Phạm Quang Tuấn - Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng qua lăng kính ba phán quyết Tòa án Quốc tế

  • Bởi Cát Bụi
    26/07/2014
    76 phản hồi

    Phạm Quang Tuấn

    Gần đây một số tác giả, trong đó có cả những luật sư, đã phân tích giá trị pháp lý của thư (hoặc công hàm hay công thư [1]) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1958) dựa theo các nguyên tắc pháp lý quốc tế. Dĩ nhiên, biết những nguyên tắc luật pháp nào phải áp dụng là điều rất quan trọng, nhưng điều quan trọng chẳng kém là phải biết Tòa diễn giải và áp dụng những nguyên tắc đó ra sao. Bài này duyệt qua phán quyết của Tòa án Quốc tế về ba vụ án tranh chấp chủ quyền: đảo Pedra Branca, Đông Greenland và đền Preah Vihear.

    Trong vụ Pedra Branca có một lá thư từ một viên Đổng Lý tương tự như thư Phạm Văn Đồng. Vụ Đông Greenland không có văn kiện chính thức mà chỉ có một lời nói từ một vị ngoại trưởng. Vụ Preah Vihear không có văn kiện hay lời nói nào từ bỏ chủ quyền của mình hay công nhận chủ quyền của nước khác. Cả ba việc này đều đóng một phần quan trọng đưa đến việc Tòa xử mất chủ quyền. Từ đó, ta sẽ có thể suy ra vài điều về tác dụng của thư Phạm Văn Đồng nếu chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa được đem ra kiện trước tòa. Người nào không có thì giờ đọc hết có thể đi thẳng đến câu cuối (kết luận 14) bài này.

    Lưu ý:

    Vài lý lẽ trong bài này có thể khiến tác giả bị gọi là “thân Tàu” hay “Việt gian”. Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi bài này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người kiểm điểm, mà là người gây ra lỗ thủng.

    Phần I. Ý định trong thư Phạm Văn Đồng

    Như ta sẽ thấy trong các phần sau, ý định (intention) diễn tả trong một lá thư hay văn kiện chiếm một vài trò chính yếu trong sự phân xử của Tòa án Quốc tế. Vì có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của thư Phạm Văn Đồng nên cần xem lại thư này nói gì. Nguyên văn thư Phạm Văn Đồng như sau ([A] và [B] do tác giả bài này đánh số thêm để tiện việc bàn luận):

    Kính gửi đồng chí Chu Ân-lai,

    Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa tại Bắc Kinh.

    Thưa đồng chí Tổng lý

    Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

    [A] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

    [B] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.

    Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

    Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

    PHẠM VĂN ĐỒNG

    Thủ tướng Chính phủ

    nước Việt-nam dân chủ cộng hoà

    Thư này “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố” ngày 4/9/1958 của Trung Quốc mà nội dung như sau (theo bản tiếng Anh của bộ Ngoại giao Mỹ viện dẫn tạp chí Peking Review [2]):

    Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tuyên bố:

    (1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, gồm Trung Quốc đất liền và các đảo dọc bờ, Ðài Loan và các đảo lân cận, quần đảo Penghu và tất cả các đảo khác trên biển cả thuộc Trung Quốc.

    (2) Đường cơ sở của lãnh hải thuộc đất liền Trung Quốc và các đảo dọc bờ biển là các đường thẳng nối liền các điểm cơ sở trên bờ và các đảo ngoại biên dọc bờ biển [offshore outlying islands]; Vùng biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là lãnh hải của Trung Quốc. Vùng biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong đường cơ sở, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongding, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

    (3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được đi vào hải phận Trung Quốc và vùng trời trên hải phận này.

    (4) Những nguyên tắc trong đoạn (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc.

    Ðài Loan và Penghu hiện còn bị chiếm đóng bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Đây là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, các nước ngoài không được xen vào.

    Thư Phạm Văn Đồng là một lá thư chính thức (Công Thư hay Công Hàm), ký tên và đóng dấu bởi thủ tướng một quốc gia, người đứng đầu chính phủ, nhân danh chính phủ để nói và đầy đủ tư cách để đại diện quốc gia của mình.

    Bức thư gồm hai câu chính: câu đầu (A) bày tỏ lập trường, thái độ: tán thành bản tuyên bố của Trung Quốc. Câu sau (B) nói về hành động cụ thể: chỉ thị cho các cơ quan Nhà Nước phải tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.

    Nhiều tác giả và phát ngôn viên Việt Nam (chẳng hạn [3]) cho rằng vì thư Phạm Văn Đồng không viết rõ những chữ “Hoàng Sa” và “Trường Sa” nên không thể nói là đã chấp nhận chủ quyền Trung Quốc ở hai quần đảo. Họ cho rằng bản tuyên bố nói về bề rộng 12 hải lý là ý chính, những ý khác (kể cả hải phận quanh Hoàng Sa - Trường Sa) chỉ là ý phụ, thư Phạm Văn Đồng chỉ tán thành ý chính này chứ không tán thành những ý phụ. Những người sính ngôn ngữ luật gọi đây là “nguyên tắc bốn góc”: chỉ được hiểu từ những gì được viết ra trong văn bản, không được suy gì thêm.

    Có người còn viện dẫn nguyên tắc “phải giải thích văn bản theo cách nào ít hại nhất cho tác giả” trong luật quốc tế. Tuy nhiên, dù giải thích “trong bốn góc” và “ít hại nhất” thì cũng vẫn phải hợp lý và tuân theo những nguyên tắc logic phổ quát và các định luật ngôn ngữ căn bản. Chẳng hạn, trong vụ Pedra Branca ta sẽ thấy Tòa hiểu câu “[chúng tôi] không đòi hỏi sở hữu [đảo này]” là “[chúng tôi] không đòi hỏi chủ quyền [đảo này]”, dù theo luật pháp thì không có sở hữu chưa chắc là không có chủ quyền.

    Thử áp dụng nguyên tắc “trong bốn góc”, ta đọc thấy rằng ông Phạm Văn Đồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. Lưu ý chữ “bản”, nói về cả văn bản, chứ không phải chỉ nói về một trong những tuyên bố trong văn bản: mặc nhiên là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành toàn bộ nội dung của bản tuyên bố đó. Nếu chỉ tán thành một phần và không tán thành phần khác thì không thể nói là tán thành bản tuyên bố được. Bản tuyên bố nói trong đoạn 4 rằng lãnh hải Trung Quốc bọc quanh Hoàng sa và Trường sa, tức là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành điều đó, không cần phải nhắc lại trong thư của mình.

    Lấy ví dụ, khi tòa án hỏi nhân chứng: “Ông/bà có hứa sẽ nói sự thật, tất cả sự thật và không gì khác ngoài sự thật?” (Do you swear to say the truth, the whole truth and nothing but the truth?), nhân chứng chỉ cần trả lời “I do” là đủ hiểu họ hứa tất cả những điều được hỏi, chứ không thể hiểu là họ chỉ hứa phần 1 nhưng không hứa phần 2 hay 3, v.v., và chắc chắn là không thể cãi rằng “tôi chỉ nói ‘I do’ chứ tôi đâu có hứa gì đâu?”. Hoặc trong thủ tục kết hôn, khi được hỏi “Anh/chị có hứa/thề sẽ...” (theo sau là nhiều lời hứa) cô dâu chú rể chỉ cần trả lời “Có” (I do) chứ không cần phải nhắc lại tất cả các lời hứa người hành lễ vừa đọc.

    Có người cho rằng câu B trong thư Phạm Văn Đồng làm hẹp lại nghĩa của câu A: câu A tán thành chung chung, câu B mới viết cụ thể là tôn trọng hải phận 12 hải lý. Khi mà nói về một điều tức là loại ra hay bác bỏ những điều không nói. Lý luận đó chỉ có thể đúng nếu không có đoạn “tán thành bản tuyên bố” trong câu A, vì không thể vừa tán thành một bản văn vừa không tán thành nhiều điều trong bản văn đó. Hơn nữa, câu B không phải là làm rõ nghĩa câu A như nhiều người lý luận, mà nói về một hành động cụ thể (chỉ thị các cơ quan...) phát sinh từ sự tán thành trong câu A.

    Có người cho rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo.

    Có người [4] viết rằng, dựa theo “nguyên tắc thực lòng” (principle of good faith) trong luật quốc tế, vì chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là những người rất yêu nước, đã từng hy sinh xương máu để bảo vệ chủ quyền đất nước nên họ không thể thực lòng muốn nhường lãnh thổ cho nước khác, do đó Tòa Án Quốc Tế sẽ không nhìn nhận ý định đó trong thư Phạm Văn Đồng. Diễn giải “thực lòng” theo kiểu này thì thật kỳ quặc, vì như vậy mỗi nước sẽ có quyền tha hồ tuyên bố, ký hiệp ước lừa bịp các nước khác, rồi tuyên bố rằng tôi không “thực lòng” (in good faith) khi viết hay ký những văn kiện đó và do đó chúng không ràng buộc tôi được! Diễn giải kiểu đó thì “nguyên tắc thực lòng” sẽ phải gọi là “nguyên tắc dối trá” (principle of bad faith)!

    Thực ra, sự “thực lòng” trong giao dịch quốc tế phải hiểu là người viết hay ký thực lòng hiểu ý nghĩa của cái mình đang viết hay đang ký như thế nào, và sẽ thực lòng thi hành những gì đã hứa, chứ không có nghĩa là khi mình nói dối, nói mà “không thực lòng”, thì không sợ sẽ bị ràng buộc. Nguyên tắc này cần thiết để diễn dịch những hiệp ước, văn kiện trong đó có thể có sự hiểu lầm do khác biệt văn hóa chẳng hạn, và để đảm bảo là mỗi nước thực tâm thi hành những điều đã hứa [5].

    Nếu ông Phạm Văn Đồng thực lòng chỉ tán thành việc cho bề rộng lãnh hải Trung Quốc rộng 12 hải lý thì ông vẫn có thể bỏ đoạn A đi, chỉ viết rằng: “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý ấy”. Như vậy chẳng đủ biểu lộ sự đoàn kết với nước anh em hay sao? (“Tôn trọng” chưa chắc đã là “tán thành”, tôn trọng nói về hành xử, tán thành nói về thái độ, tâm ý.)

    Nói tóm lại, khó chối cãi rằng trong thư Phạm Văn Đồng, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tán thành hay chấp nhận Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa. Ít nhất, thư này không phản ứng gì về câu “áp dụng cho ... quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Nam Sa [Trường Sa]” trong bản tuyên bố của Trung Quốc: ta sẽ thấy là điều này rất quan trọng.

