Mõ Làng - "Việt - Trung những sự thật trần trụi"

  • Bởi Cát Bụi
    07/08/2014
    8 phản hồi

    Mõ Làng

    Mõ Làng: Bài viết dưới đây là của Tiến sỹ Vũ Cao Phan được đăng trên Amari Tx dưới tiêu đề "Những điều không thể không nói ra"


    Ảnh minh họa

    Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước. Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu chuyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.

    Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy. Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: “Những điều không thể không nói ra” mà Tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: “Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung – Việt trước năm 1949”(Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) –“Quan hệ Trung – Việt từ 1949 đến nay” (Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam” (Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ” (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và “Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á” (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).

    Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt – Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.

    Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ “Những điều không thể không nói ra” hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).

    Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.

    Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà “Những điều không thể không nói ra” đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.

    *

    * *

    Lịch sử thành văn của nước Việt – nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen – xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc” – một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn. Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện “sát phu, hiếp phụ”, “bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi” cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa”, viết trong “Đại cáo bình Ngô”. Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này “trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị”. Tác giả của “Diễn biến quan hệ Việt – Trung trước năm 1949” chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì “phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra”. Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh “Giao Châu” (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống. Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của “Những điều không thể không nói ra” không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì “chính sử” luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác). Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa “phù Trần, diệt Hồ” của nhà Minh đầu thế kỷ XV. “Phù Trần diệt Hồ” ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: “Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ” (theo “Minh sử”). Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là “kỷ Hậu Trần” thì người Minh lại gọi là “giặc” và phái binh đàn áp! Một thời kỳ “Bắc thuộc mới” kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi “chim trả, ngà voi” tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi – Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được “cuộc phù Trần” về bên kia biên giới. Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, “giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam” được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ “tông phiên” thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực. Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp – nhất là những sản vật quý hiếm – cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là “không đáng kể”, “tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ “hồi tặng” (từ phía triều đình Trung Quốc)” được.

    Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: “Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp” (trích Hồi ký bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba). Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh… xung quanh vấn đề này.

    Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa – văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận “khoác lác”, “hư cấu”? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích “đưa vào nội dung giáo dục quốc dân” để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

    Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến – có lúc lên đến hơn nửa triệu – nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận. Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân… ), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu. Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc. Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen. Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5. Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt – Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương). Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.

    3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để “đánh trả”, “trừng phạt” cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là “anh em” vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu “các nước anh em” thường làm).

    Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc “đánh trả”“trừng phạt” ấy – xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết – mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong “Những điều không thể không nói ra”.

    Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc “tiến quân” trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt – Trung; 1983 – 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang – Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là “sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam”? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, “Nguyên cớ ư? Ở ta!”.

    Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 – 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!

    Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.

    Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã “hoàn toàn thay đổi lập trường” về vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.

    Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là giúp mình”, hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết. Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.

    Đáng ngạc nhiên là trong bài “Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á”,tác giả gợi lại vấn đề không có thực là “lãnh thổ K.K.K”“một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam”. Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là “phong trào K.K.K”? Sự trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở chỗ nào?

    Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như “Thế giới tri thức” lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài “Quan hệ Việt – Trung từ năm 1949 đến nay”, tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức “sự thật lịch sử”?

    Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường “Việt Nam bắt nạt Trung Quốc”, “Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi”, để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ: Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong “tích tắc”, thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự “người nước ngoài” bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ. Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.

    Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là “những điều không thể không nói ra”, không thể không làm rõ vậy thôi.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    Bài này viết có nhiều chi tiết đổi trắng thay đen, rất nguy hiểm. Tên MÕ này cố rao cho to nhưng không lừa được ai vì ngày nay có internet. Mỹ đưa quân vào miền Nam giúp chế độ Ngô Đình Diệm ngăn chặn nạn CS xâm lăng thì bảo đế quốc Mỹ xâm lược nước ta. Thế quân đội MỸ đóng trên đất Hàn Quốc, Nhật Bản và Philíppin thì người Hàn, người Nhật, người Pií có bảo Mỹ xâm lược đất nước họ không? HỌ có mất một tấc đất nào vào tay Mỹ không? Còn Trung quốc giúp ta thì xem ta mất bao nhiêu đất đai về họ? Xin sơ lược kể: riêng các tỉnh biên giới phía Bắc thì mất khoảng diện tích bằng tỉnh Thái Bình, mất 2/3 thác Bản Giốc, mất Mục Nam quan, ngoài biển thì mất HS, một phàn Trường Sa, lại còn bị cái hình lưỡi bò 9 khúc nay lên 10 khúc chiếm cả triệu km vuông.
    Tên TS Phan có phải là về hùa với bon bán nước hay không mà viết những dòng trên.
    Cân có nhiều người vạch trần bộ mặt xảo trá của tên TS này ra. Hắn ăn cơm gạo của ai mà được học hành đến nơi đến chốn lại có giọng điệu phản quốc hại dân như vậy?

    Nội dung bài viết này rõ ràng biện minh rằng VN vẫn tôn trọng tình "anh em" với TQ, vẫn tri ân sự giúp đỡ của Bắc Kinh trong sự nghiệp chống "đế quốc Mỹ" dù đã có một số "thông tin sai lạc" trong truyền thông TQ. Dấu hiệu khá tốt của bài viết, theo tôi, là dám nói lên một vài "phản bác" tuy rằng yếu ớt.

    Tuy nhiên, những từ ngữ và ý tuởng nói chung vẫn là những điều mập mờ nửa kín nửa hở, che dấu các sự thật cốt lõi của lịch sữ. Vài chỗ thì vẫn là sự xuyên tạc lịch sữ "trắng trợn" như thường lệ của bộ máy tuyên giáo đảng trong hơn nửa thế kỷ qua. Thử điểm qua (chỉ) vài điều:

    Trích dẫn:
    Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX

    Phần đầu thì đúng, còn phần sau: "chiến tranh do Mỹ gây ra"? T/g cố tình bỏ qua nghị quyết 559 của TƯ đảng csVN chính là phía quyết tâm khởi động chiến tranh à?

    Một phần nghị quyết trên viết: "nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam, phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến, trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thiết lập chính quyền cách mạng.

    Mỹ xâm luợc đâu? Ngoài vài trăm cố vấn là chuyện bình thuờng như với hầu hết các quốc gia đồng minh của Mỹ ở ĐNA. Ở Hàn quốc và Nhật bản còn đông hơn trăm lần.

    Trích dẫn:
    ... vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu

    Vài biên đội? Thực tập? Lúc đó không quân của miền Bắc VN chả có gì, phi công chả ra gì, sao sánh được với phi công Triều Tiên đã tôi luyện qua chiến tranh Cao Ly? Hạ nhẹ vai trò của họ là bôi bác sự thật. Cũng nên nhắc lại đến năm 2000, lần đầu tiên, cả VN lẫn Bắc Hàn mới cho biết sự thật về sự tham dự của Bắc Hàn trong cuộc chiến VN. Tin tức cho biết ít nhất ba tóan phi công và nhân viên kỹ thuật sang Bắc Việt giúp ba phi đội không quân (một phi đội khoảng 10 chiếc; hai cho Mig-17, 1 cho Mig-21). Họ cho biết chính họ bắn hạ 26 phi cơ Mỹ. Các thông tin này có trên mạng từ nhiều nguồn, cả từ báo Tuổi Trẻ.

    Trích dẫn:
    Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam

    Cái câu này nghe hay hay. "Được nhân dân bạn cho phép" mới được ... rút quân về?

    Chuyện bên lề, hôm qua các lãnh tụ Khờ Me đỏ (mà VN từng là đồng chí) bị một tòan án Quốc Tế (kết hợp với Campuchia) kết án hai tay đồ tể Nuon Chea và Khieu Samphan (anh Hai và anh Tư của hệ thống Khờ Me đỏ) cùng tù chung thân (bởi nhiều tội, sát nhân và tội ác với nhân loại là chính). Thế mà báo chí VN không thấy đăng một dòng. Né tránh vì kể ra chi tiết các tội lỗi tày đình sẽ thấy "nhột" vì hơi giống?

