Dương Danh Huy - Đôi gót chân Achilles của chủ quyền

  • Bởi Hồ Gươm
    29/07/2014
    1 phản hồi

    Dương Danh Huy</br>

    Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông

    Ông Phạm Văn Đồng ký công hàm cách đây 60 năm

    Trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, cho đến năm 1954 cơ sở pháp lý của Việt Nam có thể mạnh hơn của Trung Quốc, nhưng sau đó thì chủ quyền Việt Nam có một đôi gót chân Achilles.

    Một gót là công hàm 1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng (CHPVĐ).
    Gót kia là việc từ 1954 đến 1975 VNDCCH không có tuyên bố hay hành động chủ quyền gì với Hoàng Sa, Trường Sa.

    Hai gót chân Achilles này có tính chất pháp lý khác nhau.

    Chúng có cùng hệ quả là khả năng là cho đến năm 1975 cơ sở pháp lý của VNDCCH yếu hơn của Trung Quốc, nhưng chúng có thể có hệ quả khác nhau cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN).

    Công Hàm Phạm Văn Đồng

    Trong luật quốc tế, Công Hàm Phạm Văn Đồng là một tuyên bố đơn phương, với nghĩa nó không phải là một hiệp ước song phương hay đa phương.

    Theo luật quốc tế, không phải tuyên bố đơn phương nào cũng có tính ràng buộc, nhưng nếu trong tuyên bố có thể hiện ý định bị ràng buộc thì tuyên bố đó có thể ràng buộc.

    Về nội dung, tuy CHPVĐ không nói gì về Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng cũng không bảo lưu gì, trong khi công hàm viết “ghi nhận và tán thành” bản tuyên bố trong đó Trung Quốc mặc nhiên cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của họ.

    Dựa theo luật tập quán quốc tế và phiên tòa xử tranh chấp Đông Greenland, ông Phạm Văn Đồng, là thủ tướng đứng đầu chính phủ của một quốc gia, sẽ bị cho là đã có thẩm quyền trên bình diện quốc tế để làm cho VNDCCH bị ràng buộc, kể cả về lãnh thổ, không cần có sự phê chuẩn của Quốc hội VNDCCH.

    Cũng theo luật quốc tế, tính ràng buộc, có hay không, của tuyên bố đơn phương không dựa vào hình thức của tuyên bố.

    Trong phán quyết Đông Greenland, lời nói miệng của người có thẩm quyền còn có thể gây ra sự ràng buộc.

    Khác với nguyên tắc estoppel, tuyên bố đơn phương có thể ràng buộc dù bên kia đã không dựa vào nó và bị thiệt hại (tức là yếu tố detrimental reliance).

    Như vậy, Công Hàm Phạm Văn Đồng, như một tuyên bố đơn phương, có thể nguy hiểm cho VNDCCH hơn cả lập luận estoppel, vì nó có thể ràng buộc ngay cả khi không có điều kiện detrimental reliance mà estoppel đòi hỏi.

    Do đó, phản biện bằng lập luận Trung Quốc đã không dựa trên Công Hàm Phạm Văn Đồng và bị thiệt hại là cần thiết nhưng không đủ.

    Về nội dung, tuy Công Hàm Phạm Văn Đồng không nói gì về Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng cũng không bảo lưu gì, trong khi công hàm viết “ghi nhận và tán thành” bản tuyên bố trong đó Trung Quốc mặc nhiên cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của họ.

    Công Hàm Phạm Văn Đồng có thể hiện ý định bị ràng buộc không?

    Trong Công Hàm Phạm Văn Đồng, câu “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc” còn có thể (nhưng vẫn khó) được cho là không thể hiện ý định bị ràng buộc.

    Nhưng câu “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.” thì khó có thể nói là không thể hiện ý định bị ràng buộc.

    Sự ràng buộc đó là về việc gì?

