Nguyễn Hưng Quốc - Việt Nam cần làm gì?

  • Bởi Mắt Bão
    29/07/2014
    17 phản hồi

    Nguyễn Hưng Quốc


    Trung Quốc đã rút giàn khoan HD-981 trước kỳ hạn (vốn dự trù vào giữa tháng 8). Có nhiều giả thuyết khác nhau được đưa ra để giải thích quyết định của họ: Một, công tác thăm dò của họ đã hoàn tất; hai, sợ bão; ba, để tránh bị đả kích trong cuộc hội nghị Ngoại trưởng thường niên của Điễn đàn An ninh Khu vực ASEAN sắp tới; bốn, để tránh bị chính quyền Việt Nam kiện trước Liên Hiệp Quốc; và, năm, tránh sức ép từ dư luận quốc tế, đặc biệt, tránh việc thúc đẩy Mỹ, Nhật và Úc hình thành một liên minh quân sự vừa để giúp Việt Nam vừa để ngăn chận Trung Quốc bành trướng ở Biển Đông.

    Bất kể vì lý do gì, việc Trung Quốc cho rút giàn khoan về nước cũng là việc rất đáng mừng đối với giới lãnh đạo Việt Nam: Họ trút được một gánh nặng rất lớn, không chừng là lớn nhất kể từ sau cuộc chiến tranh ở biên giới Việt Hoa năm 1979. Bởi họ bị áp lực từ nhiều phía:

    Với Trung Quốc, chỉ cần một phản ứng hơi quá tay, họ có thể làm bùng nổ chiến tranh, một cuộc chiến tranh chắc chắn họ sẽ thua đậm. Với dân chúng Việt Nam, sự nhượng bộ quá lâu của họ trước sự gây hấn ngang ngược của Trung Quốc sẽ được diễn dịch là một sự đầu hàng, hơn nữa, phản bội. Đó là chưa kể sức ép từ các nước khác, đặc biệt Mỹ và một số quốc gia tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc: Với những nước ấy, sự nhượng bộ hoặc đầu hàng của Việt Nam đều là tai họa đối với quyền lợi của nước họ.

    Tránh được gánh nặng ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam có thể ung dung hưởng thái bình. Hầu như chắc chắn là Trung Quốc, một lúc nào đó, sẽ mang giàn khoan sang để tiếp tục thăm dò dầu khí trên Biển Đông, ngay trên thềm lục địa Việt Nam. Một phần, đó là mục tiêu chiến lược của họ. Chắc chắn họ sẽ không từ bỏ mục tiêu ấy. Phần khác, quan trọng hơn, họ biết họ sẽ hoàn toàn an toàn khi làm như thế. Họ có thể an tâm một điều: Dù thế giới có phẫn nộ đến mấy, cũng sẽ không có ai động thủ nếu Việt Nam vẫn giữ thái độ im lặng và bất động như vừa rồi. Trong lịch sử chính trị thế giới, không ai đánh giùm không công cho người khác cả. Thời hiện đại lại càng không. Khi Barack Obama vẫn làm tổng thống Mỹ, với chính sách “lãnh đạo từ phía sau” nổi tiếng của ông, chính phủ Mỹ lại càng không có lý do gì để động binh với Trung Quốc giùm cho Việt Nam cả.

    Nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục mang giàn khoan sang thềm lục địa Việt Nam, họ có lợi gì? Họ có một cái lợi lớn: dần dần hợp pháp hóa chủ quyền của họ trên Biển Đông. Ở Việt Nam, người ta hay nói, trong cuộc tranh giành Biển Đông với Trung Quốc, có hai yếu tố quan trọng: lịch sử và pháp lý. Thật ra, cả hai là một: các bằng chứng lịch sử sẽ trở thành những bằng chứng về pháp lý. Người ta tin là nếu Việt Nam đưa ra nhiều tài liệu cổ, bản đồ cổ trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam sẽ được xem là có lý hơn. Tuy nhiên, đó chỉ là một ảo tưởng.

    Ngoài công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, còn một vấn đề khác nữa: cái lý bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Hầu như ai cũng biết, mọi phán quyết của tòa án quốc tế đều vô hiệu đối với các nước lớn, cỡ như Trung Quốc. Không có một thế lực quốc tế nào có thể bắt buộc Trung Quốc phải tuân theo một án lệnh kiểu như vậy cả.

    Trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, ngoài yếu tố lịch sử và pháp lý, còn có một yếu tố khác: thói quen. Ngay cả khi tất cả các tài liệu lịch sử đều chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam nhưng tàu bè và giàn khoan của Trung Quốc cứ đi lại nhiều lần và Việt Nam không phản đối gì cả, dần dần người ta cũng chấp nhận, dù một cách mặc nhiên, đảo và biển ấy là của Trung Quốc.

    Bởi vậy, điều nhà cầm quyền cần làm, và làm thật gấp hiện nay, là chuẩn bị một chiến lược để bảo vệ Trường Sa và Biển Đông. Để có hiệu quả, điều kiện đầu tiên là giới lãnh đạo phải thống nhất với nhau. Trong mấy tháng vừa qua, hầu như tất cả giới quan sát quốc tế đều đồng ý với nhau là ngay cả Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cũng còn bị phân hoá nặng nề. Thành ra người ta không có một tiếng nói chung nào cả. Người nói thế này người nói thế kia, cuối cùng, thế giới, và cả dân chúng Việt Nam nữa, cũng không biết là họ thực sự muốn gì.

