Trần Vinh Dự - Giáo dục Việt Nam: phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận?

  • Bởi Admin
    29/07/2014
    3 phản hồi

    Trần Vinh Dự

    Gần đây, câu chuyện giáo dục phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận ở Việt Nam trở nên sôi động, đặc biệt trong cộng đồng những người làm giáo dục. Một số người ủng hộ giáo dục vì lợi nhuận, như GS Vũ Đức Vượng, trong khi cũng có nhiều người phản đối như TS Giáp Văn Dương, TS Huỳnh Thế Du.

    GS Vượng cho rằng “hãy cứ dạy vì lợi nhuận đã” và “trường đại học tư có lãi không phải là điều xấu”. TS Dương và TS Du thì cho rằng “giáo dục nói chung không phải là nơi để kiếm lợi nhuận” và “khi trường đang ăn nên làm ra thì chẳng có lý do gì để cổ đông từ bỏ lợi ích tài chính của mình và vấn đề ở chỗ là khả năng trở thành nơi bán bằng của các đại học vì lợi nhuận rất cao”.

    Đây không phải là một vấn đề mới ở các nước đã phát triển, nhưng ở Việt Nam thì nó mới mẻ hơn, và cũng có những đặc thù khác xa các nước đã phát triển.

    Khác biệt cực kỳ lớn ở Việt Nam khiến cho câu chuyện thảo luận mô hình vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận ở Việt Nam trở nên gần như là vô nghĩa nằm ở ba điểm:

    Thứ nhất là khối tư nhân ở Việt Nam chưa quen “cho” tiền các đại học. Ở Việt Nam không tồn tại các quỹ tài trợ cho giáo dục của tư nhân. Việt Nam cũng không có nhiều các đại gia, tỷ phú, giàu có và sẵn sàng bỏ các khoản tiền lớn hiến tặng các trường đại học. Văn hoá của người Việt cũng không quen cho tiền ra bên ngoài (trừ trường hợp là hoạt động tôn giáo), thông thường họ chỉ hiến tặng cho các cá nhân trong gia đình và trong dòng họ.

    Thứ hai, nhà nước Việt Nam cũng không có bất cứ đãi ngộ gì với trường đại học tư, dù là phi lợi nhuận hay có lợi nhuận. Nhà nước không tài trợ tiền cho đại học tư, cũng không có những quỹ trợ cấp cho sinh viên (dù sinh viên trường tư hay công).

    Thứ ba, các đại học tư, dù khoác áo phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận thì cũng đều bị đối xử bất bình đẳng so với các đại học công lập vì nhóm thứ hai này được trợ cấp “tới tận răng”.

    Vì điểm thứ nhất và thứ hai ở trên, dù là đại học tư đi theo con đường vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì trước hết cũng phải… có lợi nhuận trước đã. Không có bất kể nguồn tài trợ nào từ cả phía tư nhân lẫn nhà nước. Vì thế đại học tư phải hoàn toàn dựa vào nguồn thu duy nhất là học phí của sinh viên, và phải tự trang trải được.

    Kết hợp với điểm thứ ba, đại học tư ở Việt Nam (bất kể vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận) đều khó sống được khi cạnh tranh với các trường đại học công lập, nơi học phí gần như không đáng kể và luôn toạ lạc tại các địa điểm trung tâm với campus hoành tráng. Thực tế là cho đến nay ở Việt Nam vẫn chỉ có vài ba trường đại học tư thục có lợi nhuận (chưa nói đến chuyện chia lợi hay không). Tuyệt đại đa số các đại học tư nhằm trong nhóm thứ hai – nhóm đang lỗ nặng.

    Vậy thì tại sao lại phải tranh luận về việc nên làm đại học tư thục theo mô hình vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận? Ở đây có một số thực tế thú vị mà ít người nhắc tới.

    Thứ nhất là nếu như đằng nào cũng lỗ, cũng không tuyển sinh được bao nhiêu, thì dùng chữ “phi lợi nhuận” dù sao vẫn sang hơn. Trường Phan Chu Trinh là một thí dụ. Đây là một trường đại học thành lập cũng khá lâu, số người theo học ít, và mới tuyên bố trường mình là mô hình trường đại học phi lợi nhuận đầu tiên tại Việt Nam.