    Phần II. Vụ án Pedra Branca

    Tóm tắt vụ án

    Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge là những đảo nhỏ nằm trong eo biển Malacca giữa Singapore và Malaysia. Thế kỷ 19 trở về trước những đảo này thuộc về vương quốc Johor, nay là một bang của Malaysia. Năm 1844 Johor cho phép chính quyền thuộc địa Anh xây và sau đó liên tục cai quản một hải đăng trên Pedra Branca. Năm 1979 Malaysia (quốc gia kế thừa Johor) công bố một bản đồ vẽ nhóm đảo này nằm trong lãnh hải của mình. Singapore (quốc gia kế thừa chính quyền thuộc địa Anh) phản đối. Hai nước đưa ra Tòa Án Quốc Tế phân xử năm 2003. Tòa xử là Pedra Branca thuộc về Singapore, Middle Rocks thuộc về Malaysia, còn South Ledge là đảo chìm khi nước lên, nên theo luật biển chủ quyền sẽ tùy thuộc nằm trong lãnh hải của nước nào (lãnh hải khu này chưa phân định xong) [6, 7].

    Một sự kiện nổi bật trong quá trình này xảy ra năm 1953. Năm đó, chính quyền thuộc địa Anh viết thư cho Johor yêu cầu làm rõ tình trạng pháp lý của Pedra Branca. Quyền Đổng lý Tiểu bang (Acting State Secretary) Johor viết thư trả lời. Vì đáp thư Johor được tòa coi là có ý nghĩa rất quan trọng trong vụ án này, và có nhiều điểm tương đồng với thư Phạm Văn Đồng, nên cần biết rõ nội dung của nó. Nguyên văn lá thư như sau (đoạn 196 trong [6]):

    “I have the honour to refer to your letter...dated 12th June 1953, addressed to the British Adviser, Johore, on the question of the status of Pedra Branca Rock some 40 miles from Singapore and to inform you that the Johore Government does not claim ownership of Pedra Branca.”

    dịch:

    "Tôi xin trân trọng đề cập đến thư của ngài ngày 12 tháng 6 năm 1953, gửi cho Cố vấn Anh, Johore, về tình trạng của Pedra Branca cách Singapore khoảng 40 dặm và xin thông báo rằng Chính phủ Johore không đòi quyền sở hữu Pedra Branca.”

    Những tiêu chuẩn pháp lý được Tòa áp dụng

    Tòa đã xác định những tiêu chuẩn pháp lý được áp dụng như sau (“đoạn xxx” chỉ những đoạn có số thứ tự trong phán quyết của Tòa [6]):

    • Muốn kết luận là đã có sự thay đổi chủ quyền thì cần có những bằng cớ rõ rệt, không thể nghi ngờ, căn cứ vào cách hành xử hai bên và những sự kiện liên hệ (đoạn 122).

    (122. Critical for the Court’s assessment of the conduct of the Parties is the central importance in international law and relations of State sovereignty over territory and of the stability and certainty of that sovereignty. Because of that, any passing of sovereignty over territory on the basis of the conduct of the Parties, as set out above, must be manifested clearly and without any doubt by that conduct and the relevant facts. That is especially so if what may be involved, in the case of one of the Parties, is in effect the abandonment of sovereignty over part of its territory.)

    • Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức (chẳng hạn, một hiệp ước chuyển nhượng chủ quyền), thậm chí không cần hai bên nói ra (tacit), mà tập trung vào ý định (intention) của hai bên. Sự thay đổi chủ quyền có thể suy diễn từ cách hành xử của hai bên.

    (120. Any passing of sovereignty might be by way of agreement between the two States in question. Such an agreement might take the form of a treaty,[...] The agreement might instead be tacit and arise from the conduct of the Parties. International law does not, in this matter, impose any particular form. Rather it places its emphasis on the parties’ intentions (cf. e.g. Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Preliminary Objections, I.C.J. Reports 1961, pp. 17, 31).)

    • Nếu một nước không phản ứng khi cần thiết, chẳng hạn khi nước khác khẳng định chủ quyền trên vùng đất của mình, thì chủ quyền có thể coi là đã chuyển qua nước kia. Hành xử này gọi là sự đồng ý hay chấp nhận ngầm (acquiescence).

    (121. Under certain circumstances, sovereignty over territory might pass as a result of the failure of the State which has sovereignty to respond to conduct à titre de souverain of the other State or, as Judge Huber put it in the Island of Palmas case, to concrete manifestations of the display of territorial sovereignty by the other State (Island of Palmas Case (Netherlands/United States of America), Award of 4 April 1928, RIAA, Vol. II, (1949) p. 839). Such manifestations of the display of sovereignty may call for a response if they are not to be opposable to the State in question. The absence of reaction may well amount to acquiescence. The concept of acquiescence “is equivalent to tacit recognition manifested by unilateral conduct which the other party may interpret as consent...” (Delimitation of the Maritime Boundary in the Gulf of Maine Area (Canada/United States of America), Judgment, I.C.J. Reports 1984, p. 305, para. 130). That is to say, silence may also speak, but only if the conduct of the other State calls for a response.)

    Tóm tắt lý luận và phán quyết của Tòa

    Để phân xử chủ quyền, Tòa đã xem xét quá trình liên quan đến chủ quyền trong từng giai đoạn lịch sử:

    (i) Thời kỳ 1844 trở về trước: Sau khi xem xét những bằng chứng lịch sử, Tòa kết luận rằng ở thời điểm 1844, Pedra Branca và Middle Rocks thuộc về Johor (nay là một tiểu bang của Malaysia).

    (ii) Trong thời gian 1844-1852, Johor đã cho phép Anh xây hải đăng trên Pedra Branca. Tòa không kết luận gì về sự kiện này, và cho rằng việc này không có nghĩa là Johor từ bỏ chủ quyền.

    (iii) Từ 1852 tới 1952, Johor không có động thái nào khẳng định chủ quyền trên các đảo liên hệ.

    (iv) Năm 1953, để trả lời một lá thư từ Đổng Lý Thuộc Địa (Colonial Secretary) Singapore hỏi về chủ quyền Pedra Branca, quyền Đổng Lý Tiểu Bang (Acting State Secretary) Johor viết lá đáp thư như đã nói, khẳng định là Johor “không sở hữu” Pedra Branca. Tòa viết trong phần Kết Luận rằng rất lá thư này “có ý nghĩa lớn” (“has major significance” đoạn 275) và kết luận rằng ở thời điểm 1953 Johor đã hiểu (understood), tức là đã chấp nhận, rằng họ không còn chủ quyền trên Pedra Branca (đoạn 223).

    (v) Trong khoảng thời gian 1953-1980 Singapore đã nhiều lần khẳng định chủ quyền trên Pedra Branca nhưng Johor/Malaysia không phản ứng. Không những thế đã có những tài liệu và bản đồ Malaysia cho thấy rằng Pedra Branca thuộc Singapore.

    Căn cứ vào quá trình trên, Tòa kết luận rằng vị trí hai bên đã dần dà “tiến hóa hội tụ” (convergent evolution) về một quan điểm chung: chủ quyền Pedra Branca thuộc Singapore. Tuy nhiên Middle Rocks được cho là (vẫn) thuộc về Malaysia, vì không có một quá trình “tiến hóa hội tụ” tương tự.

    Có thể tóm tắt phán quyết của Tòa như sau: Johor/Malasia đã mất chủ quyền Pedra Branca vì cách hành xử của họ trong suốt nhiều năm cho thấy rằng họ không còn coi đảo này thuộc về họ.

    Nhận xét về phán quyết Pedra Branca

    • Tuy đòi hỏi bằng chứng rõ rệt, không thể nghi ngờ được cho việc thay đổi chủ quyền, nhưng Tòa coi rằng hình thức của bằng chứng (chẳng hạn hiệp ước chính thức) không quan trọng, mà quan trọng là ý định (intention hay understanding) của hai bên, thông qua cách hành xử.
    • Tòa đã xử cho Singapore được chủ quyền Pedra Branca, mặc dù ở thời điểm 1844 chủ quyền thuộc Johor (Malaysia) và sau đó không hề có hiệp ước nào chính thức chuyển nhượng chủ quyền.
    • Tòa không căn cứ vào một văn kiện hay biến cố nào duy nhất, mà căn cứ vào một quá trình theo đó quan điểm của hai bên dần dần thay đổi theo cùng một hướng: sự thụ động của Johor/Malaysia từ 1844 tới 1952, đáp thư Johor 1953, sự thụ động của Malaysia khi Singapore thi hành chủ quyền trong thời gian 1953-1980.
    • Tuy nhiên, tòa coi đáp thư Johor (1953) là “có ý nghĩa lớn” (has major significance) bởi vì nó cho thấy rằng ở thời điểm đó, Johor không còn coi Pedra Branca là của mình nữa.
    • Để ý là Tòa viết (đoạn 222) rằng trong thư này chữ “sở hữu” - ownership – phải hiểu là “chủ quyền” – sovereignty, mặc dù Malaysia đã yêu cầu Tòa phân biệt hai khái niệm đó (đoạn 198): ta thấy là nguyên tắc diễn giải “ít hại nhất” hay “trong bốn góc” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý.
    • Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền (đoạn 226), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì nó chỉ được viết để trả lời một câu hỏi, nên không có tác dụng quyết định về mặt pháp lý (conclusive legal effect)[8].
    • Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor gây ra estoppel (đoạn 227), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì thư đó không hội đủ các điều kiện cho estoppel, đặc biệt là nó đã không khiến cho Singapore làm gì thiệt hại cho mình. [9].
    • Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một hành động đơn phương có tính cách ràng buộc (binding unilateral undertaking) (đoạn 228), nhưng Tòa không đồng ý (đoạn 229) vì đáp thư Johor không viết trong bối cảnh Anh tuyên bố chủ quyền trên Pedra Branca hay đang có tranh chấp, mà chỉ là để trả lời một câu hỏi [8].
    • Tuy ba thỉnh nguyện trên của Singapore bị bác, nhưng điều đó không thay đổi kết quả tối hậu: Malaysia vẫn thua kiện.

    Phần III. Vụ án Đông Greenland

    Tóm tắt vụ án

    Đảo Greenland được người Na Uy khám phá và định cư từ khoảng thế kỷ 10-11. Từ 1380 tới 1814 Na Uy là một phần của Đan Mạch. Đan Mạch đã kiểm soát Greenland và chủ quyền của Đan Mạch được một số nước khác ngầm công nhận (acquiesce). Tuy nhiên, những cơ sở của Đan Mạch đều nằm ở Tây Greenland và do đó Na Uy khi đã độc lập cho rằng Đan Mạch không có chủ quyền ở Đông Greenland. Sau nhiều thương nghị không có kết quả, năm 1931 Đan Mạch đem vụ này ra Tòa Công Lý Quốc Tế Thường Trực (Permanent Court of International Justice), tiền thân của Tòa Án Quốc Tế. Năm 1933 Tòa xử Đan Mạch được chủ quyền toàn đảo Greenland [10].