    Điều kiện thứ hai là phải gấp rút tạo thế liên minh với bên ngoài. Một mình Việt Nam chắc chắn không phải là đối thủ của Trung Quốc. Nhiều người, để bênh vực cho chính quyền Việt Nam, thường nêu lên trận chiến biên giới Việt Hoa vào năm 1979, lúc Trung Quốc bị thảm bại. Nhưng đó chỉ là nguỵ biện. Trung Quốc bây giờ không phải là Trung Quốc vào năm 1979 và Việt Nam bây giờ cũng không phải là Việt Nam thuở ấy, lúc tinh thần dân quân đều rất cao và kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội Việt Nam còn rất dày dạn, hơn hẳn Trung Quốc. Nhiều nhà bình luận quân sự cho vào năm 1979, cả tướng lẫn quân của Trung Quốc đều không quen trận mạc: cuộc chiến tranh cuối cùng, với họ, đã chấm dứt 30 năm trước, lúc Mao Trạch Đông đánh đuổi được Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan vào năm 1949. Với quân đội Việt Nam hiện nay, cũng vậy, chiến tranh đã chấm dứt từ 35 năm trước; chỉ có một số tướng lãnh là có chút kinh nghiệm chiến trường, nhưng lúc ấy, họ lại còn quá trẻ, không biết gì về việc chỉ huy các trận đánh lớn. Ngoài ra, trận đánh trên biển khác với các trận đánh trên đất liền. Trên biển, không ai có thể đánh du kích và cũng không ai có thể sử dụng biện pháp dùng biển người để đánh bại đối thủ. Trên biển, chỉ có một yếu tố chính quyết định thắng thua: kỹ thuật. Mà kỹ thuật trên biển của Trung Quốc hiện nay đã bỏ xa Việt Nam cũng như vô số các nước khác.
    Cái gọi là liên minh với bên ngoài ấy có hai khả năng:

    Một, liên minh với các nước cùng tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc (và có khi, tranh chấp với cả Việt Nam), bao gồm ba nước chính: Malaysia, Philippines và Brunei. Có điều, hầu như ai cũng nhận thấy một liên minh như thế chỉ có thể được dùng để tiến hành đấu tranh với Trung Quốc trên mặt trận pháp lý chứ không phải là bằng quân sự. Về quân sự, cả ba nước hợp lại vẫn không phải là đối thủ của Trung Quốc.

    Hai, liên minh với các cường quốc của châu Á - Thái Bình Dương, từ Nhật Bản đến Hàn Quốc và Úc, và sau đó, là Mỹ. Một liên minh như vậy, nếu thành hiện thực, mới thực sự mạnh mẽ và hiệu quả. Tuy nhiên, vấn đề là: Liệu một liên minh lý tưởng như vậy có thể thực hiện được hay không? Nhiều người ở Việt Nam có vẻ tin chắc là được. Thật ra, để có một liên minh quốc tế, người ta cần nhiều điều kiện nhưng quan trọng nhất là phải tìm ra được những điểm chung. Có hai loại điểm chung: quyền lợi và giá trị.

    Giữa Việt Nam và Mỹ cũng như các cường quốc trong khu vực và Tây phương có một điểm chung về quyền lợi rất rõ: đó là Biển Đông, một trong những con đường hàng hải tấp nập và quan trọng nhất trên thế giới. Tuy nhiên, các điểm chung về quyền lợi hiếm khi tạo và giữ được liên minh lâu dài. Yếu tố chung quan trọng hơn, nếu không muốn nói là quan trọng nhất, để tạo và duy trì liên minh giữa hai hoặc nhiều quốc gia với nhau chính là những điểm chung trong hệ thống giá trị của các nước.

    Việt Nam hiện nay có thể chia sẻ một số quyền lợi với các nước khác, nhưng lại hoàn toàn không chia sẻ các bảng giá trị với Tây phương. Đó chính là trở ngại lớn nhất của Việt Nam trong việc bắt tay với Mỹ hay bất cứ quốc gia tự do nào trên thế giới. Không sẵn sàng vượt qua trở ngại này, đến lần sau, khi Trung Quốc mang giàn khoan trở lại thềm lục địa Việt Nam, Việt Nam cũng chỉ làm được cái điều họ làm vừa rồi: xúi dân mang tàu đánh cá ra chạy lờn vờn và phun nước vào các tàu hải quân và hải giám của Trung Quốc. Không có gì khác.

    Không có gì khác ngoài một sự đầu hàng.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    17 phản hồi

    Các bác chống cọng hải ngoại hay ngoác mồm rủa các TS giấy của VN. Có lẽ đây là lần đầu chống cọng hải ngoại có TS giấy many-vietnams-nhiều-việt-nam ?

    Tác giả viết "Việt Nam cần làm gì?". Tôi hiểu là "đảng CSVN cần làm gì?" và, các con hưu cũa họ, "nhân dân VN cần làm gì?". Phần đảng và các lảnh đạo cũa họ thì khó mà làm gì mà không giống như tự bắn vào chân mình cho nên họ sẽ tiếp tục "ngậm bồ hòn làm ngọt". Mà ngọt thiệt, đối với bản thân, gia đình, con cháu họ. Phần nhân dân VN thì tất cả chỉ là một câu hỏi: chịu đựng làm "hưu" đến bao giờ?

    Xin lạc đề một tí. Có lẻ phần lớn các độc giả DL không muốn thấy các comments đả kích trực tiếp vào một cá nhân kiểu

    Trích dẫn:
    NHQ kiến thức hạn hẹp về chữ nghĩa nói riêng và lịch sử quốc tế nhưng rất thích làm bước nhảy vọt qua bình luận chính trị nên trở thành bình loạn.

    Những đả kích/miệt thị/bêu xấu như vây không soi sáng chút nào vào đề tài đang bàn luận mà chỉ soi ngược lại bàn chân cũa người viết comments đó. Mà các độc giả DL thì không muốn thấy những vết bùn. Chán lắm!

