 18 hay 19 mà là sụ đấu tranh giủa một bên là những người giàu có và khá giả (the haves) và một bên là người nghèo (the have nots). Nhũng người giàu và khá giả không chỉ là giới chủ nhân mà bao gồm cả những người làm việc chuyên môn (professionals) như bác sĩ, kỹ sư, nhũng người buôn bán bậc trung hay tụ hành nghề (self-employed). Tất cả tạo thành tầng lớp cao cấp (upper class) và trung lưu (middle-class) với số lương đông đủ để tạo sức manh chính trị nhầm bào vệ quyền lợi của họ.

    Việc đấu tranh giai cấp xảy ra trong khung cảnh một trật tự kinh tế mới được gọi là chủ nghia tân tụ do (neoliberalism) nhấn mạnh đến việc giới hạn sựu can thiệp của chính quyền (limited government interventions), mở rộng tư nhân hoá (privatization), tụ do mậu dịch (free trade), mở rộng thị trường (open markets), bãi bỏ các qui định giới hạn (deregulations), giảm chi tiêu của chính phủ (limited government spendings).

    Với chủ nghĩa tân tụ do là việc thực hiện các chường trình phi mậu dịch Bắc Mỹ NAFTA và tổ chúc phi mậu dịch quốc thế giới (WTO) với hiện tượng công việc sản xuất ổ Mỹ cần nhiều lao động chân tay (labor intensive jobs) rầm rộ di cư (outsourcing) đến các nước có lao động rẻ. Công nhân mất các công việc sản xuất trong các nhà máy nay chuyển sang làm dịch vụ, đồng thời mất các phúc lọi dành cho công nhân nhà máy như quỹ huu trí (pension) và bảo hiểm y tế.

    Outsourcing đưa đến một dạng thi trường lao động gọi là thị trường lao động phân cực (polarized labor market) với một đầu là giối chuyên môn (professionals) có lương cao và phúc lợi đầy đủ và một đầu là những người không có chuyên môn làm các công việc tầm thường hay các dịch vụ giải trí và ăn uống với lương tối thiểu và không có phúc lợi.

    Trong khi đới sống của giới lao dộng (blue collar workers) bị ảnh hưởng tiêu cực do tái cấu trúc kinh tế (economic restructuring) theo khuynh hướng tân tụ do, chi tiêu của chính phủ cho phúc lọi xã hội bị cắt giàm. Đó là lý do khiến hố ngăn cách giàu nghéo ổ Mỹ ngày càng rộng ra thay vì khép lại. Giới chủ nhân kiếm được nhiều lời từ outsourcing chia bớt một phần cho giối chuyên viên, khiến giới giàu có thì giàu thêm trong khi giới nghèo thì càng nghèo hơn. Hội nghi chuyên ngành của Hội Nghiên Cúu Những Vấn Đề Xã Hội lấy chủ đề "from the war on poverty to the war on the poor" vì ngày nay giới nghèo khổ ổ Mỹ không chỉ nghèo mà còn bệnh tật và tù tội.

    Việc "cứu đói giảm nghèo" õ Mỹ không đơm giản là vấn đề cải tổ chính sách thuế mà còn là cải tô cả hệ thống phúc lọi xã hội, trong đó tiên quyết phải giải quyết mức lương tối thiểu. Riêng việc cải tổ chính sách thuế cũng không đơn giản do vấn đề đấu tranh giai cấp vì đại bộ phận giới trung lưu không muốn tâng thuế. Tôi sống ở một tiểu bang không có thuế lợi tức tiểu bang nhưng lại có thế đánh vào . . . thục phẩm. Trong vòng 15 năm qua đã có hai lần trưng cầu dân ý sửa đổi hiến pháp dể đánh thuế lọi túc tiểu bang, mà cả hai lần đều không thành công và tiểu bang của tôi xếp hạng 43 trong 50 tiểu bang về vấn đề phát triền con người. Nhiều người trong giới trung luu cũng còn chống đối chương trình bảo hiểm y tế toàn quốc cũng như các chương trình phúc lợi cho người nghèo vì các họ cho rằng các chương trình này sể khiến họ phải đóng thêm thuế. Do đó, khi nói về cải tổ xã hội mà không đề cầp đến giai cấp thì chưa thể hiều hết vấn đề và cũng có lẽ bổi thế mà giới xã hội học vẫn coi Marxism là quan trọng và cần thiết trong việc tìm hiểu và đưa ra các đề nghi cải tổ xã hội.

