Luật sư Ngô Ngọc Trai - Vấn nạn bức cung nhục hình ở Việt Nam

  • Bởi Cát Bụi
    28/07/2014
    3 phản hồi

    Luật sư Ngô Ngọc Trai

    131125145633_nguyen_thanh_chan_464x261_baomoi.com_.jpg

    Ông Nguyễn Thanh Chấn đã phải chịu oan ức trong nhiều năm

    Trong vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn, ông này đã phải khai nhận một tội mà mình không hề phạm. Vậy ông Chấn có phải đã bị bức cung nhục hình hay không, và có câu hỏi là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh hành vi bức cung nhục hình?

    Quy định của luật

    Hiện chưa có con số thống kê cụ thể nhưng có thể hình dung số lượng các vụ án có tình trạng bức cung nhục hình ở Việt Nam là vô cùng lớn. Số trường hợp bị nhục hình thì không dám chắc nhưng nạn bức cung có khả năng xảy ra ở 100% các vụ án.
    Vấn nạn bức cung phổ biến lớn rộng như thế không phải do một vài sai phạm nghiệp vụ mà nó có nguyên nhân từ chính sự cho phép của luật. Điều này có vẻ vô lý, luật nào cho phép được bức cung? Nhưng sự thực đúng là như thế.

    Bộ Luật Tố tụng Hình sự đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, tức là chỉ chấp nhận những lời khai tự nguyện. Nếu bị cáo không tự nguyện khai báo thì thôi, không được sử dụng bất kỳ thủ pháp nghiệp vụ nào buộc người ta phải khai, vì luật cấm mọi hình thức truy bức.

    Nhưng Bộ Luật Hình sự lại có điều luật xử phạt tù đối với hành vi từ chối khai báo, theo đó Điều 308 quy định về tội từ chối khai báo đã viết rằng: "Người nào từ chối khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể bị phạt tù từ ba tháng đến một năm".

    Lý do chính đáng ở đây là gì? Để tự bảo vệ tính mệnh và tự do của mình có phải là một lý do chính đáng không? Trường hợp nào mà bị cáo chẳng có lý do chính đáng là tự bảo vệ mình? Như thế thì trường hợp nào bị cáo cũng phải có quyền từ chối khai báo chứ?

    Tại sao bị cáo lại phải nói ra những điều mà nó chính là chứng cứ để người ta kết tội lại mình? Có ai là người tự nguyện trong việc này?

    Dọa nạt bỏ tù người ta nếu không chịu tự nguyện khai báo, đó chẳng phải là một hình thức bức cung thì là gì?

    Như thế, chính quy định của luật đã tạo ra tình trạng bức cung nhục hình. Quy định như thế đã tạo cho điều tra viên tính hợp pháp về mặt luật pháp để bức cung, và giải thoát cho họ mặc cảm tội lỗi về mặt đạo đức nếu có. Và đó là lý do vì sao vấn nạn bức cung phổ biến ở hầu như 100% các vụ án.

    Vấn đề của năng lực

    140108160829_duong_chi_dung_464x261_vnaafpgetty_nocredit.jpg

    Bí cáo Dương Chí Dũng cũng từng tố cáo trước Tòa mình bị bức cung

    Quy định của luật lệch lạc như thế không phải nhà làm luật không biết, mà họ có lý do để duy trì điểm mâu thuẫn vô lý đó.

    Sự vô lý của luật thực ra là hệ quả phản ánh thực tế năng lực thực thi pháp luật của hệ thống tư pháp Việt Nam. Về mặt nghiệp vụ nếu không buộc được bị can khai báo thì điều tra viên không có đủ khả năng để xét đoán sự việc và điều tra nghi phạm.

    Hoạt động điều tra là lần theo manh mối dấu vết tội phạm, mà muốn làm được điều này thì phải có khả năng xét đoán, ngoài ra cần có trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho công tác điều tra.

    Nhưng ở Việt Nam thì cả hai vấn đề này đều thiếu, điều tra viên thì kém năng lực, thế mạnh chủ yếu dựa vào việc áp chế người khác, thể hiện qua việc bắt bớ giam cầm, bức cung nhục hình buộc phải khai nhận. Về mặt trang thiết bị máy móc thì có lẽ cũng còn thiếu sự đầu tư nhất định.