    Tôi có một đề nghị nhỏ với BBT DL là nên khuyến cáo độc giả rằng khi góp ý cho một bài viết nào đó, chúng ta chỉ nên tập trung vào nội dung của bài đó thôi, không nên nói lan man sang những điểm, hay những bài khác, tuy cùng tác giả, nhưng không liên quan nhiều đến bài đang bàn, và nhất là tránh việc công kích cá nhân (ad hominem), hay có những lời lẽ mang tính cách " chụp mũ" tác giả, như " thân Cộng, thân Tàu", hay "tả khuynh, hữu khuynh", v.v...

    Chẳng hạn, tôi không thấy có gì liên quan giữa bài này của ông Quốc viết và đoạn giới thiệu về lớp học mà Ông phụ trách cho các undergraduate students ở một trường College nào đó cả, nhưng không hiểu sao có vị lại đem ra bàn ở đây. Làm vậy có vẻ như bị lạc đề (digressed),ảnh hưởng không hay cho việc trao đổi và góp ý.

    Bạn đọc Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!, (AMCTC!!!)

    Tại sao bạn không qua bên FB của Nguyễn Hưng Quốc để viết comment và nhận được sự trả lời của chính tác giả? Tôi tin là anh NH Quốc rất vui lòng và dành thời gian tranh luận với bạn (tôi hay đọc FB của anh NHQ và thấy anh ta vẫn thường trả lời các bạn FB khác, và anh ấy để mở phần public comment để cho bất cứ ai muốn phê bình chỉ trích gì cũng được (trừ bọn nói tục).

    Tôi đọc qua các ý kiến của bạn thì thấy:
    Thay vì viết comment phản bác ý kiến của tác giả NHQ như một số bạn đọc Dân Luận vẫn thường làm, bạn đã không chọn lối ấy mà xoay qua nói xấu, bới móc anh NH Quốc nhưng lại không đưa ra bằng chứng. Đây là ý kiến của bạn AMCTC!!! gửi lúc 11:02, 30/07/2014 - mã số 124363)

    Comment của bạn nói về một chuyện mà bài chủ của tác giả không bàn về; chẳng hạn như ý kiến của bạn (gửi lúc 10:45, 30/07/2014 - mã số 124362).

    Bạn cần tập trung vào chủ đề như BẠN ĐÃ TỪNG LÀM RẤT TỐT trong bài sau đây. Trong bài về Hiệp Định Geneve 20-7-1954, chỉ một mình bạn đã có đến 90 comment (trong tổng số chừng 100 comment). Trong số comment của bạn, 98% là trích dẫn tài liệu, thay vì bạn chỉ cần cung cấp link (website) của tài liệu ấy là đủ.

    https://www.danluan.org/tin-tuc/20140616/hiep-dinh-geneve-1954-va-hai-quoc-gia-tren-lanh-tho-viet-nam?page=1#comment-123676

    @ Tuan34344 (Nguyễn Ngọc Tuấn? - tên cúng cơm của Nguyễn Hưng Quốc)

    Tựa tiếng Anh của NHQ:
    Many Vietnams: War Culture and Memory
    Lời dịch sang tiếng Việt của NHQ:
    "Nhiều Việt Nam: Văn hóa Chiến tranh và Ký ức"
    http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=9622:chi-n-tranh-va-ky-c-v-chi-n-tranh-nguy-n-hung-qu-c&catid=66:binh-lu-n-th-i-s
    Đó là tiếng Anh đúng tiêu chuẩn, và lời dịch chính xác (-: (-:

    VS

    Victoria University
    Many Vietnams: War, Culture and Memory
    http://www.vu.edu.au/units/ASI2003

    Phải nói đó là tiếng Anh sai cú pháp, và dịch theo kiểu "vô văn hóa" Anh lẫn Việt (vì ngôn ngữ là một phần không thể tách rời khỏi văn hóa)

    Many Vietnams = Nhiều Việt Nam
    (No Star Where = Không Sao Đâu)

    VS cụm từ tiếng Việt do 1 người khác dịch:

    Many Vietnams = Việt Nam Từ Nhiều Góc Cạnh

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    DOES NGUYEN HUNG QUOC REALLY KNOW WHAT HE'S TALKING ABOUT?

    Many Vietnams: War, Culture and Memory

    http://www.vu.edu.au/units/ASI2003

    This unit of study examines a number of critical issues associated with the Vietnam War, a war which has had profound consequences both in Vietnam and those western countries which were involved. These issues include: national identity, race, patriotism, loyalty, sacrifice, morality and the meaning and justification of war. The unit studies these themes through the eyes of historians, artists, journalists, film-makers and writers from all sides of the conflict. It also aims to explore the aftermath of the Vietnam War and its part in shaping the popular imagination and political cultures of Vietnam and the West, particularly the United States and Australia.

    Tôi giả dụ người phụ trách việc layout và giới thiệu khoá học ấy trên cái trang web này đã thêm dấu phẩy vào và làm sai nghĩa đi.
    Bạn Chết-Tôi phải đọc nguyên bài viết bởi NHQ (mà tôi cho link ở dưới).

    Trích từ lời nói đầu của NHQ:

    "Như tên gọi, ở môn này, trọng tâm không phải là lịch sử mà là văn hóa; không phải văn hóa chung chung mà là văn hóa chiến tranh; cũng không phải là văn hóa chiến tranh chung chung mà là thứ văn hóa chiến tranh được nhìn thấy từ và qua ký ức."

    văn hóa chiến tranh = war culture

    DOES NGUYEN HUNG QUOC REALLY KNOW WHAT HE'S TALKING ABOUT?