    Thứ hai, có một vài trường hợp (rất hiếm hoi), ban đầu do một số lãnh đạo trường dựng lên. Sau đó kêu gọi các nhà đầu tư tham gia phát triển trường. Nay trường đã có lãi nhưng sở hữu của những người sáng lập không còn bao nhiêu. Vậy là nếu chia thì những sáng lập viên chẳng được bao nhiêu lợi nhuận. Thế là có những cuộc đấu tranh tan nát trong nội bộ về chuyện trường theo mô hình vì lợi nhuận (tức là chia cho cổ đông) hay là phi lợi nhuận (giữ lại trường, và vì thế nằm trong quyền quản lý của các lãnh đạo nhà trường chứ không phải cổ đông).

    Thứ ba, là một vài cơ sở đào tạo, thí dụ trường Fulbright ở Việt Nam, vốn cho tới nay vẫn được tài trợ 100% từ nguồn tài trợ của nước ngoài. Sự thành công về chất lượng đào tạo của các cơ sở này (dựa trên nguồn tiền tài trợ lớn, lương giáo viên cao, miễn học phí nên tuyển được đầu vào giỏi, và quy mô đào tạo nhỏ) khiến nhiều người có ảo tưởng rằng mô hình này có thể nhân rộng và trở thành cứu cánh về chất lượng cho giáo dục đại học (hay gọi chung là giáo dục sau phổ thông) ở Việt Nam.

    Thứ tư, nếu nói về chất lượng bằng cấp, hay chuyện bán bằng, thì phải nói đến hệ thống đại học công lập với tư cách là thủ phạm chính. Phần lớn các trường đại học và cao đẳng công lập cho tới nay vẫn có chất lượng không ra gì mặc dù được ngân sách nhà nước đầu tư rất lớn về cơ sở vật chất và trang thiết bị. Đó là chưa kể các chương trình đại học tại chức được triển khai từ khoảng gần 20 năm nay bởi các trường đại học công lập đã biến hàng chục triệu người thành cử nhân qua các khoá tại chức với chất lượng sư phạm cực kỳ thấp. Mặc dù vẫn có những người học đại học tại chức ra và có chất lượng thật, nhưng số này quá ít, số lớn chỉ là “hợp thức hoá” về mặt bằng cấp. Nhiều người sau đó đã “học” tiếp lên các bằng thạc sĩ và tiến sĩ và trở thành những lãnh đạo quan cấp cao trong bộ máy nhà nước.

    Vậy thì vấn đề đại học tư nên vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận ở Việt Nam có đáng được bàn đến hay không? Tôi cho rằng hãy còn quá sớm để bàn tới chuyện này. Trước hết hãy chờ xem họ (các trường đại học tư thục) có sống được không đã.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Một trong những nguy cơ của tổ chức giáo dục vì lợi nhuân (for profit) mà tôi nói tới trong một còm cách đây vài ngày có vẻ đang xảy ra với đại học Hoa Sen ở Saigon. Theo tin đọc bên Quê Choa,

    Trích dẫn:
    Một nhóm cổ đông, chỉ vài người đã nắm đến 40% cổ phần Hoa Sen và hiện đang muốn khuynh đảo nhà trường, thay đổi hội đồng quản trị và ban giám hiệu, trong khi hội đồng quản trị và ban giám hiệu đó trong nhiều năm qua đã góp phần xây dựng Hoa Sen được như ngày hôm nay.

    http://bolapquechoa.blogspot.com/2014/08/chuyen-gi-ang-xay-ra-o-ai-hoc-hoa-sen.html#more

    Tên tác giả viết:
    Khác biệt cực kỳ lớn ở Việt Nam khiến cho câu chuyện thảo luận mô hình vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận ở Việt Nam trở nên gần như là vô nghĩa nằm ở ba điểm:

    Thứ nhất là khối tư nhân ở Việt Nam chưa quen “cho” tiền các đại học. Ở Việt Nam không tồn tại các quỹ tài trợ cho giáo dục của tư nhân. Việt Nam cũng không có nhiều các đại gia, tỷ phú, giàu có và sẵn sàng bỏ các khoản tiền lớn hiến tặng các trường đại học. Văn hoá của người Việt cũng không quen cho tiền ra bên ngoài (trừ trường hợp là hoạt động tôn giáo), thông thường họ chỉ hiến tặng cho các cá nhân trong gia đình và trong dòng họ.