    Vì tình hình thực tế như vậy cho nên khi soạn luật người ta đã lần lựa đưa vào hay bỏ ra các quy định như thế nào để phù hợp với năng lực thực tế của cơ quan điều tra.

    Tức là nhà làm luật đã không được tự do thoải mái đứng hẳn về phía các chế định pháp lý văn minh tiến bộ.

    Hệ quả là có những quy định luật mang tính nửa vời, vừa tỏ ra tiến bộ, nhưng xét kỹ lại là lổng hổng.

    Tại sao luật không quy định bị cáo được quyền giữ im lặng và chỉ đồng ý khai báo khi có sự tham gia của luật sư bào chữa, như vậy sẽ đảm bảo tiệt nọc tình trạng bức cung nhục hình? Mà lại chỉ quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, trong khi cả hai lối quy định cũng chỉ nhằm một mục đích là đảm bảo những lời khai phải là tự nguyện?

    120924103827_vietnam_court_gates_304x171_afp.jpg
    Hệ thống tư pháp Việt Nam có nhiều lỗ hổng có thể bị lợi dụng?

    Đây là một chế định pháp lý văn minh tiến bộ để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, không thể không đưa vào luật. Nhưng các nhà làm luật đã sử dụng xảo thuật để vừa tỏ ra tôn trọng chân giá trị vừa tìm cách đáp ứng đòi hỏi thực tế của hoạt động điều tra trong khi giải thoát cho mình khỏi mặc cảm tội lỗi ở khâu làm luật.

    Các nhà soạn luật hẳn đã tự biện minh rằng, chúng tôi đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức bức cung nhục hình rồi, còn thực hiện như thế nào là do thực tế và đó là trách nhiệm của cơ quan điều tra.

    Họ đã bỏ qua tình hình thực tế về điều kiện giam giữ người và quy trình làm việc không bị giám sát của cơ quan điều tra. Thực tế như vậy cộng hưởng với quy định lập lờ nửa vời của luật đã dẫn đến vấn nạn bức cung nhục hình phổ biến rộng khắp.

    Cho nên vấn nạn bức cung nhục hình phải giải quyết ở khâu soạn luật chứ không chỉ giải quyết ở khâu thực thi pháp luật.

    Các nhà soạn luật cũng tìm cách để xoa dịu hậu quả của tình trạng bức cung nhục hình bằng cách đưa vào chế định rằng nếu thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải sẽ được đánh giá là tình tiết giảm nhẹ để giảm mức án cho bị cáo.

    Việc này cũng giúp lấp liếm đi tình trạng bức cung của cơ quan điều tra. Có những vụ án bị cáo ban đầu chối bay chối biến, sau khi bị bức cung nhục hình thì đã khai nhận hành vi phạm tội, đến khi xét xử lại được đánh giá là thành khẩn khai báo và được giảm án.

    Biết bao nhiêu vụ án đã như vậy, nhưng chẳng mấy ai thắc mắc là vì đâu bị cáo thay đổi lời khai từ chối tội sang nhận tội.

    Vấn đề niềm tin

    140329175530_police_violence_464x261_motthegioi_nocredit.jpg

    Ngô Thanh Kiều là nạn nhân của nạn bức cung nhục hìnhcủa công an

    Vấn nạn bức cung nhục hình không chỉ phản ánh năng lực trình độ của cán bộ điều tra mà nó còn phản ánh nhận thức lệch lạc của những người giải quyết án, bao gồm cả kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư.

    Ở Việt Nam lâu nay người ta đặt rất nặng vấn đề chứng cứ và yêu cầu việc xử án phải theo chứng cứ. Nhận thức này xem qua thì cho đó là lối làm việc khách quan khoa học đảm bảo tính chắc chắn và thực ra thì việc đòi hỏi phải có chứng cứ là tốt và đương nhiên.

    Nhưng nó sẽ là sai lầm nếu coi chứng cứ là vấn đề duy nhất khi giải quyết một vụ án.

    Trong vụ oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn, khi nêu ra vấn đề cần xử lý các điều tra viên về tội bức cung nhục hình thì có ý kiến thắc mắc là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh việc bức cung nhục hình?

    Đây thực ra là một nhận thức sai lệch nghiêm trọng của không chỉ người dân mà cả các chuyên gia về luật, mà từ đó góp phần tạo nên vấn nạn bức cung nhục hình.