    Many Vietnams: War, Culture and Memory

    http://www.vu.edu.au/units/ASI2003

    This unit of study examines a number of critical issues associated with the Vietnam War, a war which has had profound consequences both in Vietnam and those western countries which were involved. These issues include: national identity, race, patriotism, loyalty, sacrifice, morality and the meaning and justification of war. The unit studies these themes through the eyes of historians, artists, journalists, film-makers and writers from all sides of the conflict. It also aims to explore the aftermath of the Vietnam War and its part in shaping the popular imagination and political cultures of Vietnam and the West, particularly the United States and Australia.

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    Blah blah blah...

    Bớt lòng hăng tiết vịt kiểu thánh chiến Jihad ném bom lẻ tẻ vào vườn sau nhà của ông NHQ lại đi bạn.

    1/Thứ nhất, bạn đã viết là:

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    NHQ kiến thức hạn hẹp về chữ nghĩa nói riêng và lịch sử quốc tế nhưng rất thích làm bước nhảy vọt qua bình luận chính trị nên trở thành bình loạn.
    ...
    Gần đây NHQ lại bình loạn để quảng cáo cho môn học "Many Vietnams;
    War Culture and Memory" mà NHQ dịch rất no-star-where-không-sao-đâu là "Nhiều Việt Nam: Văn hóa Chiến tranh và Ký ức"

    MANY VIETNAMS = NHIỀU VIỆT NAM ? (-; (-;

    Hàng cuối cho thấy là Chết-Tôi ( Bí danh "Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!" dài quá, xin lỗi gọi ngắn lại là Chết-Tôi, no offense.) nghĩ từ ngữ "many Vietnams" của ông Quốc hoặc là sai cú pháp tiếng Anh, hoặc là vô nghĩa. Oái oăm thay, thật ra, Chết-Tôi nghĩ như vậy vì đã không hiểu cú pháp tiếng Anh, và cũng không hiểu ý ông Quốc.

    2/

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    Quên không nói NHQ viết sai củ pháp Anh là "Many Vietnams: War Culture and Memory" mà đúng ra phải là "Many Vietnams: War, Culture and Memory" vì bỏ mất dấu , đã thay đổi hơi khác ý nghĩa của cả cụm từ. Điều này đã được một người nêu trên đàI VOA là luận án TS của NHQ đã được cặp vợ chồng Aus-VN viết dùm!

    - Thứ nhất, tại sao lại nêu lên việc một người nào đó ở bên blog VOA đã cáo buộc ông Quốc nhờ người Úc viết bài tiếng Anh giùm để chứng tỏ rằng ông Quốc dở tiếng Anh? Những cái blog về chính trị bên VOA thường được từ 50 đến 150 người biên lời còm góp ý, và đại đa số là những lời bình kiểu người ngồi quán nhậu nói phét với nhau.
    Đây là loại bằng chứng tiểu nông Ấy-Chết-Tôi-Nghe-Bác-Ba-Vịt-Nói-Rằng... thế này thế nọ.

    Vì ông Quốc dạy tại Victoria University ở Melbourne, nên lời cáo buộc đó có nghĩa là "Có một người đi dạy tại Victoria University ở Melbourne mà lại không viết được tiếng Anh".

    Ý kiến "Ta nên tin lời người viết còm ở blog VOA", cộng với giả dụ rằng "Có một người đi dạy tại Victoria University ở Melbourne mà lại không viết được tiếng Anh" chỉ làm cho việc nhận định của Chết-Tôi thêm phần hời hợt nông nổi mà thôi.

    3/

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    Quên không nói NHQ viết sai củ pháp Anh là "Many Vietnams: War Culture and Memory" mà đúng ra phải là "Many Vietnams: War, Culture and Memory" vì bỏ mất dấu , đã thay đổi hơi khác ý nghĩa của cả cụm từ. Điều này đã được một người nêu trên đàI VOA là luận án TS của NHQ đã được cặp vợ chồng Aus-VN viết dùm!

    Tại sao ta lại phải tin vào khả năng sử dụng cú pháp của Chết-Tôi, mà lại không đọc xem chính ông Quốc đã viết cái tựa như thế nào bằng tiếng Anh?
    Tựa tiếng Anh của NHQ:
    Many Vietnams: War Culture and Memory
    Lời dịch sang tiếng Việt của NHQ:
    "Nhiều Việt Nam: Văn hóa Chiến tranh và Ký ức"
    (Xem: http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=9622:chi-n-tranh-va-ky-c-v-chi-n-tranh-nguy-n-hung-qu-c&catid=66:binh-lu-n-th-i-s)

    Đó là tiếng Anh đúng tiêu chuẩn, và lời dịch chính xác, khác với việc nhớ thấp thoáng, trích dẫn lem nhem của "một người nào đó viết còm tại một tờ báo tên là Dân Luận" :)

    4/

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    NHQ viết "... bốn, để tránh bị chính quyền Việt Nam kiện trước Liên Hiệp Quốc; ...". Chắc nhặt được cái ý tưởng của LS/TS Tạ Văn Tài "Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi", rồi chèn vào đây ra cái vẻ phân tích gia một hai ba bốn năm mười muời lăm ...

    Chết-Tôi chê cái từ "kiện" là không đúng, tôi đồng ý ở điểm này. Tuy nhiên, tại sao hễ ai viết về việc "chính quyền Việt Nam kiện trước Liên Hiệp Quốc" là người ấy đã nhặt ý của một ông luật sư nào đó?
    Đây là loại lý sự bới lông tìm vết kiểu con sói cáo buộc con trừu đứng dưới dòng suối làm đục nước uống ở trên nguồn của nó, trong truyện ngụ ngôn.