    Câu trả lời của Ngoại trưởng Ihlen

    Bài này không đi vào chi tiết vụ án mà chỉ nói về một sự kiện quan trọng mà Tòa cho là có tính cách quyết định. Ngày 14/7/1919 trong một cuộc gặp mặt giữa Ngoại Trưởng Đan Mạch và Ngoại Trưởng Na Uy, Ngoại Trưởng Đan Mạch nói rằng Đan Mạch sắp yêu cầu các nước công nhận chủ quyền Đan Mạch trên toàn thể Greenland, và hy vọng việc này sẽ không gặp khó khăn từ phía Na Uy. Ngoại Trưởng Na Uy, ông Ihlen, nói rằng sẽ xem xét vấn đề, và ngày 22/7, trong một cuộc gặp mặt khác, Ihlen nói rằng Na Uy sẽ không gây khó dễ (“ne fera pas de difficultés”) về vấn đề này. Câu nói này được chính Ngoại Trưởng Ihlen ghi nhận trong một biên bản, mà Tòa dịch từ tiếng Pháp như sau:

    “The Danish Government has for some years past been anxious to obtain the recognition of all the interested Powers of Denmark's sovereignty over the whole of Greenland, and it proposes to place this question before the above-mentioned Committee at the same time. During the negotiations with the U.S.A. over the cession of the Danish West Indies, the Danish Government raised this question in so far as concerns recognition by the Government of the U.S.A., and it succeeded in inducing the latter to agree that, concurrently with the conclusion of a convention regarding the cession of the said islands, it would make a declaration to the effect that the Government of the U.S.A. would not object to the Danish Government extending their political and economic interests to the whole of Greenland.

    The Danish Government is confident (he added) that the Norwegian Government will not make any difficulties in the settlement of this question.

    I replied that the question would be examined.

    14/7 - 19 Ih.”

    “II. To-day I informed the Danish Minister that the Norwegian Government would not make any difficulties in the settlement of this question.

    22/7 - 19 Ih.”

    Tòa nhận xét về câu trả lời của Ihlen như sau (các đoạn đánh số là từ phán quyết quả Tòa [10]):

    • Câu trả lời của Ihlen không có nghĩa là Ihlen công nhận Đan Mạch có chủ quyền Đông Greenland (tức là Ihlen có thể hiểu rằng ở thời điểm đó, Đan Mạch chưa coi là mình có chủ quyền Đông Greenland nhưng đang dự định mở rộng chủ quyền sang đó) (đoạn 188).
    • Tuy nhiên câu trả lời của Ihlen là một lời hứa có tính cách ràng buộc Na Uy, bởi nó xuất phát từ một ngoại trưởng, đứng trên cương vị đại diện nước mình để trả lời đại diện ngoại giao một nước khác, về một vấn đề thuộc thẩm quyền của ông ta. Tòa nhấn mạnh là kết luận này không thể nào chối cãi được (beyond dispute) (đoạn 192).
    • Tòa coi tuyên bố của Ihlen là vô điều kiện và có tính cách quyết định (definitive) (đoạn 195).
    • Do đó, Na Uy không được phản đối hay tranh dành (contest) chủ quyền của Đan Mạch ở Đông Greenland, và dĩ nhiên không được chiếm đóng phần đất nào ở Greenland (đoạn 202).

    Nhận xét về phán quyết của Tòa

    • Chỉ một lời nói (có biên bản) của một người có thẩm quyền đại diện quốc gia cũng có thể ràng buộc quốc gia đó về vấn đề chủ quyền. Điều này minh chứng rõ nguyên tắc “Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức” mà ta đã thấy ở Phần II.
    • Điều này cũng cho thấy là quan niệm “mọi sự thay đổi chủ quyền phải do quốc hội phê duyệt” là sai lầm. Quan niệm này đôi khi thấy trong các bài báo Việt Nam.
    • Điều này cũng cho thấy là những bàn cãi trong cộng đồng và truyền thông tiếng Việt về gọi thư Phạm Văn Đồng là công hàm hay công thư là hoàn toàn vô bổ. Dù gọi là gì đi nữa thì nó cũng đã được ký tên và đóng dấu bởi một thủ tướng, người đầy đủ thẩm quyền đại diện chính phủ, và tuyên bố lập trường của chính phủ.

    Phần IV. Vụ án đền Preah Vihear

    Tóm tắt vụ án

    Preah Vihear là một ngôi đền cổ nằm sát biên giới Thái Lan-Cambodia. Đền này xây trên đỉnh một vách đá, cũng là đường phân thủy, chạy đại khái theo hướng đông-tây, nhìn về phía nam (vùng thấp) là Cambodia, nhìn về phía bắc (vùng cao) là Thái Lan.

    Năm 1904, Thái Lan và Pháp (đại diện thuộc địa Cambodia) ký một hiệp ước về biên giới, theo đó thì sẽ dùng đường phân thủy làm biên giới ở khu vực này. Hai nước thành lập một ủy ban liên hợp để xác định biên giới. Áp dụng nguyên tắc đường phân thủy thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Tuy nhiên, năm 1907 sở địa đồ Pháp trình ủy ban liên hợp biên giới một địa đồ theo đó thì đường biên giới vẽ chệch về phía bắc đường phân thủy, khiến Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia. Việc đó gây tranh chấp và được đưa ra phân xử tại Tòa án Quốc tế năm 1962. Tòa xử cho chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia [11].

    Lý lẽ của Thái Lan

    Cambodia chủ yếu dựa vào bản đồ 1907 để chứng tỏ chủ quyền của mình. Những lý lẽ chính của Thái Lan là:

    1. Hai nước đã ký hiệp ước thỏa thuận nguyên tắc dùng đường phân thủy làm biên giới, theo đó thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Bản đồ 1907 là do Pháp vẽ và công bố, Thái Lan không dự phần, và đã vẽ sai vì không theo đúng đường phân thủy. Không có văn kiện chính thức nào nói rằng bản đồ này được ủy ban liên hợp 1904 chấp nhận.

    2. Thái Lan đã liên tục thi hành chủ quyền ở đền Preah Vihear bằng cách chiếm đóng, quản lý.

    Phán quyết của Tòa

    Tòa chấp nhận rằng bản đồ 1907 “không có tính cách ràng buộc” ([11], trang 19). Tuy nhiên, nguyên tắc dùng đường phân thủy trong hiệp định biên giới 1904 cũng không ràng buộc nếu cả hai bên thỏa thuận không áp dụng nó trong trường hợp nào đó (“it was certainly within the power of the Governments to adopt such departures”) ([11], trang 20). Vấn đề là có sự thỏa thuận này không ở Preah Vihear, và điều này tùy thuộc vào ủy ban liên hợp 1904.

    Tòa nhận xét rằng:

    • Bản đồ 1907 đã được trình cho mọi thành viên ủy ban liên hợp 1904 và công bố rất trọng thể, gửi cho nhiều sứ quán Thái Lan và nhiều cơ quan quốc tế. Tuy nhiên, không có lời phản đối nào từ Thái Lan. Tòa cho rằng do đó Thái Lan đã đồng ý ngầm (acquiesce).
    • Thái Lan nói rằng chỉ những viên chức thấp của họ thấy bản đồ 1907. Tòa cho rằng đó là lỗi của Thái Lan, nước này phải chịu hậu quả. Hơn nữa, sự sai biệt giữa đường biên giới và đường phân thủy quá rõ rệt nên không thể viện cớ lầm lẫn ([11], trang 24).
    • Năm 1934-35, Thái Lan tự làm bản đồ lấy và nhận thấy sự sai biệt, nhưng vẫn không nói gì.
    • Năm 1937, Thái Lan vẽ một bản đồ cho thấy Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia.
    • Năm 1947 Thái Lan và Pháp thương nghị ở Washington để hòa giải về các vấn đề biên giới, nhưng Thái Lan không đưa ra vấn đề Preah Vihear.
    • Chuyến viếng thăm đền của bộ trưởng nội vụ Damrong năm 1930 như là khách của Pháp được coi là đặc biệt quan trọng. Năm 1930, một công sứ Pháp tại Cambodia lấy tư cách “chủ nhà” mời Hoàng thân Damrong, bộ trưởng nội vụ Thái Lan, tới thăm Preah Vihear và trương cờ Pháp tại đó. Ông này tới thăm mà không nói gì để khẳng định chủ quyền của Thái Lan. Tòa viết như sau: “Khó có thể tưởng tượng một sự khẳng định chủ quyền rõ ràng hơn thế từ phía Pháp. Việc đó đòi hỏi một phản ứng. Thái Lan đã không làm gì”, và việc đó cho thấy có vẻ Thái Lan đã “ngầm công nhận” (tacit recognition) chủ quyền của Cambodia trên Preah Vihear.

    (When the Prince arrived at Preah Vihear, he was officially received there by the French Resident for the adjoining Cambodian province, on behalf of the Resident Superior, with the French flag flying. The Prince could not possibly have failed to see the implications of a reception of this character. A clearer affirmation of title on the French Indo-Chinese side can scarcely be imagined. It demanded a reaction. Thailand did nothing. Furthermore, when Prince Damrong on his return to Bangkok sent the French Resident some photographs of the occasion, he used language which seems to admit that France, through her Resident, had acted as the host country. The explanations regarding Prince Damrong's visit given on behalf of Thailand have not been found convincing by the Court. Looking at the incident as a whole, it appears to have amounted to a tacit recognition by Siam of the sovereignty of Cambodia (under French Protectorate) over Preah Vihear, through a failure to react in any way, on an occasion that called for a reaction in order to affirm or preserve title in the face of an obvious rival claim.)

    • Về việc Thái Lan đã chiếm đóng hay quản lý Preah Vihear, Tòa cho là những hành động này thường là do chính quyền địa phương, và không đủ để triệt tiêu (cancel out) lối hành xử im lặng của chính quyền trung ương.
    • Năm 1949, Pháp viết thư cho Thái Lan yêu cầu rút lính gác Thái khỏi đền, nhưng Thái Lan không trả lời.
    • Năm 1954 Cambodia (mới độc lập) gửi một lá thư tương tự, nhưng Thái Lan không trả lời.

    Vì những lý do trên Tòa phán quyết với đa số 9/3 rằng chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia.

    Nhận xét về phán quyết Preah Vihear

    • Thái Lan và Pháp (đại diện Cambodia) đã ký hiệp ước biên giới ghi rõ là đường biên giới đi theo đường phân thủy, và theo điều khoản đó thì Preah Vihear phải thuộc về Thái Lan.
    • Thái Lan không hề ký một hiệp ước hay có một tuyên bố đơn phương nào từ bỏ chủ quyền Preah Vihear.
    • Tuy nhiên, dùng nguyên tắc acquiescence (đồng ý ngầm), Tòa đã cho rằng Thái Lan không có chủ quyền vì đã nhiều lần không phản ứng trước những hành động hay tài liệu có thể hiểu là khẳng định chủ quyền của Pháp hay Cambodia.
    • Tòa cho rằng hành động chiếm đóng hay quản lý của Thái Lan không đủ để triệt tiêu thái độ im lặng, ngầm đồng ý của nước này khi cần phải có phản ứng.

