Tạ Văn Tài - Chứng cứ lịch sử và khía cạnh pháp luật về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông

  • Bởi Khách
    25/07/2014
    29 phản hồi

    GS Tạ Văn Tài

    CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ KHÍA CẠNH LUẬT PHÁP VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN Ở VÙNG BIỂN CHUNG QUANH. TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP ĐÃ VÀ CÓ THỂ XẢY RA VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC BẰNG THƯƠNG NGHỊ, HÒA GIẢI HAY TÀI PHÁN

    Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại phần lớn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (không phải là trên tất cả các đá, bãi ngầm – phải nói thế mới đúng về mặt sự kiện thực tại và về mặt pháp luật và mới tôn trọng các quốc gia khác trong vùng) và các quyền chủ quyền (sovereign rights, về tài nguyên) đi liền với các vùng biển chung quanh chúng, mà luật dành cho Việt Nam, thì có căn bản chắc chắn trong các chứng cớ sự kiện lịch sử và trong quốc tế công pháp truyền thống và luật quốc tế mới của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea,UNCLOS).

    Ở đây, chúng tôi chỉ có thể trình bày những điểm chính trong một bài viết ngắn, vì trình bày chi tiết sẽ cần một bài dài hơn. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng đề ra các căn bản vững chắc cho việc xác lập chủ quyền Việt Nam và do đó sẽ tỏ rõ thiện chí của lập trường Việt Nam khi nói đến các đường lối thương nghị, hòa giải và tài phán về chủ quyền quốc gia và khai thác chung quốc tế.

    1. Căn bản về sự kiện lịch sử và pháp lý của chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo và của các quyền chủ quyền trong các vùng biển bao quanh chúng

    1.1. Sự xác lập chủ quyền lãnh thổ trên từng mẩu đất, đá trong các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

    Sự xác lập này phải dựa vào quy tắc thủ đắc chủ quyền lãnh thổ của luật quốc tế truyền thống hay thông lệ của 4 thế kỷ qua: một chính quyền của một quốc gia muốn xác lập chủ quyền trên một vùng đất đai thì phải tuyên bố ý định đó, sau khi khám phá hay chiếm hữu đất đai đó, và liên tục quản lý trong hòa bình, và nếu bị một chính quyền khác dùng võ lực chiếm mất, thì phải phản đối để không cho quyền lực mới đó thủ đắc chủ quyền bằng thời hạn tiêu diệt, nghĩa là có một thời gian mà chủ thể quyền lực mới thi hành chủ quyền liên tục mà không ai phản đối.

    Mỗi một quốc gia yêu sách chủ quyền đối với một mẩu đất trong hai quần đảo nói ở đây (xin lưu ý chúng tôi dùng chữ “mẩu đất” vì hầu hết, nếu không phải tất cả, các mẩu đất chỉ là đá (reef, rock), chứ không phải là đảo (island), theo định nghĩa của UNCLOS), thì phải trưng ra chứng cứ đã khám phá và chiếm ngụ mẩu đất đó hợp pháp, trong hòa bình. (Vì thế mà Hoa Kỳ luôn nói, rất hữu lý, là không thiên về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, và chỉ khuyến cáo tranh chấp phải giải quyết trong hòa bình, theo luật quốc tế).

    Ở Trường Sa, các mẩu đất đã được khám phá, chiếm ngụ và quản lý trong hòa bình bởi các quốc gia Đông Nam Á, và giữa họ không có tranh chấp lớn gì, và thực ra chỉ có tranh chấp khi một thế lực bên ngoài là Trung Quốc, chiếm đoạt bằng võ lực đá Gạc Ma từ tay Việt Nam vào năm 1988, giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, và gần đây lấn chiếm đá ngầm Scarborough của Philippines, đuổi dân chài và tàu chiến của Philippines ra xa. Nhưng chiếu luật quốc tế, các vụ xâm chiếm bằng võ lực này không biện minh được cho chủ quyền của Trung Quốc, vì UNCLOS chỉ dành quyền xây đảo nhân tạo trên đá ngầm cho các nước cận duyên, và nhất là cả Việt Nam và Philippines liên tục phản đối để tránh cho sự thủ đắc bằng thời hiệu khỏi xảy ra.

    Riêng trường hợp Việt Nam, thì đã có các bằng chứng lịch sử ghi rõ chính quyền Việt Nam thời xưa đã ra lệnh các hải đội quốc gia làm các cuộc hải trình hàng năm của nhà nước ra Hoàng Sa trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến 9 Tây lịch). Hải trình này thực hiện bởi Đội Hoàng Sa (lập vào thời chúa Nguyễn Phúc Lan, 1635 – 1648). Và cũng đi ra Trường Sa, Côn Sơn và Hà Tiên – hải trình này thực hiện bởi Đội Bắc Hải, lập năm 1776. Đó là những chứng tích lịch sử được ghi nhận trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686) của Đỗ Bá hay trong Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quí Đôn. Ngoài ra, còn có cả chứng cứ trong các tài liệu Trung Quốc, như Hải ngoại kỷ sự (1696) của Thích Đại Sán. Đến thế kỷ XIX, tài liệu lịch sử thời Nguyễn cho thấy các cuộc hải trình do nhà nước tổ chức vẫn tiếp tục từ năm 1803 đến khi người Pháp đô hộ Việt Nam (từ năm 1884), với những chỉ dụ chi tiết cho các đơn vị hải quân và các viên chức hành chánh địa phương. Thời thuộc địa, nhà cầm quyền Pháp nói tới ít ra là 6 đá hay mỏm đất trong vùng Trường Sa. Từ 1945, Việt Nam là quốc gia chiếm nhiều đá nhất với 29 đảo, đá (hay ít hơn, nếu trừ đi số đá bị Trung Quốc chiếm năm 1988 và các năm sau). So sánh với nước khác thì Trung Quốc mới chỉ bắt đầu để ý đến Trường Sa vào năm 1947 qua việc ông Bai Meichu, một nhân viên cấp thấp, vẽ bản đồ “đường 9 đoạn” thâu tóm 80% Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Đối với Trường Sa, Trung Quốc hành động trên thực tại lần đầu tiên là khi Trung Hoa Dân quốc (THDQ) chiếm đảo Itu-Aba (đảo Ba Bình) năm 1956 mà không cần dùng võ lực, và lần thứ hai là khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) tấn công lực lượng hải quân Việt Nam năm 1988 tại đảo Gạc Ma. Trong khi Trung Quốc dùng võ lực lấn chiếm một số đá ở Trường Sa, thì Việt Nam tôn trọng luật quốc tế và quyền lợi các nước Đông Nam Á, vì Luật Biển Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1.1.2013, ghi nhận là danh sách các đảo, đá thuộc Việt Nam sẽ công bố sau – chắc là muốn định mức độ chủ quyền phải chăng, sau khi bàn với các nước Đông Nam Á khác.

    Trong vùng quần đảo Hoàng Sa, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên các đảo/đá chỉ xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam. Trong biến cố làm cho tranh chấp sôi nổi mạnh mẽ là việc Trung Quốc, vào tháng 5.2014, đặt giàn khoan dầu khí HD-981 ở vùng biển giữa Hoàng Sa và miền Trung Việt Nam, ngay cạnh hai lô thăm dò dầu khí 142 và 143 của Việt Nam, thì Trung Quốc tuyên bố một câu là vị trí đặt giàn khoan “là hoàn toàn trong vùng biển của Hoàng Sa thuộc Trung Quốc”, hàm ý là ở trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, tính từ Hoàng Sa, nơi họ đã chiếm bằng quân sự, gần đây nhất là cuộc hải chiến năm 1974 với Việt Nam Cộng hòa. Vậy ta phải bàn về điểm pháp lý là quốc gia nào có chủ quyền chính đáng trên Hoàng Sa, vì việc tranh chấp chủ quyền nơi đây dã kéo ra một thời gian dài, cuộc khủng hoảng gây ra do giàn khoan HD-981 chỉ là biến cố gần đây nhất.

    Những sự kiện lịch sử về việc Việt Nam khám phá và chiếm cứ Hoàng Sa (cũng như một số đá trong Trường Sa, như nói trên) thì có thể truy tầm trong các sử liệu Việt Nam đã có nhiều thế kỷ, thí dụ Phủ biên tạp lục nói ở trên, trong khi đó thì sử liệu Trung Quốc không đả động gì tới Hoàng Sa, Trường Sa, và nói đảo Hải Nam là biên giới cực nam của nước Tàu; trong các sử liệu Tàu đó, phải kể bản đồ chi tiết, năm 1717, thời vua Khang Hi nhà Thanh, do các nhà truyền giáo Dòng Tên nước Pháp soạn, mà một bản sao của J.B. Bourguignon mới được Thủ tướng Đức Angela Merkel tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Sử liệu Việt Nam thời các vua chúa và thời Pháp thuộc cho thấy nhiều lần nhà nước tuyên bố chủ quyền và xác lập quản lý cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Nhật ký của các nhà truyền gíao và du ký của các du khách Tây phuơng cũng nhắc lại như vậy.

    Có hai nhóm đảo/đá trong Hoàng Sa. Nhóm phía tây, có tên là Crescent (nhóm Nguyệt Thiềm hay nhóm Lưỡi Liềm), trong đó có Hoàng Sa (Pattle), theo luật quốc tế phải coi là thuộc Việt Nam dù hiện do Trung Quốc chiếm, vì Trung Quốc đoạt bằng võ lực năm 1974 nơi tay Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trong sự chống cự của hải quân VNCH thì cũng không tạo ra chủ quyền hợp pháp của họ, và cũng không tước mất đi quyền thừa kế quốc gia về mặt chủ quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam), mà chính quyền này liên tục phản đối sự chiếm cứ của người Tàu từ bao năm nay.

    Về nhóm các hòn đảo, đá phía đông của Hoàng Sa, gọi là nhóm Amphitrite, trong đó có Phú Lâm (tiếng Anh gọi là Woody, tiếng Pháp gọi là Boisée), thì do người Pháp lơ là, nên vào năm 1909, Tổng đốc Quảng Đông tự cho mình quyền cho người Nhật khai thác phosphate ở đó, và do đó có người cho là sự xác lập chủ quyền Việt Nam không vững lắm. Nhưng lập trường giải thích ngược lại cũng có lý: nhiều sử liệu cho thấy công ty người Nhật Mitsui Bussan Kaisha tôn vinh thẩm quyền nhà cai trị Pháp, người Pháp vào năm 1920 gửi một phái đoàn khoa học tới Amphitrite, kể cả ở Phú Lâm, rồi vào năm 1938 lập đài khí tượng ở đây, vào năm 1946 phản đối quân đội THDQ chiếm đóng, và sau cùng năm 1950 trao quyền cho chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại khi quân đội Trung Hoa rút lui. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về hậu chiến, Liên Xô đưa ra đề nghị để Trung Quốc cai quản hai quần đảo, nhưng Hội nghị không ủng hộ, nhưng rồi sau đó Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Quốc gia Việt Nam ra tuyên bố xác nhận chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa thì không nước nào phản đối. Sau khi Ngô Đình Diệm trở thành nguyên thủ quốc gia tại VNCH (Miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Geneva 1954), thì ngoại trưởng của ông xác lập chủ quyền Việt Nam lần nữa, khi Trung Quốc chiếm Phú Lâm bằng võ lực năm 1956, do đó tránh hậu quả thời tiêu chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa.

    Bây giờ ta cần giải quyết một sự kiện: cái công thư (hay công hàm) ngoại giao ngày 14.9.1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH ở Miền Bắc Việt Nam) gửi Tổng lý (Thủ tướng) Chu Ân Lai nhân dịp Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý. Sau nhiều lần viện dẫn công thư Phạm Văn Đồng, coi đó là lời nhượng lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam, thì vào tháng 6.2014, Trung Quốc lại dùng nó nhân dịp đặt giàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Do đó, ta phải bàn luận cứ pháp lý trong chi tiết. Nội dung văn thư đại khái như sau: Sau khi Chu Ân Lai tuyên bố lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý tính từ lãnh thổ Trung Quốc, gồm lục địa và các đảo ở đại dương, như Đài Loan và các đảo quanh đó, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác, thì ông Phạm Văn Đồng viết cho ông Chu Ân Lai như sau: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý (Chu Ân Lai) rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.

    Công thư không nói gì đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Trước hết, Hiệp định Geneva năm 1954 chia đôi Việt Nam đã trao quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, ở phía nam vĩ tuyến 17 (lằn ranh chia cắt) cho VNCH ở phía nam vĩ tuyến đó. Do đó, nhiệm vụ xác lập và hành xử chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc thẩm quyền VNCH. Chính quyền này, và hải quân của họ, đã mạnh mẽ xác định chủ quyền trong và sau trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa hải quân VNCH – lúc đó đang chiếm ngụ và quản lý các quần đảo – và hải quân Trung Quốc xông tới tấn công. Thủ tướng Phạm Văn Đồng của VNDCCH không có thẩm quyền, hay ý định, ra một tuyên bố chủ quyền về các quần đảo lúc đó đang thuộc VNCH. Ông chỉ tuyên bố công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc mà Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố trước đó.

    Sự hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) theo luật quốc tế. Cho nên dù rằng nguyện vọng trong khẩu hiệu “Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một” biểu lộ một lý tưởng của nhiều người Việt, kể cả Hồ Chí Minh, thì từ năm 1954 đến năm 1975, sự hiện hữu của hai nước Việt Nam, tức VNDCCH và VNCH, là đúng với luật quốc tế, và theo đó VNCH là quốc gia hành xử chủ quyền tại các quần đảo trong thời gian đó.