    Chúng ta biết rằng chứng cứ nhằm để chứng minh, chứng minh nhằm để thuyết phục, vậy nếu sự việc đã đủ sức thuyết phục rồi, sự thật đã hiển nhiên rồi thì không cần phải chứng minh nữa và không cần chứng cứ.

    Ông Chấn nếu không bị bức cung nhục hình thì tại sao lại nhận một tội mà mình không hề phạm? Mà cái tội đó nào có nhẹ nhàng gì, nếu bố ông Chấn không phải là liệt sĩ nên ông Chấn được giảm án thì có lẽ ông đã bị tử hình rồi.

    Việc ông Chấn bị bức cung nhục hình là điều không còn có thể tranh cãi nữa.

    Mặc dù không hề có chứng cứ nhưng chúng ta có thể xác quyết bằng niềm tin.

    Niềm tin nội tâm

    140409051155_nguyen_thanh_thao_thanh_464x261_baomoi.com_.vn_.jpg

    Nguyễn Thân Thảo Thành nhận mức án nhẹ trong vụ án làm chết Ngô Thanh Kiều

    Trong lĩnh vực tư pháp có một khái niệm là “niềm tin nội tâm”. Niềm tin này là cơ sở xét đoán của mọi người tham gia vào hoạt động xét xử. Cả điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư đều phải dựa vào niềm tin nội tâm để xét đoán sự việc.

    Bởi vì tất cả những người này dù thế nào đi nữa thì họ cũng không phải là bị cáo, họ không thể chắc chắn bị cáo có phải là hung thủ hay không. Cho nên khi quy kết buộc tội hay bào chữa gỡ tội chỉ có thể dựa vào niềm tin nội tâm.

    Niềm tin nội tâm được tạo thành từ những hiểu biết về vụ án thông qua các tài liệu chứng cứ, qua nghiên cứu hiện trường, hồ sơ vụ án, thông tin về nhân thân bị cáo …

    Ở Việt Nam lâu nay, khi xét xử người ta ít sử dụng đến niềm tin nội tâm, và khái niệm niềm tin nội tâm chỉ nằm gọn hạn hẹp trong các nghiên cứu về học thuật. Lý do có lẽ vì niềm tin là thành tố có tính tôn giáo trong khi chính thể hiện tại là vô thần.

    Thay vì xét xử dựa vào niềm tin nội tâm trong đó chứng cứ chỉ là một thành tố tạo thành (ngoài chứng cứ còn cần trình độ kinh nghiệm để tạo nên niềm tin xét đoán), việc xét xử hiện nay đặt nặng vào chứng cứ, chứng cứ thế nào không quan trọng, miễn là phải có chứng cứ.

    Nếu giải quyết án cứ phải có chứng cứ rõ ràng thì chỉ cần một người phán quyết là đủ, cần gì phải hội đồng nhiều người, và cũng chỉ cần một lần xét xử là được cần gì phải qua hai cấp?

    Cái lối xét xử đặt nặng chứng cứ mà không dựa vào niềm tin nội tâm sẽ không lý giải được là dựa vào đâu mà người ta có thể tuyên án trong khi vụ án có cả chứng cứ kết tội và chứng cứ gỡ tội.

    Vì nhận thức như thế nên trong lối làm việc người ta phải tìm ra bằng được chứng cứ. Luật cũng phụ họa cho việc này khi bỏ qua đòi hỏi về tính khách quan đã quy định lời khai của bị can cũng là chứng cứ.

    Và khi gặp khó khăn trong các lối điều tra khác thì dễ dàng nhất là tiến hành bắt giam bức cung buộc bị can phải khai báo.

    Đó là lý do vì sao tình trạng bức cung nhục hình tràn lan như hiện nay.

    Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật Công chính từ Hà Nội.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Phản hồi: 

    [quote=Ngô Ngọc Trai]Trong lĩnh vực tư pháp có một khái niệm là “niềm tin nội tâm”. Niềm tin này là cơ sở xét đoán của mọi người tham gia vào hoạt động xét xử. Cả điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư đều phải dựa vào niềm tin nội tâm để xét đoán sự việc.

    Bởi vì tất cả những người này dù thế nào đi nữa thì họ cũng không phải là bị cáo, họ không thể chắc chắn bị cáo có phải là hung thủ hay không. Cho nên khi quy kết buộc tội hay bào chữa gỡ tội chỉ có thể dựa vào niềm tin nội tâm.