    Phản hồi: 

    Đỗ Kim Thêm @ 00:11, 16/08/2014

    Bác ĐKT không biết là theo Joshua Ramo, BC xác định ba nguyên tắc, trong đó không nhất thiết chính phủ phải can thiệp mạnh mẽ: đổi mới thể chế, công bằng và phát triển bền vững, và tự quyết.

    Trong 30 năm qua, kinh tế Trung Quốc đã di chuyển dần về phía các học thuyết kinh tế tân cổ điển (như John Williamson đã tóm tắt về WC) và bao gồm: chính sách tài khóa thận trọng, mở cửa kinh tế, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, tự do hóa thị trường, và bảo vệ tài sản cá nhân. Trung Quốc đã rất thận trọng trong việc duy trì một ngân sách cân bằng và giữ lạm phát trong tầm kiểm soát, và hơn 80 phần trăm của các doanh nghiệp nhà nước của TQ đã được tư nhân hóa hoặc chuyển đổi thành công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

    Bác ĐKT viết: "Hiện nay, khái niệm “Đồng thuận Bắc Kinh“ không thuyết phục được công luận vì những sai lầm" (?).

    Xem thêm: https://www.ted.com/talks/dambisa_moyo_is_china_the_new_idol_for_emergin...

    Phản hồi: 

    Cám ơn anh Khương Việt đã đọc bài giới thiệu sách. Tôi xin phép được lời anh như sau:

    1. “Đồng thuận Bắc Kinh“

    Khái niệm này còn được gọi là mô hình Trung Quốc do Joshua Cooper Ramo triển khai vào năm 2004 để giới thiệu những đặc điểm trong tiến trình phát triển kinh tế của Trung Quốc. Ông không sáng tạo mà chỉ tổng hợp các lời tuyên bố và biện pháp thực hiện thành hệ thống và chứng minh đây là một gỉải pháp tương ứng khả thi thay cho “Đồng thuận Washington“. Khái niệm của Ramo được nhiều tác giả khác là Arif Dirlik, John Williamson và Stefan Halper bổ sung và lý giải.

    Đặc điểm chính của “Đồng thuận Bắc Kinh“ là cải cách tiệm tiến qua canh tân và thử nghiệm, áp dụng các biện pháp dễ trước khó sau và tuần tự lan rộng qua từng địa phương, nên không có tính đột phá táo bạo; tập trung tất cả nguồn lực cho khu vực xuất khẩu và công nghiệp hiện đại qua hệ thống tư bản nhà nước, do đó mà không theo kế hoạch ngũ niên XHCN hay hoàn toàn tự do theo kinh tế thị truờng; với những biện pháp mạnh do cơ chế chính trị độc đảng, nghiã là quyết định không qua thủ tục dân chủ hay hiệu năng cạnh tranh kinh tế của doanh nghiệp tư nhân và không sử dụng các phương thức gây sốc mạnh như tại Liên Xô.

    Thực ra, khái niệm này không toàn diện và còn che dấu nhiều đặc thù của Trung Quốc (cũng như Việt Nam) là không công nhận quyền tư hữu đất đai, hệ thống chính trị độc tài và địa phương tư trị, tham nhũng và dành đặc quyền các nhóm lợi ích.

    Hiện nay, khái niệm “Đồng thuận Bắc Kinh“ không thuyết phục được công luận vì những sai lầm. Giới lãnh đạo đã thấy vấn đề nên tập trung các đối sách cho tiêu thụ nội điạ, cải thiện môi sinh và tăng cường luật pháp, nhưng không cải cách chính trị.

    2. “Đồng thuận Washington“

    Khái niệm về phát triển kinh tế do John Williamson đề xuất vào năm 1990 tại Washington và được Ngân Hàng Quốc Tế và Qũy Tiền Tệ Quóc Tế Và Bộ Tài Chính Hoa Ký hỗ trợ. Nhũng biện pháp này trước tiên dành cho các nước Châu Mỹ La Tinh và sau này áp dụng cho các nước đang phát triển.

    Nội dung chính của “Đồng thuận Washington“ là tự do tối đa cho các hoạt động kinh tế trong thị trường cạnh tranh và chính quyền can thiệp tối thiểu, huỷ bỏ các biện pháp rào cản và kiểm soát mậu dich, huỷ bỏ trợ cấp nông phẩm, gia tăng các biện pháp hổ trợ xuất khẩu, tạo biện pháp cạnh tranh để tác động cho thị trường khởi động, cắt giảm ngân sách và các chi phí hành chánh, tự do lưu thông tư bản tài chính quốc tế, tư hữu hoá các doanh nghiệp công, phá giá tiền tệ, tôn trọng tác quyền trí tuệ và sỡ hữu trong công nghiệp. Khái niệm này qúa cực đoan và gây bất công xã hội trong tầm vóc quốc tế và thất bại.