    Chết-Tôi đã đọc và không ưa cái bài "Trung Quốc đã thắng ở Biển Ðông" của NHQ nên đã chép/dán nó vào đây, rồi viết vài còm công kích ông này, nhưng chỉ toàn chuyện bé xé ra to, hoặc chuyện không có nói thành có mà thôi.
    Thật ra cái bài ấy chẳng có gì sai cả, ông Quốc phân tích rằng Ba Tàu đã thắng cuộc vì họ đã đạt được 3 mục tiêu: di chuyển dàn khoan đi về trước sự bất lực của VN, CSVN không dám từ bỏ ý thức hệ Mác-Mao, và nước Mỹ sẽ không ủng hộ một cuộc chiến tranh chống Tàu một cách dễ dàng, ít ra là trong tình hình hiện tại.
    Nếu đọc bài ấy mà cảm thấy bị "nhụt chí, hay cụt hứng", và chỉ muốn nghe nói "Việt Nam ta thắng to, lại đuổi Tàu cút chạy nữa" không mà thôi, thì có lẽ đấy là bị vướng phải hội chứng "cognitive dissonance", một loại tâm thức bất ổn vì chạm trán với thực tế phũ phàng.
    Just get real, and get ovet it!

    Nhưng NHQ không biết rằng Liên Hiệp Quốc có phải là cơ quan tài phán đâu mà nói "kiện trước LHQ". NHQ càng bình loạn nhiều bao nhiêu lạI càng lòi cái dốt nhiều bấy nhiêu

    NHQ viết "... bốn, để tránh bị chính quyền Việt Nam kiện trước Liên Hiệp Quốc; ...". Chắc nhặt được cái ý tưởng của LS/TS Tạ Văn Tài "Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi", rồi chèn vào đây ra cái vẻ phân tích gia một hai ba bốn năm mười muời lăm ...

    Trích dẫn:
    Ở Biển Đông, quyền lợi quan trọng nhất đối với các nước là tự do hàng hải (freedom of navigation),ai cũng hiểu điều đó. Vậy, nói ví dụ, nếu TQ chớp nhoáng áp đảo hoàn toàn VN trên mặt biển, và chỉ làm gián đoạn sự tự do hàng hải đó trong vài tuần, hay thậm chí một tháng thôi,rồi tái lập ngay sự tự do đi lại của tàu bè các nước khác, thì liệu Mỹ và Nhật có động binh giúp VN?

    Với bản chất bá quyền đang bộc lộ quá rõ ràng, một khi TQ kiểm soát cả Biển Đông và dù giao thông được tái lập sau khi đánh nhau thì TQ vẫn là một tiềm năng gây hiểm hoạ cho vùng biển yết hầu này. Cho nên nếu TQ gây chiến để chiếm đoạt toàn thể Biển Đông, chắc chắn các cường quốc khác sẽ nhảy vào ngăn chặn ngay. Trừ khi TQ thì hành đường lối "tằm ăn dâu" thì khả năng bị chống trả sẽ thấp hơn.

    Mỹ chỉ làm đồng minh với những nước có chính quyền và người dân đều có lập trường chính trị rõ ràng là chống cộng sản. Thí dụ điển hình nhất là Mỹ đã làm đồng minh với Tây Đức, Nhật, Nam Hàn, VNCH...

    Thập niên 1980s-1990s, Mỹ muốn làm đồng minh, muốn bán vũ khí cho Ba Lan vì chính quyền, và người dân Ba Lan đi theo thể chế dân chủ, có tự do ngôn luận, lấy bầu cử và ứng cử tự do làm nền tảng cho việc thành lập chính quyền các cấp, họ ghét cộng sản, và chống Nga tới cùng. Đó là các yếu tố then chốt để làm đồng minh của Mỹ và các nước Tây Âu trong khối NATO (đặc biệt là Đức.)

    Mỹ và các nước phương Tây, Úc, chẳng muốn làm đồng minh với một nhà nước mà đàng sau nó có đảng CS chỉ đạo. Họ biết rõ nhà nước ấy chỉ gồm những đảng viên nắm quyền, là những kẻ dối trá, xảo trá, quỷ quyệt, vô nhân đạo, tham lam, tham nhũng và toàn là những kẻ có nền học vấn thấp kém nhất. Thứ nhà nước ấy không bao giờ dám chấp nhận tự do ngôn luận, cấm tiệt báo chí tư nhân, không bao giờ dám để cho dân chúng đi bầu cử và ứng cử tự do, và luôn luôn dùng công an và bộ đôi để đàn áp dân chúng để bảo vệ nhà nước và đảng độc quyền cai trị. Vậy, làm đồng minh với những kẻ ấy thì nước Mỹ được lợi gì và có gì làm cho họ hãnh diện?

    Quên không nói NHQ viết sai củ pháp Anh là "Many Vietnams: War Culture and Memory" mà đúng ra phải là "Many Vietnams: War, Culture and Memory" vì bỏ mất dấu , đã thay đổi hơi khác ý nghĩa của cả cụm từ. Điều này đã được một người nêu trên đàI VOA là luận án TS của NHQ đã được cặp vợ chồng Aus-VN viết dùm!

    NHQ kiến thức hạn hẹp về chữ nghĩa nói riêng và lịch sử quốc tế nhưng rất thích làm bước nhảy vọt qua bình luận chính trị nên trở thành bình loạn.

    Ví dụ NHQ đâu có biết TQ có trận đánh biên giới với Ấn nên nói kinh nghiệm chiến trường chỉ dừng lại ở cuộc chiến chiếm lục địa.