    Niềm tin nội tâm được tạo thành từ những hiểu biết về vụ án thông qua các tài liệu chứng cứ, qua nghiên cứu hiện trường, hồ sơ vụ án, thông tin về nhân thân bị cáo …

    Ở Việt Nam lâu nay, khi xét xử người ta ít sử dụng đến niềm tin nội tâm, và khái niệm niềm tin nội tâm chỉ nằm gọn hạn hẹp trong các nghiên cứu về học thuật. Lý do có lẽ vì niềm tin là thành tố có tính tôn giáo trong khi chính thể hiện tại là vô thần.

    Thay vì xét xử dựa vào niềm tin nội tâm trong đó chứng cứ chỉ là một thành tố tạo thành (ngoài chứng cứ còn cần trình độ kinh nghiệm để tạo nên niềm tin xét đoán), việc xét xử hiện nay đặt nặng vào chứng cứ, chứng cứ thế nào không quan trọng, miễn là phải có chứng cứ.

    Nếu giải quyết án cứ phải có chứng cứ rõ ràng thì chỉ cần một người phán quyết là đủ, cần gì phải hội đồng nhiều người, và cũng chỉ cần một lần xét xử là được cần gì phải qua hai cấp?

    Cái lối xét xử đặt nặng chứng cứ mà không dựa vào niềm tin nội tâm sẽ không lý giải được là dựa vào đâu mà người ta có thể tuyên án trong khi vụ án có cả chứng cứ kết tội và chứng cứ gỡ tội.

    Vì nhận thức như thế nên trong lối làm việc người ta phải tìm ra bằng được chứng cứ. Luật cũng phụ họa cho việc này khi bỏ qua đòi hỏi về tính khách quan đã quy định lời khai của bị can cũng là chứng cứ.

    Và khi gặp khó khăn trong các lối điều tra khác thì dễ dàng nhất là tiến hành bắt giam bức cung buộc bị can phải khai báo.[/quote]

    Tôi chưa từng nghe nói đến khái niệm " niềm tin nội tâm" trong luật của Pháp (trước 1975) cũng như luật pháp của Hoa Kỳ hiện nay. Theo luật hình sự ở những nước này, một cá nhân chỉ có thể bị coi là có tội dựa vào bằng chứng vượt khỏi các sự nghi ngờ hợp lý (proof beyong reasonable doubt). Nếu không có bằng chứng thì phải coi là không có tội (tha bổng). Hiến pháp VN củng công nhận điều này.

    Có thể LS Ngô Ngọc Trai đã lầm lẫn giữa quá trình tìm kiếm bằng cớ (điều tra - investigation) và xét xử (trial). "Niền tin nội tâm" có thể xuất phát từ những kinh nghiệm điều tra và có thể dùng để hướng dẩn việc điều tra để tìm bằng cớ, nhưng viêc điều tra vẩn phải tuân theo các thủ tụng tố tụng nhằm bảo đảm sự công bằng và xác thực của bằng chứng.

    Theo nguyên tắc xét xử công bằng theo luật pháp, "niềm tin nội tâm" dứt khoát không thể dùng để hướng dẫn việc xét xử (trial) và kết án (conviction) vì đây là sự vi phạm nguyên tắc "có tội dựa trên bằng chứng." Cũng cần phải hiểu là không phải là bằng cớ nào cũng có giá trị như nhau vì bằng cớ phải hợp lý có tính thuyết phục. Đó là lý do tại sao việc xét xử cần nhiều thẩm phán hay bồi thẩm đoàn vì người ta cần bàn cãi và cân nhắc giá trị của bằng cớ dưa ra.

    Về một phương diện nào đó, việc xử dụng nhục hình xảy ra chính vì "niềm tin nội tâm" khi những người làm công tác điều tra hay xét xử có thành kiến về việc phạm tội (presumption of guilt) nên dùng nhục hình để lấy bằng chứng cốt để có người bị họ coi là có tội phải đền tội (bị kết án) trước toà án. Ngoài ra nhu cầu giải quyết vụ án (đòi hỏi của công chúng, của cấp trên, v.v.) hay tư thù cũng khiến người ta xử dụng nhục hình để tạo bằng cớ, dù là bằng cớ giả (do người bị nhục hình phải khai dù không làm) nhằm kết thúc vụ án theo chiều hướng mong muốn.

    Viêc xử dụng nhục hình ở VN lan tràn hơn ở các quốc gia có nền luật pháp phát triển bởi vì chính quyền VN dung túng việc dùng nhục hình, chưa có các biện pháp trừng phạt đích đáng nhũng người tham gia hành vi này.