    KẾT LUẬN

    1. Về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, Tòa Án Quốc Tế dựa vào nội dung và ý định trong các văn kiện, cũng như vào các hành động và sự kiện, hơn là vào hình thức văn kiện.

    2. “Ý định” phải hiểu là ý định diễn tả trong văn kiện, chứ không phải ý định ngầm của kẻ muốn dấu diếm hay ngần ngại thổ lộ ý định thật như có người đã giải thích.

    3. Những nguyên tắc “chỉ đọc trong bốn góc của văn bản”, “phải hiểu cách nào ít hại nhất cho người viết” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý (xem cách Tòa diễn giải lá thư của Johor trong vụ Pedra Branca).

    4. Chỉ một lời nói (có biên bản) của một đại diện có thẩm quyền (như ngoại trưởng) cũng có thể ràng buộc một quốc gia về vấn đề chủ quyền (xem vụ Đông Greenland).

    5. Acquiescence - đồng ý ngầm, không nói gì khi cần thiết phải nói, tức là khi nước khác khẳng định chủ quyền trên đất của mình hay đất có tranh chấp bằng văn kiện hày hành động - cũng có tác dụng như là lời nói hay văn kiện. Điều này được thấy rõ trong vụ án đền Preah Vihear, khi Thái Lan thua kiện dù không hề có tuyên bố gì từ bỏ chủ quyền.

    6. Thư Phạm Văn Đồng không phản đối khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa - Trường Sa, nên có thể bị coi là acquiescence.

    7. Hơn thế nữa, thư Phạm Văn Đồng có thể coi là đã tán thành rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

    8. Thư Phạm Văn Đồng không thể coi là một hiệp ước hay văn kiện chính thức nhường chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa cho Trung Quốc. Do đó, dùng những công ước về hiệp ước quốc tế để tìm hiểu tác dụng thư này chưa chắc sẽ đưa đến những kết luận chính xác.

    9. Thư Phạm Văn Đồng có lẽ không đủ để gây ra estoppel khiến Việt Nam không có quyền tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa.

    10. Tuy nhiên, nếu thư Phạm Văn Đồng là một yếu tố khiến Trung Quốc giúp Việt Nam Dân Shủ Cộng Sòa trong chiến tranh Việt Mỹ, gây tổn thương cho binh lính hay nhân viên Trung Quốc trong cuộc chiến đó, thì có thể estoppel sẽ được áp dụng [9]. (Điều tai hại là chính người Việt cũng có khi đưa ra lý lẽ này để giải thích thư Phạm Văn Đồng!)

    11. Tuy nhiên, tập trung vào khía cạnh estoppel của thư Phạm Văn Đồng là một việc sai lầm. Nguy hiểm chính của nó không ở chỗ đó.

    12. Kết hợp thư Phạm Văn Đồng với các hành động và thái độ khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1954-75, nhất là sự im lặng trong trận chiến Hoàng Sa 1974, nếu đem xử về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa ở Tòa án Quốc tế sẽ có khả năng không nhỏ là tòa sẽ xử rằng từ 1954 tới 1975 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chấp nhận chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

    13. Ngay cả khi Tòa cho rằng thư Phạm Văn Đồng không có ý định nói gì về chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa, kết luận 12 ở trên vẫn chính xác (vì lý do đã nói ở kết luận 5).

    14. Nếu đem xử về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa ở Tòa Án Quốc Tế mà đứng trên quan điểm Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoàn toàn là kế tục (continuation, successor) của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và không kế tục quốc gia nào khác, thì có khả năng không nhỏ là Việt Nam thua kiện và mất hẳn chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa.

    Phạm Quang Tuấn

    ______________________________________

    CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU

    [1] Ngay sau khi lá thư của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng được gửi đi, báo Nhân Dân gọi nó là “công hàm”. Từ này sau đó được dùng rộng rãi. Gần đây truyền thông trong nước thường gọi nó là công thư. Các nhà nghiên cứu và truyền thông ngoại quốc thường chỉ gọi là “Phạm Văn Đồng letter”, cũng đôi khi gọi là diplomatic note. Trong cộng đồng Việt Nam, cách gọi lá thư gần đây đã gây nhiều tranh cãi, nhiều người cho rằng không gọi nó là công hàm tức là cố ý giảm thiểu tầm quan trọng hay chính thức của nó. Bài này sẽ theo tập tục ngoại quốc và gọi là “thư Phạm Văn Đồng”. Như bài này sẽ cho thấy, dù gọi nó là gì thì giá trị pháp lý của nó cũng không thay đổi.

    [2] www.state.gov/documents/organization/58832.pdf

    [3] Nguyen Le Ha, Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa

    http://boxitvn.blogspot.fr/2014/07/gia-tri-phap-ly-cong-ham-pham-van-ong.html

    [4] Cao Huy Thuần, Công hàm Phạm Văn Đồng - Góp ý về việc giải thích.

    http://www.diendan.org/viet-nam/gop-y-ve-viec-giai-thich-cong-ham-pham-van-dong.

    [5] V. Lowe, International Law, OUP, 2007 pp. 116-117

    [6] International Court Of Justice (2008) Case Concerning Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), Judgment of 23 May 2008. http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14492.pdf

    [7] Y. Tanaka (2008) Passing of Sovereignty: the Malaysia/Singapore Territorial Dispute before the ICJ. http://www.haguejusticeportal.net/index.php?id=9665

    [8] Việc Tòa không chấp nhận ba thỉnh cầu của Singapore coi đáp thư là văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền, là ràng buộc hay gây estoppel có thể hơi khó hiểu nên cần biết chính xác là câu hỏi trong lá thư của Anh nói gì. Nguyên văn câu hỏi như sau: “It is [now] desired to clarify the status of Pedra Branca. I would therefore be most grateful to know whether there is any document showing a lease or grant of the rock or whether it has been ceded by the Government of the State of Johore or in any other way disposed of.” Câu hỏi đó không nói rằng Anh có hay đòi chủ quyền Pedra Branca, mà chỉ hỏi là Johor có còn giữ chủ quyền hay không, và do đó Tòa đã đi tới những kết luận như trên.

    [9] Trong luật quốc tế, estoppel là sự ngăn cấm một nước (A) không được có những hành động mâu thuẫn gây hại cho nước (B) khác, cụ thể là không thể làm ngược những gì mình đã nói. Estoppel đòi hỏi ba yếu tố: thứ nhất, lời tuyên bố của A phải rõ ràng, không thể hiểu lầm; thứ hai, lời tuyên bố phải tự nguyện, vô điều kiện, và bởi người có thẩm quyền; và cuối cùng, B phải làm gì thiệt cho mình hoặc lợi cho A vì đã thực lòng tin vào lời tuyên bố của A. (First, the statement creating the estoppel must be clear and unambiguous; second, the statement must be voluntary, unconditional, and authorized; and finally, there must be good faith reliance upon the representation of one party by the other party either to the detriment of the relying party or to the advantage of the party making the representation.) (M.L. Wagner (1986) Jurisdiction by Estoppel in the International Court of Justice. California Law Review Volume 74, 1777-1804.)

    [10] Permanent Court of International Justice (1933) Legal Status of Eastern Greenland - Denmark v. Norway, Judgment. http://www.worldcourts.com/pcij/eng/decisions/1933.04.05_greenland.htm

    [11] International Court Of Justice (1962) Case concerning the temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), http://www.icj-cij.org/docket/files/45/4871.pdf.

    [12] Article ler: La frontière entre le Siam et le Cambodge part, sur la rive gauche du Grand Lac, de l'embouchure de la rivière Stung Roluos, elle suit le parallèle de ce point dans la direction de l'est jusqu'à la rencontre de la riière Prék Kompong Tiam, puis, remontant vers le nord, elle se confond avec le méridien de ce point de rencontre jusqu'à la chaîne de montagnes Pnom Dang Rek. De là elle suit la ligne de partage des eaux entre les bassins du Nam Sen et du Mékong, d'une part, et du Nam Moun, d'autre part, et rejoint la chaîne Pnom Paclang dont elle suit la crête vers l'est jusqu'au Mékong. En amont de ce point, le Mékong reste la frontière du royaume de Siam, conformément à l'article ler du traité du 3 octobre 1893. (theo [10], trang 14)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    76 phản hồi

    Trích dẫn:
    Phien Ngung
    Mình phân biệt tuyên truyền chính trị và pháp lý cho rạch ròi thì tranh luận về vấn đề liên quan đến Hoàng sa và Trường sa mới có kết quả. Đề bài là "Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng" kia mà.

    Bác Phiên Ngung,

    "Hình như" tôi có trích dẫn ra cụ thể cái ý kiến của bác VN2006A để phản biện mà? Tôi đâu có góp ý cho cái đề tài pháp lý gì đó của ông Phạm Quang Tuấn? :) (ai đó góp ý theo "chuẩn không cần chỉnh" thì hình như cũng không có đọc kỹ thì phải?).

    Tôi đã bày tỏ quan điểm mình vài lần, như bên dưới trong đề tài này. Chính quyền VN tuyên bố cả trăm lần họ "có đầy đủ chứng minh, bằng cớ chủ quyền không thể chối cãi" hà tất ... cãi thêm cho họ rối rắm? Tôi cho rằng mình tranh cãi trên DL là chuyện vô ích nên đâu có tham gia?

    Tôi nghĩ cá nhân mình nên tập trung cùng góp tay với nhiều người khác vạch trần những dối trá, bịp bợm, đưa dần ra ánh sáng tất cả mọi sự thật của lịch sữ, để mọi người đều nhìn thấy rõ v/đ, so sánh hay dở, đúng sai, nhờ thế sớm dành lại chủ quyền lãnh thổ của cả nước Việt Nam - không chỉ riêng HS-TS - về tay nhân dân.

    Cám ơn bác Sáu

    CHMNVN là một phần của VNDCCH, và CHXHCNVN chính là VNDCCH.

    Lời bác Phạm Văn Đồng nay đã thành sự thật huy hoàng!

    Phiên Ngung viết:

    Bạn mn!

    ... Mình phân biệt tuyên truyền chính trị và pháp lý cho rạch ròi thì tranh luận về vấn đề liên quan đến Hoàng sa và Trường sa mới có kết quả. Đề bài là "Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng" kia mà.

    Chuẩn không cần chỉnh!