    Trung Quốc khẳng định chủ quyền bằng việc hạ đặt giàn khoan mới đây

    Sẽ khó phản biện rằng Công Hàm Phạm Văn Đồng nói về “hải phận của Trung Quốc”, nhưng ngoại trừ lãnh hải 12 hải lý chung quanh Hoàng Sa, Trường Sa.

    Như vậy, ít thì VNDCCH có thể bị ràng buộc phải tôn trọng lãnh hải 12 hải lý chung quanh Hoàng Sa, Trường Sa như của Trung Quốc, dù vấn đề chủ quyền đối với các đảo vẫn còn bỏ ngỏ.

    Nếu tệ hơn, VNDCCH có thể bị ràng buộc không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc. Lưu ý sự ràng buộc này, nếu có, không nhất thiết là Tòa cho rằng Công Hàm Phạm Văn Đồng là một sự công nhận chủ quyền Trung Quốc (một điều mà VNDCCH không có thẩm quyền để làm), mà là liên quan đến VNDCCH tự giới hạn sự tự do của mình (một điều mà VNDCCH có thẩm quyền để làm), và điều quan trọng là nó cũng đủ làm cho VNDCCH không thể thắng Trung Quốc trước Tòa.

    Như vậy, Công Hàm Phạm Văn Đồng có hai hệ quả:

    Tòa có thể cho rằng VNDCCH bị ràng buộc bởi một trong hai nghĩa vụ trên. Tòa có thể cho rằng quốc gia nào thừa kế từ VNDCCH sẽ phải kế thừa nghĩa vụ đó.

    Không khẳng định chủ quyền

    Từ 1954 đến 1975 VNDCCH không khẳng định chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa.

    Trong luật quốc tế, đi đôi với chủ quyền là trách nhiệm thực thi chủ quyền và không cho nước khác làm điều mà họ cho là thực thi chủ quyền trên lãnh thổ của mình.

    Sự không khẳng định chủ quyền không phải là công nhận chủ quyền của nước khác, nhưng nếu trong khi nước khác đòi và có hành động chủ quyền mà mình không khẳng định trong một thời gian dài thì có thể dẫn đến việc mất chủ quyền.

    Đây là khái niệm acquiescence. Acquiescence nguy hiểm ở chỗ dù không làm gì có giá trị pháp lý, vẫn có thể mất chủ quyền.

    Sự không khẳng định chủ quyền không phải là công nhận chủ quyền của nước khác, nhưng nếu trong khi nước khác đòi và có hành động chủ quyền mà mình không khẳng định trong một thời gian dài thì có thể dẫn đến việc mất chủ quyền.

    Ở đây chúng ta cần hỏi: acquiescence có tính ràng buộc hay không? Tức là nếu đã im lặng và bất động một hay nhiều lần thì sau đó được lên tiếng đòi chủ quyền hay không?

    Sự im lặng và bất động không phải là hiệp ước, do đó không có tính ràng buộc của một hiệp ước.

    Nó cũng không phải là thể hiện ý muốn bị ràng buộc, do đó không có tính ràng buộc của một tuyên bố đơn phương.

    Nhưng nó có gây ra estoppel, cụ thể là estoppel by acquiescence, hay không?

    Để có estoppel, một bên phải có một sự bày tỏ quan điểm (representation) bất lợi cho mình, và bên kia phải vì tin vào sự bày tỏ đó nên có hành động gây tổn hại cho họ (detrimental reliance).
    Sự im lặng và bất động của một bên có thể bị cho là một sự bày tỏ quan điểm, do đó có thể gây ra estoppel, nếu bên kia có detrimental reliance.

    Như vậy, nếu Trung Quốc đã không dựa trên acquiescence của VNDCCH mà có hành động có thiệt hại cho họ thì VNDCCH có thể đổi ý và đòi chủ quyền. (Trên thực tế, về phía Trung Quốc thì họ cũng đã im lặng và bất động khi Nhà Nguyễn thực thi chủ quyền với Hoàng Sa, và khi Pháp tuyên bố chủ quyền với Trường Sa, nhưng sau đó họ đã đổi ý và đòi chủ quyền).
    Nhưng dù VNDCCH có được đổi ý, khả năng là tới năm 1975 sự acquiescence đã làm cho vị trí pháp lý của VNDCCH quá yếu để có thể đánh bại được vị trí của Trung Quốc.