    Thứ hai, nhà nước Việt Nam cũng không có bất cứ đãi ngộ gì với trường đại học tư, dù là phi lợi nhuận hay có lợi nhuận. Nhà nước không tài trợ tiền cho đại học tư, cũng không có những quỹ trợ cấp cho sinh viên (dù sinh viên trường tư hay công).

    Thứ ba, các đại học tư, dù khoác áo phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận thì cũng đều bị đối xử bất bình đẳng so với các đại học công lập vì nhóm thứ hai này được trợ cấp “tới tận răng”.

    Vì điểm thứ nhất và thứ hai ở trên, dù là đại học tư đi theo con đường vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì trước hết cũng phải… có lợi nhuận trước đã. Không có bất kể nguồn tài trợ nào từ cả phía tư nhân lẫn nhà nước. Vì thế đại học tư phải hoàn toàn dựa vào nguồn thu duy nhất là học phí của sinh viên, và phải tự trang trải được.

    Kết hợp với điểm thứ ba, đại học tư ở Việt Nam (bất kể vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận) đều khó sống được khi cạnh tranh với các trường đại học công lập, nơi học phí gần như không đáng kể và luôn toạ lạc tại các địa điểm trung tâm với campus hoành tráng. Thực tế là cho đến nay ở Việt Nam vẫn chỉ có vài ba trường đại học tư thục có lợi nhuận (chưa nói đến chuyện chia lợi hay không). Tuyệt đại đa số các đại học tư nhằm trong nhóm thứ hai – nhóm đang lỗ nặng.

    Vậy thì tại sao lại phải tranh luận về việc nên làm đại học tư thục theo mô hình vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận? Ở đây có một số thực tế thú vị mà ít người nhắc tới.

    Tôi không chuyên về kinh tế, nhưng hiểu đại khái "lợi nhuận" (profit)là khoản tiền dôi ra sau khi trừ các chi phí. Cách hiểu này phù hợp với hình thức giáo dục "phi lợi nhuận" (non-profit) của các trường đại học tư ở Hoa Kỳ, nghĩa là các trường đai học tư có thể thu học phí, nhận quà tặng (donations), xin tiền tài trợ (grants) từ các cơ sở tư và công rồi dùng tiền đó trang trải các phi chí, nhưng không được kiếm lời. Nếu có tiền dư ra sau khi trang trải các chi phí thì phải cho vào một quỹ để phát triển trường chứ không được chia cho ai cả.

    Nếu hiểu phi lợi nhuận theo cách đó thì VN vẫn có thể thành lập các trường trung tiểu học và đại học theo hình thức phi lợi nhuận. Trong một bài viết trên VNNet, GS Vũ Đức Vượng cho biết Đại Học Hoa Sen là đại học có lợi nhuận vì có hội đồng cổ đông, có phát hành cổ phiếu và trị giá cổ phiếu tăng rất nhanh, tức là có lời. Nếu các đại học tư không chia tiền lời cho cổ đông mà cho vào quỹ phát triển của trường thì sẽ trở thành "phi lợi nhuận."

    Tôi ủng hộ quan điểm giáo dục phi lợi nhuận vì những lý do sau đây:

    1) Giáo dục là một nhân quyền, và không thể đem nhân quyền ra buôn bán để kiếm lời.

    2) Hình thức giáo dục có lợi nhuận (for-profit) có nguy cơ làm nguy hại (compromise) chất lưọng giáo dục vì các cơ sở giáo dục có thể chú ý đến vấn đề lợi nhuận (thí dụ do áp lực của cổ đông, kiếm lời nhiều), biến giáo dục thành sản phẩm thương mại, đặt nặng vấn đề làm hài lòng người tiêu thụ (học sinh muốn có tấm bằng dể dàng mà học ít) trong khi coi nhẹ phẩm chất giáo dục. Các cơ sở giáo dục có lợi nhuận ở Mỹ là một thí dụ điển hình.

    3) Hình thức giáo dục có lợi nhuận có nguy cơ làm mất tính cách đôc lập của cơ sở giáo dục và tinh thần tự do học thuật (academic freedom) vì các cổ đông hay một số cổ đông có quyền lực (có nhiều cổ phiếu) có thể áp đặt quan điểm giáo dục của họ vào giáo trình hay cách điều hành cơ sở giáo dục.