    CHXHCN Việt Nam là quốc gia kế quyền lãnh việc thừa kế vai trò chủ quản các quần đảo. Việc thừa kế chủ quyền này được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới trong một bài diễn văn tại Quốc hội ngày 25.11.2011. Ông nói rằng vào năm 1974, Trung Quốc dùng võ lực chiếm nốt Hoàng Sa “đang dưới quyền quản lý thực tại của chính phủ Sai Gòn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối cuộc tấn công và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Năm 1975..Hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa,….năm đảo này do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý, chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta mở rộng thêm lên 21 đảo”.

    Chiếu điều khoản quy định về sự hiện hữu của một. quốc gia trong Công ước Montevideo năm 1933 đúc kết luật pháp quốc tế truyền thống hay thông lệ đã có nhiều thế kỷ, thì VNCH là một chủ thể hội đủ 4 điều kiện pháp lý của một quốc gia: (a) một dân số ổn định, (b) một lãnh thổ rõ ràng, (c) một chính quyền, và (d) khả năng lập bang giao với các quốc gia khác. Khi các quốc gia nhìn nhận một quốc gia hội đủ 4 điệu kiện pháp lý này và lập bang giao với nó, thì sự nhìn nhận này là một quyết định chính trị thêm vào 4 tiêu chuẩn pháp lý. Do đó, dù một quốc gia không ưa và không nhìn nhận một quốc gia khác, nó cũng không thể triệt tiêu tư cách quốc gia của nước đó. Thí dụ Cuba bị Mỹ ghét và không nhìn nhận, thì Mỹ cũng không thể xóa bỏ tư cách quốc gia của Cuba. Trong thập niên 1920, Mỹ không nhìn nhận Liên Xô do người Bolsheviks cai trị, nhưng các tòa án Mỹ cũng phải công nhận quốc gia đó và do đó công nhận quốc gia đó có đặc quyền miễn trừ ngoại giao, không thể bị kiện để bị đòi bồi thường về chuyện quốc hữu hóa các tài khoản ký thác trong các ngân hàng ở Liên Xô. Thế mà VNCH đã được mấy chục nước nhìn nhận. Ngay Liên Xô cũng có lúc đề nghị thu nhận hai nước Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Việc nhận vào Liên Hiệp Quốc chỉ là một vấn đề chính trị và không phải là một tiêu chuẩn pháp lý quyết định sự ra đời của một quốc gia. Hiệp định Geneva quy định là Việt Nam tạm thời chia làm hai miền cho đến khi tổng tuyển cử thống nhất. Sự quy định đó cũng không phải là tiêu chuẩn để nói rằng chỉ có một Việt Nam sau đó, và VNCH “không có dưới ánh mặt trời”. Nói như vậy là không hiểu luật quốc tế trong nhiều thế kỷ đã quy định các tiêu chuẩn của sự hiện hữu của một quốc gia, là lẫn lộn các tiêu chuẩn của luật quốc tế với sự sắp xếp chính trị tạm thời do một số cường quốc đưa ra trong Hiệp định Geneva mà chỉ có một số quốc gia tham gia ký, là quên cả cái thực tại chính trị là vài chục quốc gia đã nhìn nhận VNCH, mà một số nhỏ các quốc gia ký Hiệp định không thể truất quyền của vài chục quốc gia đó.

    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói, và có thể nói trong quá khứ, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mặc nhiên ám chỉ (mơ hồ trong trường hợp này là một nghệ thuật ngoại giao và chính trị) là có hai nước Việt Nam thời gian 1954 trở đi, và ông chỉ nói tới tuyên nhận 12 hải lý lãnh hải của ông Chu Ân Lai mà không nói đến các vùng đất mà ông Chu liệt kê. Vì rằng làm sao mà ông Phạm Văn Đồng có quyền ban bố cho Trung Quốc chủ quyền đối với các vùng đất, đá cai quản bởi Đài Loan và các nước Đông Nam Á, kể cả VNCH? Nói có hai nước Việt Nam trong thời gian 20 năm đó cũng không làm giảm thành tích thống nhất đất nước sau này, sau năm 1975, vì trong lịch sử thế giới, nhiều quốc gia bị chia cắt rồi lại thống nhất, hay ngược lại. Tan hợp, hợp tan là lẽ thường trên trái đất.

    Điểm thứ hai là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là một tuyên bố đơn phương không có giá trị nhượng đất, chiếu theo luật quốc tế. Cái lý thuyết Estoppel trong luật quốc nội một số nước, theo đó “điều nói ra thì không thể rút lại”, không thể áp dụng dễ dàng trong bang giao quốc tế, vì có điều kiện áp dụng khó hơn, như vụ giữa Đức với Đan Mạch và Hà Lan về tranh chấp thềm lục địa đã xử. Ngoài ra, Tòa án Công lý Quốc tế, trong vụ “Nuclear Tests Case, Australia & New Zealand versus France” năm 1974 (I.C.J.253), xét về ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương (unilateral declaration), đã xử rằng khi xét ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải giải thích chặt chẽ “ý định” của ngưòi tuyên bố: “Khi các quốc gia đưa ra tuyên bố có thể hạn chế bớt tự do hành động của mình, thì cần giải thích chặt chẽ… Chỉ cần xét văn từ trong lời tuyên bố có tỏ rõ một ý định rõ ràng hay không… Tòa án phải có quan điểm riêng về ý định của tác giả về ý nghĩa và phạm vi của lời tuyên bố đơn phương… Và không có thể theo quan điểm của một quốc gia khác không phải là một tham dự viên của lời tuyên bố đó”. Theo tiêu chuẩn của quy tắc luật trong bản án đó, ý định của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công thư năm 1958 phải được thẩm định theo văn từ hiển hiện trong văn bản (nói theo danh từ các luật sư hay dùng, là “within the four corners of the page”–trong bốn góc của trang giấy), thì công thư trên chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói đến các lãnh thổ thuộc quyền các nước khác. Ngoài ra, công thư cũng nên được chiếu rọi thêm ánh sáng bằng cách đặt công thư đó trong khuôn khổ Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH. Theo đó, vai trò Thủ tướng là một nhân viên của nội các, dưới quyền Chủ tịch nước, phó Chủ tịch nước (điều 44); và quyết định quan trọng như nhượng chủ quyền lãnh thổ, thì Chủ tịch nước phải ký một hiệp ước (điều 49, khoản a và h), rồi lại phải có Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao, phê chuẩn (điều 22 và 23). Theo học lý “ultra vires” (vượt quyền), ông Phạm Văn Đồng không thể hành xử quyền qua mặt Chủ tịch nước và Quốc hội được. Nghĩa là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là lời tuyên bố ủng hộ ngoại giao hải phận 12 hải lý mà Trung Quốc nóng lòng tuyên bố, vì lúc đó mối đe dọa của Hoa Kỳ đang tiến sát tới lục địa Trung Quốc, với sự hiện diện của quân đội Đài Loan có Hoa Kỳ hỗ trợ với tàu chiến và pháo hạm tại 2 đảo Kim Môn và Mã Tổ, chỉ cách Trung Quốc đại lục vài cây số, và với Hạm đội 7 mạnh mẽ gấp bội tại eo biển Đài Loan.

    Tóm lại một tòa án quốc tế không cần để ý đến cách giải thích công thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 một cách chủ quan, như Trung Quốc đã làm, để thủ lợi cho mình.

    Còn vài luận cứ khác của Trung Quốc cũng nên bàn để bác bỏ:

    Trung Quốc viện dẫn hai bài báo trong Nhân Dân nhật báo, số ngày 6.8.1958 đăng bản tuyên bố của Chu Ân Lai mà có cả đoạn ghi hai chữ Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa) và số báo ra ngày 9.5.1965 phản đối Mỹ vi phạm hải phận Trung Quốc tại Tây Sa và Nam Sa. Trung Quốc cũng nhắc lại lời thứ trưởng ngọai giao VNDCCH Ung Văn Khiêm về sự kiện này, rồi nói VNDCCH đã im lặng nhiều năm, không phản đối Trung Quốc khi Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm thuộc nhóm Amphitrite ở phía đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956, và khi Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Cresent phía tây vào năm 1974. Sau hết, Việt Nam đã in bản đồ có ghi tên Tây Sa (Trung Quốc), Nam Sa (Trung Quốc) cùng với cuốn sách giáo khoa lớp 9, có một dòng như sau: “Chuỗi đảo từ Nam Sa và Tây Sa, tới Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ và Châu Sơn, có hình như cái cung và tạo thành bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc”.

    Việt Nam có thể phản biện là ngay công thư Phạm Văn Đồng cũng không tạo ra văn kiện nhượng đất, thì có ăn thua gì mấy bài báo của phóng viên hay lời nói của ông Ung Văn Khiêm, chỉ nhắc lại nguyên văn những lời của Trung Quốc để “nịnh” Trung Quốc ở thời điểm Việt Nam tùy thuộc viện trợ Trung Quốc. Những lời này không có giá trị nhượng đất, vì theo luật, văn thư nhượng đất phải xuất phát từ các cơ quan có thẩm quyền. Về sự im lặng của VNDCCH khi mất các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa trước 1975, thì lý do là vào thời gian đó, nhiệm vụ phản đối là ở trong tay VNCH, đang có chủ quyền và đang quản lý các quần đảo. Và VNCH đã phản đối mạnh mẽ, bằng lời và bằng trận hải chiến anh dũng năm 1974. Sau đó, khi sắp thống nhất đất nước và sau khi thống nhất, hải quân của VNDCCH nhanh chóng chiếm Trường Sa, và sau đó, từ 1976, chính phủ nước Việt Nam thống nhất liên tục lên tiếng phản đối Trung Quốc để bảo lưu chủ quyền trên các đảo, đá, đã bị Trung Quốc chiếm. Việt Nam in bản đồ ghi chú như đã nói là chiều theo cách tuyên truyền của Trung Quốc (mà Trung Quốc có cử cố vấn làm việc trong cục bản đồ của Việt Nam), mà không có giá trị của lời minh thị nhượng đất của một cơ quan có thẩm quyền như Quốc trưởng trong một văn bản, và cũng vô giá trị về xác lập chủ quyền như việc Trung Quốc in hình “đường 9 đoạn” vào hộ chiếu do Trung Quốc cấp cho công dân của họ, thì cũng chẳng tạo ra chủ quyền của Trung Quốc đòi chiếm trên 80% Biển Đông. Câu văn trong sách giáo khoa lớp 9 chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền, một hoa ngữ, để ủng hộ Trung Quốc vào lúc mà họ đang lo lời tuyên bố trước đó của Tổng thống Mỹ Johnson ấn định vùng đó là vùng chiến tranh, chứ không phải là văn kiện nhượng đất. Mà làm sao Việt Nam có thể nhượng Đài Loan hay các hòn đảo của các nước Đông Nam Á cho Trung Quốc chỉ bằng việc in một câu trong sách giáo khoa?

    Sau khi giải quyết khúc mắc chính là công thư Phạm Văn Đồng năm 1958, thì nếu nhìn toàn cục diện thời gian hơn 20 năm, 1954 – 1975, trong đó có hai nước Việt Nam, ai cũng thấy vai trò xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và quản lý chúng, là ở trong tay VNCH, do Hiệp định Geneva 1954 trao phó. Hiệp định này có một số cường quốc ký, cả Trung Quốc và VNDCCH cũng ký (do ông Phạm Văn Đồng đại diện). Hành xử chủ quyền do quốc tế giao, Tổng thống Ngô Đình Diệm của VNCH ký hai sắc lệnh sát nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam, gửi hải quân đến các quần đảo này, và cho phép một kỹ nghệ gia khai thác phosphate. Việc xác lập chủ quyền của VNCH đối với quần đảo Hoàng Sa được bày tỏ rõ rệt, mạnh mẽ nhất với cuộc hải chiến ngày 19.1.1974 của hải quân VNCH chống lại hải quân Trung Quốc tới xâm chiếm Hoàng Sa, sau khi Trung Quốc thông báo chủ quyền (với hòn đảo này) vào ngày 12.1.1974 thì VNCH đã phản đối vào ngày 16.1.1974 với lời yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc can thiệp. Sau trận hải chiến, ngày 20.1.1974, VNCH lại yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc họp khẩn để can thiệp. Lần chót VNCH nêu vấn đề chủ quyền và phản đối Trung Quốc là tại Hội nghị Luật Biển của Liên Hiệp Quốc vào ngày 28.6.1974 ở Caracas (Venezuela).

    Sau khi thống nhất đất nước, CHXHCN Việt Nam, kế quyền về các quần đảo, đã nhiều lần phản đối sự xâm chiếm của Trung Quốc. Ngày 24.9.1975, khi gặp phái đòan Việt Nam sang thăm, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nhìn nhận có tranh chấp về các quần đảo giữa Trung Quốc và Việt Nam, và gợi ý đàm phán để giải quyết. Liên tục nhiều năm, Việt Nam đã phản đối và đưa ra các chứng cứ lịch sử về chủ quyền, trong lời tuyên bố hay các bạch thư (sách trắng) vào các năm: 1978, 1979, 1980, 1981, 1982, 1984, 1988 (phản đối Trung Quốc tuyên bố sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào đảo Hải Nam), 1990, 1991, 1994 (phản đối Trung Quốc ký hợp đồng với hãng Crestone cho phép thăm dò trong thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam), 2012 (phản đối Trung Quốc đưa ra chương trình quản lý các đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Việt Nam cũng phải đổ máu bảo vệ chủ quyền ở Gạc Ma năm 1988 khi đem đồ tiếp tế đến cho các chiến sĩ bảo vệ hòn đá đó, mà Trung Quốc tàn sát 64 chiến sĩ hải quân khi họ đang lội nước ngang lưng. Trong vụ giàn khoan HD-981 từ tháng 5.2014 đến nay, Việt Nam đã đưa tàu kiểm ngư và tàu cảnh sát biển tới vùng biển nơi HD-981 đang hoạt động trái phép để bảo vệ chủ quyền và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan. Ngư dân Việt Nam vẫn tiếp tục đánh cá ở gần đó, mặc dùng bị các tàu Trung Quốc bao vây nhưng họ vẫn giữ một khoảng cách an toàn, hầu tránh xung đột võ trang, vừa để mưu sinh, vừa để bảo vệ chủ quyền với sự tự kiềm chế, mặc dù Trung Quốc rất hung hãn, dùng võ lực, đâm tàu Việt Nam và dùng súng nước tấn công tàu Việt Nam. Các lời phản đối và hành động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển Hoàng Sa trong vụ giàn khoan HD-981 càng cho thấy chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh luôn được duy trì, không hề bị xói mòn.