    3. Dẫn luận

    “Ông nhận xét là dù đề tài tích lũy tư bản thành tích sản và di sản không được kinh tế gia đương đại quan tâm, nhưng hiệu ứng lại quan trọng hơn là tài sản được làm ra và tiết kiệm.“

    Xin hiểu là hiệu ứng của cả hai tích sản và di sản.

    “Tích lũy tư bản là hình thái mới vì nó không là một tiến trình do tiết kiệm, đầu tư và tạo lập tài sản mà David Ricardo và John Stuartz Mill đề cập."

    Nhưng khái niệm cơ bản về tiết kiệm, đầu tư, doanh lợi, tài sản và di sản hiện có đầy đủ trong bất cứ một sách giáo khoa nào về khoa học Kinh tế. Anh Khương Việt thông thạo Anh ngữ, tôi tin là anh sẽ tìm đọc và hiểu tường tận hơn vì khuôn khổ giải thích qua phản hồi ngắn không cho phép.

    Riêng Piketty triển khai và cập nhật khái niệm địa tô (rent) của Ricardo khá chi tiết trong sách. Từ đầu thế kỳ XIX, quan điểm nguồn thu của địa chủ qua địa tô gây lo ngại vì vai trò thống trị của địa chủ trong sinh hoạt kinh tế tại Anh. Ricardo lập luận là nguồn thu địa tô càng vững chắc sẽ tạo cho điạ chủ ưu thế trong mọi sinh hoạt. Đến thế kỷ XX lo sợ này không còn thuyết phục vì vai trò của địa chủ không còn quan trọng qua tiến trình công nghiệp hoá.

    Một lập luận khác của Hayek thuộc trường phái nước Aó cho là không ai tiên đoán được doanh thu một cách chính xác, địa tô cũng vậy, vì nền kinh tế tự do luôn năng động và thành quả do kế hoạch và có yếu tố tình cờ đóng góp.

    Piketty theo hướng suy luận của Ricardo mà lo âu là giới hữu sản hiện nay (giống như địa chủ Anh ngày xưa, hình thức tạo lập tư bản không do thành qủa lao động và tiết kiệm) sẽ chiếm mọi ưu thế trong xã hội tương lai và bất công sẽ liên tục.

    "Bất công trong thu nhập là một vấn đề kinh tế tiền lương mà còn có hậu quả cho xã hội, vì sự vận hành của các động lực chính trong xã hội tư bản qua thời gian sẽ đưa tới bất công hoặc công bình."

    Xin hiểu là: Tiền lương cho công nhân hay doanh thu cho lãnh đạo không thuần tuý là một vấn đề nội bộ kinh tế cho từng doanh nghiệp một mà có hiệu ứng lan toả ra toàn xã hội qua thời gian, nhất là trong nền kinh tế thị trường có cạnh tranh do đầu tư mới.

    Công nhân vì lương thấp chỉ lo ăn mặc, không thể tiết kiệm. Do đó, nên chính quyền không thể huy động tiết kiệm quốc nội cho nhưng đầu tư mới. Lãnh đạo có lương cao cộng thêm thu nhập do tham nhũng (như tại Việt Nam) nên tìm cách tháo chạy để giữ cuả bất chánh, cả thu nhập của hai giới không tạo khích lệ cho môi trường đầu tư mới và chênh lệch chỉ gây thêm bất công.

    Nếu tiền lương công nhân cao thì sẽ tiêu thụ và tiết kiệm nhiều hơn. Doanh thu liêm chính của lãnh đạo sẽ có tác dụng tốt môi trường xã hộ (niềm tin vào cơ chế), cả hai khích lệ môi trường đầu tư và sẽ đạt đến (một phần nào) công bình.

    Tôi còn khó khăn để diễn đạt các thuật ngữ mới và cô động, nhất là tiếng Việt cho trong sáng hơn. Một lần nữa, xin cám ơn sự quan tâm của anh Khương Việt. Tôi hy vọng những đóng góp khiêm tốn của tôi sẽ được anh tiếp tục bổ túc.