    Khách mn viết:
    Trích dẫn:
    VN2006A
    VNDCCH tuyên bố VNCH là nguỵ, VNDCCH là đại diện duy nhất của toàn VN!!!

    Rồi sao??? VNDCCH vẫn phải è cổ trả nợ cho VNCH (đã chết)!!!

    Tôi nghe cái phát biểu như thế này đã nhiều lần. Không ngờ có nhiều người, như bác VN2006A đây, cả tin đến không tìm hiểu v/đ cho kỷ lưỡng trước khi loan truyền một cái tin ngớ ngẫn.

    È cổ trả nợ? VNDCCH và CHXHCNVN mà cư xử như một nhà nước văn minh, tôn trọng những ký kết quốc tế? Nhất là trả nợ dùm cho kẻ thù VNCH? Tôi có ngủ mơ không?

    Sau 1975, chế độ mới ở VN có trả một ít "nợ" (thực ra chỉ là đóng góp như một loại niên liễm) cho các tổ chức tài chánh quốc tế cho VNCH nhưng nhằm để tiếp tục được hưởng lợi từ vai trò là thành viên của VNCH với các tổ chức này. Lợi cả trăm lần hơn.

    Bên cạnh đó, số tiền mà chế độ mới chiếm được từ các cơ sở tài chánh, ngân hàng, và từ tư nhân, ở miền Nam, là vô số kể. Mười sáu tấn vàng của Ngân hàng QGVN là một thí dụ.

    Những ai từng ở dọc đường xe lữa từ ga Sóng Thần ở Thủ Đức cho đến ga Quảng Trị ngoài Trung, ngay sau tháng 5, 1975, đều chứng kiến các chuyến xe lữa với hàng mấy chục toa chỡ các máy phát điện khổng lồ, các container chứa nhiều tài sản quí giá, v.v... từ miền Nam ùn ùn chạy ra miền Bắc. Hầu như mỗi ngày! Nhưng nghe nói vì không có chuyên viên với khả năng sử dụng nên một số lớn tài sản công nghệ cao đó đành bỏ phơi dưới nắng mưa.

    Kết luận: CHXHCNVN "chỉ muốn thừa hưởng gia tài" của VNCH nhưng lại không muốn (hay không thể?) kế thừa những giá trị văn hoá, xã hội, pháp lý, ứng xử văn minh với cộng đồng quốc tế của miền Nam.

    Kế thừa được những giá trị tốt đẹp đó thì làm gì có một một xã hội suy đồi hiện nay, một chính quyền yếu kém, quỵ luỵ ngoại bang, nô lệ cái đám Tàu cộng chả ra gì?

    Bạn mn!

    Tuy Việt cọng có lươn lẹo để một phần trả nợ do VNCH thiếu Mỹ để đổi lại những lợi nhuận khác. Nhưng đó là xét trên bình diện chính trị mà thôi, trên nguyên tắc thì Việt cộng thời CHXHCNVN vẫn phải gánh phần nợ của VNCH vì thừa kế CHMNVN là kẻ đánh bại VNCH.

    Mình phân biệt tuyên truyền chính trị và pháp lý cho rạch ròi thì tranh luận về vấn đề liên quan đến Hoàng sa và Trường sa mới có kết quả. Đề bài là "Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng" kia mà.

    Trích dẫn:
    VN2006A
    VNDCCH tuyên bố VNCH là nguỵ, VNDCCH là đại diện duy nhất của toàn VN!!!

    Rồi sao??? VNDCCH vẫn phải è cổ trả nợ cho VNCH (đã chết)!!!

    Tôi nghe cái phát biểu như thế này đã nhiều lần. Không ngờ có nhiều người, như bác VN2006A đây, cả tin đến không tìm hiểu v/đ cho kỷ lưỡng trước khi loan truyền một cái tin ngớ ngẫn.

    È cổ trả nợ? VNDCCH và CHXHCNVN mà cư xử như một nhà nước văn minh, tôn trọng những ký kết quốc tế? Nhất là trả nợ dùm cho kẻ thù VNCH? Tôi có ngủ mơ không?

    Sau 1975, chế độ mới ở VN có trả một ít "nợ" (thực ra chỉ là đóng góp như một loại niên liễm) cho các tổ chức tài chánh quốc tế cho VNCH nhưng nhằm để tiếp tục được hưởng lợi từ vai trò là thành viên của VNCH với các tổ chức này. Lợi cả trăm lần hơn.

    Bên cạnh đó, số tiền mà chế độ mới chiếm được từ các cơ sở tài chánh, ngân hàng, và từ tư nhân, ở miền Nam, là vô số kể. Mười sáu tấn vàng của Ngân hàng QGVN là một thí dụ.

    Những ai từng ở dọc đường xe lữa từ ga Sóng Thần ở Thủ Đức cho đến ga Quảng Trị ngoài Trung, ngay sau tháng 5, 1975, đều chứng kiến các chuyến xe lữa với hàng mấy chục toa chỡ các máy phát điện khổng lồ, các container chứa nhiều tài sản quí giá, v.v... từ miền Nam ùn ùn chạy ra miền Bắc. Hầu như mỗi ngày! Nhưng nghe nói vì không có chuyên viên với khả năng sử dụng nên một số lớn tài sản công nghệ cao đó đành bỏ phơi dưới nắng mưa.

    Kết luận: CHXHCNVN "chỉ muốn thừa hưởng gia tài" của VNCH nhưng lại không muốn (hay không thể?) kế thừa những giá trị văn hoá, xã hội, pháp lý, ứng xử văn minh với cộng đồng quốc tế của miền Nam.

    Kế thừa được những giá trị tốt đẹp đó thì làm gì có một một xã hội suy đồi hiện nay, một chính quyền yếu kém, quỵ luỵ ngoại bang, nô lệ cái đám Tàu cộng chả ra gì?

    VN2006A viết:

    Rồi sao??? VNDCCH vẫn phải è cổ trả nợ cho VNCH (đã chết)!!!

    Nợ rì? Cứ nghe người khác nói rồi lập lại như vẹt.

    VNDCCH cũng chết từ năm 1976 vài tháng sau VNCH. Sau khi đảng ta cho CHXHCNVN ra đời.

    Bọn Mỹ viện trợ vô điều kiện cho VNCH. Đêk như bạn vàng nhớ dai, trước khi viện trợ bắt ký công hàm rùi bắt ký Hiệp định Thành Đô trả nợ.
    Bọn Mỹ phong toả kinh tế nhà "lước ta" mãi đến hết thập niên 90. Thế "nà nhà lước ta" xiểng liểng, ngáp ngáp, xém chết.
    Bọn Mỹ không bỏ lệnh phong toả kinh tế thì cứ cạp đất ăn, đếk có khoai mì, khoai lang, bo bo mà cạp.

    MK.

    HoàngMaiNhien trích Thiếu Long viết:
    Bà Monique Chemillier-Gendreau, nữ giáo sư thạc sĩ ngành công pháp và chính trị học của trường Đại học Paris VII - Denis Diderot của Pháp, trong một tài liệu về chủ quyền Hoàng Sa và pháp lý quốc tế, đã ghi nhận: "Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không có quyền lực." Năm 1975, ngụy quyền Sài Gòn không kiểm soát, quản lý Hoàng Sa. Do đó họ không thể chuyển nhượng hay bàn giao chủ quyền đối với Hoàng Sa lại cho Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

    Đây là một lối suy diễn xuẩn động của bọn Việt cộng. Tên Thiếu Long này làm chủ một trang blog chuyên ca tụng chính quyền bán nước Việt cộng nên sẵn sàng và trơ tráo hiểu sai lời giải thích của bà Monique Chemillier-Gendreau về một quy ước luật pháp.

    Bà Monique Chemillier-Gendreau dùng quy ước này để biện hộ cho lập luận cho rằng công hàm bán nước mà Hồ Chí Minh và bè lũ Việt cộng buộc Phạm Văn Đồng ký gởi Chu Ân Lai không có giá trị vì thực tế lúc Đồng ký công hàm trên VNDCCH là quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17không có chủ quyền trên Hoàng sa và Trường sa. Bà Monique Chemillier-Gendreau không hề ứng dụng quy ước này vào việc VNCH trao chủ quyền cho CHMNVN.

    Quí vị thử xem tên Thiếu Long này thực sự hiểu sai quy ước này và dụng ý của bà Monique Chemillier-Gendreau hay hắn là tay sai điên rồ của Việt cộng, sẵn sàng viết những điều xằng bậy bất kể hậu quả. Hay hắn là tay sai của Tàu cộng?

    VN2006A viết:

    TQ không cần phải chứng minh CHMNVN là VNDCCH nối dài!!! TQ biết chắc chắn điều đó!!!

    Không chỉ thế, TQ chắc chắn còn biết nhiều điều về đảng của đc. TQ cũng khôn và lưu manh hơn đồng chí tưởng, những gì được nói ở đây đừng nghĩ là TQ chưa hoặc không biết để nghĩ tới. Liệu lo cho kỹ, tin đảng có ngày ăn cám, mất cả chì lẫn chài lúc nào không biết.

    slinkee viết:
    Dùng Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, các học giả của chúng ta đóng cái đinh cuối cùng lên Việt Nam Cộng Hòa cho tới khi Trung Quốc chứng minh được CHMNVN chỉ là VNDCCH nối dài .

    ...

    TQ không cần phải chứng minh CHMNVN là VNDCCH nối dài!!! TQ biết chắc chắn điều đó!!!

    Tuy nhiên, chính TQ -đại diện bởi đ/c Chu Ân Lai- đã gởi công điện chúc mừng MTGPMNVN là đại diện chân chính và duy nhất của nhân dân MNVN (tức Nhân dân VNCH).

    Việc tuyên bố vung vít trong lúc chiến tranh không phải lúc nào cũng có giá trị trước công pháp quốc tế.

    VNDCCH tuyên bố VNCH là nguỵ, VNDCCH là đại diện duy nhất của toàn VN!!!

    Rồi sao??? VNDCCH vẫn phải è cổ trả nợ cho VNCH (đã chết)!!!

    Hà Hiển viết:
    TQVN viết:

    ... 4. Trước năm 1975, cả VNDCCH và CHMNVN đều không có văn bản tuyên bố HS & TS là của Việt Nam, cũng như không phản đổi việc Trung Quốc (bằng văn bản) xâm chiếm HS của Việt Nam.

    Nhưng theo VNN thì:

    "... Ngày 20/1/1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CHMNVN) đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc. Ngày 26/1/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Ngày 14/2/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam..."

    http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/180879/trung-quoc-cuong-chiem-trai-phep-hoang-sa.html

    Toi tin vào thông tin này của VNN. Vào thời đó, tôi cũng đọc báo thấy có tin về các Tuyên bố trên nhưng không còn nhớ cụ thể về nội dung.