    Phản hồi: 

    Tướng Nguyễn Việt Thành sẽ bị kiện?
    28/7/2014
    (Hưng [email protected]) - Tướng Nguyễn Việt Thành rất có thể sẽ phải đối mặt với một vụ kiện do đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Mạnh Lân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Hưng Thịnh. Ông Lân là nạn nhân của tướng Thành trong vụ án “Bắt giữ người trái pháp luật” hơn 10 năm về trước.

    “Lạm quyền…” gây thiệt hại cho doanh nghiệp
    Ngoài ông Nguyễn Việt Thành, những thành viên trong ban chuyên án có hành vi “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” sẽ bị ông Lân khởi kiện trong một vụ án dân sự để đòi bồi thường về danh dự, thiệt hại về tài sản. Ngày 16-7 vừa qua, Hội đồng Xét xử tỉnh Tiền Giang đã tuyên án bị cáo Nguyễn Tuyến Dũng (nguyên điều tra viên trong Ban Chuyên án Z.501) 10 năm tù về hành tội danh trên.
    Hội đồng Xét xử cũng đã xác định, ông Lân và Công ty Hưng Thịnh có thiệt hại nên ghi nhận ý kiến của luật sư đại diện cho ông Lân và dành cho bị hại quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác.
    Báo Năng lượng Mới xin trở lại vụ việc của hơn 10 năm trước. Vào ngày 26-3-2003, Khu Công nghiệp Ðồng An được nhận Huân chương Lao động hạng Ba và cá nhân ông Bùi Mạnh Lân được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

    Thành tích trên đạt được do ông Lân đã kêu gọi và thu hút được gần 100 nhà doanh nghiệp vào đầu tư tại khu công nghiệp. Ông Bùi Mạnh Lân đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động và đóng góp cho ngân sách Nhà nước hàng chục tỉ đồng mỗi năm.
    Ðối với cá nhân ông Bùi Mạnh Lân, là Chủ tịch HÐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Hưng Thịnh, chủ đầu tư Khu Công nghiệp Ðồng An I, doanh nghiệp hàng đầu của tỉnh Bình Dương, chịu sự chỉ đạo và quản lý của UBND tỉnh Bình Dương. Khi ông Lân bị bắt, khu công nghiệp đã có 86 nhà đầu tư và hàng ngàn công nhân đang làm việc trong các doanh nghiệp này.
    Vụ Công an tỉnh Tiền Giang đi bắt “đàn em Năm Cam” tại tỉnh Bình Dương nhưng lãnh đạo tỉnh Bình Dương không biết ông Lân bị bắt về tội gì và cũng không có ai đến làm việc với cơ quan chức năng của tỉnh Bình Dương về việc bắt khẩn cấp ông Lân.

    Việc bắt khẩn cấp ông Lân được thực hiện bởi Nguyễn Văn Nên và Nguyễn Tuyến Dũng cùng một số người khác đã làm sai quy định về thẩm quyền, khi từ một địa phương này sang địa phương khác thực hiện mà không thông qua cơ quan chức năng, chính quyền địa phương.
    Ngay sau khi ông Bùi Mạnh Lân, ông Ðỗ Cao Bằng và ông Phạm Văn Hướng bị bắt, Nên và Dũng đã “phun” ra nhiều thông tin… giả và ác ý cho các báo đài đưa tin không đúng sự thật, dựng chuyện ông Lân, ông Bằng và ông Hướng là… đàn em của Năm Cam.

    Nên và Dũng còn gây nên sự ngộ nhận khiến lãnh đạo tỉnh Bình Dương thời bấy giờ phải sửng sốt: Công ty Hưng Thịnh là “tập đoàn” đứng sau tội án của Năm Cam.
    Họ đẩy sự việc lên theo dạng, công ty xây hồ bơi, nhà hàng, phòng nghỉ… để nói về sự xa hoa có được từ việc làm ăn phi pháp. Và cũng rất có thể, một vài phóng viên đã trở thành công cụ cho một số thành viên biến chất trong Ban Chuyên án Z.501 điều khiển theo ý đồ riêng.
    Cơ quan tố tụng của tỉnh Tiền Giang đã khỏa lấp việc bắt khẩn cấp, giam giữ người trái pháp luật và 3 lần Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao không phê chuẩn lệnh bắt giam do không đủ chứng cứ của Nên và Dũng cùng những người có liên quan được thay thế bằng một lệnh tạm giam. Ðối với lãnh đạo TP HCM và tỉnh Bình Dương, ông Lân là người đứng đầu một doanh nghiệp có năng lực, có tâm và lương thiện. Công ty Hưng Thịnh lại là doanh nghiệp lớn hàng đầu của tỉnh Bình Dương.