    1.2. Quyền lợi Việt Nam trong vùng biển, tức vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

    Vùng biển quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông là nơi Trung Quốc gây ra tranh chấp vì Trung Quốc vẽ ra “đường 9 đọan”, còn gọi là “đường lưỡi bò”, để mạo nhận chủ quyền trong khu vực rộng tới 80% Biển Đông. Nhưng Trung Quốc không đưa ra được căn bản luật quốc tế nào cho sự nhận vơ này, mà còn mơ hồ hay mâu thuẫn trong lúc biện giải tại các hội nghị quốc tế, khi thì nói đến “vòng cung lịch sử” (historical circumference), khi thì nói đến các “vùng biển lân cận” (adjacent waters) tính từ các đảo/đá của Hoàng Sa và Trường Sa mà họ cũng đã nhận vơ như đã nói ở trên.

    Nhưng các yêu sách quá đáng và vô căn cứ này trái với UNCLOS, vì các điều 56, 57, 76, 77 qui định là các quốc gia cận duyên (quanh Biển Đông) có chủ quyềnquyền chủ quyền (sovereign rights) về tài nguyên trong vùng lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý tính từ đường cơ sở (base line), tức lằn mức thủy triều thấp, và trong vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ sở, cũng như ở thềm lục địa (Continental Shelf, CS) tính từ đường cơ sở ra thềm lục địa hay 200 hải lý. Các quyền chủ quyền về tài nguyên, tài nguyên sinh vật như cá sống trong vùng nước 200 hải lý đó, cũng như tài nguyên vô sinh như dầu khí và khoáng chất dưới đáy biển, là các quyền chuyên độc hay dành riêng (exclusive rights) của các quốc gia cận duyên, mà họ được hưởng mà không cần ra tuyên bố xác lập. Các quốc gia cận duyên có quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá, dù nhô trên mặt nước biển hay ngầm, thành các đảo nhân tạo, thi hành nghiên cứu biển, qui định việc bảo vệ môi sinh, miễn là họ tôn trọng các quốc gia khác khi họ sử dụng quyền tự do lưu thông hải hành (freedom of navigation) hay đặt các ống dẫn dầu và cáp ngầm. Các quốc gia khác đó không có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia cận duyên, nếu không có sự ưng thuận minh thị của các nước cận duyên. Thực là UNCLOS dành các quyền chuyên độc cho các nước cận duyên một cách chắc chắn như “đinh đóng cột”.

    Về cái quyền của tất cả các quốc gia, cận duyên hay không cận duyên, được tự do lưu thông trên biển, tại vùng đặc quyền kinh tế hay vùng biển cả (high sea) ở ngoài xa hơn, thì nó bị vướng mắc vào yêu sách “đường 9 đoạn” vô căn cứ của Trung Quốc (tại Hội nghị phân chia biên giới biển ở Houston, Hoa Kỳ năm 2010, đại điện Trung Quốc đã mở miệng nói một câu rất xúc phạm các nước khác là “vào trong vùng ‘đường 9 đoạn’, quí vị phải tuân theo luật Trung Quốc”). Đường “đường 9 đoạn” này hoàn toàn trái với UNCLOS (điều 89 của UNCLOS nói yêu sách chủ quyền trên biển cả là vô giá trị) và trái với luật quốc tế cổ truyền, hay ngay cả luật tương đối mới là Hội nghị Luật Biển năm 1958 (chỉ công nhận vùng lãnh hải 3 hải lý thôi).

    Được vẽ ra bởi một nhân viên cấp thấp từ thời Trung Hoa Dân quốc năm 1947, “đường 9 đoạn” bị lãng quên cho đến năm 2009, khi triển vọng dầu khí ngày càng cao ở Biển Đông, thì Trung Quốc mới đưa “đường 9 đoạn” này vào hồ sơ xin nới rộng thềm lục địa gửi Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Ấn định biên giới thềm lục địa (UN Commission on the Limit of the Continental Shelf). Lập tức, nó bị Việt Nam, Philippines và Indonesia phản đối. Những bằng chứng lịch sử Trung Quốc đưa ra để biện minh cho “đường 9 đoạn” xâm phạm vào quyền của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Đông Nam Á, như bằng chứng về các cuộc hải trình của Đô đốc Trịnh Hòa vào thế kỷ XV, thì không thể thắng được các bằng chứng cả 4 ngàn năm sinh họat nghề cá, du lịch và thương mại hàng hải, của các dân tộc Malaysia, Indonesia (họ đến tận Madagascar, để lại ngôn ngữ và 50% gene), Philippines, Việt Nam và Đế chế Khmer – Phù Nam thời trung đại – có trình bày trong hồ sơ Philippines nộp cho Tòa án Trọng tài về Luật Biển.

    Các viên chức và học gỉa Trung Quốc đã không trả lời nổi các câu chất vấn về yêu sách chủ quyền ở đại dương trong “đường 9 đoạn” tại các hội nghị quốc tế.

    2. Dù có căn bản vững chắc về sự kiện và về pháp lý cho chủ quyền của mình, người Việt nên chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền đã hay sẽ xảy ra qua thủ tục thương nghị, hòa giải (trong đó có giải pháp khai thác chung) hay tài phán.

    Tranh chấp ở Biển Đông trở nên gay gắt khi Trung Quốc vào ngày 2.5.2014 đã kéo giàn khoan dầu khí HD-981 vào đặt trong vùng biển gần đảo Tri Tôn thuộc Hoàng Sa, cách bờ biển miền Trung Việt Nam chưa tới 120 hải lý để khoan thăm dò dầu khí. Trong khi Trung Quốc nói vị trí đặt giàn khoan này nằm ở trong vùng biển của Tri Tôn, gần đảo Hải Nam của Trung Quốc thì Việt Nam nói là nó đặt trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Sau hơn 70 ngày tranh luận gay go khắp nơi và gây nhiều va chạm trên biển, và sự cô lập của Trung quốc trước phản ứng mạnh bất lợi cho Trung quốc trên trường ngoại giao quốc tế, từ Việt Nam đến các cường quốc Âu, Mý,Úc,Nhật,Ấn v.v.thì đến ngày 15.7.2014,Trung Quốc đã rút giàn khoan này, nhưng nói là vì để tránh bão và có thì giờ nghiên cứu các mẫu dầu khí thu được, nghĩa là giành quyền quay lại ở Biển Đông. Như vậy tranh chấp lại có thể tái phát và những bàn luận sau đây, tức sự phân tích toàn cục các vấn đề tranh chấp biển đảo và đề nghị các sách lược hay thủ tục giải quyết tranh chấp, vẫn là cần thiết cho tương lai. cho các học gỉa cùng các nhà làm chính sách.

    Trước tiên, phải liệt kê các vấn đề tranh chấp trước khi suy ra các cơ quan, định chế và thủ tục giải quyết tranh chấp.

    2.1. Việc Trung Quốc đặt giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, kèm theo các biện pháp võ lực, dẫn tới các vi phạm chủ quyền lãnh lãnh thổ của Việt Nam về đảo/đá, do luật quốc tế truyền thống cũ quy định và các vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam về tài nguyên trong các vùng biển dưới mặt nước, và quyền tự do lưu thông của mọi quốc gia, do luật mới của UNCLOS 1982 dành cho các quốc gia, nhất là các quốc gia cận duyên quanh Biển Đông.

    Bộ Ngọai giao Trung Quốc biện minh cho việc đặt giàn khoan vào vị trí đã nói bằng một câu ngắn gọn rất nham hiểm, vì họ tránh viện dẫn “đường 9 đoạn” đã bị các nước chất vấn, rằng giàn khoan “đặt hoàn toàn trong vùng nước của Hoàng Sa của Trung Quốc” (placed completely within the water of China’s Paracels). Như vậy là họ nói hai vế trong câu này, mà Việt Nam phải cố bác bỏ với các luận cứ có nội dung vững chắc như nói trên:

    - Vế (i): Hoàng Sa thuộc chủ quyền của họ từ lâu (sau này họ đưa thêm vào hồ sơ nộp cho Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Kimon sau khi Việt Nam phản đối mạnh mẽ, có sự ủng hộ của nhiều nước, để nói là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng xác nhận lại cái chủ quyền này mà họ đã có từ lâu). Việt Nam sẽ phải cãi lại về điểm chủ quyền lãnh thổ này, theo như đã nói ở trên khi bàn về chứng cứ lịch sử, công thư ông Phạm Văn Đồng và các biến cố xác lập chủ quyền, kể cả trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, và vấn đề này, phải kiện trước Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice, ICJ) ở The Hague, Hà Lan. Tuy nhiên, kiện đòi chủ quyền lãnh thổ tại ICJ, phải vượt trở ngại là làm sao cho Trung Quốc chấp nhận ra tòa với việc ký nhận điều khoản nhiệm ý (optional clause) công nhận thẩm quyền của ICJ.

    - Vế (ii): vị trí giàn khoan ở trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa đang thuộc quyền Trung Quốc. Việt Nam cũng sẽ phải cãi về điểm này là vẫn liên tục phản đối sự chiếm đóng sau khi Trung Quốc dùng võ lực tấn công quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và năm 1974, rồi chiếm đóng từ đó đến nay; khẳng định rằng Trung Quốc không có quyền về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa như họ tuyên bố. Một luận cứ khác để bác cái vế (ii) này là nói rằng, cho dù giả thiết – giả thiết mà thôi – là Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa, để bàn cho hết lý lẽ, thì Việt Nam có thể xin Tòa án Trọng tài Luật Biển – đây là vụ kiện thứ 2 của Việt Nam – theo thẩm quyền bắt buộc về giải thích và áp dụng UNCLOS, phải ra một bản án tuyên nhận rằng tất cả các hòn như Tri Tôn hay ngay cả Phú Lâm tại Hoàng Sa, đều không hội đủ điều kiện để là đảo theo định nghĩa của Điều 121 của UNCLOS. Đó phải là nơi có đủ điều kiện hỗ trợ cho đời sống con người và một nền kinh tế tự túc, lúc còn trong tình trạng thiên nhiên sơ khai (như có nước ngọt, thực phẩm nuôi và trồng tại chỗ – nếu chỉ có cocacola thay nước như một học giả Malaysia nói đùa, thì không phải là đảo); không đủ điều kiện là đảo thì chỉ có thể là đá (reef, rock) theo khoản 3 của Điều 121. Và nếu là đá thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở chung quanh, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý (theo khoản 3, Điều 121). Còn nếu là đảo thì có các vùng nước chung quanh như lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous Zone), vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giống như lục địa vậy. Trước Tòa án Trọng tài Luật Biển, Việt Nam có thể theo thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) để kéo Trung Quốc ra tòa, mà yêu cầu tòa dùng thẩm quyền giải thích và áp dụng UNCLOS (Điều 286 và Điều 288), để Việt Nam trình bày được chứng cứ lịch sử của nhiều thế kỷ về hoạt động của đội Hoàng Sa trước đây hàng năm đi ra quần đảo đều phải mang nước ngọt và thực phẩm đi theo, rồi không sống quanh năm trong một nền kinh tế tự túc được, và do đó, ngay bây giờ Trung Quốc cũng không đòi quy chế đảo cho Hoàng Sa được, và cũng không đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho Hoàng Sa được. Và do đó, giàn khoan HD-981 đã xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

    Mở rộng chiến thuật phản biện này sang các đá ở Trường Sa, mà minh chứng tất cả các hòn ở đó đều là đá trong trạng thái thiên nhiên trước khi xây các kiến trúc nhân tạo, thì có thể giảm thiểu nhiều sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc trong vùng biển Trường Sa, vì dù Trung Quốc có chiếm vài đá và đá ngầm, họ cũng không thể đòi gì rộng hơn 12 hải lý lãnh hải quanh các đá đó (đá ngầm cũng không tạo ra lãnh hải, có xây trên đó cũng không tạo thành đảo, và chỉ quốc gia cận duyên mới có quyền xây trên đá ngầm – điều 60 UNCLOS), không thể đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xuất phát từ các hòn đá; và “đường 9 đoạn” càng mất cơ sở là có hòn đất nào đó để bám vào, làm cứ điểm xuất phát.