    Như vậy, việc VNDCCH không khẳng định chủ quyền có hai hệ quả:

    VNDCCH khó có thể thắng Trung Quốc.

    Nhưng khả năng là sự im lặng và bất động đã không gây ra nghiã vụ có tính ràng buộc mà quốc gia hậu duệ của VNDCCH phải thừa kế.

    Làm sao có thể thắng?

    Nếu so sánh thêm với các phiên tòa xử tranh chấp ngôi đền Preah Vihear giữa Campuchia, và Thái Lan và phiên tòa xử tranh chấp cụm đảo Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge giữa Singapore và Malaysia dự đoán có xác suất cao nhất là Tòa sẽ xét tổng thể hai gót chân Achilles, và có thể cả những động thái bất lợi khác, của VNDCCH và đi đến kết luận rằng cho đến 1975 VNDCCH đã không cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của mình.

    Nếu vậy thì VNDCCH sẽ không còn danh nghĩa chủ quyền gì đối với Hoàng Sa, Trường Sa để cho bất cư quốc gia hậu duệ nào đó thừa kế. Không những thế, Công Hàm Phạm Văn Đồng còn có thể đã để lại một nghĩa vụ bất lợi.

    Điều này có nghĩa nếu Việt Nam, dưới bất cứ chế độ hay ý thức hệ nào, ở bất cứ thời điểm nào trong tương lai, ra tòa với Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam sẽ chỉ thắng nếu có hai điều kiện sau.

    Thứ nhất, khi Việt Nam thống nhất năm 1976 thành CHXHCNVN, quốc gia đó đã thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ một quốc gia nào đó khác với VNDCCH.

    Thứ nhì, trong trường hợp Tòa cho rằng VNDCCH đã gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc với Trung Quốc (thí dụ như nghĩa vụ không được tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc), Tòa cho rằng bồi thường công bằng của CHXHCNVN cho Trung Quốc không phải là chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

    Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một thành viên sáng lập của nhóm Nghiên cứu Biển Đông.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Được biết tác giả đang sống và làm việc ở Anh quốc nên đọc bài viết này tôi nghĩ đến giải pháp dân Việt ở Anh quốc đã dùng rất thành công từ lâu. Một năm 1990's, không nhớ rõ năm nào nhưng nhất định là trước năm 2000, tôi sang London có chút việc. Tiện ở thêm vài ngày thăm họ hàng. Bà cô họ dẫn đến thăm ông chú họ rất xa nhưng ông ta không có nhà. Hỏi bà vợ thì bà ấp úng nói là đi làm xa. Mọi người đều ngạc nhiên vì ông này có nghề gì và có đi làm ở Anh quốc ngày nào đâu. Sau này mới biết là hai ông bà giả ly hôn để được thêm căn hộ, và ông ta đang ở đại lục cưới vợ mới. Hình như là được trên mười ngàn, 10.000, bảng Anh cho dịch vụ đó và lại được tiền thuê căn hộ hàng tháng từ cô kia. Sau này ra sao tôi không biết.

    Dùng chiêu trên ta có thể giải nan đề:
    khi Việt Nam thống nhất năm 1976 thành CHXHCNVN, quốc gia đó đã thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ một quốc gia nào đó khác với VNDCCH dể dàng: Việt nam giả "ly hôn." Ta cho lập lại hiện trạng VN năm 1974 khi Trung quốc (TQ) chiếm Hoàng sa:
    1. Việt nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH).
    2. Việt Nam Cộng Hoà (VNCH).
    3. Cộng Hoà miền Nam Việt Nam (CHMNVN).