    Trích dẫn:
    Sự trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở chỗ nào?

    Tác giả Mõ Làng chê mấy tay tác giả TQ bằng một câu hỏi. Tôi trả lời giùm: tất cả mấy ông cs không ai có sự thật để biết nó nằm chỗ nào. Đôi khi buộc phải lôi nó ra, nhắc đến nó, chỉ vì bị ... kẹt, không thể dấu nữa mà thôi.

    Tôi kể câu chuyện nhỏ nhân nội dung bài viết nói về "ân tình của TQ với VN"

    Cuối thập niên 1980, nhiều SV TQ được gửi sang nuớc ngoài học tập. Họ thường là nghiên cứu sinh TS hoặc Thạc Sĩ (Master). Tôi gặp họ khi đang làm việc tại một viện ĐH và có trao đổi nhiều v/đ. Họ đa số bắt đầu bày tỏ thái độ không ưa chính quyền csTQ, bắt đầu công khai ủng hộ những giá trị tự do dân chủ mà các nuớc Tây phuơng được thụ huởng.

    Sau sự kiện Thiên An Môn (1989), đại đa số họ, dù đang còn học tập, tại các nuớc phuơng Tây đã xin ở lại tị nan. Tuyệt đại đa số được chấp thuận ở rất nhiều nuớc. Tuy nhiên, một điều phổ biến mà những người tôi giao tiếp bày tỏ ra không ngần ngại (dù biết tôi là người gốc Việt - và có giúp đỡ họ ít nhiều) là họ đều rất ghét nuớc VN. Họ cho là đã "vong ân bội nghĩa" với sự giúp đỡ to lớn của TQ trong rất nhiều năm, nhất là trong cuộc chiến VN (công nhận tuyên truyền TQ rất thành công trong mặt này với tòan dân TQ)

    Tôi đã "phản bác", trong nhiều trường hợp, rằng nuớc VN nói chung không có mang ơn gì đến TQ cả. Thậm chí, đối với một số đông người Việt, như chính tôi, TQcs là kẻ thù, đã tiếp tay với đảng csVN để cs hóa tòan đất nuớc VN. Nếu có mang ơn thì chỉ có đảng csVN mang ơn mà thôi.

    Tôi nhắc lại với họ nhiều lần một điệp khúc, nhân dân nuớc VN không mang một ân nghĩa gì với TQ cộng sản cả. Đừng bao giờ nghĩ như thế!

    Đích thị là Mõ Tàu rồi bà con ơi, làm gì có ơn huệ nào với bọn đã chủ trương chia cắt Việt nam để rồi hai miền Nam Bắc nồi da xáo thịt trong khi đó chúng lo đào hầm sâu, tích luỹ lương thực để phòng chiến tranh với Mỹ với Liên xô khi Bắc Việt nam còn đang thực hiện mưu đồ tiến chiếm miền Nam chúng thừa cơ đoạt Hoàng sa rồi xua hàng vạn quân đánh chiếm tàn phá sáu tỉnh biên giới phía Bắc giết hại hàng vạn đồng bào chiến sỹ ta hỏi rằng món nợ máu đó làm sao xoá được . Phận Mõ Tàu mà còn nói chuyện ơn nghĩa này nọ nghe thối như mồm tuyên huấn.

    Đích thị là Mõ Tàu rồi bà con ơi, làm gì có ơn huệ nào với bọn đã chủ trương chia cắt Việt nam để rồi hai miền Nam Bắc nồi da xáo thịt trong khi đó chúng lo đào hầm sâu, tích luỹ lương thực để phòng chiến tranh với Mỹ với Liên xô khi Bắc Việt nam còn đang thực hiện mưu đồ tiến chiếm miền Nam chúng thừa cơ đoạt Hoàng sa rồi xua hàng vạn quân đánh chiếm tàn phá sáu tỉnh biên giới phía Bắc giết hại hàng vạn đồng bào chiến sỹ ta hỏi rằng món nợ máu đó làm sao xoá được . Phận Mõ Tàu mà còn nói chuyện ơn nghĩa này nọ nghe thối như mồm tuyên huấn.