    Nhưng Trung Quốc còn có thể dùng luận cứ khác, không dựa vào Hoàng Sa, mà dựa vào bờ biển Hải Nam làm đường cơ sở, từ đó tính ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ là 200 hải lý, và đo đó giàn khoan nằm trong khoảng 180 hải lý của các vùng biển đó của Trung Quốc, và dù giàn khoan cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 120 hải lý, thì kết quả sau cùng cũng là sự chồng lấn giữa hai vùng biển của hai quốc gia cận duyên đối diện nhau mà ta thấy đã xảy ra nhiều nơi trên thế giới. Chiếu theo UNCLOS, thì bổn phận pháp lý của hai quốc gia đó là thương lượng để tìm một giải pháp công bình (equitable solution) trước khi khởi kiện đem nhau ra tòa, thí dụ giải pháp dùng “đường trung tuyến” (median line) chẳng hạn. Điều này có nghĩa là vụ Việt Nam kiện Trung Quốc thì sẽ có khó khăn hơn vụ Philippines kiện Trung Quốc (dù Philippines kiên nhẫn thương nghị với Trung Quốc suốt 17 năm, Philippines cũng không có bổn phận pháp lý phải thương nghị, vì Trung Quốc dùng võ lực chiếm đá ngầm Scarborough cách Trung Quốc hơn ngàn hải lý, ở trong thềm lục địa của Philippines, chứ không có vùng chồng lấn nào cả, rồi xây thêm kiến trúc nhân tạo, cho nên nó không tạo ra quyền nào về vùng biển đó, hay đảo nhân tạo đó). Nhưng dù nội dung thương lượng sẽ khó, nhưng Việt Nam đã nỗ lực thương lượng, 30 lần cố liên lạc ở nhiều cấp, cao và thấp, với Trung Quốc mà không được trả lời, thì Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS như đề cập dưới đây.

    Điểm thứ 2 để Việt Nam kiện trước Tòa án Trọng tài Luật Biển là Trung Quốc đã vi phạm Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS là từ chối đáp lại 30 lần Việt Nam đưa lời mời thương lượng, tức là đã không tỏ ra có tinh thần hiểu biết và hợp tác (understanding and cooperation) mà lại còn dùng các biện pháp võ lực như bắn súng nước hay đâm vào tàu Việt Nam để gây thiệt hại về vật chất hay thân thể cho phía Việt Nam, thay vì có các đề nghị về các biện pháp tạm thời, theo các điều khoản trên.

    Điểm thứ 3 Việt Nam có thể kiện là Trung Quốc, đó là Trung Quốc với tư cách là một quốc gia cận duyên, đã làm cản trở tự do lưu thông trên biển – vi phạm khoản 1a Điều 297 của UNCLOS – bằng cách gửi một số lớn tàu hải giám, hải cảnh, ngư chính, cả tàu quân sự và máy bay quấy rối ở vùng biển quanh vị trí họ đặt trái phép giàn khoan, không cho các tàu của các nước khác tới gần, không cho tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư Việt Nam thực thi pháp luật hay thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam hoạt động mưu sinh theo truyền thống.

    Điểm thứ 4 Việt Nam có thể kiện Trung Quốc là hành động do họ gây ra đã vi phạm nhân quyền của dân chài Việt Nam, tức là họ đã dùng bạo lực đâm chìm tàu của ngư dân Việt Nam (vụ Trung Quốc đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 ngày 26.5.2014 chẳng hạn), ngăn cản họ đánh cá trong các vùng ngư trường truyền thống của họ, chiếm đoạt ngư cụ và cá, bắt chuộc tầu cá. Như vậy là tước đi quyền kiếm sống của ngư dân Việt Nam. Vi phạm này, nếu xảy ra trong vịnh Bắc Bộ thì Việt Nam có thể viện dẫn Hiệp định Trung – Việt về Nghề Cá ở vịnh Bắc Bộ, buộc hai bên phải giải quyết hòa bình. Nếu vi phạm xảy ra ở ngoài vùng vịnh Bắc Bộ, thì Chính phủ có thể kiện Trung Quốc hay ủy quyền cho dân chài kiện Trung Quốc, trước Tòa án Trọng tài Luật Biển theo quy định của UNCLOS, hay có thể nêu vấn đề Trung Quốc vi phạm nhân quyền hàng loạt này trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

    Trong tương lai, các điểm vi phạm của Trung Quốc nói trên vẫn có thể dùng bởi các nhà làm chính sách hay bởi các chuyên gia pháp luật để làm điểm kiện (counts) trong một hoàn cảnh khác sau vụ giàn khoan, trong đó Trung Quốc tuy tuyên bố “trỗi dậy trong hòa bình” nhưng kỳ thực vẫn hung hãn vi phạm luật quốc tế và quyền lợi quốc gia Việt Nam

    2.2. Các cơ quan, định chế và thủ tục gỉai quyết tranh chấp.

    Một nguyên tắc căn bản phải theo trong các tranh chấp từ khi có Liên Hiệp Quốc là bổn phận pháp lý của mọi quốc gia phải dùng phương pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp, chiếu theo Điều 2 và điều 33 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, và chỉ được dùng võ lực khi tự vệ chính đáng, vì rằng từ nay chỉ có Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mới được giao phó việc dùng võ lực, để giữ hòa bình.

    Có 3 thủ tục chính: (i) các thủ tục phi tài phán như thương lượng, hòa giải; (ii) thủ tục tài phán trước Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa án Trọng tài Luật Biển; và (iii) trình ra các cơ quan chính trị quốc tế như Đại hội đồng hay Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc hay các tổ chức khu vực như ASEAN.

    (i). Trước hết là thủ tục thương lượng và hòa giải

    Về tranh chấp phân chia ranh giới vùng biển, như trường hợp chồng lấn giữa hai vùng đặc quyền kinh tế hay hai thềm lục địa của hai nước, thì khoản a Điều 298, cũng như Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS đòi hỏi các quốc gia có bờ biển gần nhau phải dùng tới các thủ tục đó, để nỗ lực đạt tới những giải pháp công bình (equitable solutions). Việt Nam theo đúng UNCLOS, đã kêu gọi thương lượng, tới chừng 30 lần, kể cả việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam liên lạc với lãnh đạo Trung Quốc mà Trung Quốc không hồi đáp. Việt Nam được công luận thế giới ủng hộ vì hành xử bình tĩnh hơn Trung Quốc, mang tiếng là “anh khổng lồ bắt nạt”. Vô hình trung, Việt Nam áp dụng ngọai giao mềm dẻo như ngọai trưởng Talleyrand của Napoleon đã khuyên trong câu: “trong ngọai giao, không nên hăm hở quá”, hay như vua Quang Trung làm lành xin cưới công chúa nhà Thanh sau khi đại thắng quân Thanh. Việt Nam nhấn mạnh đến nhu cầu thương lượng thân thiện giữa các nước bình đẳng theo đúng tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc, UNCLOS và các thỏa ước trong vùng như Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) giữa ASEAN với Trung Quốc. Rõ ràng là sau khi nhận thấy các quốc gia Á châu lo ngại sự hung hãn của Trung Quốc qua những gì họ đã làm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào tháng 5 và 6.2014, sẽ khiến các nước này ngã theo Mỹ, Nhật, châu Âu, Ấn Độ, Úc, thì Trung Quốc mới dịu giọng mà gửi cho Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc một tờ trình, gợi ý là có lẽ hai nước Trung Quốc và Việt Nam chưa có thương lượng về ranh giới biển, cho nên hai bên nên có dịp trình các yêu sách theo thủ tục UNCLOS. Và vào ngày 16.7.2014 thì Trung Quốc rút giàn khoan.

    Ngoài thương lượng song phương, các quốc gia nhỏ tại Đông Nam Á phải cùng nhau, và cùng các cường quốc khi thích hợp, sử dụng ngọai giao đa phương để nói chuyện với Trung Quốc về vấn đề tự do lưu thông trên biển và khai thác tài nguyên trong vùng biển cả ngoài các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Phải có mặt trận thống nhất kiểu này mới làm chùn bước Trung Quốc khi vi phạm nền pháp trị quốc tế, vì Trung Quốc sẽ ngại bị cô lập hóa. Đặc biệt, Việt Nam nên sử dụng ngoại giao đa phương vì tuy là quốc gia mạnh nhất Đông Nam Á về quân sự, nhưng Việt Nam là ở tuyến đầu mà Trung Quốc nghĩ là có thể bắt nạt, để làm gương cho các nước nhỏ. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận rõ điểm này khi ông tuyên bố là Việt Nam muốn làm việc với ASEAN trước tiên về Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (Code of Conduct, COC) trước khi bàn với Trung Quốc, hay khi ông kêu gọi tại Diễn đàn Shangri-La là cần tạo “niềm tin chiến lược” (strategic trust).

    Có nên dùng thương nghị để đạt các thỏa ước phát triển chung (joint development) hay không? Ông Đặng Tiểu Bình đề nghị 3 khẩu hiệu cho 3 thành tố của giải pháp của Trung Quốc cho các tranh chấp về đảo/đá và vùng biển ở Biển Đông: “zhu quan zai wo, ge zhi zheng yi, gong tong kaifa” (chủ quyền ở ta, gạt bỏ tranh chấp, hợp tác khai thác). Khẩu hiệu 2 chính là ước muốn của các nước Đông Nam Á, vì ta thấy nỗ lực vẫn tiếp tục cho việc triển khai DOC, vốn chỉ là khuyến cáo, thành COC có giá trị ràng buộc pháp lý, để giảm tranh chấp. Khẩu hiệu 3 chỉ là danh từ khác cho đường lối phát triển tài nguyên thiên nhiên trong thế giới ngày nay, tức liên doanh giữa một quốc gia với các xí nghiệp của quốc gia khác, thí dụ liên doanh khai thác dầu khí giữa hãng Mỹ và Việt Nam trong vùng biển Việt Nam, trong đó hợp đồng chia sản phẩm là một thành tố; không ai cần lo lắng về các liên doanh này. Chỉ có khẩu hiệu 1 của ông Đặng về chủ quyền là có thể gây lo ngại cho các nước nhỏ ở Đông Nam Á, vì có vẻ như Trung Quốc giống như con hổ nằm rình mồi sẽ xông ra nuốt chửng các nước yếu khi thâu tóm chủ quyền trên Biển Đông. Chúng tôi đề nghị giải tỏa nỗi lo sợ này bằng cách giảm hành vi đe dọa, bá quyền, lấn lướt của Trung Quốc với sự chất vấn liên tục trong thương lượng và có thể cả trong các vụ kiện trong các tòa án quốc tế, buộc Trung Quốc phải định nghĩa rõ, theo luật quốc tế, các yêu sách chủ quyền của họ và giới hạn của yêu sách ấy, trên đảo đá, trong các vùng biển. Cũng như trong tòa án quốc nội, cần có sự chất vấn (cross-examination) giữa các bên đương tụng thì chân lý mới sáng tỏ. Và trong tòa án quốc nội hay quốc tế, lập trường các bên sẽ ôn hòa hơn, phải chăng hơn, tránh được xung đột. Khi Trung Quốc phải trình ra các lý lẽ làm nền tảng cho các yêu sách của họ, theo tiêu chuẩn của luật quốc tế, họ sẽ bớt ngang ngược hơn, và sẽ tỉnh thức mà thấy là một đại cường muốn được kính trọng và có uy tín, tức là những thành tố của vai trò và ảnh hưởng của cường quốc, thì họ phải cư xử có trách nhiệm, có tốt lành, tôn trọng nền pháp trị, chứ không như kẻ côn đồ ngoài vòng pháp luật. Đức Đạt Lai Lạt Ma có nói rằng: “Đương đầu với Trung Quốc cần phải cương quyết giữ vững lập trường, không sợ hãi, mà cũng không tỏ sự tức giận”.

    (ii) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa án Trọng tài Luật Biển (ATLS)

    a. Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế về chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Hoàng Sa – mà Trung Quốc đang xâm chiếm của Việt Nam từ năm 1974, thì phải vượt qua được sự từ chối trình diện tòa của Trung Quốc vì họ sẽ không ký điều khoản nhiệm ý (optional clause) để nhận thẩm quyền của Tòa, do đó tòa sẽ có thể không thụ lý vụ kiện.

    Nhưng thiết nghĩ có hai cách vượt trở ngại này.

    - Trước hết, trong vụ Case Concerning United States Diplomatic and Consular Staff in Teheran II (US v. Iran) (ICJ 1980), khi một quốc gia từ chối trình tòa để phản đối thẩm quyền tòa, Tòa vẫn tuyên án được theo quy tắc sau: Nếu Tòa án Công lý Quốc tế thấy quốc gia vắng mặt trước đó, trong một văn kiện, như Hiệp ước thân hữu chẳng hạn, đã có ưng thuận nào đó về thẩm quyến tòa và hơn nữa quốc gia nguyên đơn có trình hồ sơ đầy đủ và có tính thuyết phục cao, Tòa có thể tuyên án dù quốc gia kia vắng mặt. Vậy Việt Nam mà trình bày đủ chứng cứ lịch sử và luận cứ pháp lý vững chắc về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, thì có thể xin một bản án có lợi, nếu có thể tìm ra sự ưng thuận ra tòa có trong Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc vào năm 2000. Hoặc có thể bắt chước Trung Quốc trong vụ kiện của Philippines không ra tòa án trọng tài nhưng xuất bản mấy ngàn trang sách về nội dung lập trường của mình, như một biện pháp vận dụng dư luận quốc tế; Việt Nam có thể chuẩn bị kỹ hồ sơ chủ quyền lãnh thổ trên Hoàng Sa mà đem nạp trong đơn kiện ở Tòa án Công lý Quốc tế, kèm lời mời Trung Quốc chấp nhận thẩm quyền của tòa để làm sáng tỏ vấn đề. Giáo sư Jerome A. Cohen trong Hội thảo quốc tế Hoàng Sa, Trường Sa – Sự thật lịch sử, tổ chức ở Đà Nẵng ngày 20.6.2014 mong đợi các quốc gia nhỏ ở Đông Nam Á cứ đến gõ cửa Tòa án Công lý Quốc tế rồi mời Trung Quốc (nếu họ tin là lẽ phải về phần mình), thì ra tòa mà bàn luận. Dù Việt Nam có nạp hồ sơ và bị từ chối xét xử vì Trung Quốc không chịu trình tòa, thì cũng như đã “treo” được hồ sơ trước cửa Tòa cho thiên hạ đọc, và đạt được thắng lợi tuyên truyền trước công luận quốc tế.