    Gần đây NHQ lại bình loạn để quảng cáo cho môn học "Many Vietnams;
    War Culture and Memory" mà NHQ dịch rất no-star-where-không-sao-đâu là "Nhiều Việt Nam: Văn hóa Chiến tranh và Ký ức"

    MANY VIETNAMS = NHIỀU VIỆT NAM ? (-; (-;

    Muốn hòa bình thì phải chuẩn bị chiến tranh. Thực tế cái thế giới này luôn luôn thuộc về kẻ mạnh. VN là nước nhỏ, muốn đủ sức giữ vững chủ quyền thì phải mượn lực hay nói trắng ra phải có đồng minh. Lâu dài hay giai đoạn thì cũng cần liên minh.

    Hai cuộc thế chiến vừa rồi và cả cuộc chiến tranh lạnh là cuộc chiến giữa các liên minh. Liên minh nào mạnh hơn bên đó thắng. Chưa thấy một nước nào dù là đại cường, một mình mà thắng trận với một liên minh. Hungagry, Ba lan trước đây hay Ukraina vừa rồi thua LX hay Nga là do đứng một mình. I-raq, Aghfakistan bại trận cùng lý do trên. Việt nam đứng trước mưu đồ phục hoạt nền vinh quang Trung Hoa của Bắc kinh muốn chung số phận thua cuộc thì cứ đừng liên minh với ai theo kiểu Chí Vịnh hay quang Thanh dốt lịch sử hay bị chủ thuyết bác Hồ tẩy não.

    Quyền lợi quốc gia là trên hết- người ta có thể liên minh ngắn hạn như Đức -LX trong những ngày đầu thế chiến hai, hay như Mỹ và LX trong những ngày cuối thế chiến. Nhưng muốn lâu dài như cuộc hôn nhân của đôi trai gái người ta cùng chung một lý tưởng, cùng nhìn về một hướng hay cùng san sẻ một bâc thang giá trị. Hiện lý tưởng của Hà nội có nhiều tương đồng với Bắc kinh trừ việc BK muốn HN làm phiên thuộc. Không liên minh Hà nội buộc phải chấp nhân vị thế vương hầu thần phục Thiên triều!

    Pro-China Article: CHINA HAS WON IN THE EAST SEA!
    Xi Jinping and Xinhua would love this.

    BLOG / NGUYỄN HƯNG QUỐC
    Trung Quốc đã thắng ở Biển Ðông

    14.05.2014
    Nguyễn Hưng Quốc

    Mục tiêu của Trung Quốc trong việc đưa giàn khoan đến khu vực Biển Đông là gì?

    Trên các diễn đàn mạng, trước sự hoài nghi của nhiều người đối với khả năng ứng phó của Việt Nam về vụ Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào khu vực thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, các dư luận viên của Hà Nội đều đưa ra luận điệu giống nhau: Đừng coi thường Việt Nam! Việt Nam đã có sẵn kế sách đối phó với Trung Quốc. Việt Nam sẽ ra tay ở một thời điểm thích hợp nào đó. Và chắc chắn họ sẽ thắng.

    Thật ra, một chiến thắng về quân sự trên mặt trận trên biển của Việt Nam đối với Trung Quốc, với giới quan sát quốc tế, là một không tưởng. Nhiều người lập luận: Về quân sự, Việt Nam đứng vào hàng thứ mười mấy trên thế giới. Thì đành vậy. Có điều, khi nói như thế, người ta quên nhìn vào Trung Quốc: Bây giờ họ chỉ thua Mỹ. Khoảng cách giữa Việt Nam và Trung Quốc, do đó, vẫn còn rất xa.

    Hơn nữa, ở khía cạnh này, sức mạnh chủ yếu của Việt Nam là ở con người, một yếu tố chỉ phát huy hết tiềm lực của nó trong cái gọi là chiến tranh nhân dân. Nhưng không ai có thể sử dụng chiến tranh nhân dân trên biển được. Đưa cả hàng chục ngàn chiếc tàu đánh cá ra khơi để tham gia vào trận chiến chỉ là một cách tự tử tập thể. Trên biển, chỉ có một yếu tố quan trọng: vũ khí; trong vũ khí, chỉ có hai đặc điểm đáng kể: số lượng và trình độ kỹ thuật. Ở cả hai, Việt Nam đều thua Trung Quốc rất xa. Sự thua kém này có thể bù đắp được với một điều kiện: Việt Nam có thêm nhiều đồng minh giúp đỡ. Nhưng chuyện đồng minh, những nước có thể tham gia chia lửa với Việt Nam trong cuộc đối đầu với Trung Quốc hiện nay, gần như là một con số không to tướng.

    Trước mắt, trong hơn hai tuần hục hặc, chủ yếu chỉ lấy vòi rồng xịt nước vào nhau, chứ chưa có tiếng súng nào nhắm vào nhau nổ cả, người ta có thể đánh giá: Trung Quốc đã thắng. Thắng đến cả mấy bàn.

    Tuy nhiên, trước khi nói đến chuyện thắng hay thua, chúng ta cần phải căn cứ vào mục tiêu của Trung Quốc trong việc gây hấn ấy. Thắng, khi người ta đạt được mục tiêu; và thua, khi người ta không đạt được tất cả hoặc phần lớn các mục tiêu ấy.

    Vậy, mục tiêu của Trung Quốc trong việc đưa giàn khoan đến khu vực Biển Đông là gì?