    Tôi không biết TS Vũ Cao Phan làm ở cơ quan nào của nhà nước ta. Nếu ông ta là người nhà nước thì bài này đã đăng trên báo lề phải. Còn nghe Mõ làng thì có vẻ là thuộc báo lề dân, nhưng đọc nội dung bài này thì thấy PHẢI CẢNH GIẮC VỚI MÕ LÀNG.
    Đây là một loại tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo có tay nghề cao chứ không phải loại DLV tầm thường. Trong nghề báo nói nửa sự thật là nói dối. Bài viết này nói lên một sự thật những điều đã xẩy ra không ai chối cãi được nhưng lồng vào đó là những dòng có dấu chỉ đạo của Tàu khựa. Đọc cái còm vừa rồi thấy có nhắc tới CCRĐ, nhưng trong bài chủ thì không có, tôi mới nhận ra tâm dịa của tên Mõ Làng. Tên Mõ này (tuy bài viết là của tay Phan nhưng đăng trên Mõ thì mọi quy kết thuộc về Mõ) nham hiểm trong cách nói, có vẻ như ca ngợi thắng lợi của ta nhưng thực ra là đề cao Trung quốc đấy. Cuộc chiến Việt- Trung kéo dài đến năm 1989 chứ không phải kết thúc năm 1979 khi Trung quốc rút quân. Ta bị thiệt hại nặng nề và dai dẳng do nhà nước mình ngu và bịt mắt dân. Hắn trích câu ân tình của Mao nhưng hắn đã bỏ qua câu sau: "Trung quốc đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng" đồng thời xuyên tạc quân Mỹ đổ vào miền Nam. Nếu phe CS không có ý đồ bành trướng xuống miền Nam, rồi ra cả Đông Dương, sau nữa ra cả Đông Nam Á thì người Mỹ không đổ quân vào miền Nam. Cuộc chiến tranh của ta với miền Nam là cuộc nội chiến có yếu tố nước ngoài nên tàn khốc nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam. Trung quốc giúp Miền Bắc chiếm Miền Nam để sau này nó thôn tính cả nước ta cho gọn. Bây giờ Trung quốc đng BỎ BOM NGU vaò đầu óc lãnh đạo của ta đấy. Có thể nêu nhiều điều để chứng minh tên Mõ Làng này không thuộc phe ta, nhưng để kết, tôi chỉ nêu ra câu ca dao thời đại để mọi người đều thấy dã tâm của Trung quốc:
    MẤY ĐỜI BÁNH ĐÚC CÓ XƯƠNG
    MẤY ĐỜI TÀU KHỰA CÓ THƯƠNG DÂN MÌNH.

    Tác giả viết: "Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam."
    Có một chi tiết mà tác giả không nhắc tới để nhân dân Việt Nam nhớ ơn Trung quốc nghìn đời: "Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần" cho Việt Nam để tiến hành cuộc CCRĐ làm cho gàn nửa triệu đồng bào ta phải chết oan. Nếu không có Mao thì làm gì có Hồ.
    Tác giả cũng nhầm trong cuộc kahngs chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, đó là chính CS đã chuẩn bị cuộc chiến này từ ngay khi ký hiệp đinh Genève, CS gài cán bộ ở lại miền Nam có đày đủ khí giới chôn giấu, sau đó mở con dương HCM trên bộ và đường HCM trên biển để chi viện cho miền Nam đánh chế độ Sài Gòn( mà gọi là ngụy). Năm 1961. Hà Nội có họp Hội nghị gọi là Hội nghị Diên Hồng (thời Hồ Minh Côông) chuản bị đánh miền Nam, tích trữ lương thực, cuối năm 1962 thì phát hành tem phiếu mua các nhu yếu phẩm, không cho dân ăn không cho dân mặc, không cho dân mua sắm theo nhu cầu dẫn đến cả miền Bắc đói dài cho đến năm 1990, nhờ ơn Liên xô sụp đổ ta mới bỏ tem phiếu. Kiểu làm ăn hợp tác xã thì ta cũng được Trung quốc giúp đỡ gây ra tình trạng kinh tế ngày càng lụn bại. Hồ Minh Côông còn ra lệnh nông dân triệt tiêu giống lúa đặc sản tám thơm, có thể thuộc loại lúa chất lượng nhất thế giới hơn cả giống lúa ngon của Ấn Độ còn hơn cả giống lúa Nàng Hương của miền Nam, để trồng giống lúa Mộc tuyền của Trung quốc chất lượng kém nhưng năng suất cao. Nay giống lúa tám thơm chính hiệu đã tuyệt chủng tồi, loại gạo tám thơm bây giờ không ngon bằng gạo tám thơm ngày trước.