    - Thứ hai, Việt Nam hay một nước bạn của Việt Nam có ảnh hưởng mạnh, có thể yêu cầu Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hay một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc xin một bản án cho ý kiến (advisory opinion)về bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa thì Tòa án Công lý Quốc tế cũng có thể cho. Thí dụ như trong án Advisory Opinion on the Western Sahara (ICJ 1975), do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc yêu cầu xin một bản án ý kiến về một yêu sách lãnh thổ, thì Tòa án Công lý Quốc tế đưa ra quy tắc là Tòa không cần sự ưng thuận của một quốc gia liên hệ mà vẫn cho một bản án ý kiến về một tranh chấp lãnh thổ.

    b) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Trọng tài Luật Biển. Một quốc gia có thể dùng thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) quy định trong các Điều 286 và 288 của UNCLOS để yêu cầu tòa giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS. Ngay trong tranh chấp về các vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn mà một quốc gia, khi gia nhập UNCLOS, đã làm bảo lưu gạt bỏ ra khỏi sự ưng thuận ra tòa của họ, thì quốc gia khác, dựa vào khoản 4 Điều 298, cũng có thể đưa tranh chấp với quốc gia đã làm bảo lưu ra tòa theo thủ tục bắt buộc.

    Như đã nói ở trên về các vi phạm của Trung Quốc mà Việt Nam có thể liệt kê như các điểm khiếu tố ra tòa (counts), Việt Nam có thể viện dẫn trong thủ tục bắt buộc trước Tòa án Trọng tài Luật Biển các vi phạm hay các điểm khiếu tố sau:

    - Trung Quốc, trong các hành vi quanh giàn khoan HD-981 vừa qua, đã vi phạm khoản 1a Điều 297, vì đã ngăn cản, với tư cách quốc gia cận duyên, sự tự do lưu thông hàng hải và hoạt động khác như đặt cáp ngầm của quốc gia cận duyên khác.

    - Trung Quốc có hành vi hung hãn bá quyền, không chịu thương lượng trong tinh thần hiểu biết và cộng tác, hay áp dụng các biện pháp tạm thời, dù Việt Nam đề nghị cả 30 lần.

    - Trung Quốc có thể bị dân chài Viêt Nam kiện vi phạm nhân quyền của họ, trong một vụ họ kiện riêng, với sự ủy quyền của nhà nước Việt Nam, theo đúng tinh thần của UNCLOS.

    (iii). Sự can thiệp chính trị của các tổ chức quốc tế

    - ASEAN, với Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông luôn luôn có ích, và nên nỗ lực đạt tới Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông.

    - Can thiệp của Tổng Thư ký hay Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc có thể làm hạ nhiệt sự hung hãn của Trung Quốc, nhất là có kèm theo các lời phê bình của các đại cường, như lời Thủ tuớng Nhật Bản Shinzo Abe hay lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hagel phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 2014. Sau khi Đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, trong tháng 5.2014, yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon can thiệp, và viết công hàm ngọai giao và ra thông cáo báo chí, than phiền là giàn khoan vi phạm luật quôc tế, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, nếu cần, sẽ dùng biện pháp tự vệ, thì Trung Quốc gợi ý nên có thương lượng giữa hai nước, nhất là về việc định ranh giới biển công bình, mà hai bên chưa làm. Trung Quốc cũng tuyên bố không dùng tàu chiến bảo vệ giàn khoan. Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc tỏ ra lạc quan. Và quả nhiên, nay thì giàn khoan rút đi.

    Kết luận

    Dư luận quốc tế, nhất là các nước phương Tây và Nhật Bản, Ấn Độ đã bênh vực cho lẽ phải của Việt Nam. Philippines thì mong Việt Nam khởi kiện sớm. Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa, ngõ hầu có dịp xác lập chủ quyền, chứ nếu không lại lỡ dịp nhờ pháp luật quốc tế để đẩy mạnh quyền lợi quốc gia của mình.

    18.7.2014

    Tác giả: GS Tạ Văn Tài là Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    29 phản hồi

    :-) Cám ơn bác Phiên Ngung đã tiến cử. Nếu được bổ nhiệm tôi sẽ hậu tạ. (-:

    T.B. Bác cần lót tay bao nhiêu để tôi chạy đi mượn trước?

    Đọc mấy ý kiến của những còm sĩ âu lo cho danh tiếng của Ha vợt bị tác giả Tài làm ô uế mà thấy nóng mũi. Đúng là những kẻ dỡ hơi chuyên lo sợ con bò tót của Mỹ nó đen răng.

    Lại đọc mấy ý kiến của còm sĩ Ấy Mới Chết Tôi Chứ thấy có nhiều câu chữ tiếng Anh thêm hay chua vào để cho trọn ý thì lại nghĩ ra một điều. Có lẽ còm sĩ này vì giỏi tiếng Anh quá mà quên tiếng mẹ đẻ chăng? Cộng với kiến thức uyên bác về luật pháp quốc tể thể hiện trong những ý kiến trãi dài các trên các để tài liên hệ, còm sĩ này có thể sẽ là một nhân sự quan trọng cho việc kiện tụng Tàu trong tương lai. Đề nghị những dư luận viên lưu ý báo cáo đầy đủ cho các thủ trưởng liên hệ về triển vọng tiềm ẩn này.

    Đối với một độc giả trung bình như tôi thì hai bài viết của hai ông Tạ văn Tài và Phạm Quang Tuấn, liên quan đến khiá cạnh pháp lý của vấn đề Biển Đông,là rất đáng trân trọng,viết rất công phu,chứa đựng những thông tin hữu ích,có tính cách bổ sung cho nhau, đáng được đọc và được dùng như một khởi điểm cho những tìm hiểu sâu hơn đối với đề tài.

    Đúng như bà Trần Thị Ngự đã nhận xét, những góp ý cho đến lúc này đối với bài viết của ông Tài, có vẻ không tập trung vào nội dung của bài viết, mà chỉ nặng tính cách công kích cá nhân tác giả và nhắm vào những tiểu tiết bên lề.

    Việc đánh giá một bài viết của một số độc giả,chỉ dựa trước hết vào danh vị của tác giả,mà không chú tâm vào sự phân tích nội dung, là biểu hiện tiêu cực của thái độ sùng mộ khoa bảng một cách thái quá, của sự thiếu vắng óc suy luận độc lập, và của việc không có thói quen đọc với óc phân tích-tra vấn.

    Một số khác lại do thiên kiến đối với giáo sư Tài nên cũng đã có những góp ý rất kém tinh thần xây dựng. Chúng ta có quyền không đồng ý với lập trường chính trị của ông Tài,hoặc những nhận định pháp lý của Ông đối với vấn đề, nhưng không nên vì thế mà lại công kích cá nhân Ông. Trước hết, ít nhất chúng ta cũng nên ghi nhận tâm huyết của tác giả khi bỏ công sức để viết và phổ biến ra trên chục trang giấy kiến thức của mình. Liệu là công sức ấy, của một tác giả tự xưng danh tánh mình ra công khai, đáng được đáp trả bằng những góp ý có vẻ thiếu tinh thần xây dựng, hay ngay cả vô trách nhiệm nữa,của những kẻ luôn núp một cách an toàn sau các bí danh?

    Ngoài ra , đa số chúng ta đều không ngớt hô hào cổ vũ cho Dân Chủ-Tự Do, nhưng liệu sự hô hào đó có ý nghĩa gì nữa khi chính những người hô hào lại tỏ ra không chấp nhận được sự khác biệt quan điểm, một đặc điểm của nền DC? Có thể nào chúng ta vừa hô " đả đảo độc tài CS", nhưng đồng thời tìm cách bôi bẩn sự trình bày, một cách ôn hoà, quan điểm của kẻ khác?

    Tiện đây xin gởi thêm link sau đây về cuộc phỏng vấn ngắn của GS Tạ văn Tài.

    https://www.youtube.com/watch?v=O_HCjBXkG5Q

    Tran Thi Ngự @ 02:03, 27/07/2014 - mã số 124102: "Tôi có ý kiến vì thấy thảo luận về bài của giáo sư Tạ Văn Tài đã đi xa mục tiêu một cách hết sức vô lý. Thay vì thảo luận về nội dung bài viết (thấy đâu sai thì chỉ ra, thấy chổ nào đúng thì tán thưởng) một số còm sĩ do không đồng ý với nội dung bài viết và do cảm tính đã sa đà vào trò "witch hunt" đối với tác giả."

    - "Thay vì thảo luận về nội dung bài viết (thấy đâu sai thì chỉ ra, thấy chổ nào đúng thì tán thưởng)". Xin hỏi bác có đọc 2 còm đầu tiên chưa?

    Còm số 1: Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! (khách viếng thăm) gửi lúc 22:56, 25/07/2014 - mã số 124007

    Luật Sư Tạ Văn Tài viết bài quá dài nhưng không mạch lạc lắm và thiếu hẳn một mấu chốt pháp lý quan trọng về Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam từng tranh luận ở trong bài "Lập trường chính thức của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa" https://www.danluan.org/lien-ket/20140710/lap-truong-chinh-thuc-cua-viet-nam-ve-chu-quyen-hoang-sa#comment-123985

    Ngược lại, luật sư Tạ Văn Tài đã dành quá nhiều thời giờ để biện luận một cách không cần thiết theo Công ước Montevideo rằng Việt Nam Cộng Hòa là "state".

    Vấn đề cần phải biện luận và chứng minh là Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam là hay không là 1 quốc gia tiền thân predecessor state của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (1 quốc gia tiền thân predecessor state khác là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa).

    Còm số 2: Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! (khách viếng thăm) gửi lúc 23:22, 25/07/2014 - mã số 124010

    Câu trong đoạn kết này chứng tỏ luật sư Tạ Văn Tài rất "non" về việc "đáo tụng đình": "Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa".

    Để lập hồ sơ kiện cần thu thập chứng cớ, rồi tham khảo luật sư, rồt luật sư chính thức kiện, rồi chờ tòa cứu xét là cả một quá trình dài, nên không thể cứ dàn khoan đến thì kiện, trong lúc kiện chưa đâu vào đâu thì dàn khoan dời địa điểm, hoặc rút về, thì kiện cái gì? Luật sư Tạ Văn Tài không thấy là không thấy là có giàn khoan đâu mà Philippines vẫn kiện?

    - "một số còm sĩ do không đồng ý với nội dung bài viết và do cảm tính đã sa đà vào trò "witch hunt" đối với tác giả."

    Thế nào là "witch hunt"? Xin bác cho định nghĩa chính xác. Nhắc bác là định nghĩa về "witch hunt" có đầy ở trên mạng. Trong thời buổi internet này rất khó bóp méo nghĩa của từ ngữ hoặc ngụy tạo chức vụ, chỉ cần một cái click là lôi ra cả đống dây mơ rễ má!

    Việc TS/LS Tạ Văn Tài không là cựu giảng viên Đại học Luật Harvard không là "witch hunt", mà là "sự kiện thực tại question of fact" (mượn cụm từ này ở trong bài viết trên của TS/LS Tạ Văn Tài).

    Riêng việc TS/LS Tạ Văn Tài còn không có tên trong ngay cả cái giả hiệu WHO IS WHO IN AMERICAN LAW (Mường Mán @ 06:00, 27/07/2014 - mã số 124113) không là "witch hunt", mà là "sự kiện thực tại question of fact", nói cách khác là "giả trên cả giả" hay là "siêu giả superfake" !

    Thực ra lúc đầu tôi cũng tin TS/LS Tạ Văn Tài là cựu giảng viên Đại học Luật Harvard vì không nghĩ rằng ông có gan dám làm dám không chịu đến thế (vì bây giờ có bác làm "defense lawyer" thay cho TS/LS Tạ Văn Tài với lập luận "witch hunt "), mặc dù vẫn ngờ ngợ "something fishy here". Nhưng sau khi tôi viết 2 còm ở trên thì có mội số có còm sĩ khác nêu ra vấn đề "chính danh về chức vị đại học" từ đó mới dẫn đến một loạt các "search and find" và kết quả là gì thì như mọi người đã biết.

    Nuff said!

    Nói tóm lại, qua các thông tin các bạn sưu tầm, có thể đi đến kết luận rằng ông Tạ Văn Tài không phải là giáo sư ở Hoa Kỳ, cũng không phải là giảng viên của Khoa Luật của Đại học Harvard. Có thể ông là một “associate” của Khoa Luật / Harvard trong một thời gian ngắn.
    Còn có tên trong “Who’s Who in American Law” thì đương sự chỉ cần trả tiền, Who’s Who sẽ đưa tên vào sách. Đó không phải là một danh dự gì cả. Who’s Who là một dịch vụ thương mại làm tiền và “con mồi” của họ là những người hám danh. Rất nhiều người ở VN đã trở thành nạn nhân của nhóm Who’s Who, nhưng sau này vì có thông tin nên họ hết đường làm ăn bên VN. Tôi ngạc nhiên là ông Tài đã ở Mỹ mấy mươi năm mà vẫn còn mắc mưu bọn Who’s Who!
    Tôi nghĩ không nên cứ dựa hơi vào chữ “Harvard” hay “tiến sĩ” để nâng cao giá trị cho bài viết, bởi vì người tự tin và có thực tài không cần đến những thứ đó. Thử đọc bài của tác giả Phạm Quang Tuấn, chúng ta thấy ông không bao giờ mô tả mình là giáo sư hay tiến sĩ.

    Trần Thị Ngự viết:

    Việc tác giả là giáo sư hay không là giáo sư, có giảng dạy hay không giảng dạy không làm gia tăng hay giảm giá trị của bài viết.