    Trân trọng

    ĐKThêm

    Phản hồi: 

    [quote=conq]Thế giới đang ngày càng văn minh tiến bộ nhanh chóng nhờ khoa học công nghệ phát triển vượt bậc. Người tài giỏi, trí tuệ cao cường đang ngày càng giàu có, ví dụ như các chủ nhân tỉ phú hoặc các nhân viên triệu phú tại các công ty công nghệ như Google, Facebook, Apple ... kẻ kém may mắn, trí tuệ tầm thường, kỹ năng làng nhàng, thì đang có nguy cơ thất nghiệp, hoặc đã thất nghiệp, mức sống đang suy giảm, nhưng không có cách chi cải tạo, tự cải tạo ngõ hầu theo kịp được thời đại, đang bị bỏ lại phía sau, sẽ rơi vĩnh viễn xuống tầng lớp thấp kém trong xã hội. Dân Mỹ đổ thừa nạn thất nghiệp là do công việc sản xuất bị chuyển sang TQ, Mexico, thế nhưng nếu nay mang công việc sản xuất về lại Mỹ thì chúng sẽ được tự động hóa rất nhiều, chỗ làm được tạo thêm không bao nhiêu nhưng giá hàng hóa có khi lại cao hơn so với sản xuất tại nơi khác rồi chở về Mỹ để tiêu thụ !

    Các nước giàu có phát triển như Mỹ đang phải lay hoay tìm cách giải quyết vấn đề bất bình đẳng xã hội gây ra bởi tiến bộ khoa học công nghệ đang làm giảm số công ăn việc làm hạng trung, hạng thấp trong kỹ nghệ sản xuất, và nay đang lan sang cả khu vực dịch vụ.

    Các nước đang phát triển như VN thì đang còn phải lo làm sao để 'hiện đại hóa', 'công nghiệp hóa' đất nước để tăng năng suất lao động, tích lũy của cải, xây dựng 'nhà nước phàp quyền', dân chủ hóa chính trị, nâng cao mọi mặt đời sống của đa số dân chúng đang còn rất vất vả, lam lũ !

    Vấn đề mỗi nơi một khác, cách giải quyết sẽ rất khác, nhưng cơ sở chung vẫn là 'lương tâm con người'; không nên tham lam quá. Gần đây các tỉ phú siêu giàu khắp thế giới họp ở Davos cũng đã nêu lên vấn đề 'khủng hoảng xã hội' mà nhân loại đang đối mặt này, nhận thức đã rõ ràng nhưng chưa có giải pháp thống nhất. Richard Branson nói rất hay, Bill Gates, Warren Buffet đang làm từ thiện nhiều, rất hữu ích, nhưng có lẽ phải cần toàn bộ các tỉ phú khắp nơi trên thế giới cùng bắt tay vào cuộc thì mới mong có biến chuyển mạnh được.[/quote]

    Kinh tế EU tăng trưởng khựng lại, 0%, kể cả Đức cũng có vấn đề tăng trưởng kinh tế. Mức đầu tư thấp vì các công ty không thu được lợi nhuận, là một trong những nguyên nhân.

    Tôi nghĩ không thể có mãi tăng trưởng kinh tế cao vì dân số tăng, an sinh xã hội cao, lương cao, điều kiện lao động cao, kỹ thuật cao (làm mất việc làm) ... Đến một lúc nào đó phải giảm các an sinh xã hội, giảm lương để có thể cạnh tranh về giá thành. Để đối phó với giá thành rẻ của hàng Tàu, phải chống social dumping, hàng hóa sản xuất phải đánh giá theo cùng một điều kiện sản xuất cho nên cơ sở chung vẫn là 'lương tâm con người'; không nên tham lam quá.

    http://quebec.huffingtonpost.ca/2014/08/14/en-chine-des-robots-cuisinent...

    Các robot thay thế người trong nhà hàng. Kỹ thuật cao, năng xuất cao, khiến con người thất nghiệp !

    Tôi còn nhớ có cây xăng BP lúc đầu thuê sinh viên gác trạm xăng để tránh đổ xăng lậu vì trả bằng tiền mặt. Sau này thay bằng trả card tín dụng, chả ai thuê sinh viên mùa hè nữa !