    Hầu như mọi người đều đồng ý với nhau, có hai mục tiêu chính: kinh tế và chính trị. Kinh tế chỉ là phụ: Một là, đây chỉ là giai đoạn thăm dò chứ không phải khai thác; hai là, theo sự đánh giá của các chuyên gia quốc tế, triển vọng khai thác được dầu khí ở khu vực này (lô 143) khá thấp. Chính trị mới là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Tầm quan trọng ấy nằm ở hai điểm: Một, nó là một bước mới trong cả tiến trình cưỡng đoạt Biển Đông từ Việt Nam; và hai, nó nhằm trắc nghiệm phản ứng của ba đối tượng chính: Việt Nam, khối ASEAN và Mỹ.

    Có thể nói, một cách tóm tắt và rõ ràng, ở cả ba cuộc trắc nghiệm ấy, Trung Quốc đều thành công.

    Thứ nhất, về phía Việt Nam, cho đến nay, họ vẫn sử dụng một sách lược mà Trung Quốc cũng như cả thế giới đã biết rõ từ lâu: cứng rắn nhưng tự kiềm chế đến tối đa. Dù Trung Quốc ngang ngược đến mấy, Việt Nam cũng vẫn muốn giải quyết tranh chấp bằng hoà bình, nghĩa là luôn luôn cố gắng tránh việc sử dụng bạo lực để có thể làm bùng nổ một cuộc chiến tranh mà họ nắm chắc phần thua. Sự tránh né ấy khiến cái gọi là “cứng rắn” chỉ còn là một động thái mang tính chất tu từ học. Nói cách khác, người ta tin là Việt Nam sẽ tiếp tục kéo dài cuộc chiến tranh tu từ (rhetoric war) ấy cho đến khi Trung Quốc chấm dứt cuộc thăm dò vào tháng tám tới. Khi Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 về sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ, họ sẽ tuyên bố với nhân dân trong nước: Họ đã “chiến thắng”!

    Thứ hai, về phía ASEAN, chiến thắng của Trung Quốc càng dễ thấy. Trong cuộc Hội nghị cao cấp của khối vào ngày 11 tháng 5 tại Miến Điện, Nguyễn Tấn Dũng đã đọc một bài diễn văn khá mạnh mẽ, trong đó, lần đầu tiên ông gọi đích danh Trung Quốc, kẻ đang hung hăng đe doạ hoà bình trong khu vực và ông cũng kêu gọi các nước trong Khối cùng nhau bày tỏ sự phản đối đối với Trung Quốc.

    Tuy nhiên, kết quả là gì? Trong thông báo chung cuối hội nghị, người ta chỉ đồng ý với nhau ở lời kêu gọi chung chung và đầy khuôn sáo: “Hai bên Trung Quốc và Việt Nam nên kiềm chế và tránh các hành động có thể làm phương hại đến hòa bình và ổn định của khu vực; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.” Coi như huề. Họ không phê phán Trung Quốc. Họ cũng không hề bày tỏ là sẽ đứng vào phe nào nếu cuộc xung đột nổ lớn.

    Thái độ này, thật ra, cũng chả có gì khó hiểu. Có hai lý do chính. Một là, giữa Việt Nam và một số nước khác trong khối cũng đang tranh chấp với nhau về một số hòn đảo, và vì những tranh chấp ấy, cho đến nay, hầu như họ vẫn từ chối hợp tác với nhau trong cuộc đương đầu với Trung Quốc. Hai là, ngoài một số nước đã bị Trung Quốc mua chuộc (trong đó có nước láng giềng và xưa nay vốn bị xem là đàn em thân tín của Việt Nam: Campuchia), và tất cả các nước đều lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, bởi vậy không ai thấy có lợi gì trong việc liên kết với Việt Nam để chống lại Trung Quốc cả. Nếu có một số nước muốn làm điều đó, thì các nước còn lại sẽ tìm cách phá đám để cuối cùng không đi đến một thông báo chung, như điều đã xảy ra trong cuộc hội nghị tại Campuchia năm ngoái.

    Thứ ba, về phía Mỹ, cho đến nay, đó là nước lên án Trung Quốc một cách mạnh mẽ nhất với việc cho hành động của Trung Quốc ở Biển Đông là “khiêu khích”. Tuy nhiên, chắc chắn là Mỹ sẽ không đi xa hơn việc phê phán gay gắt ấy. Có nhiều lý do. Một là, do những khủng hoảng kinh tế và những khó khăn ở Afghanistan cũng như do tâm lý mệt mỏi của quần chúng Mỹ, chính phủ Mỹ không hề sẵn sàng để dấn thân vào bất cứ một cuộc tranh chấp nào khác nữa. Hai là, một trong những nguyên tắc căn bản làm nên chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Obama là “lãnh đạo từ đằng sau” (lead from behind), mà điển hình là việc tham gia vào cuộc lật đổ Muammar Gaddafi ở Libya vào năm 2011. Theo nguyên tắc này, có thể nói Mỹ chỉ có thể giúp đỡ Việt Nam trong cuộc đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông với hai điều kiện: Việt Nam phải quyết tâm chống lại Trung Quốc trước và phải có một số đồng minh khác sẵn sàng nhảy vào góp sức với Việt Nam. Ngoài ra, còn có thêm yếu tố này nữa: Mỹ chỉ có thể tham dự nếu họ tin cậy Việt Nam. Không có sự tin cậy ấy, không thể có quan hệ hợp tác chiến lược để tiến hành chiến tranh. Kinh nghiệm ở Syria chứng minh điều đó: Mấy năm qua, các cuộc xung đột ở đó đã giết chết cả trăm ngàn thường dân vô tội và làm cho cả triệu người phải chạy sang các nước láng giềng để tị nạn, Mỹ vẫn án binh bất động. Lý do, ai cũng biết: Mỹ, dù rất ghét nhà độc tài Bashar al-Assad, nhưng vẫn nghi ngờ các thành phần đối kháng, trong đó, có những nhóm vốn bị xem là bài Mỹ và khủng bố. Dưới mắt Mỹ, giới lãnh đạo Việt Nam không phải là khủng bố, nhưng lại là những kẻ bài Mỹ. Không ai đem xương máu dân chúng nước họ để hy sinh cho những kẻ cứ ra rả chửi mình!