    Cái nầy thì tôi thấy "còm sĩ" Trần Thị Ngự nói hơi "ngộ"! Thế tại sao hầu như những bài nghiên cứu hay thảo luận khoa học, pháp luật thường hay giới thiệu về tác giả? Có phải là mhầm làm tăng gia giá trị bài viết để độc giả tìm đọc? Nếu tôi biết rõ một tác giả bá vơ hay "ngụy" tiểu sử, khả năng chuyên môn thì tôi không thể bỏ thì giờ để đọc những "ngụy luận" được.

    Tôi không có chuyên môn về luật công pháp quốc tế cũng như luật biển, nên không có ý kiến ý cò về bài viết của giáo sư Tạ văn Tài. Tôi có ý kiến vì thấy thảo luận về bài của giáo sư Tạ Văn Tài đã đi xa mục tiêu một cách hết sức vô lý. Thay vì thảo luận về nội dung bài viết (thấy đâu sai thì chỉ ra, thấy chổ nào đúng thì tán thưởng) một số còm sĩ do không đồng ý với nội dung bài viết và do cảm tính đã sa đà vào trò "witch hunt" đối với tác giả.

    Trước hết, về mấy giòng tiểu sử ngắn ở cuối bài viết, tôi không chắc đó là do giáo sư Tài viêt. Bài viết này DL lấy từ trang Bauxit.VN nên có thể do người phụ trách trang Bauxit.VN thêm vào để giới thiêu tác giả.

    Thứ hai, trong các bài báo cáo khoa học ở Mỹ, tên cơ quan nơi tác giả làm việc luôn luôn đứng kèm theo tên tác giả, và cuối bài viết thường (nhưng không phải luôn luôn) có vài giòng tiểu sử ngắn (biosketch) giới thiêu tác giả. Điều này không có nghĩa là bài viết phản ảnh quan điểm của cơ quan nơi tác giả làm việc. Với nguyên tắc tự do học thuật, các tac giả có toàn quyền suy nghĩ và có quan điểm độc lập với đồng nghiệp hay với ban lãnh đạo của cơ quan vì đây là xứ sở tự do chứ không phải ở các nước độc tài cộng sản. Ngoài ra, các bài báo cáo khoa học có các mức độ xác thục và thuyết phục khác nhau, tác giả sẽ chịu sự phê phán của đôc giả; cơ quan chằng có lý do hay tư cách gì để . . . kiện vì cho rằng bài viết . . . dở quá.

    Một số trường hợp người đứng ra làm nghiên cứu nhận tài trợ của một số cơ quan ngoài chỗ làm việc, nên khi xuất bản kết quả nghiên cứu, người ta cẫn thận ghi là quan điểm của tác giả không phải là quan điểm của cơ quan tài trợ để cho thấy người làm nghiên cứu khach quan, không bị ảnh hưởng bởi các thế lực tiền bạc hay chính tri. Giáo sư Tài viết bài này chắc không nhận tài trợ từ Harvard nên không cần phải có câu thanh minh thanh nga này.

    Giáo sư Tài là giáo sư Trường Luật và trường Quốc Gia Hành Chánh ở Saigon trước 1975. Sau khi qua Mỹ, giáo sư Tài có làm nghiên cứu cho trường luật ở Harvard. Tôi có đến văn phòng làm việc của giáo sư tài ở Harvard vào khoảng 1999 hay 2000. Giáo sư Tài cũng hành nghề luật sư ở Boston. Nhưng tất cả những điều đó đều không liên quan các thảo luận về nội dung bài viết. Cái liên quan là bài viết có những thông tin hữu ích, có lập luận chặt chẽ hay không. Việc tác giả là giáo sư hay không là giáo sư, có giảng dạy hay không giảng dạy không làm gia tăng hay giảm giá trị của bài viết. Có những sinh viên chưa có bằng tiến sĩ mà có những bài viết còn giá trị hơn các baì viết của nhiều giáo sư tiến sĩ, nhất là tiến sĩ . . . giấy ở VN.

    Cựu giảng viên của Trường Luật Harvard, thì cũng chỉ là cách tự đánh bóng mình có năng lực, kiến thức để tiếng nói có thêm trọng lượng, nhưng với xã hội Mỹ, tự đánh bóng mình như thế thì không chấp nhận được, còn VN mình quan niệm nhà ngói cũng như nhà tranh, xí xóa.

    Vấn đề tranh cải ở đây, rất quan trọng là quan điểm về biển đông VN qua khía cạnh luật pháp của ông Tài, chúng ta có thể chấp nhận hay không?

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    Bỏ qua hết không tính đến các nguồn dẫn không kiểm chứng được, nhưng ngay ở phần ghi chú cuối bài viết này luật sư Tạ Văn Tài tự nhận mình là " cựu giảng viên Đại học Luật Harvard". Đây là một sự mạo nhận khó thể chấp nhận được đối với độc giả người Việt, lại càng khó chấp nhận hơn đối với ĐH Harvard là một trong những đại học hàng đầu của thế giới.

    Professor(giáo sư) là người thầy, là học giả.
    Assistant hay associate professor là người phụ giảng, còn gọi người đọc như bên Anh.

    Ông Tài không là assistant professor, cựu giảng viên của Trường Luật Harvard.

    Có thể ông chỉ là một nghiên cứu sinh, nghĩa là Trường Luật Harvard có tiền (fund), họ cần những người, thuờng là sinh viên đang muốn làm những luận án tốt nghiệp, hay những người muốn nghiên cứu thêm về một lãnh vực nào đó của luật pháp, ông được cái job này (internship), nghiên cứu nhưng có lương, hết fund, hết job, hết nghiên cứu.

    khách quan tâm viết:
    Ông Tạ Văn Tài là Giáo Sư Đại Học Luật Khoa Sài Gòn truóc 1975, ông dạy môn Phương pháp Khoa Học Xã hội, chương trình thuộc năm thứ ba của Ban Công Pháp. Ông có bằng Tiến sĩ Chính trị học.

    Sau 1975, GS Tài cùng ông Nguyển Ngọc Huy có chương trình nghiên cứu ngắn hạn về luật Á Dông tại Đại Học Harvard và không có nhiệm vụ giảng dạy chính thức,(no teaching duty).

    Đến nay, GS Tài cũng không hề có một công trình nghiên cứu nào về Luật Biên bằng Anh Ngữ được in thành sách hay đăng trong các tạp chí luật học (peer review academic journal) của quốc tế.

    Đại học Harvard không có quy chế cộng tác viên.

    Chú noài muốn điều tra "ní nịch" học giả Tài, nên dô đây xem rùi mail cho hội nì hỏi xem, học giả Tài có thiệt "nà" cựu "giảng viên" luật VN ở trường học đại hạt va!
    He he.

    http://www.luatkhoasanjose.com/2010/10/ai-hoc-luat-khoa-sai-gon-hue-can-tho.html

    Bỏ qua hết không tính đến các nguồn dẫn không kiểm chứng được, nhưng ngay ở phần ghi chú cuối bài viết này luật sư Tạ Văn Tài tự nhận mình là " cựu giảng viên Đại học Luật Harvard". Đây là một sự mạo nhận khó thể chấp nhận được đối với độc giả người Việt, lại càng khó chấp nhận hơn đối với ĐH Harvard là một trong những đại học hàng đầu của thế giới.

    Bỏ qua hết không tính đến các nguồn dẫn không kiểm chứng được, nhưng ngay ở phần ghi chú cuối bài viết này luật sư Tạ Văn Tài tự nhận mình là " cựu giảng viên Đại học Luật Harvard". Đây là một sự mạo nhận khó thể chấp nhận được đối với độc giả người Việt, lại càng khó chấp nhận hơn đối với ĐH Harvard là một trong những đại học hàng đầu của thế giới.

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:
    @ NJ (khách viếng thăm) gửi lúc 16:30, 26/07/2014 - mã số 124059
    Bác Nguyễn Jung. Tôi có cảm giác đây là một vụ lường đảo tri thức (intellectual fraud) vì vừa mới vào nguồn bác dẫn để đọ thì có vẻ đây là bài tự biên tự diễn http://tdhctct.com/index.php?option=com_content&view=article&id=365:tiu-s-giao-s-t-vn-tai-&catid=62:vn-kh-c-trai&Itemid=121

    ......

    Nguồn tham khảo:

    1. www.taivanta.com;

    2. WHO IS WHO IN AMERICAN LAW, 14th edition. New Providence, NJ, US.

    3. http://www.law.unimelb.edu.au/ajal/editorial/

    4. http://depts.washington.edu/uwch/projects_vietnam_history0708.htm

    5. http://www.ohioswallow.com/subject/Asian+History""

    Tôi không vào được (erro, not found) 5 link dẫn trong bài "Tiểu sử Gs.Tạ Văn Tài".

    Tiếp tục ngâm cứu thì thấy bản tin:

    "Hội thảo về Biển Đông tại Đại học Harvard."

    của đài RFA, đăng ngày 18.06.2012:

    Có đoạn:

    Hội thảo do Hội Thanh niên Sinh Viên Việt Nam vùng Boston mở rộng tổ chức. Sinh họat này được truyền hình trực tiếp trên kênh youtube của hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam vùng Boston.

    Ba diễn giả của hội thảo là nhà nghiên cứu Biển Đông của Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Nhã, tiến sĩ Tạ Văn Tài- giảng viên luật Việt Nam tại trường Lụật thuộc đại học Harvard, ông Thomas Vallely - giám đốc chương trình Việt Nam của đại học Harvard.
    .....

    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/workshop-on-the-east-sea-gm-06182012123748.html

    -----

    Ý của tôi: (NJ)
    Trong các buổi hội thảo, diễn giả phải nêu nghề nghiệp, chức vụ, nơi đang làm việc.
    NHƯNG những ý kiến trong các cuộc hội thảo là ý kiến cá nhân.

    Những phát biểu (lời nói) trong các buổi hội thảo KHÔNG là quan điểm của cơ quan họ làm việc.

    Trừ phi: Những cuộc hội thảo này do chính cơ quan đó tổ chức và khi giới thiệu diễn giả, phải có câu:
    Ông A, bà B là đại diện chính thức của cơ quan trong buổi hội thảo này.

    Tôi không dám cho đây là "lường đảo tri thức (intellectual fraud)"
    mà chỉ nghĩ là:

    Có thể khi đưa bài đăng, người đưa bài đã ghi thêm (ngoài nghề nghiệp) nơi làm việc để gia tăng trọng lượng cho bài viết.

    Người đưa bản tin là Gia Minh. Tôi không rõ phóng viên Gia Minh đã
    "vô tư" ghi lại lời tự giới thiệu của diễn giả hay đã kiểm soát lại những lời tự giới thiệu này trước khi viết.

    Ở Đức khi đưa tin sai về chức vụ, nơi làm việc có thể sẽ có vấn đề với người nghe, người đọc.
    Người Đức "không dễ tính" như đa số người Việt, hay, và, một thành phần không nhỏ những người sống ở Mỹ nói chung (kể cả người Mỹ).

    Nguyễn Jung

    Lên mạng tìm theo 2 cụm từ

    Tai Van Ta named in Who’s Who in American Law 14th edition New Providence, NJ, US

    Ta Van Tai named in Who’s Who in American Law 14th edition New Providence, NJ, US

    mà vẫn không thấy gì. Có bác nào tìm thấy gì không ?

    Thưa bà/ông Phiên Ngưng,
    Khi bà/ông viết "nhưng đòi hỏi một bài viết chuyên ngành và phức tạp như đề tài này, được mọi người hiểu rõ thì quá phi lý và quá đáng" thì bà/ông nghĩ là bài viết, nếu không muốn nói là lăng nhăng, này sẽ được đăng trên Harvard Law Review hay gửi cho toà án nào VN muốn kiện? Những bài viết về đề tài này ở những diễn đàn như thế này thì chỉ để tuyên truyền một chiều cho những người ngu, không hiểu luật như tôi chứ còn để làm gì nữa hả bà/ông? Nếu muốn tuyên truyền thì phải dùng lý lẽ thông dụng, common sense, chứ phải không bà/ông?

    Về chuyện công hàm/thư của ông Phạm Văn Đồng thì tôi xin dùng lý lẽ thông dụng để phản biện như thế này: Có hai anh em, A và B, tranh nhau tài sản cha mẹ để lại. Thằng nào cũng gọi thằng kia là ngụy và nói ta mới là chủ nhân duy nhất của tài sản này. Trong đống tài sản đó có một số do thằng A đang quản lý nhưng thằng hàng xóm C, bạn thân và đồng minh với thằng B, nói là của nó. Thằng C tuyên bố trước công chúng là tài sản đó của nó gồm T1, ... Tn. Thằng A tất nhiên phản đối. Thằng B tuyên bố là tôi đồng ý với những gì anh tuyên bố. Sau một thời gian thằng C đánh thằng A lấy T1, ..., Tn nói rằng của nhà tao mày chiếm đoạt nay tao giành lại. Thằng B không nói gì. Sau này thằng B giết thằng A cướp được cả tài sản nhưng không chịu nhìn nhận thằng A từng quản lý nửa đống tài sản mình vừa chiềm được, và nổi lòng tham muốn đòi T1, ..., Tn nhưng chưa được. Đó là còn chưa biết thằng B có "bán" T1, ..., Tn cho thằng C để lấy tiền đánh nhau với thằng A không. Cho dù có bán hay không thì thằng B cũng khó đòi lại tài sản từ thằng C.

    Nay con thằng B nói là ngày xưa cha tôi đâu có tuyên bố là T1, ..., Tn là của C đâu! Ông chỉ nói đồng ý thôi mà. Ông ấy giỏi "chính trị và ngoại giao" lắm đó. Hơn nữa ông đâu có quản lý T1, ..., Tn mà bảo ông đồng ý tài sản đó của anh? Ai có nghe được không nhỉ? Thế thì C đâu có chiếm tài sản của B đâu mà con cháu B đòi lại?