    Ai sẽ lãnh đạo các chính phủ này?
    VNDCCH: dễ ợt! lãnh đạo của CHXHCNVN hiện nay. Tất nhiên thủ tướng là đồng chí X.
    CHMNVN: ai có thể hơn con rể đồng chí X xin gọi là lãnh tụ Y? Có người nói không được vì cha lãnh tụ Y là công chức cao cấp của VNCH. Không sao. Đồng chí X sẽ cung cấp chứng cớ không thể chối cãi được cha lãnh tụ Y là Cộng Sản nằm vùng.
    VNCH: để duy trì tính thừa kế và liên tục ta tiến cử cô con gái ngài cựu phó tổng thống VNCH làm lãnh đạo. Còn gì hợp pháp hơn nữa!!

    VNCH và CHMNVN cùng đâm đơn kiện TQ và các nuớc khác về Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng trước khi kiện ta phải cho thế giới biết rằng phe nguyên đơn là "một nhà" bằng cách đề nghị bà lãnh đạo VNCH kết hôn với ông lãnh đạo Y của CHMNVN. Nhưng hai người cùng đang có gia đình thì sao? Không sao. Ta ra luật hôn nhân mới quay trở về thời mẫu hệ để đàn bà được có nhiều chồng và thời phụ hệ để đàn ông được có nhiều vợ. Về luật là ổn rồi! Nhưng họ không muốn kết hôn thì sao? Tôi nghĩ không có chuyện đó vì bà lãnh đạo VNCH thì thích phi công trẻ mà ông lãnh đạo CHMNVN lại thèm lấy người có tiền tài và quyền lực thì làm sao ho không mê nhau như điếu đổ chứ!

    Khác với các vụ kiện tranh chấp chủ quyền, phe mình đưa nguyên thủ quốc gia ra cãi. Ai cãi hay hơn người vừa đẹp và sexy như playmate of the century, cô hình mẫu của Playboy cho cả thế kỷ, vừa là luật sư, không hành nghề, và vừa là người điểu khiển chương trình nổi tiếng chứ? Aicố vấn thông minh lỗi lạc hơn bác sĩ y khoa tốt nghiệp từ Harvard đang bán hàng cho Mc Donald và cướp đất của dân chứ. Mấy ông/bà thẩm phán già bị hút hồn bởi cặp này và cho VNCH và CHMNVN thắng là cái chắc.

    Bây giờ thắng kiện thì ta phải bắt TQ và các nuớc khác trả lại Hoàng Sa và Trường Sa. No problemo (không ăn nhằm gì.) Cặp đôi lãnh đạo lại ra Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc (ĐHĐLHQ) đòi lập quân đội riêng, mỗi nước phải đóng góp một nửa quân lực của mình và tất nhiên là do hậu duệ của Võ hiển thánh đệ nhất thập đại tưóng quân của mọi thời đại chỉ huy, để uy hiếp và tấn công nước nào không thực hiện án lệnh trên. Dĩ nhiên là TQ và các nuớc khác nghe. VN lấy lại Hoàng Sa và Trường Sa.

    Không những thế ta còn bắt TQ bồi thường thiệt hại của 50 năm chiếm đóng Hoàng Sa và Trường Sa và đàn áp ngư dân mình. Thôi thì thiệt hại thì nhiều vô kể nhưng vì lòng thương người, trọng công lý, hiếu hoà, nhường cơm xẻ áo cho nhau, vv, anh chỉ xin chú, lúc này ta mạnh hơn Tàu nhiều, những lãnh thổ liên quan đến anh: cái Hải nam và cậu Quảng đông, chú gọi là Việt. Dĩ nhiên là họ vui mừng dâng hiến và đời đời nhớ ơn ta.

    Lúc này ta mới hợp các chính thể lại thành CHXHCNVN nhưng hình như cặp kia mê nhau quá nên không muốn dính dáng gì đến tay bố vợ phải đấm kia thì phải. Không biết sẽ ra sao.

    Đến đây thì tôi chịu vì Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người nói là đướng dây hỏi ý kiến các lãnh tụ đã mất của VNDCCH và CHXHCNVN đã bị cúp.

    Tôi nói là ý kiến trên của tôi phải không? Xin thú thực là tôi đạo từ Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người đó.