    Vấn đề tìm kiếm vốn ban đầu cho các đại học phi lợi nhuận ở VN có thể khó khăn vì những lý do tác giả Trần Vinh Dự đã nêu ra, và có vẻ như các trường đại học có lợi nhuận phải dựa vào hình thức cổ đông để gây dựng vốn.

    Thay vì phát hành cổ phiếu, đaị học phi lợi nhuận có thể huy động vốn ban đầu bằng hình thức đi vay trả lãi. Những người cho vay nhận tiền lãi cũng tương tự như nhận tiền lời từ cổ phiếu, có thể ít hơn nhưng tương đối ổn định hơn vì lãi xuất không thay đổi nhiều qua thời gian. Việc trả lãi tiền đi vay khác với việc chia lời cho các cổ đông và người cho vay có lãi sẽ không có ảnh hưởng đến việc điều hành cơ sở giáo dục.T rong khi đó, nếu làm ăn có uy tín và có hiệu quả, các cơ sỏ giáo dục phi lợi nhuận sẽ thu hút được tiền tặng dữ từ công chúng và các cơ sở kỹ nghê và thương mại, và từ từ sẽ trả đươc vốn và trở nên độc lập về tài chánh.

    Ba trở ngại tác giả Trần Vinh Dự đưa ra trong vấn để huy động vốn không phải là không khắc phục được mà tuỳ thuộc vào quyết tâm muốn khắc phục.

    1) Tôi không tin rằng VN không có nhiều người giàu để có thể cho tiền các trường học vì hiện nay VN có rất nhiều triêu phú đô la. Tuy nhiên, có thể "văn hoá" tặng dữ chưa phát triển ở VN. Nếu đúng như thế thì cần phải phát triển thứ "văn hoá" tặng dữ này bằng cách học hỏi cách thức fund raising của các đại học ở các nước phát triển, như lập các quỹ endowment mang tên người cho tiền vì người có tiền cũng thích có danh. Cho họ chút danh thì họ vui vẻ cho tiền. Đây cũng là sự thể hiện thứ văn hoá "biết ơn" một cách cụ thể của nguời tây phương mà người VN nên học (mà lại mang lại hiệu quả tài chánh rất cao).

    2) Mặc dù hiện nay các đại học tư chưa được hưởng các sự đãi ngộ nào từ chính quyền nhưng điều ấy không phải là sẽ vĩnh viễn như thê. Muốn đuợc đãi ngộ thì phải đấu tranh vì quyền lợi không phải tự dưng ai mang đến cho. Tương tự như vậy, các đại học tư muốn được đối xử công bằng với đại học công thì phải đấu tranh và phải tự chứng minh bằng giá trị thật sự của mình.

    Quá trình tranh đấu và đạt được kết quả phải lâu dài, có khi hàng mấy chục năm. Nhưng làm giáo dục là phải thế, chứ không thể nào là "mì ăn liền" được. Có như vậy mới hy vong chất lượng giáo dục ở VN được nâng cao và không bị ảnh huởng bời các thế lực kinh tế cũng như chính trị từ bên ngoài.

    "Có thực mới vực được đạo" và "có thực mới có sức truyền đạo" cả hai thuyết đều đúng. Thế nhưng đừng nên cực đoan.

    Chuyện ĐỒNG LƯƠNG thì không lo, lại lo ĐỒNG PHỤC, ngành giáo dục nên suy nghĩ thế nào để cân bằng, có khi ĐỒNG BÓNG, cứ xem chương trình ti vi vừa qua có ông bộ trưởng giáo dục và ông GS nhà giáo nhân dân phát hiểu thì thấy họ hơi lẩm cẩm.
    Ông Bộ trưởng giáo dục thì lại lên án ngành giáo dục mà không đề ra biện pháp cải tiến. Ông GS thì bàn về tư duy độc lập và tư duy phản biện thì chỉ kêu ca về học sinh viết sai chính tả. Nói đổi mới thì toàn lý thuyết suông mà không có dẫn chứng cụ thể, đó cũng là hậu quả của nền giáo dục XHCN, mới thế nào, cũ thế nào thì cả hai ông đều chịu.