    Tôi nghĩ là CHXHCNVN vẫn còn lưu trữ các bản Tuyên bố này. Bác nào có toàn văn các bản tuyên bố trên không?

    VNN tức báo mạng của thông tấn xã Việt cộng. Nếu bạn Hà Hiển tin vào cái loa phường của đảng và nhà nước Việt cộng thì có ngày vỡ mộng như bao nhiêu người đã vỡ mộng.

    Cái gọi là tuyên bố của chính phủ CMLTCHMNVN này, theo lời của ông Dương Danh Huy đã trả lời tôi thì chỉ là một công bố có tính cách chung chung về việc tôn trọng chủ quyền chứ chẳng hề phản đối Trung quốc xâm lăng Hoàng sa mà cũng chẳng xác nhận chủ quyền của quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17 trên Hoàng sa và Trường sa.

    Đó là lý do tại sao họ luôn viết theo kiểu họ viết là một sự suy diễn sai sự thật để lừa dối mọi người. Nếu có văn bản có nội dung tốt thì việc gì đảng và nhà nước Việt cộng phải giấu như mèo giấu cứt vậy?

    Khách 0378921 viết:
    ...
    CHXHCNVN được hợp thành từ VNDCCH và CHMNVN. Không biết CHMNVN có thừa kế hiến pháp của VNCH không hay là nó có hiến pháp riêng. Hiến pháp của VNCH ghi rõ đó là Hiến pháp của VNCH.

    Các bác,

    Việc thành lập các chính phủ, các nước rất rắc rối về mặt pháp lý vì đôi khi chỉ là các thủ đoạn chính trị và có thể bất hợp pháp vào giai đoạn đầu.

    Ví dụ một tỉnh phía đông của Ukraine tự ly khai với sự giúp đỡ của Putin và thành lập nước cộng hòa Donetsk (DNR). Ở thời điểm hiện nay 2014 nước cộng hòa Donetsk có giá trị pháp lý gì đối với chủ quyền lãnh thổ ? Nếu Donetsk (DNR) tuyên bố vào cuối năm 2014 trở thành một nước cộng hòa với Nga thì có hợp pháp hay không ?

    Cũng như MTGPMNVN và CHMNVN có giá trị pháp lý gì (trong và ngoài nước, LHQ) đối với chủ quyền lãnh thổ VN ở vào giai đoạn 1974 lúc Tàu đánh chiếm HS đang do VNCH quản lý và đối với công hàm PVĐ ?

    Hà Hiển viết:

    Toi tin vào thông tin này của VNN. Vào thời đó, tôi cũng đọc báo thấy có tin về các Tuyên bố trên nhưng không còn nhớ cụ thể về nội dung.

    Tôi nghĩ là CHXHCNVN vẫn còn lưu trữ các bản Tuyên bố này. Bác nào có toàn văn các bản tuyên bố trên không?

    Vâng! Tôi cũng từng đọc báo CSVN nói như thế nhưng chưa tin vì chưa thấy văn bản. Hy vọng với khả năng và vị trí của bác, bác sẽ tìm được văn bản sớm để tôi có dịp xin lỗi (bác)!

    TQVN viết:

    ... 4. Trước năm 1975, cả VNDCCH và CHMNVN đều không có văn bản tuyên bố HS & TS là của Việt Nam, cũng như không phản đổi việc Trung Quốc (bằng văn bản) xâm chiếm HS của Việt Nam.

    Nhưng theo VNN thì:

    "... Ngày 20/1/1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CHMNVN) đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc. Ngày 26/1/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Ngày 14/2/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam..."

    http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/180879/trung-quoc-cuong-chiem-trai-phep-hoang-sa.html

    Toi tin vào thông tin này của VNN. Vào thời đó, tôi cũng đọc báo thấy có tin về các Tuyên bố trên nhưng không còn nhớ cụ thể về nội dung.

    Tôi nghĩ là CHXHCNVN vẫn còn lưu trữ các bản Tuyên bố này. Bác nào có toàn văn các bản tuyên bố trên không?

    Khách 0378921 viết:

    Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tuyên bố là chủ thể có quyền hợp pháp tại miền Nam Việt Nam, khi thành lập không công nhận chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong quan hệ với Việt Nam dân chủ cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở miền nam Việt Nam, nhưng không từ chối các tuyên bố về chủ quyền cả nước của Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Hai miền lập đại diện. Về phía Việt Nam dân chủ cộng hòa, công nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp ở Miền Nam Việt Nam, do đó các văn kiện của nhà nước này có lúc khẳng định có hai chính thể độc lập nhau, nhưng có lúc vẫn khẳng định Việt Nam Dân chủ cộng hòa là của cả nước, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam có chủ quyền tại Miền Nam. Vấn đề này chỉ được rõ ràng các văn kiện tại hội nghị hiệp thương năm 1975 khi khẳng định Cộng hoà Miền Nam Việt Nam thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam, còn Việt Nam dân chủ cộng hòa thi hành quyền lực ở Miền Bắc. Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp địa phương, và ra các văn bản pháp luật quản lý theo thẩm quyền.
    http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_Mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam

    Độc giả Khách 0378921 xuất hiện với lập luận tuy mới nhưng đúng là những gì VNDCCH và CHMNVN đã làm. Với lập luận nầy, lại gây ra nhiều vấn đề cần bàn:

    1. Theo như website mà độc giả Khách 0378921 mang ra dẫn chứng trên (mà tôi cũng đã từng mang ra dẫn chứng), và nếu nói rằng tiêu chuẩn chính quyền (government) trong C.Ứ. Montevideo không cần legislature (lập pháp) thì CHMNVN là một "state" (từ năm 1969)!

    2. CHMNVN không phản đối tuyên bố chủ quyền trên toàn nước (country/nation) Việt Nam của VNDCCH, tức là CHMNVN thừa nhận tuyên bố đó (vì mình là con đẻ của VNDCCH) và VNDCCH cũng không phản đối sự hiện hữu của CHMNVN trong "lãnh thổ" của mình (vì mình đã sinh ra nó).

    3. Theo VNDCCH thì "trên toàn cõi nước Việt Nam không có hiện hữu cái gì gọi là quốc gia (state) VNCH cả"! CHMNVN được đảng Lao động/Cộng sảnVN sinh ra (cũng theo website được dẫn trên), thì CHMNVN (Republic of South Vietnam) "state" hiện hữu từ năm 1969; vậy VNCH (Republic of Vietnam) có hiện hữu hay không và có phải là state hay không mà đã được LHQ nhận là permanent observer từ năm 1952, trong khi mãi đến năm 1975 VNDCCH mới được LHQ nhận là observer và CHXHCNVN được nhận là permanent observer năm 1976 (và trở thành member năm 1977), CHMNVN không được LHQ nhận là gì hết từ khi được sinh ra đến khi biến mất.

    http://en.m.wikipedia.org/wiki/United_Nations_General_Assembly_observers

    4. Trước năm 1975, cả VNDCCH và CHMNVN đều không có văn bản tuyên bố HS & TS là của Việt Nam, cũng như không phản đổi việc Trung Quốc (bằng văn bản) xâm chiếm HS của Việt Nam.

    Từ những điều trên thì rõ ràng VNDCCH là tiền thân (predecessor) của CHXHCNVN (và VNCH không hiện hữu!) cộng với Công hàm Phạm Văn Đồng (và có thể TQ còn những bằng chứng nữa) thì làm sao CHXHCNVN dám kiện Trung Quốc về chủ quyền HS & TS được?!

    " Khi nhiều giải pháp sai lầm đang được đưa ra thỉ lại càng cần phải lên tiếng nói ra sự thật "

    Tôi thì lại cho rằng chính vì 'sự thật' chưa được bach hoá nên mới đẻ ra đủ chủng loại giả pháp, và dĩ nhiên là tuyền bậc ...sai lầm. Sự thật ở đây là gì ? Đó chính là những ký kết, thoả thuận mờ ám giữa 2 đảng CSVN và CSTQ, mà nguy bí hiểm nhất là Mật ước Thành Đô

    Phí công tranh cãi nhau mà làm gì.

    Cám ơn Lê Đá Trẻ vì bác đã nói hộ tôi và nhiều người khác. Một cách rất hiển nhiên, tác giả PQT đang bàn về VNDCCH thì đoạn văn đó hoàn toàn đúng và hợp lí. Vậy mà có người cố gắng làm ra vẻ ta đây am hiểu và “bắt giò” bài viết. Thái độ và hành vi toát lên tính tình của một đứa con nít làm cho người đàng hoàng không muốn nhắc đến. Ấy thế mà cứ lải nhải chẳng đâu vào đâu làm mất thì giờ người khác. Một lần nữa, cám ơn Lê Đá Trẻ.

    Bác "Ấy mới chết tôi chứ !!!"

    Trong vấn đề này tôi khuyên bác nên nghiêm túc, đừng cà khịa, mỉa mai vớ vẩn. Bác PQT đã nói rất rõ ở bài viết và trong phần trả lời còm:

    "Còn một câu hỏi khác là tại sao tôi chỉ nói về chuyện VNDCCH tuyên bố có chủ quyền trên toàn đất nước mà không nói về chuyện VNCH cũng tuyên bố có chủ quyền trên toàn đất nước. Câu hỏi này rất vớ vẩn nhưng tôi cũng xin trả lời ngắn gọn. Chúng ta đang đi tìm ý định trong thư PVĐ, thủ tướng VNDCCH, chứ không phải đang đi tìm ý định của VNCH, nên phải biết rõ quan điểm về chủ quyền của VNDCCH. Quan điểm của VNCH thì đã quá rõ ràng trong sự hy sinh của 53 liệt sĩ tại Hoàng Sa năm 1974, chúng ta khỏi cần bàn tới."

    Dùng Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, các học giả của chúng ta đóng cái đinh cuối cùng lên Việt Nam Cộng Hòa cho tới khi Trung Quốc chứng minh được CHMNVN chỉ là VNDCCH nối dài .

    Để bài bác bản công hàm Phạm Văn Đồng, chúng ta nên nói dối . Nói thật không có lợi gì cả . Lịch sử là cục đất sét, muốn nặn thế nào thì nặn .

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    Tối nay mất ngủ giữa đêm vào DL tình cờ thấy có lý sự theo kiểu lảng tránh evasion. Nhắc lại câu hỏi:

    Phạm Quang Tuấn:

    "Có người cho rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo".

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! :

    "Rất tiếc đây chỉ là lý luận một chiều. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia. Trích nguyên văn tiếng Anh: "Viet-Nam is an independent Republic, one and indivisible".

    Dựa vào hiến pháp của cả VNCH và VNDCCH thì có cả 2 thực thể chính trị đều cùng tồn tại ở bên đây và bên kia vĩ tuyến 17, và cả 2 đều nhận là đại diện của một nước Việt Nam thống nhất không thể phân chia.