    Phản hồi: 

    Thế giới đang ngày càng văn minh tiến bộ nhanh chóng nhờ khoa học công nghệ phát triển vượt bậc. Người tài giỏi, trí tuệ cao cường đang ngày càng giàu có, ví dụ như các chủ nhân tỉ phú hoặc các nhân viên triệu phú tại các công ty công nghệ như Google, Facebook, Apple ... kẻ kém may mắn, trí tuệ tầm thường, kỹ năng làng nhàng, thì đang có nguy cơ thất nghiệp, hoặc đã thất nghiệp, mức sống đang suy giảm, nhưng không có cách chi cải tạo, tự cải tạo ngõ hầu theo kịp được thời đại, đang bị bỏ lại phía sau, sẽ rơi vĩnh viễn xuống tầng lớp thấp kém trong xã hội. Dân Mỹ đổ thừa nạn thất nghiệp là do công việc sản xuất bị chuyển sang TQ, Mexico, thế nhưng nếu nay mang công việc sản xuất về lại Mỹ thì chúng sẽ được tự động hóa rất nhiều, chỗ làm được tạo thêm không bao nhiêu nhưng giá hàng hóa có khi lại cao hơn so với sản xuất tại nơi khác rồi chở về Mỹ để tiêu thụ !

    Các nước giàu có phát triển như Mỹ đang phải lay hoay tìm cách giải quyết vấn đề bất bình đẳng xã hội gây ra bởi tiến bộ khoa học công nghệ đang làm giảm số công ăn việc làm hạng trung, hạng thấp trong kỹ nghệ sản xuất, và nay đang lan sang cả khu vực dịch vụ.

    Các nước đang phát triển như VN thì đang còn phải lo làm sao để 'hiện đại hóa', 'công nghiệp hóa' đất nước để tăng năng suất lao động, tích lũy của cải, xây dựng 'nhà nước phàp quyền', dân chủ hóa chính trị, nâng cao mọi mặt đời sống của đa số dân chúng đang còn rất vất vả, lam lũ !

    Vấn đề mỗi nơi một khác, cách giải quyết sẽ rất khác, nhưng cơ sở chung vẫn là 'lương tâm con người'; không nên tham lam quá. Gần đây các tỉ phú siêu giàu khắp thế giới họp ở Davos cũng đã nêu lên vấn đề 'khủng hoảng xã hội' mà nhân loại đang đối mặt này, nhận thức đã rõ ràng nhưng chưa có giải pháp thống nhất. Richard Branson nói rất hay, Bill Gates, Warren Buffet đang làm từ thiện nhiều, rất hữu ích, nhưng có lẽ phải cần toàn bộ các tỉ phú khắp nơi trên thế giới cùng bắt tay vào cuộc thì mới mong có biến chuyển mạnh được.

    Phản hồi: 

    Việt Nam đang thử nghiệm mô hình phát triển kinh tế của Trung Quốc nhưng khó thể thành công như Trung Quốc nếu không cải tổ định chế và nhất là không dẹp bớt được nạn tham nhũng. Ai muốn biết thêm về các bình luận về quyển sách này thì vào đây: www.hup.harvard.edu.catalog.php?isbn=9780674430006

    Phản hồi: 

    Cảm ơn tác giả đã bỏ công tìm đọc và cố gắng giới thiệu một tác phẩm tầm cỡ như vậy đến độc giả VN.

    Thú thật là khi quyển sách mới ra, tôi có đọc qua một vài bài điểm sách (Book review) trên một số báo chí tiếng tăm như tờ Guardian,Economics, New York Times, Washington Post, v.v..., và xem cuộc phỏng vấn tác giả của Charlie Rose trên đài PBS, nhưng thấy sách dày quá, đến gần 700 trang, lại có vẻ như được viết ra cho các nhà kinh tế, hơn là cho loại dân tay ngang (lay persons), nên tôi ngại quá không tìm đọc nữa.

    Nay được đọc bài giới thiệu của ông Đỗ Kim Thêm, tôi rất lấy làm tâm đắc, và xin được bày tỏ vài ý nho nhỏ như sau.

    1.-Có những khái niệm, tuy trong truyền thông Anh-Mỹ là đã thông dụng, nhưng có lẽ còn mới lạ đối với nhiều độc giả người Việt, vậy đề nghị tác giả lần sau nên cố gắng giải thích thêm. Chẳng hạn, khái niệm " Đồng thuận Bắc Kinh" (Peking Consensus)là một từ mới ra đời gần đây, có tính cách đối chọi lại từ Washington Consensus.

    Thiết nghĩ hai khái niệm đó cần được tác giả, cũng như những bậc cao minh khác, giải thích cặn kẻ, và nếu được, cô đọng lại trong những từ Hán-Việt tương đương, để giúp độc giả dễ dàng lãnh hội nội dung toàn bài viết hơn.