    Ông Nguyễn Minh Ðức, Bí thư tỉnh Bình Dương lúc bấy giờ đã có văn bản gửi một số đồng chí lãnh đạo cao cấp ngay sau khi ông Bùi Mạnh Lân được thả ra khỏi trại giam tỉnh Tiền Giang. Sau đó, Văn phòng Thủ tướng đã có công văn chuyển đến lãnh đạo Bộ Công an yêu cầu: “Kiểm tra lại vụ việc này và có báo cáo đầy đủ cho Thủ tướng Chính phủ”. Từ đây, vụ việc đã được làm sáng tỏ.
    Cũng phải nói rõ là khi Chủ tịch HÐQT kiêm Tổng giám đốc và 2 Phó tổng giám đốc Công ty Hưng Thịnh bị bắt giam, các nhà đầu tư trong khu công nghiệp bàng hoàng và hàng chục ngàn công nhân hốt hoảng.
    Các đối tác đầu tư và xây dựng số thì bỏ ngang, số thì ngưng thi công các công trình hạ tầng, nhà máy. Nhiều chủ đầu tư còn đòi khu công nghiệp phải bồi thường do công nhân nghỉ việc, thậm chí bớt xén vật tư làm công trình không đảm bảo chất lượng, gây nên thiệt hại không nhỏ về kinh tế cho Công ty Hưng Thịnh.
    Ước tính, thiệt hại từ hành vi “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” do Nên và Dũng gây ra cho Công ty Hưng Thịnh ở thời điểm đó lên đến 30 tỉ đồng. Phải mất 4 năm sau, Khu Công nghiệp Ðồng An mới có thể phục hồi lại như thời điểm xảy ra vụ bắt người trái pháp luật.

    Tướng Nguyễn Việt Thành có vô can?
    Ở thời điểm chưa có kết luận giám định bị tâm thần phân liệt theo thể hoang tưởng, Nguyễn Văn Nên đã khai toàn bộ quá trình xảy ra vụ án. Nên xây dựng kế hoạch điều tra, báo cáo tiến độ, kết luận điều tra, tiếp nhận và xử lý theo quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với ông Bùi Mạnh Lân đều báo cáo trực tiếp hoặc có bút phê của ông Nguyễn Việt Thành, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an, Trưởng ban Chuyên án Z.501.

    Nên đã ký lệnh bắt khẩn cấp 5 người và trong đó có ông Lân. Ông Nguyễn Chí Phi lúc đó là Phó giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan Ðiều tra Công an tỉnh Tiền Giang đã gọi điện thoại cho Nên nói: “Cứ làm theo chỉ đạo của Ban Chuyên án”. Liên quan đến hành vi sai phạm của Nên và Dũng có trách nhiệm liên đới trực tiếp đến hai ông Nguyễn Việt Thành, Nguyễn Chí Phi.

    Nên còn khai nhận, khoảng 16 giờ ngày 27-8-2003, bà Trần Thị Bích Hòa, Phó vụ trưởng Vụ 1, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao xuống Trại tạm giam tỉnh Tiền Giang để phúc cung 7 bị can trong vụ “Gây rối trật tự công cộng” thì nhận được 3 quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với các ông Bùi Mạnh Lân, Ðỗ Cao Bằng, Nguyễn Ðức Bình.