    Vậy thì có 2 "state" ở trên bản đồ hình chữ S, hay là chỉ duy nhất 1 "state" và nếu chỉ duy nhất 1 "state" thì VNCH hay VNDCCH là 1 "state" duy nhất này?"

    Một học "giả" mà nói câu hỏi này là vớ vẩn frivolous để khỏi phải trả lời thẳng hoặc trả lời lạc hướng thì phải nói là siêu ngụy biện và hơn thế nữa, hèn!

    Câu hỏi này là mục đích cho thấy sự lý luận thiếu sót một chiều theo phía có lợi cho TQ, tức là chỉ dựa vào HPVNDCCH "nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia" để buộc rằng chủ quyền HSTS ở về nam vĩ tuyến 17 thuộc về VNDCCH ở bắc vĩ tuyến 17, trong khi đó cố tình lãng tránh (cũng như bây giờ đang lãng tránh) không nói đến sự kiện VNCH ở nam vĩ tuyến 17 có một HP cũng có câu tương tự.

    Một học "thật" đã trả lời thẳng vào câu hỏi:

    Mùa Quít @ 19:03, 27/07/2014 - mã số 124148

    Trả lời bác Ấy Mới Chết Tôi Chứ : Trước khi trả lời thì đầu tiên bác phải đồng thuận với tôi về điều "thế nào là một state ?". Theo tôi có hai trạng thái: "State được liên hợp quốc thừa nhận và tham gia như một thành viên của LHQ" và "State tự xưng và được một số đồng minh thừa nhận nhưng không nhất thiết là thành viên của LHQ". Nếu đồng ý với trạng thái thứ nhất thì trước năm 1975 (1954-1975), trên Nước Việt Nam thì chỉ có VNCH là state duy nhất vì chỉ có VNCH tham gia liên hợp quốc và được LHQ thừa nhận. Còn nếu đồng ý với trạng thái thứ hai, thì cả hai chính thể VNCH và VNDCCH đều là state cả, vì phía VNDCCH cũng được Liên Xô, Trung Quốc và khối XHCN công nhận và thiết lập bang giao.

    Trả lời lảng tránh nâng đẳng cấp lảng tránh gấp đôi double evasion trở thành ngụy biện trên ngụy biện, hay là siêu ngụy biện.

    Cứ im lặng là vàng như 3 ngày qua có khi còn hay hơn!

    Lại buồn ngủ rồi đây. Đi ngủ tiếp để mai đi làm vậy.

    Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tuyên bố là chủ thể có quyền hợp pháp tại miền Nam Việt Nam, khi thành lập không công nhận chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong quan hệ với Việt Nam dân chủ cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở miền nam Việt Nam, nhưng không từ chối các tuyên bố về chủ quyền cả nước của Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Hai miền lập đại diện. Về phía Việt Nam dân chủ cộng hòa, công nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp ở Miền Nam Việt Nam, do đó các văn kiện của nhà nước này có lúc khẳng định có hai chính thể độc lập nhau, nhưng có lúc vẫn khẳng định Việt Nam Dân chủ cộng hòa là của cả nước, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam có chủ quyền tại Miền Nam. Vấn đề này chỉ được rõ ràng các văn kiện tại hội nghị hiệp thương năm 1975 khi khẳng định Cộng hoà Miền Nam Việt Nam thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam, còn Việt Nam dân chủ cộng hòa thi hành quyền lực ở Miền Bắc. Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp địa phương, và ra các văn bản pháp luật quản lý theo thẩm quyền.
    http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_Mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    Tối nay mất ngủ giữa đêm vào DL tình cờ thấy có lý sự theo kiểu lảng tránh evasion. Nhắc lại câu hỏi:

    Phạm Quang Tuấn:

    "Có người cho rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo".

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! :

    "Rất tiếc đây chỉ là lý luận một chiều. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia. Trích nguyên văn tiếng Anh: "Viet-Nam is an independent Republic, one and indivisible".

    Dựa vào hiến pháp của cả VNCH và VNDCCH thì có cả 2 thực thể chính trị đều cùng tồn tại ở bên đây và bên kia vĩ tuyến 17, và cả 2 đều nhận là đại diện của một nước Việt Nam thống nhất không thể phân chia.

    Vậy thì có 2 "state" ở trên bản đồ hình chữ S, hay là chỉ duy nhất 1 "state" và nếu chỉ duy nhất 1 "state" thì VNCH hay VNDCCH là 1 "state" duy nhất này?"

    Một học "giả" mà nói câu hỏi này là vớ vẩn frivolous để khỏi phải trả lời thẳng hoặc trả lời lạc hướng thì phải nói là siêu ngụy biện và hơn thế nữa, hèn!

    Câu hỏi này là mục đích cho thấy sự lý luận thiếu sót một chiều theo phía có lợi cho TQ, tức là chỉ dựa vào HPVNDCCH "nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia" để buộc rằng chủ quyền HSTS ở về nam vĩ tuyến 17 thuộc về VNDCCH ở bắc vĩ tuyến 17, trong khi đó cố tình lãng tránh (cũng như bây giờ đang lãng tránh) không nói đến sự kiện VNCH ở nam vĩ tuyến 17 có một HP cũng có câu tương tự.

    Một học "thật" đã trả lời thẳng vào câu hỏi:

    Mùa Quít @ 19:03, 27/07/2014 - mã số 124148

    Trả lời bác Ấy Mới Chết Tôi Chứ : Trước khi trả lời thì đầu tiên bác phải đồng thuận với tôi về điều "thế nào là một state ?". Theo tôi có hai trạng thái: "State được liên hợp quốc thừa nhận và tham gia như một thành viên của LHQ" và "State tự xưng và được một số đồng minh thừa nhận nhưng không nhất thiết là thành viên của LHQ". Nếu đồng ý với trạng thái thứ nhất thì trước năm 1975 (1954-1975), trên Nước Việt Nam thì chỉ có VNCH là state duy nhất vì chỉ có VNCH tham gia liên hợp quốc và được LHQ thừa nhận. Còn nếu đồng ý với trạng thái thứ hai, thì cả hai chính thể VNCH và VNDCCH đều là state cả, vì phía VNDCCH cũng được Liên Xô, Trung Quốc và khối XHCN công nhận và thiết lập bang giao.

    Trả lời lảng tránh nâng đẳng cấp lảng tránh gấp đôi double evasion trở thành ngụy biện trên ngụy biện, hay là siêu ngụy biện.

    Cứ im lặng là vàng như 3 ngày qua có khi còn hay hơn!

    Lại buồn ngủ rồi đây. Đi ngủ tiếp để mai đi làm vậy.

    CHXHCNVN được hợp thành từ VNDCCH và CHMNVN. Không biết CHMNVN có thừa kế hiến pháp của VNCH không hay là nó có hiến pháp riêng. Hiến pháp của VNCH ghi rõ đó là Hiến pháp của VNCH.

    Tối nay mất ngủ giữa đêm vào DL tình cờ thấy có lý sự theo kiểu lảng tránh evasion. Nhắc lại câu hỏi:

    Phạm Quang Tuấn:

    "Có người cho rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo".

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! :

    "Rất tiếc đây chỉ là lý luận một chiều. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia. Trích nguyên văn tiếng Anh: "Viet-Nam is an independent Republic, one and indivisible".

    Dựa vào hiến pháp của cả VNCH và VNDCCH thì có cả 2 thực thể chính trị đều cùng tồn tại ở bên đây và bên kia vĩ tuyến 17, và cả 2 đều nhận là đại diện của một nước Việt Nam thống nhất không thể phân chia.

    Vậy thì có 2 "state" ở trên bản đồ hình chữ S, hay là chỉ duy nhất 1 "state" và nếu chỉ duy nhất 1 "state" thì VNCH hay VNDCCH là 1 "state" duy nhất này?"

    Một học "giả" mà nói câu hỏi này là vớ vẩn frivolous để khỏi phải trả lời thẳng hoặc trả lời lạc hướng thì phải nói là siêu ngụy biện và hơn thế nữa, hèn!

    Câu hỏi này là mục đích cho thấy sự lý luận thiếu sót một chiều theo phía có lợi cho TQ, tức là chỉ dựa vào HPVNDCCH "nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia" để buộc rằng chủ quyền HSTS ở về nam vĩ tuyến 17 thuộc về VNDCCH ở bắc vĩ tuyến 17, trong khi đó cố tình lãng tránh (cũng như bây giờ đang lãng tránh) không nói đến sự kiện VNCH ở nam vĩ tuyến 17 có một HP cũng có câu tương tự.

    Một học "thật" đã trả lời thẳng vào câu hỏi:

    Mùa Quít @ 19:03, 27/07/2014 - mã số 124148

    Trả lời bác Ấy Mới Chết Tôi Chứ : Trước khi trả lời thì đầu tiên bác phải đồng thuận với tôi về điều "thế nào là một state ?". Theo tôi có hai trạng thái: "State được liên hợp quốc thừa nhận và tham gia như một thành viên của LHQ" và "State tự xưng và được một số đồng minh thừa nhận nhưng không nhất thiết là thành viên của LHQ". Nếu đồng ý với trạng thái thứ nhất thì trước năm 1975 (1954-1975), trên Nước Việt Nam thì chỉ có VNCH là state duy nhất vì chỉ có VNCH tham gia liên hợp quốc và được LHQ thừa nhận. Còn nếu đồng ý với trạng thái thứ hai, thì cả hai chính thể VNCH và VNDCCH đều là state cả, vì phía VNDCCH cũng được Liên Xô, Trung Quốc và khối XHCN công nhận và thiết lập bang giao.

    Trả lời lảng tránh nâng đẳng cấp lảng tránh gấp đôi double evasion trở thành ngụy biện trên ngụy biện, hay là siêu ngụy biện.

    Cứ im lặng là vàng như 3 ngày qua có khi còn hay hơn!

    Lại buồn ngủ rồi đây. Đi ngủ tiếp để mai đi làm vậy.

    có bài đăng là có người đọc có khen có chê là sinh hoạt rất bình thường. Muốn không tranh cãi thì đừng viết đừng đăng.

    Xin chào các bác đã comment về bài của tôi. Tôi đã để chừng ba ngày trôi qua trước khi trả lời, vì có nhiều câu hỏi hay comments cho thấy là người hỏi đã hấp tấp, đọc không kỹ hay chưa hiểu rõ mà đã comment hay đặt câu hỏi. Những "feedback" đó đương nhiên không cần trả lời, vì câu trả lời đã nằm sẵn trong bài. Một số câu hỏi khác chỉ có tính cách frivolous nên cũng không cần để ý. Vì vậy tôi chỉ xin trả lời một thắc mắc duy nhất có vẻ genuine.