    Nếu cả ba cuộc trắc nghiệm trên của Trung Quốc đều thành công, chả có gì quá đáng nếu chúng ta nói: cho đến nay, ở thời điểm này lúc chưa có bên nào nổ súng cả, Trung Quốc đã thắng Việt Nam trong cả ba ván.

    Với ba chiến thắng ấy, Trung Quốc không cần đánh Việt Nam, họ cũng thắng ở trận cuối cùng: Làm cho mọi người mặc nhiên thừa nhận là Trung Quốc có toàn quyền trên Biển Đông. Khi việc thăm dò chấm dứt, họ có thể mang giàn khoan HD-981 về nước và sau đó, khi cần, họ có thể ung dung trở lại. Chiến tranh, nếu có, cũng chỉ là những trận đánh võ mồm, chủ yếu để lừa dân trong nước.

    Chưa bao giờ tôi viết bài nào mà lại có tâm trạng đau đớn và tức tối như lúc viết bài này. Nhưng chúng ta chỉ có thể hy vọng nếu chúng ta can đảm nhìn vào sự thật. Cả việc bị lừa dối hay tự lừa dối đều chỉ làm tăng thêm và/hoặc kéo dài thảm kịch.

    Có vài điểm có vẻ không ổn trong ý kiến của ông Quốc.

    Thứ nhất là bảo rằng các nước liên minh với nhau vì có " điểm chung về giá trị". Tác giả viết vậy mà không trưng một bằng cớ lịch sử nào ở đó hai, hay nhiều quốc gia, liên minh với nhau chỉ vì có chung hệ thống giá trị. Ngược lại, trong lịch sử lại có bằng chứng rằng các quốc gia, khác nhau về hệ thống chính trị, tức giá trị, vẫn liên minh với nhau. Đó là Mỹ liên minh với Liên Xô trong Đệ Nhị TC.

    Kế đến là những gì tác gỉa viết, cùng những người lâu nay hay thôi thúc VN liên minh với Mỹ,khiến người ta có cảm tưởng là việc liên minh như vậy hoàn toàn phụ thuộc ý muốn chủ quan của phía VN; VN chỉ cần thay đổi chế độ chính trị là ngay lập tức sẽ được Mỹ, cùng các cường quốc khác, nhận ra tay để chống TQ bằng quân sự. Thật ra, chuyện đâu đơn giản như vậy. Mỹ, cũng như những quốc gia khác, phải tính toán lợi hại, dựa trên quyền lợi phía họ, trên những rũi ro và lợi ích thu được, và dựa vào thực lực của VN, rồi mới đồng ý liên minh hay không. Về mặt này, những " điểm chung về quyền lợi" mà ông Quốc đưa ra là quá yếu để có thể khiến Mỹ, Nhật, và các nước, dễ dàng liên minh với VN.

    Ở Biển Đông, quyền lợi quan trọng nhất đối với các nước là tự do hàng hải (freedom of navigation),ai cũng hiểu điều đó. Vậy, nói ví dụ, nếu TQ chớp nhoáng áp đảo hoàn toàn VN trên mặt biển, và chỉ làm gián đoạn sự tự do hàng hải đó trong vài tuần, hay thậm chí một tháng thôi,rồi tái lập ngay sự tự do đi lại của tàu bè các nước khác, thì liệu Mỹ và Nhật có động binh giúp VN?

    Điểm đáng lưu ý ở đây là nhiều người, khi nói về liên minh, đã ảm chỉ như chỉ có một loại liên minh thôi là liên mỉnh phòng thủ, hay liên minh quân sự,và là liên minh trực tiếp với Mỹ. Thật ra không phải vậy, còn có những liên minh khác: chính trị, kinh tế, ngoại giao, v.v...mà những liên minh như vậy cũng rất quan trọng và có thể giúp để VN đứng vững ít nhiều trước áp lực của TQ. Một tác giả, ông John Mearsheimer của trường ĐH Chicago, đã nói về một liên minh kiểu đó, đang hình thành, ở Á Châu; Ông gọi đó là một Liên Minh Cân Bằng (Balancing Alliance)gồm Ấn Độ, Úc, Nhật, Indonesia, Philippines, và cả Nga nữa. Đó là một liên minh dùng để cân bằng ảnh hưởng của TQ. Mỹ sẽ đóng vai trò một kẻ cân bằng từ xa (A distant balancer) (như kiểu của Anh Quốc trước đây hồi cuối thế kỷ 19 đối với Âu Châu), hậu thuẩn cho các quốc gia của liên minh vừa nói. VN, nếu giới lãnh đạo đủ khôn ngoan và đảm lược, may lắm là gia nhập được liên minh cân bằng đó, và nhận sự ủng hộ của Mỹ một cách gián tiếp qua liên minh. Việc VN liên minh với Mỹ,hiểu như một đồng minh quân sự (military alliance)chỉ là một mong ước tốt đẹp, nhưng viễn vông , ít nhất là trong đoản kỳ 10-20 năm tới. Xin bấm vào link sau đây để nghe một diễn giả của VN, Tiến sĩ Trần Trường Thuỵ, và một diễn giả người Mỹ, Tiến sĩ Cronin, khẳng định về tính phi đồng minh (are not allies) trong quan hệ Việt-Mỹ trong tương lai trước mắt.

    https://www.youtube.com/watch?v=3qV5dhGVqSM