    Bà Hòa đã yêu cầu Nên ký nhận và tống đạt cho các bị can. Nên đã gọi điện thoại cho ông Nguyễn Việt Thành và nhận được ý kiến chỉ đạo là làm báo cáo lên. Sau đó, Nên làm báo cáo cho ông Nguyễn Việt Thành và ông Nguyễn Thế Bình. Ðến 17 giờ 30 cùng ngày, ông Nguyễn Việt Thành đã gọi điện thoại cho Nên nói rằng: “… đã trao đổi với ông Nguyễn Thế Bình, Phó cục trưởng C16 thống nhất chưa tống đạt ngay cho 3 bị can…”.
    Nên đã phải chờ Ban Chuyên án báo cáo lãnh đạo Bộ Công an và Ban Nội chính Trung ương và khi nào có ý kiến cấp trên sẽ thực hiện. Ðến ngày 1-9-2003, ông Nguyễn Việt Thành thông báo: “… đã xin ý kiến lãnh đạo, mới chấp thuận để Nên triển khai việc tống đạt các quyết định trên cho 3 bị can”.
    Nên cũng thừa nhận nếu căn cứ theo Ðiều 63 và Ðiều 92 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì việc ký lệnh bắt khẩn cấp 7 đối tượng trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng” là không đúng thẩm quyền theo lãnh thổ hành chính, cũng như không rơi vào trường hợp khẩn cấp nào do luật quy định.
    Nên còn khai, sở dĩ Công an tỉnh Tiền Giang thụ lý vì trước đó tỉnh Bình Dương không làm. Trong báo cáo giải trình, liên quan đến vụ án xảy ra tại Công ty Gas Bình Dương, Nên báo cáo đề xuất Ban Chuyên án chỉ đạo cho C16 thụ lý, nhưng Ban Chuyên án họp chỉ đạo giao cho Tổ A4 tiến hành bắt khẩn cấp, với lý do cho rằng, Tiền Giang phát hiện tội phạm, thu thập chứng cứ ban đầu.
    Nên chấp hành do việc này có biên bản họp, kế hoạch phân công chỉ đạo, bút phê của Ban Chuyên án và C16. Liên quan đến tố cáo của vợ chồng ông Cư, bà Thu, Nên cũng khai rõ điều tra viên đã có báo cáo đề xuất, được ông Nguyễn Việt Thành, Trưởng ban Chuyên án bút phê chấp thuận.
    Nguyễn Tuyến Dũng trong các lời khai và tường trình trong giai đoạn điều tra đã nhìn nhận khi tham gia điều tra vụ án “Gây rối trật tự công cộng” xảy ra tại Công ty Gas Bình Dương thực hiện nhiệm vụ với tư cách điều tra viên. Khi bắt khẩn cấp ông Bùi Mạnh Lân, Dũng không hề thu giữ sổ đỏ thửa đất 23.383m2 đất tại Khu Công nghiệp Ðồng An.

    Toàn bộ quá trình điều tra từ đơn tố cáo của vợ chồng ông Cư, bà Thu đều theo chỉ đạo của Ban Chuyên án và lãnh đạo Công an tỉnh Tiền Gang. Dũng cũng trình bày rõ, mặc dù về thẩm quyền, vụ án nói trên do chính Cơ quan Ðiều tra Bộ Công an là cơ quan tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và làm lệnh tạm giam đề nghị Viện Kiểm sát Tối cao phê chuẩn.

    Tuy nhiên, đến ngày 22-3-2003, ông Nguyễn Việt Thành là người chủ trì cuộc họp và chỉ đạo: “…làm thủ tục bắt, khám xét khẩn cấp Ðỗ Cao Bằng, Nguyễn Ðức Bình và 3 đối tượng trong số người được thuê đến gây rối…; giao C16 khởi tố rồi ủy thác cho PC16 Công an Tiền Giang để điều tra…”.
    Sau khi bắt khẩn cấp những người nêu trên, ngày 28-4-2003, ông Nguyễn Việt Thành đã chỉ đạo: “Tiến hành bắt khẩn cấp Lân và Hướng vào ngày 29-4-2003 trước lễ 30-4 và 1-5 nếu không Lân, Hướng sẽ bỏ trốn…” với lý do C14B có báo cáo ông Bùi Mạnh Lân, Phạm Văn Hướng đang tìm cách bán nhà, bán cổ phần, tài sản, không về nơi thường trú…

    Xuyên suốt trong quá trình điều tra, kể cả khi có lệnh của Viện Kiểm sát Tối cao thay đổi biện pháp ngăn chặn, chính ông Nguyễn Việt Thành còn ra lệnh thực hiện chậm tống đạt các quyết định, dẫn đến tình trạng giam giữ oan sai các công dân nói trên.

    Và cũng có thể khẳng định rằng, nếu không có lệnh của tướng Nguyễn Việt Thành thì chắc chắn những người như Nguyễn Văn Nên, Nguyễn Tuyến Dũng không thể nào thực hiện được việc bắt oan sai ông Lân, Hướng…