    Có một câu hỏi question motive của tôi: tại sao chỉ ra lỗ hổng mà không đưa giải pháp. Lý do chính là tôi chưa tìm được giải pháp nào tôi cho là hoàn toàn thỏa đáng, có thể viết bài về nó được (tuy vẫn giữ open mind về vài giải pháp tôi cho là hứa hẹn, đã đưa ra trên mạng). Vậy chưa tìm được giải pháp rõ ràng thì có nên đưa ra vấn đề không? Đương nhiên là có. Trong phần kết luận, tôi đã vạch ra những cái không thể là giải pháp, những giải pháp sai lầm: đó cũng là một đóng góp cho việc tìm giải pháp đúng. Có người chỉ ra ngõ cụt thì sẽ đỡ mất thì giờ đi lạc trong những ngõ cụt đó và sẽ có nhiều thì giờ hơn để tìm lối ra. Vv đi tìm giải pháp, hiện có một số người đang làm việc đó hay hơn tôi.

    Khi nhiều giải pháp sai lầm đang được đưa ra thì lại càng cần phải lên tiếng nói ra sự thật. Có người bạn ho ra máu, ông lang vườn bảo không sao đâu và khuyên uống nước lã, ta có thể lấy cớ mình không biết cách chữa bệnh mà giữ im lặng được không? Đương nhiên là không. Dù không biết cách chữa, ta cũng phải chỉ cho người bệnh biết rằng bệnh ho ra máu chắc là "có sao", chắc không thể chữa bằng nước lã, và khuyên họ đi tìm bác sĩ đàng hoàng.

    Còn một câu hỏi khác là tại sao tôi chỉ nói về chuyện VNDCCH tuyên bố có chủ quyền trên toàn đất nước mà không nói về chuyện VNCH cũng tuyên bố có chủ quyền trên toàn đất nước. Câu hỏi này rất vớ vẩn nhưng tôi cũng xin trả lời ngắn gọn. Chúng ta đang đi tìm ý định trong thư PVĐ, thủ tướng VNDCCH, chứ không phải đang đi tìm ý định của VNCH, nên phải biết rõ quan điểm về chủ quyền của VNDCCH. Quan điểm của VNCH thì đã quá rõ ràng trong sự hy sinh của 53 liệt sĩ tại Hoàng Sa năm 1974, chúng ta khỏi cần bàn tới.

    Phạm Quang Tuấn

    Phải nói thẳng rằng tôi rất phục mấy bác viết bài và viết còm. Phục nhất là sự ... kiên trì (mấy lãnh vực khác thì phục ... vừa phải thôi). Hàng mấy trăm góp ý từ đề tài "Lập trường chính thức của VN về HS" kéo sang tận đây cũng trên 50 và chắc còn tăng nữa (sau còm này :)). Các bác thảo luận từ lịch sữ, sang pháp lý rồi đến từ ngữ, định nghĩa. Phần sau cùng cứ như trong một phiên họp của Viện Ngôn Ngữ Học ... Việt Nam.

    Các bác đã thảo luận, tranh luận, tranh cãi và thậm chí mắng nhiếc nhau (chính tôi cũng bị "học giả" Duơng Danh Huy miệt thị cho là có ý kiến "quái đản" và đã "lên lớp" chỉ vì cứ phải đọc mấy chữ viết tắt CHXHCNVN, CHMNVN, CPCMLTMNVN, VNCH, VNDCCH, v.v... quá nhiều lần nên hoa cả mắt, lẫn lộn cái thực thể này qua cái quốc gia nọ cùng cái ... nhà nuớc kia (và cái chậu kiểng nữa), nên góp ý nhầm, :). (thôi thì có cơ hội tốt không nắm lấy cũng uổng!) :).

    Tôi cũng hiểu có nhiều bác, cũng như rất nhiều người VN khác, đã ưu tư về chủ quyền lãnh thổ của đất nuớc nên phải và thường lên tiếng.

    Nhưng ... đã hàng triệu lần (sorry, cái này tôi nói hơi quá!), đã gần cả trăm lần tôi từng đọc, hay nghe, các phát ngôn viên của Bộ NGVN như Phan Thúy Thanh, Nguyễn Phương Nga, Luơng Thanh Nghị, Lê Hải Bình tuyên bố mạnh mẽ rằng: "VN có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa."

    Đã có đầy đủ rồi thì các bác cho thêm chứng cớ pháp lý hay bằng chứng lịch sữ gì nữa đây cho rối rắm mà tranh cãi nhau?

    Vấn đề là VN có sẽ chính thức tranh cãi với TQ, tranh cãi ở đâu hay chỉ nói cho mạnh miệng nhưng lại nói khơi khơi như hàng bao nhiêu chuyện "viễn vông" khác? Rốt cuộc các bác giống như mấy "ông luật sư" thuộc ba phe bảy nhóm cãi nhau về rất nhiều đề tài. Các bác không cãi trước một tòa án, trước một nhóm quan tòa hay truớc một bồi thẩm đòan nào để được phân xử mà là tranh cãi nhau tại một quán nuớc: Quán nuớc Dân Luận. :)

    Có lẽ các bác nên quay ra cãi với ... tay phát ngôn viên VN Nguyễn Hải Bình và chính quyền VN là họ chỉ ... nói láo. Hãy đòi cho được họ phải trưng ra các chứng cớ trước công luận thế giới hay trước một tòa án quốc tế như họ đã phát ngôn.

    Các bác làm được thế thì tôi mới tin các bác không bỏ công vô ích.

    China Military Online reports that the People’s Liberation Army will carry out live-fire drills in the East China Sea from July 29 to August 2. In preparation for the drills, the Chinese government issued a navigation notice banning maritime vessels from entering an area of the East China Sea bordering southeastern Zhejiang province, roughly 200 kilometers north of the disputed Senkaku/Diaoyu Islands. A Xinhua report reposted by China’s Ministry of Defense described the exercises as “routine training.”

    Meanwhile, China is also holding military drills in the south. Bloomberg reports that China is “holding live-fire drills” in the Gulf of Tonkin. Though the drills are reportedly part of an annual exercise, the scope of this year’s exercises is larger than previous versions. Ni Lexiong, a defense researcher at Shanghai University of Political Science and Law, told South China Morning Post that such large drills in China’s eastern coastal region were uncommon, and likely intended as a warning to Japan.

    The reports from the Ministry of Defense come after media outlets in China speculated that military drills were causing widespread flight cancellations and delays in southern airports. South China Morning Post reports that 12 airports, from Qingdao in the northeast to Ningbo in the southeast, were experiencing major delays and cancellations due to “high-frequency drills of another user.” The widespread and long-lasting nature of the flight disruptions suggested a major military exercise, SCMP said.

    However, China’s Ministry of Defense said that military exercises “are not the major factor behind recent delays,” blaming stormy weather instead. When announcing the upcoming exercises to be held off the southeast coast, the ministry promised that it would work “to minimize the exercise’s impact on civil flights.”

    Xi Jinping has called on China’s military to increase its battle-readiness as part of a military modernization program. These drills appear to be part of this effort; the Ministry of Defense described them as “important for testing combat capability and improving real-combat training levels and military preparation.” A report in China Daily cites a military captain as saying that military exercises have become “more practical” in response to a March edict from the Central Military Commission. As such, the larger scope of this year’s drills might not be intended as a warning, but rather be an attempt to increase the complexity of the drills (including the need for coordination among different branches of the service) to better simulate war conditions.

    Trung Quốc có lẽ đã mở tiệc ăn mừng khi nhận được công hàm Phạm Văn Đồng . Nói ra một sự thật rằng bản công hàm Phạm Văn Đồng là văn bản bán nước (OK, thì chỉ biển đảo) chính thức không phải ủng hộ Trung Quốc, mà có ủng hộ Trung Quốc cách mấy cũng không bằng chính phủ Việt Nam qua những lời nói của ông Phùng Quang Thanh và vô thiên lủng các quan cách mạng từ Trần Đại Thanh trở đi, cũng không thể bằng công hàm Phạm Văn Đồng ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa-Trường Sa, cũng không thể bằng những chuyến đưa cán bộ đảng qua Trung Quốc đào tạo ... Hay nói đúng hơn, mọi việc đều "đúng quy trình" một cách rất hệ thống . Lời nói của bác Phạm Văn Đồng chỉ trở thành sự thật huy hoàng sau khi chính quyền miền Bắc chiếm toàn bộ miền Nam .

    Vả lại ủng hộ Trung Quốc là ủng hộ phe Xã Hội Chủ Nghĩa, là ủng hộ lý tưởng Cộng Sản mà Bác Hồ vĩ đại đã nhập nguyên con -không phải chỉ cái đuôi- đủ cả nanh vuốt để nước mình theo đó mà phát triển . Chống lại Trung Quốc tức là chống lại chủ nghĩa Xã hội, chống lại sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản (nào cũng được) trên phần đất Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa còn lại -trước khi nhập Tống. Như thế mới là phản bội lại tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa, phản bội lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại, phản bội lại nguyện vọng của nhân dân Đảng!

    Ấy mới chết không cơ chứ lại!

    Thôi đi ngủ mai đi làm.

    Trong nước, ngoài nước, vòng quanh thế giới cứ còm, nếu cần thì cho cái disclaimer này vào trước khi còm: "Vài lý lẽ trong bài này có thể khiến còm sĩ này bị gọi là “thân Tàu” hay “Việt gian”. Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi còm này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người còm, mà là người gây ra lỗ thủng."

    Sáng mai ngủ dậy chắc sẽ có tin về sự diễu võ dương oai của bọn Tàu khựa để hù dọa VN đây.

    Nói đùa "test" chơi để thử có ai là “Việt gian” “thân Tàu” trong các còm sĩ như PQT đã giáo đầu: "Vài lý lẽ trong bài này có thể khiến tác giả bị gọi là “thân Tàu” hay “Việt gian”. Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi bài này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người kiểm điểm, mà là người gây ra lỗ thủng."

    Vào đề thật sự, có một cái "test" nữa cho PQT và các còm sĩ ở đây: xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Hơn ai hết, trách nhiệm này nặng nhất đối với PQT vì đó là claim của ông.

    Bất cứ vấn đề pháp lý nào cũng có vài cách biện luận, nhưng một khi đã "định hướng" VN phải và cần bị thua TQ thì chỉ nghĩ 1 chiều: "Có người cho rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo".

    Nhưng sự thật không hề một chiều: Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia. Trích nguyên văn tiếng Anh: "Viet-Nam is an independent Republic, one and indivisible".

    Đảng ta chắc cùng đường nên lúc thì gọi "lề trái" là Việt tân lúc lại gọi là bạn với đám 16 chữ, 4 tốt. Chẳng lẽ hết DLV rồi hay sao mà phải sử dụng đến cả lũ chưa mọc lông?

    nào các bác lề "trái" vỗ tay mừng đón sự diễu võ dương oai của khựa nhá hẩu lớ hẩu lớ

    Pages