    Cùng lý luận kiểu đó thì khi mua nhà phải viết ra từng viên gạch ở chỗ nào chứ sau này chủ cũ nói rằng tôi đâu có viết là bán cho anh N1, ..., Nm đâu hay là dùng nửa căn nhà đang tranh chấp đi vay tiền, vì anh và cả thế giới đều nói là cái nhà này không thể chia ra được, chỉ có MỘT chủ nhân thôi, rồi khi được cả căn nhà thì không trả nợ nói là tôi đâu có quản lý nửa kia khi anh dùng nó làm tài sản cho tôi vay. Tôi nghĩ mang ra chợ cãi nhau với mấy bà hàng tôm, hàng cá còn bị chửi và bị lấy "quạt của bà Hồ Xuân Hương" vỗ vào mặt cho ấy chứ đừng nói ra tòa án bất kể ở đâu trừ ở nơi của "đỉnh cao của trí tuệ loài người."

    Không những thế ông "GS Harvard" này lại còn dùng lời nói của con thằng B làm bằng chứng "pháp lý" để phủ nhận tuyên bố của thằng B mới kinh nữa chứ!!!! Đúng là sinh con rồi mới sinh cha!

    Không biết ông "GS Harvard" này đã ra toà cãi nhau lần nào chưa, chứ ở bên Mỹ ngay khi tranh luận ở tối cao pháp viện họ vẫn dùng common sense để hỏi và trả lời nhau.

    Nói thật là đọc đến chỗ "GS Harvard" "giải thích" về công hàm/thư của ông Phạm Văn Đồng mà dùng bằng chứng là những tuyên bố và hành động của ông Nguyễn Tấn Dũng thì tôi không đọc thêm được nữa nhưng nếu bà/ông Phiên Ngưng hay ai muốn tranh luận về bài viết này, và được Dân Luận cho phép, thì tôi sẽ theo đến cùng chứ không bỏ cuộc như lần tranh luận về hãng hàng không lo người đi bị té vì "bị bệnh" chứ không phải để kiếm tiền và những người già luôn dùng dịch vụ xe lăn. vv như lần trước vì không thể để vô lý có đất sống ở thế kỷ 21 này.

    Mất gần 2 hrs, đang là 4:36AM bên tôi, nhưng tôi hứa sẽ theo nếu ai muốn tiếp tục.

    Lên mạng tìm mà không thấy cuốn sách nào có tựa đề WHO IS WHO IN AMERICAN LAW, 14th edition. New Providence, NJ, US.

    Bác nào tìm thấy cho xin cái link với.

    @ NJ (khách viếng thăm) gửi lúc 16:30, 26/07/2014 - mã số 124059
    Bác Nguyễn Jung. Tôi có cảm giác đây là một vụ lường đảo tri thức (intellectual fraud) vì vừa mới vào nguồn bác dẫn để đọ thì có vẻ đây là bài tự biên tự diễn http://tdhctct.com/index.php?option=com_content&view=article&id=365:tiu-s-giao-s-t-vn-tai-&catid=62:vn-kh-c-trai&Itemid=121

    Tiểu sử Giáo sư TẠ VĂN TÀI
    Chủ nhật, 21 Tháng 2 2010 13:09 NT1 Trần Kim Khôi/ Văn Khố Ức Trai

    Ông sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc. Giai đoạn đầu của cuộc chiến Pháp-Việt 1945-1954, gia đình Ông bỏ thành phố, theo chính phủ kháng chiến chạy về vùng quê. Nhưng sau đó khi chính phủ Việt Minh thanh trừng người Quốc Gia thì gia đình Ông phải lánh vể ở vùng Phát Diệm. Sau 20/7/1954 Ông di cư vào Nam .

    Năm 1960, ông Tài tốt nghiệp Luật ở Sài Gòn, sau đó qua Mỹ tiếp tục học ở Đại học Virginia, lấy Master Degree, và sau đó năm 1965, hoàn tất Ph. D. về công quyền và bang giao quốc tế. Từ 1965-1975 Ông hành nghề luật sư, giảng dạy Luật ở các đại học Miền Nam, và làm nghiên cứu cho Rand Corporation về phong trào Cộng sản ở VN.

    Sau 1975, ông Tài qua Mỹ cùng vợ con, làm nhân viên nghiên cứu cho trường Luật Harvard và tiếp tục theo học tại đó, lấy law degree năm 1985, đậu bằng hành nghề luật sư bang Massachusettes năm 1986 và hành nghề luật sư tại đó cho đến nay. Ông vẫn tiếp tục làm công việc nghiên cứu cho Đại học luật Harvard, diễn thuyết về luật pháp đối chiếu Hoa-Việt, và viết nhiều sách về luật pháp VN xưa và nay. Những sách tiêu biểu là : The code of Le Dynasty (1987), The Vietnamese tradition of human right (1988), Immigrants in American Court (1999). Ngoài ra Ông cũng viết nhiều bài báo về Luật. Một trong những bài đáng chú ý là : The right of asylum of Indochinese refugees viết cho hội nghị quốc tế về vấn đề thuyền nhân do South East Asia Resource Action Center bảo trợ năm 1988. Ông cũng thường được chính phủ Liên Bang đối xử như một chuyên gia về pháp luật Việt Nam, tham khảo ý kiến trong việc giải quyết trường hợp các trẻ mồ côi Việt, hoặc trong vấn đề hoàn trả tiền cho những người tị nạn Việt nam có tiền gởi trong các chi nhánh ngân hàng Mỹ ở Việt Nam trước 1975,v.v…

    Tiểu sử của ông Tài được ghi trong Who’s Who in American Law, và trong Who’s Who in the World.

    Thời gian sau này, ông Tài thường trở về Việt Nam, diễn thuyết trước các sinh viên các trường đại học, dự các hội nghị về đầu tư của giới doanh nhân, hoặc giúp huấn luyện cho các luật sư biện hộ Việt Nam. Ông, qua những công việc đó, cố gắng giới thiệu đến giới luật sư và sinh viên trong Nước về hệ thống pháp luật Mỹ với hy vọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và việc cai trị theo luật pháp ở Việt Nam . Ông đã cùng giáo sư Jerom Cohen viết và xuất bản quyển sách Investment Law and Practice in Vietnam , ra năm 1990. Ông Tài cũng viết nhiều bài báo tiếng Anh chung quanh Hiệp ước Mậu dịch Mỹ-Việt năm 2001.

    Ông Tài chủ trương giúp các quốc gia Tây Phương, kể cả Mỹ, hiểu về đất nước và con người Việt Nam để từ đó kêu gọi sự giúp đỡ từ các nước này; đồng thời giới thiệu với người Việt trong Nước về hệ thống luật pháp, nhân quyền và sự phát triển theo kinh tế thị trường , tạo cơ hội giúp họ học hỏi và áp dụng vào việc xây dựng một chế độ cai trị theo luật pháp cho Việt Nam.

    ---------------------------------------------------

    Tạ Văn Tài, trước năm 1975 là Luật sư tại Miền Nam Việt Nam, và là Giáo sư tại các trường Luật Saigon, Huế, Cần Thơ...nguyên là Giảng sư Đại học Luật khoa Havard, hiện vẫn làm Luật sư tại Mỹ. Trước tác gồm có: 1. Sự biến đổi cơ cấu của Quốc tế Công pháp. Hiện Đại xuất bản, Saigon, 1972. 2. Phương pháp Khoa học Xã hội. Viện Đại học Vạn Hạnh xuất bản, Saigon, 1972. 3. " The Le Code: Law in Traditional Vietnam", 3 vols.,Ohio University Press, 1987, cung` Giao' su Nguyen Ngoc Huy; Ông từng nhận các giải thưởng của Quỹ Fulbright, Quỹ Châu Á, Quỹ Ford.

    Ông có tên trong WHO IS WHO IN AMERICAN LAW, WHO IS WHO IN THE WORLD, WHO IS WHO IN AMERICA,WHO IS WHO AMONG ASIAN- AMERICANS. Ông là thành viên Ban Cố vấn của The Australian Journal of Asian Law.

    Nguồn tham khảo:

    1. www.taivanta.com;

    2. WHO IS WHO IN AMERICAN LAW, 14th edition. New Providence, NJ, US.

    3. http://www.law.unimelb.edu.au/ajal/editorial/

    4. http://depts.washington.edu/uwch/projects_vietnam_history0708.htm

    5. http://www.ohioswallow.com/subject/Asian+History""

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:

    Tôi muốn nhắc lại câu này trong phần kết luận của ""Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard":

    "Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa".

    Và lập lại lần nữa nhận xét của tôi: "Câu trong đoạn kết này chứng tỏ luật sư Tạ Văn Tài rất "non" về việc "đáo tụng đình" ... Để lập hồ sơ kiện cần thu thập chứng cớ, rồi tham khảo luật sư, rồt luật sư chính thức kiện, rồi chờ tòa cứu xét là cả một quá trình dài, nên không thể cứ dàn khoan đến thì kiện, trong lúc kiện chưa đâu vào đâu thì dàn khoan dời địa điểm, hoặc rút về, thì kiện cái gì? Luật sư Tạ Văn Tài không thấy là có giàn khoan đâu mà Philippines vẫn kiện?"

    Tôi đồng ý với bác.
    Ngoài ra bài viết với tôi là một mớ bòng bong, rối trí, không thuyết phục.

    Tên tác giả viết:
    Theo tôi nghĩ, luật sư Tạ Văn Tài cần phải ghi ở dưới bài viết câu tiếng tiếng Việt có ý nghĩa tương đương với câu tiếng Anh này:

    "The opinions expressed herein represent my own and not those of Harvard Law School" (nhờ bác nào dịch sang tiếng Việt).

    Nếu không, luật sư Tạ Văn Tài rất có thể bị Đại Học Harvard kiện vì làm mất uy tín qua bài viết này của ông.

    Tôi không rõ luật ở Mỹ như thế nào.

    Nhưng ở Đức thì có thể bị kiện.
    Khi thoòng thêm ở cuối bài (những) chức vụ và những nơi làm việc thì phải ghi câu:
    "Bài viết này thể hiện quan điểm của người viết, không là quan điểm của trường đại học hay của cơ quan a,, b, c..."

    (Như các trang mạng VOA, BBC, RFA vẫn từng ghi chú khi đăng bài trên trang mạng của họ)

    Có nghĩa là khi viết quan điểm cá nhân thì chỉ được phép ghi nghề nghiệp, chứ không được nêu chức vụ và nơi làm việc.

    Nguyễn Jung

    TQVN viết:
    Đúng thế, sau bài viết, tác giả cần ghi chú ngay phía dưới câu: Bài viết trên phản ảnh ý kiến cá nhân của tôi, tác giả bài viết trên, không phải lập luận của Đại học Harvard trước khi viết phần giới thiệu: "Tác giả: GS Tạ Văn Tài là Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ". Tuy nhiên có ghi chú là "cựu" thì có thể không cần làm điều đó; và "cộng tác viên" là gì, có phải đang là "research fellow" tại Harvard University hay không?

    Trong phần "Summary of Academic Year 2012 - 2013 - Research Fellows của Harvard University thì Tạ Văn Tài không có kèm "function" gì về việc giảng dạy tại đại học nầy như những GS khác. Bác nào có biết rõ về Tạ Văn Tài xin dẫn để xác định thêm.

    Tôi tìm được trang của Tổng hội ái hữu cựu SVSQ trường đại học Chiến tranh Chính trị (VNCH). Trang này tuơng đối tin được theo cảm nhận của tôi.

    Dưới đây là những đoạn trích trong "tiểu sử Gs Tạ Văn Tài" ở trang này, đăng ngày 21.2.2010

    "........

    Năm 1960, ông Tài tốt nghiệp Luật ở Sài Gòn, sau đó qua Mỹ tiếp tục học ở Đại học Virginia, lấy Master Degree, và sau đó năm 1965, hoàn tất Ph. D. về công quyền và bang giao quốc tế. Từ 1965-1975 Ông hành nghề luật sư, giảng dạy Luật ở các đại học Miền Nam, và làm nghiên cứu cho Rand Corporation về phong trào Cộng sản ở VN.

    Sau 1975, ông Tài qua Mỹ cùng vợ con, làm nhân viên nghiên cứu cho trường Luật Harvard và tiếp tục theo học tại đó, lấy law degree năm 1985, đậu bằng hành nghề luật sư bang Massachusettes năm 1986 và hành nghề luật sư tại đó cho đến nay.
    Ông vẫn tiếp tục làm công việc nghiên cứu cho Đại học luật Harvard, diễn thuyết về luật pháp đối chiếu Hoa-Việt, và viết nhiều sách về luật pháp VN xưa và nay
    .........

    Ông cũng thường được chính phủ Liên Bang đối xử như một chuyên gia về pháp luật Việt Nam, tham khảo ý kiến trong việc giải quyết trường hợp các trẻ mồ côi Việt, hoặc trong vấn đề hoàn trả tiền cho những người tị nạn Việt nam có tiền gởi trong các chi nhánh ngân hàng Mỹ ở Việt Nam trước 1975,v.v…
    ...."
    ------

    Ý của tôi (NJ):

    Ông Tạ Văn Tài đã từng giảng dạy ở các đại học Luật ở miền Nam , trước năm 1975, nên việc gọi ông là Giáo sư, có lẽ đã trở thành thói quen!

    Đọc suốt tiểu sử của ông từ ngày qua Mỹ, tôi chỉ thấy chữ diễn thuyết chứ không thấy chữ giảng dạy hay giảng nghiệm viên.

    Mãi đến đoạn tóm tắt về tiểu sử ở cuối bài, mới thấy chữ cựu giảng viên.