    Trung quốc có viện trợ vũ khí cho Việt Nam đánh Mỹ, biến Việt Nam thành chiến trường thử vũ khí miễn phí cho cả hai phe. Việt Nam thì vỗ tay tự hào, còn Trung quốc thì hớn hở reo vang: "Chúng mày nghe tao xui dại, cho chúng mày chết mẹ chúng mày đi để tao dễ bề thôn tính."

    Vũ Cao Phan viết:
    Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong “tích tắc”, thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự “người nước ngoài” bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ. Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái

    Vâng! Thưa ông Vũ Cao Phan, cứ cho là những điều ông nói là đúng, thế thì giới lãnh đạo VN chỉ có thể tự trách mình là ngu dốt khi liên tục làm ơn mà vẫn phải chịu oán, hậu quả của điều đó là thậm chí còn khủng khiếp hơn, khi ngày nay TQ chả coi VN ra gì.

    Bây giờ tôi đi vào luận điểm thứ nhất:

    - Năm 1978, do quân đội nhân dân VN mở đường cho chuột chạy, hậu quả của điều đó là 55.300 thương vong cho tới năm 1989 (nguồn wiki, tôi tin con số thật sự còn lớn hơn), Việt Nam bị cấm vận lâu dài gây ra hậu qủa là đât nước tụt hậu khó khăn nghiêm trong, xét về phuong diện này chiến lược của TQ thắng lớn.

    - Năm 1979, do không nện TQ như các hoàng đế VN đã làm, để quân TQ kịp phá hủy gần như toàn bộ 6 tỉnh biên giới phía bắc, gây tổn hại nguyên khí nặng nề, mà còn gậy ra sự ức chế lớn cho quân đội khi không thể có một chiến thắng đúng nghĩa. TQ kịp trồng 3 triệu quả mìn trên toàn tuyến biên giới, và duy trì quân đội gây ra cuộc chiến tranh phá hoại (sabotage war)lâu dài tới tận năm 1984, ngoài ra quân đội VN phải duy trì một đội quân thường trực chiến đấu cỡ 60 vạn ở miền bắc, điều đó gây tổn hại cho nền kinh tế nặng nề. Một lần nữa TQ lại thắng về chiến lược.

    Câu hỏi là ai là kẻ ngu dốt nhất ở đây? Câu trả lời đã có ở trên, và hậu qủa của điều đó vẫn còn tới tận bây giờ khi TQ lấn lướt VN trên mọi mặt, à quên, tôi tin vụ TQ tiêu diệt hơn 70 chiến sĩ Việt Nam ở Gạc Ma năm 1988 là do sự nhụt nhuệ khí của giới chỉ huy quân đội VN bởi ảnh hưởng của trận chiến 1979, sự sợ hãi đó đã khiến hơn 70 chiến sĩ chết oan mà không dám có một phản kháng nào. Giới lãnh đạo quân sự VN nói riêng và chính trị VN nói chung là lũ chó hèn nhát như vậy đấy. Đó là sự thật.

    Xót thương thay cho những dân tộc đã bị Tần - Hán nuốt chửng. Nhiều "nhà sử học" Trung Quốc hiện nay không nhận ra họ chính là hậu duệ của những dân tộc mất nước, hí hửng nhận giặc làm cha.