    2.-Cũng mong tác giả lưu ý đôi chút để tránh tình trạng câu văn Việt ngữ bị ảnh hưởng quá nhiều cách diễn đạt của các ngoại ngữ khác, khiến đôi chỗ độc giả cảm thấy hơi khó hiểu.

    Chẳng hạn câu: Ông nhận xét là dù đề tài tích lũy tư bản thành tích sản và di sản không được kinh tế gia đương đại quan tâm, nhưng hiệu ứng lại quan trọng hơn là tài sản được làm ra và tiết kiệm..

    Câu đó hơi khó hiểu, bởi không hiểu "hiệu ứng" ở đây là hiệu ứng của cái gì, của " tích sản" hay của " di sản".

    Hoặc như câu :"Tích lũy tư bản là hình thái mới vì nó không là một tiến trình do tiết kiệm, đầu tư và tạo lập tài sản mà David Ricardo và John Stuartz Mill đề cập."

    Câu đó thật khó hiêủ, bởi theo hiểu biết thông thường thì tiết kiệm, đầu tư và sự tạo ra sản phẩm mới là một phần trong quá trình tích lũy tư bản (capital accumulation), nhưng sao tác giả lại viết như trên mà không vui lòng giải thích vì đâu mà " tích lũy tư bản là hình thái mới vì nó không là tiến trình do tiết kiệm...?

    Hoặc ở một đoạn khác, tác giả lại viết:

    "Bất công trong thu nhập là một vấn đề kinh tế tiền lương mà còn có hậu quả cho xã hội, vì sự vận hành của các động lực chính trong xã hội tư bản qua thời gian sẽ đưa tới bất công hoặc công bình."

    Không hiểu đó là ý kiến của chính tác giả, hay tác giả đang cố dẫn giải lại quan điểm của Piketty? Nhưng bất kể là ý kiến của ai, câu văn đó, theo thiển ý, là rất tối nghĩa.

    Một lần nữa, xin cảm ơn tác giả Đỗ Kim Thêm.

    Phản hồi: 

    Tác phẩm của Piketty đuợc TTX VN dịch là "Thủ đô thếy kỷ XXI", không ai phản ứng

    Phản hồi: 

    [quote]
    "Đảng lãnh đạo nhà nước,
    quản lý nhân dân,
    làm chủ đất nước"
    [/quote]

    Chính xác là câu trên phản ảnh đúng với thực tế.
    Các quan chức ra làm việc cứ bi bô đảng và chỉ biết trung thành với đảng

    [quote]
    Giải pháp tương ứng khả thi để san bằng bất công xã hội hiện nay không còn quan trọng nữa vì giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ và tồn vong của chế độ trở thành hai vấn đề sinh tử cho Việt Nam, một thách thức nằm ngoài tầm nhìn của Piketty và phạm vi của bài giới thiệu sách này.
    [/quote]

    Giữa "toàn vẹn lãnh thổ" và "tồn vong của chế độ CS tham nhũng" thì cái nào quan trọng hơn.

    Giải tán "chế độ CS độc tài tham nhũng" để thành lập "chế độ cộng hòa, dân chủ pháp quyền" là giải pháp hợp lý nhất, thỏa theo nguyện vọng của tất cả công dân VN.
    Cứ tổ chức trưng cầu dân ý là biết.

    Phản hồi: 

    [quote]
    Nếu bất công, trước đây theo Marx, là một động lực thúc đẩy cho giới vô sản đấu tranh, hay sau này, giới trung lưu tìm đường thăng tiến qua cơ hội giáo dục, thì hiện nay, triển vọng giải quyết công bình xã hội càng lu mờ vì lẽ không còn cơ hội đấu tranh chuyên chính cách mạng và giới trung lưu co cụm.
    [/quote]

    Bất công ở VN khác với bất công tại các nước tư bản phương Tây. Ở VN, nhiều nhười giàu ăn chơi phè phỡn, phung phí của cải mà ít quan tâm đến việc làm từ thiện trong khi tại các nước phương Tây rất nhiều tỷ phú đã lập các quỹ từ thiện của mình nhiều khi chiếm tới 80-90% tài sản như Bill Gates hay Warren Bufet... Ngoài ra ở VN do thiếu minh bạch thông tin và tham nhũng nên nhiều người giàu ở VN là do lợi dụng quyền lực và sở hữu thông tin có lợi cho mình mà người dân bình thường không biết. Do vậy bất công tại VN sẽ ngày càng lớn chứ không phải giảm bất công như lí thuyết Mac-Lênin và CNXH mà ĐCSVN đang rêu rao theo đuổi.