    Những chữ này có nghĩa khác nhau rất ra, ít nhất là ở Đức.

    http://tdhctct.com/index.php?option=com_content&view=article&id=365:tiu-s-giao-s-t-vn-tai-&catid=62:vn-kh-c-trai&Itemid=121

    -----------------

    Một trang khác posted ngày 1 tháng sáu 2014, trang cá nhân:

    ghi: Luật sư, Tiến sĩ Tạ Văn Tài, nguyên giảng viên và hiện là nghiên cứu viên Trường Luật thuộc Đại học Harvard (Hoa Kỳ).

    http://vuongthuc.wordpress.com/2014/06/01/ls-ta-van-tai-harvard-law-school-kien-trung-quoc-o-toa-nao-phan-1/

    -------------------

    Tiếp tục ngâm cứu thêm, tôi đọc được bài này của blogger son trung.
    Tin hay không là tuỳ mọi người.

    http://son-trung.blogspot.de/2009/04/truoc-toa-my-ta-van-tai-tay-sai-cong.html

    Nguyễn Jung

    Ông Tạ Văn Tài là Giáo Sư Đại Học Luật Khoa Sài Gòn truóc 1975, ông dạy môn Phương pháp Khoa Học Xã hội, chương trình thuộc năm thứ ba của Ban Công Pháp. Ông có bằng Tiến sĩ Chính trị học.

    Sau 1975, GS Tài cùng ông Nguyển Ngọc Huy có chương trình nghiên cứu ngắn hạn về luật Á Dông tại Đại Học Harvard và không có nhiệm vụ giảng dạy chính thức,(no teaching duty).

    Đến nay, GS Tài cũng không hề có một công trình nghiên cứu nào về Luật Biên bằng Anh Ngữ được in thành sách hay đăng trong các tạp chí luật học (peer review academic journal) của quốc tế.

    Đại học Harvard không có quy chế cộng tác viên.

    Căn cứ vào cụm từ "cựu giảng viên Đại học Luật Harvard" tôi vào Google và tìm theo cụm từ "Ta Van Tai former lecturer in law at Harvard Law School" mà không thấy link nào cho thấy " Tạ Văn Tài cựu giảng viên Đại học Luật Harvard".

    Bác nào có biết link "Ta Van Tai former lecturer in law at Harvard Law School" xin dẫn.

    Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:

    "The opinions expressed herein represent my own and not those of Harvard Law School" (nhờ bác nào dịch sang tiếng Việt).

    Nếu không, luật sư Tạ Văn Tài rất có thể bị Đại Học Harvard kiện vì làm mất uy tín qua bài viết này của ông.

    Đúng thế, sau bài viết, tác giả cần ghi chú ngay phía dưới câu: Bài viết trên phản ảnh ý kiến cá nhân của tôi, tác giả bài viết trên, không phải lập luận của Đại học Harvard trước khi viết phần giới thiệu: "Tác giả: GS Tạ Văn Tài là Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ". Tuy nhiên có ghi chú là "cựu" thì có thể không cần làm điều đó; và "cộng tác viên" là gì, có phải đang là "research fellow" tại Harvard University hay không?

    Trong phần "Summary of Academic Year 2012 - 2013 - Research Fellows của Harvard University thì Tạ Văn Tài không có kèm "function" gì về việc giảng dạy tại đại học nầy như những GS khác. Bác nào có biết rõ về Tạ Văn Tài xin dẫn để xác định thêm.

    Research Fellows
    This year EALS was host to seven Research Fellows:

    Tai Van Ta, LL.M. ’85 conducted a number of radio interviews during the year on the Vietnam Overseas Radio Network, Radio Free Asia, and other outlets discussing Vietnam’s relations with the big powers – the US and Russia; disputes on sovereignty and fishing rights in China and the South China Sea; and the Harvard report overseen by Tom Vallely at the Kennedy School on higher education in Vietnam. This interview was later published in a journal of overseas Vietnamese law school alumni. He participated in a conference on dispute resolution in the international oil and gas industry, including maritime boundary disputes, held in Houston in April. There he debated and supported the Vietnamese position presented by the Vietnam National Border Committee and PetroVietnam against the position of China, on the question of the Paracel and Spratley archipelagos and on China's U-shaped claim on the South China Sea. He participated in the request to the National Geographic Society to retain the notation “administered by China, claimed by Vietnam” for the Paracels, instead of changing the wording to the simple notation “China.”

    He continues to oversee the website www.taivanta.com (domain name also: Vietnamese law expert) that posts online publications, including pieces on the role of Asian-American attorneys in American courts and advice to students.

    He advised EALS Visiting Scholar Ngo Hoang Oanh in her successful application to the International Bridge for Justice in Geneva for a grant to support her work on juvenile and indigent defendants in Vietnam.

    http://www.law.harvard.edu/programs/reports/2013-reports/3.a-eals-2012-2013-for-web.pdf

    Nếu một vấn đề phức tạp mà tác giả không tóm lược cho độc giả bình thường hiểu được thì tôi nghĩ chính tác giả cũng chưa hiểu vấn đề. Ở đây, tôi không biết ông Tạ Văn Tài có thật sự hiểu vấn đề hay không, mà cách thức ông viết dài dòng với những thuật ngữ làm tôi không hiểu.

    Còn nếu nói rằng không thể giải thích vấn đề phức tạp cho thường dân hiểu, thì đăng trên DL làm gì?

    Còn mấy chức danh như GS thì tôi nghĩ phải chính danh rõ ràng, GS của trường nào, thời gian nào. Có quá nhiều Việt kiều xưng là GS nhưng trong thực tế không phải là GS. Nếu đã về hưu thì không nên mượn danh trường cũ để lập lờ làm như là mình vẫn còn tại chức.

    Việc luật sư Tạ Văn Tài ghi chú ở dưới bài viết là: "Tác giả: GS Tạ Văn Tài là Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ" có "bảo chứng" được cho cho giá trị của bài viết này, hay là làm mất uy tín của Trường Luật Harvard http://www.law.harvard.edu/ ?

    Nếu bài này mà được viết bằng tiếng Anh, chắc chắn độc giả nước ngoài phải "xốc" vì người viết lại là "Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard".

    Tôi muốn nhắc lại câu này trong phần kết luận của ""Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard":

    "Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa".

    Và lập lại lần nữa nhận xét của tôi: "Câu trong đoạn kết này chứng tỏ luật sư Tạ Văn Tài rất "non" về việc "đáo tụng đình" ... Để lập hồ sơ kiện cần thu thập chứng cớ, rồi tham khảo luật sư, rồt luật sư chính thức kiện, rồi chờ tòa cứu xét là cả một quá trình dài, nên không thể cứ dàn khoan đến thì kiện, trong lúc kiện chưa đâu vào đâu thì dàn khoan dời địa điểm, hoặc rút về, thì kiện cái gì? Luật sư Tạ Văn Tài không thấy là có giàn khoan đâu mà Philippines vẫn kiện?"

    Theo tôi nghĩ, luật sư Tạ Văn Tài cần phải ghi ở dưới bài viết câu tiếng tiếng Việt có ý nghĩa tương đương với câu tiếng Anh này:

    "The opinions expressed herein represent my own and not those of Harvard Law School" (nhờ bác nào dịch sang tiếng Việt).

    Nếu không, luật sư Tạ Văn Tài rất có thể bị Đại Học Harvard kiện vì làm mất uy tín qua bài viết này của ông.

    Mường Mán viết:
    Tôi chỉ có nhận xét chung mà không đi vào chi tiết. Các bác luật sư VN (hi vọng là luật sư thật) hình như có một các bệnh. Đó là bệnh các bác đem thuật ngữ chuyên môn ra nói trước quần chúng. Quần chúng nói chung có mấy ai hiểu thuật ngữ chuyên môn, và họ cũng không có nhu cầu để hiểu. Nếu các bác muốn chứng minh VN có chủ quyền thì các bác phải viết sao cho người ta hiểu được những luận điểm chính mà không cần dùng đến khái niệm xa lạ như Estoppel. Nên nhớ rằng các bác viết cho dân thường đọc, chứ không phải cho sinh viên luật đọc.

    Còn nếu các bác muốn chứng minh rằng các bác là tài giỏi, thì tôi e rằng các bác đã chọn sai diễn đàn. Các bác hãy chứng minh cái tài đó trong toà án, trong tranh luận với chuyên gia nước ngoài, trong các diễn đàn chuyên môn. Chứ tung ra những thuật ngữ và khái niệm xa lạ ở đây đâu có nghĩa lí gì. Chỉ làm chúng tôi mỉm cười.

    Sau cùng, đề nghị các bác phải minh bạch. Khi viết “GS” thì nên cho biết rõ giáo sư của đại học nào; nếu đã nghỉ hưu thì phải nói rõ GS từ năm nào đến năm nào. Thế nào là “cộng tác viên” của Đại học Luật Harvard? Đừng lập lờ đánh lận con đen với người dân đen!

    Toàn bộ ý kiến này, ngoài trừ việc minh bạch học vị chuyên ngành một cách tổng quát tạm chấp nhận, còn lại là những đòi hỏi phi lý đến buồn cười.

    Mình có quyền phê bình mọi bài viết có đạt yêu cầu hay không và ngay cả phê bình này cũng có tính cách chủ quan. Nhưng đòi hỏi một bài viết chuyên ngành và phức tạp như đề tài này, được mọi người hiểu rõ thì quá phi lý và quá đáng. Chẳng biết đã có luật sư, học giả, tác giả nào đạt yêu cầu này rồi vì thực tế là mỗi khi đề tài này được đưa ra, có rất nhiều ý kiến tranh cãi mà theo thiển ý, hiểu nhầm hay tệ hơn hiểu sai hay không hiểu điều họ trình bày hay tranh cãi.

    Còn việc minh bạch hoá của tác giả bài này, thiết tưởng là một đòi hỏi quá đáng. Tại sao? Ghi chú cuối bài về tác giả như thế đã quá đủ vì bất kỳ ai có quan tâm về tình hình chính trị của Việt nam trong thời gian mấy chục năm qua đều có thể nghe đến tên của tác giả. Nếu bản thân là người mới tham gia vào những vấn đề chính trị của đất nước, thiết tương tự thân phải tìm hiểu chứ chẳng nên đòi hỏi mọi thứ phơi bày chênh hênh cho mình biết cả.

    Nhân bàn đến chuyện minh bạch, dám hỏi bạn Mường Mán có ý kiến trên đây có phải là nhà văn Mường Mán của xứ nước mắm Phan Thiết hay không? Nếu bạn là nhà văn tên tuổi đó, hẵn đã biết rõ nhân thân của tác giả. Nếu bạn không phải là nhà văn Mường Mán, xin hỏi việc lấy tên hiệu một nhà văn nỗi tiếng như nhà văn Mường Mán có minh bạch và đúng không?

    Tôi chỉ có nhận xét chung mà không đi vào chi tiết. Các bác luật sư VN (hi vọng là luật sư thật) hình như có một các bệnh. Đó là bệnh các bác đem thuật ngữ chuyên môn ra nói trước quần chúng. Quần chúng nói chung có mấy ai hiểu thuật ngữ chuyên môn, và họ cũng không có nhu cầu để hiểu. Nếu các bác muốn chứng minh VN có chủ quyền thì các bác phải viết sao cho người ta hiểu được những luận điểm chính mà không cần dùng đến khái niệm xa lạ như Estoppel. Nên nhớ rằng các bác viết cho dân thường đọc, chứ không phải cho sinh viên luật đọc.

    Còn nếu các bác muốn chứng minh rằng các bác là tài giỏi, thì tôi e rằng các bác đã chọn sai diễn đàn. Các bác hãy chứng minh cái tài đó trong toà án, trong tranh luận với chuyên gia nước ngoài, trong các diễn đàn chuyên môn. Chứ tung ra những thuật ngữ và khái niệm xa lạ ở đây đâu có nghĩa lí gì. Chỉ làm chúng tôi mỉm cười.

    Sau cùng, đề nghị các bác phải minh bạch. Khi viết “GS” thì nên cho biết rõ giáo sư của đại học nào; nếu đã nghỉ hưu thì phải nói rõ GS từ năm nào đến năm nào. Thế nào là “cộng tác viên” của Đại học Luật Harvard? Đừng lập lờ đánh lận con đen với người dân đen!

    Câu trong đoạn kết này chứng tỏ luật sư Tạ Văn Tài rất "non" về việc "đáo tụng đình": "Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa".

    Để lập hồ sơ kiện cần thu thập chứng cớ, rồi tham khảo luật sư, rồt luật sư chính thức kiện, rồi chờ tòa cứu xét là cả một quá trình dài, nên không thể cứ dàn khoan đến thì kiện, trong lúc kiện chưa đâu vào đâu thì dàn khoan dời địa điểm, hoặc rút về, thì kiện cái gì? Luật sư Tạ Văn Tài không thấy là không thấy là có giàn khoan đâu mà Philippines vẫn kiện?

    Luật Sư Tạ Văn Tài viết bài quá dài nhưng không mạch lạc lắm và thiếu hẳn một mấu chốt pháp lý quan trọng về Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam từng tranh luận ở trong bài "Lập trường chính thức của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa" https://www.danluan.org/lien-ket/20140710/lap-truong-chinh-thuc-cua-viet-nam-ve-chu-quyen-hoang-sa#comment-123985

    Ngược lại, luật sư Tạ Văn Tài đã dành quá nhiều thời giờ để biện luận một cách không cần thiết theo Công ước Montevideo rằng Việt Nam Cộng Hòa là "state".

    Vấn đề cần phải biện luận và chứng minh là Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam là hay không là 1 quốc gia tiền thân predecessor state của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (1 quốc gia tiền thân predecessor state khác là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa).