Luật sư Ngô Ngọc Trai - Tương lai nào cho luật sư Việt Nam

  • Bởi Admin
    25/07/2014
    7 phản hồi

    Luật sư Ngô Ngọc Trai

    Trong buổi tọa đàm giữa Đoàn luật sư Hà Nội và Đoàn luật sư thành phố Pari của Pháp, cử tọa hết sức thán phục khi được biết Đoàn luật sư Pari có lịch sử đã 800 năm.

    Hãy hình dung, khi mà vua quan quân lính nhà Trần còn đang rong ruổi thanh gươm yên ngựa để chống giặc, thì ở thủ đô Pari của nước Pháp, đã có những người mặc áo lông choàng đứng ở phiên tòa mà biện hộ cho người bị cáo.

    Tức là khi ở Việt Nam sự sống còn của quốc gia dân tộc còn chưa được đảm bảo chứ đừng nói gì đến quyền của kẻ tội nhân ở chốn công đường, thì ở nước Pháp đã hình thành nên một thiết chế mà sự đúng đắn là bệ đỡ đã giúp nó tồn tại cho tới tận ngày nay.

    Vai trò thủ lĩnh

    Suốt lịch sử 800 năm hẳn những người luật sư của Pari đã đối diện với biết bao biến động thời cuộc. Để có thể vượt qua được mọi sóng gió như thế, hẳn là có nhiều nguồn sức mạnh trụ đỡ.

    Một nguồn sức mạnh cho nghề luật sư đó là nghề nghiệp này mang tính chính đáng nghĩa hiệp, phù hợp với luân thường đạo lý con người khi một người đứng ra bảo vệ cho kẻ yếu trước một sức mạnh áp đảo là cường quyền.

    Nhưng chỉ sức mạnh từ luân lý sẽ không đủ để đoàn luật sư Pari tồn tại được cho tới ngày nay. Mà nó còn được dẫn dắt bởi những thế hệ người thủ lĩnh đoàn với đầy đủ tư cách đạo đức và sự uyên bác về trí tuệ.

    Những thế hệ người thủ lĩnh chắc chắn phải nhận được sự tín nhiệm của các thành viên, được sự kính nể của cơ quan tư pháp đương quyền, có như thế tiếng nói và hành động mới có trọng lượng và sức thuyết phục.

    Ví như các vị vua đời đầu của nhà Trần hoặc vị anh hùng Trần Hưng Đạo, hẳn là phải có kiến thức hiểu biết và phong độ uy tín như thế nào mới có thể điều binh khiển tướng chống giặc ngoại xâm ba lần thành công.

    Trong bất kỳ một tổ chức nào, vai trò của người thủ lĩnh đều rất quan trọng, kinh nghiệm kiến thức của họ sẽ quyết định con đường mà tổ chức sẽ đi. Nhưng đặc biệt trong giới luật sư, khi thước đo nghề nghiệp là uy tín thương hiệu thì người đứng đầu càng phải là người có uy tín và danh dự nhất.

    Cũng chỉ đặc biệt ở nghề luật sư, sự thành công là ở khả năng thuyết phục của lời nói, như thế thì điều tối kỵ là danh bất chính vì nếu thế thì ngôn sẽ bất thuận. Không có uy tín, không được tín nhiệm thì nói ai người ta nghe?

    Sự áp đặt vô lý

    Thấy được bề dày lịch sử của đoàn luật sư Pari như vậy, nhìn lại giới luật sư Việt Nam mà thấy buồn.

    Nghề luật sư ở Việt Nam thực sự mới hoạt động từ vài ba chục năm nay, số lượng luật sư cả nước tính đến nay chỉ khoảng 8000, con số rất nhỏ so với các hội đoàn khác, ví như hội luật gia số thành viên là 46.000.

    Giới luật sư cũng chưa tạo dựng được hình ảnh đáng trân trọng trong xã hội. Nguyên do một phần vì hệ thống chính trị không coi trọng quyền tư pháp, quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với quyền lập pháp và hành pháp, trong khung cảnh đó giới luật sư chịu chung số phận hẩm hiu.

    Một nguyên nhân khác là sự yếu kém nội tại của giới luật sư mà chỉ người trong nghề mới hiểu, nhiều người thờ ơ vô trách nhiệm, không có bản lĩnh chính kiến trước các vấn đề của tổ chức, không có tinh thần dấn thân cho nghề nghiệp.

    Thời điểm năm 2009 khi Liên đoàn luật sư Việt Nam được thành lập, chính quyền đã sắp đặt để những người hầu như chưa bao giờ hành nghề luật sư lại đứng đầu tổ chức luật sư cả nước. Những người chưa hề có uy tín nghề nghiệp lại đứng trên cả những luật sư với thâm niêm mấy chục năm hành nghề.

    Đứng đầu tổ chức luật sư nguyên là một phó chánh án tòa án tối cao, một người hầu như chưa bao giờ hành nghề luật sư. Cấp phó thường trực của ông này là một vị nguyên là vụ trưởng một vụ của Bộ tư pháp, một người cũng hầu như chưa hề hành nghề luật sư.

    Có thể họ tuy không hành nghề những cũng biết về nghề luật sư, nhưng biết với trải nghiệm là hoàn toàn khác nhau.

    Những người chưa từng đổ một giọt mồ hôi lên các trang hồ sơ tài liệu và chưa từng khóc thầm vì những trái ngang của cơ chế, họ làm sao thấu hiểu những vấn đề của nghề luật sư?

    Những người vì đã đến tuổi nghỉ hưu nên phải thôi chức ở cơ quan nhà nước, rồi lại được cơ cấu sang đứng đầu một tổ chức khác, thì lấy đâu ra nhiệt huyết cống hiến của những con người này.

    Không sống bằng thu nhập nghề nghiệp, đã có nguồn thu nhập khác là lương hưu, hy vọng gì họ sẽ trăn trở thao thức để vạch đường tìm lối cho nghề luật sư phát triển?

    Việc áp đặt nhân sự không chính đáng đã phạm phải vấn đề húy kỵ nhất của nền tư pháp đó là sức mạnh thuộc về công lý và chính nghĩa chứ không thuộc về cường quyền.

    Xuất phát từ đâu mà chính quyền lại áp đặt lối nhân sự như vậy. Phải chăng đó là thâm ý của chính quyền, áp đặt nhân sự kém năng lực để kìm hãm giới luật sư trong trì trệ, níu giữ nền tư pháp nước nhà trong tăm tối lạc hậu?

    Còn nhiều khó khăn

    Đứng trước sự áp đặt ngang trái như vậy nhưng hầu hết giới luật sư đều im lặng, cũng có vài người không đồng tình nhưng cuối cùng cũng cam chịu chấp nhận.

    Chính quyền đã thiếu tôn trọng giới luật sư, người luật sư cũng vô trách nhiệm với tổ chức của mình, không biết cái nào là nguyên nhân của cái nào.

    Tựu chung lại, giới luật sư đã thất bại trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

    Khi không bảo vệ được quyền lợi của chính mình thì luật sư còn bảo vệ được cho ai?

    Bao nhiêu tổ chức hội đoàn trong xã hội có lúc họ cần được bảo vệ quyền lợi, nhưng hẳn họ sẽ nghĩ là mấy người đó còn chẳng làm được gì ra hồn cho tổ chức của họ, sao bảo vệ được cho chúng ta?

    Nhìn vào chính cách hành xử của giới luật sư, xã hội sẽ dành cho mức độ tín nhiệm tương xứng.

    Người dân không nghĩ đến luật sư đầu tiên khi gặp vướng mắc, họ sẽ tự giải quyết lấy bằng cách nhờ vả người quen hay lo lót cán bộ chính quyền. Chỉ khi sự việc rối tung lên và không tự giải quyết nổi họ mới tìm đến luật sư.

    Vì xã hội chưa tín nhiệm nên nghề luật sư ở Việt Nam không phải là một nghề đem lại thu nhập cao. Trừ một vài thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và trừ ra những luật sư đã thành công kiếm tiền từ những mảng công việc khác rồi mới chuyển sang làm luật sư, số đông còn lại đời sống còn nhiều khó khăn.

    Ở các tỉnh, khi không vào được công chức nhà nước hoặc không được làm tại các công ty lớn, nhiều người mới đành hài lòng với nghề luật sư.

    Khi gặp gỡ trao đổi với luật sư các tỉnh, sẽ dễ dàng nhận thấy những nét ưu tư trăn trở trên gương mặt, qua những câu chuyện sẽ thấy tâm trạng bải hoải chán chường bế tắc.

    Nhưng tất cả lại chỉ trông trờ vào sự thay đổi từ nơi khác, rất hiếm người có bản lĩnh táo bạo thấy được sự thay đổi cần ở ngay nơi mình.

    Làm thế nào?

    Giới luật sư ở Việt Nam chưa cho thấy là một nghề nghiệp của những con người có kiến thức thuộc tầng lớp trí thức nhận được sự tôn kính của xã hội.

    Lâu nay giới luật sư được vinh danh một phần là nhờ hào quang quá khứ của giới luật sư thủa xưa vốn được nhân dân gọi là “thầy cãi”. Một phần là vay mượn giá trị của người luật sư phương Tây qua những bộ phim hình sự truyền hình.

    Giới luật sư Việt Nam cần phải làm rất nhiều việc để xứng với kỳ vọng của xã hội về nghề luật sư.

    Lâu nay các luật sư mới chỉ có thói quen vận dụng các quy định pháp luật hiện tại, không mấy ai đặt câu hỏi tại sao luật lại quy định như thế này mà không phải thế khác, để tạo cơ chế thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân.

    Đứng trước quy định bất cập của pháp luật, khi tháo gỡ cho khách hàng nhiều luật sư chỉ biết luồn lọt sao cho được việc mà không mấy ai quan tâm đấu tranh để loại bỏ quy định bất cập ấy.

    Ngay với những vấn đề liên quan đến quyền lợi của giới mình, như có những luật chưa tạo điều kiện để giới luật sư hành nghề, nhưng giới luật sư cũng không có tiếng nói phản ánh.

    Gần gũi hơn nữa là công tác nhân sự của tổ chức luật sư, nhiều luật sư cũng chẳng thèm quan tâm, nhiều luật sư cho rằng họ vẫn hành nghề tốt mà chẳng cần biết đến ai là người đứng đầu tổ chức của họ.

    Đó thực sự là lối suy nghĩ làm việc của đông đảo luật sư Việt Nam, không quan tâm đến tổ chức.

    Và đó là cách làm nghề không bền vững và không có tương lai.

    Luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật TNHH Công Chính

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    NGT viết:
    Các luật sư có liên lạc thảo luận những vấn đề cần được giải quyết trong ngành nghề của mình hay không ?
    Ví dụ LS Trai và LS Định có trao đổi với nhau những vấn đề này hay không hay là các LS chỉ viết blog, viết báo BBC mà thôi ?

    Tôi đoán là chưa, nhưng hy vọng trong tương lai sẽ có. Để đạt được điều này thì cần phải "raising awareness" để kêu gọi sự chú ý và quan tâm (theo lý thuyết và cẩm nang của các phong trào đấu tranh cho nữ quyền và dân quyền ở Hoa Kỳ). Lý do là vì đại bộ phận những người hành nghề luật sư hiện nay ở VN đều được đào tạo dưới chế độ XHCN, không biết nhiều về vai trò và những nguyên tắc cốt yếu của nghề này. Những bài viết trên facebook hay blogs như của LS Lê Công Định và LS Ngô Ngọc Trai có tác dụng raising awareness giúp các cá nhân luật sư ý thức đưọc những gì còn thiếu sót và cần phải thay đổi trong việc tổ chức ngành nghề luật sư ở VN.

    Môt phần nữa là chính sách công an trị ở VN nên nhiều người còn ngần ngại chưa dám lên tiếng. Nhưng khi đã có người lên tiếng, thì sẽ có những ngưòi khác làm theo vì họ biết rằng họ có người đồng hành.

    Các luật sư có liên lạc thảo luận những vấn đề cần được giải quyết trong ngành nghề của mình hay không ?
    Ví dụ LS Trai và LS Định có trao đổi với nhau những vấn đề này hay không hay là các LS chỉ viết blog, viết báo BBC mà thôi ?

    Theo ý tôi, muốn cải tiến vai trò của luật sư theo đúng chức danh người bảo vệ công lý thì các luật sư ở VN phải tìm cách sửa đổi các luật và qui định về việc hành nghề luật sư để trả lại cho luật sư vị trí độc lập khỏi sự chi phối của chính quyền đặc biệt là Điều 56, khoản 4 Luật Tố Tụng Hình Sự VN và điều 27 của luật về luật sư và hành nghề luật sư:

    Luật tố tụng hình sự VN viết:

    Điều 56. Người bào chữa

    4. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.

    Đối với trường hợp tạm giữ người thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.

    luật về luật sư và hành nghề luật sư viết:
    Điều 27. Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư

    1. Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư phải tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng và Luật này.

    2. Luật sư được cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự hoặc giấy chứng nhận người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính

    3. Thời hạn cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư không quá ba ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Việc qui định luật sư phải có giấp phép và sự chấp thuận của toà án để được biện hộ trong từng vụ là điều thậm vô lý vì đã ảnh hưởng (compromise) đến quyền được bào chửa của bị can. Vì lý do gì mà toà án cần cấp giấy cho luật sư dược làm việc mặc dù luật sư đã được thân chủ lựa chọn? Khi toà án có quyền chấp thuận hay không chấp thuận sự lựa chọn luật sư của bị can (như đã từng xảy ra trong nhiều vụ án chính trị), quyền được bào chửa của bị lệ thuôc vào toà án, và như thế phiên toà xử sẽ không còn vô tư và công bình.

    Việc chính quyền quản lý việc hành nghề luật sư (xem luật về luật sư và hành nghề luật sư) là một sự vi phạm trắng trợn vào sự độc lập cuả tổ chức luật sư, vốn cần thiết để đem lại sự vô tư và công bằng trong việc xét xử. Tại các nước theo chế độ dân chủ và tam quyền phân lập, tổ chức luật sư (còn gọi là luật sư đoàn, ở Mỹ là Bar association) là một tổ chức dân sự, hoàn toàn độc lập với chính quyền. Họ đứng ra tổ chức việc huấn luyện, kiểm tra tay nghề, cấp giấy hành nghề (license) và kỷ luật những người vi phạm các qui định của nghề luật sư cũng như đạo đức nghề nghiêp. Các tổ chức này cũng đóng góp và có ảnh hưởng rất lớn đền việc cải cách luật pháp nói chung bằng cách tạo điều kiện cho các luật sư tham gia vào việc phát triển nghề nghiệp cá nhân cũng như hệ thống pháp luật của cả nước.

    Luật Sư Ngô Ngọc Trai đã nhìn ra được những problems của hệ thống pháp lý củng như ngành lụật ở VN. Vậy thì tương lai nào cho luât sư VN tùy thuộc vào thái đọ và hành động của những người hành nghề luật sư ở VN.

    Ở các nước theo chế độ dân chủ, lụật sư qua nhiệm vụ cố vấn pháp luật cho thân chủ có thể đóng góp rất nhiều và việc phát triển dân chủ và hệ thống pháp luật. Một thí dụ điển hình là luât sư Thurgood Marshall ở Mỹ trong vụ kiện đòi bãi bỏ chế độ phân biệt chủng tộc đã thắng kiện, đưa đến việc dẹp bỏ chế độ phân biệt chủng tộc từng ngự trị ở nước Mỹ trên 200 năm. Luật sư là người tiếp cận trực tiếp nhiều nhất với các văn bản pháp luật. Do đó, các bài viết phê bình các văn bản luật pháp sẽ đóng góp vào việc phát triển hệ thống luật pháp của nước sở tại.

    Luật sư là người bảo vệ người dân đòi công lý, nhưng khi chính hệ thống pháp luật bất công mà luât sư không biết đấu tranh đòi công lý cho môi trường họ làm việc thì họ không thể làm tròn sứ mạng cố vấn pháp luật của họ.

    Cái bất cập, cái đau khổ lớn nhất của nghề luật sư, là họ phải dựa vào luật như là công lí để bảo vệ thân chủ, thì quyền lực tư pháp phải phụ thuộc vào đảng lãnh đạo, mà đảng thì đứng trên HP, PL để quản lí xã hội bằng nghị quyết, chỉ thị. Có bao giờ luật sư dựa vào nghị quyết để tranh tụng?

    Ở Việt Nam hôm nay làm gì có giới luật sư thực sự và đúng nghĩa, vì làm gì có luật pháp đúng nghĩa và thực sự - tất cả đều do đảng tự viết ra rồi bị đảng ngồi trên bằng điều 4HP hết ráo cả?

    Việc đào tạo các luật sư cũng vậy, đảng giải tán hết ráo các trường luật (1954 ở Bắc và 1975 ở Nam) rồi mãi mới phải-nên từ từ cho đào tạo luật sư lại sao cho họ phải có "tính đảng" và đứng trên "lập trường giai cấp" thì mới cho hành nghề, thì họ đâu có phải là luật sư thực sự nữa?

    Việc tổ chức quản lý các luật sư, các hội luật sư thì đảng càng nắm chặt hơn, không chỉ bằng cách chỉ cho những người của đảng làm để hoàn toàn theo ý đảng thôi, mà bằng hệ thống an ninh chìm nổi dầy đặc kèm sát moị luật sư, làm gì có chút không gian nghề nghiệp nào cho các luật sư hoạt động?

    Vậy cho nên Ls Ngô Ngọc Trai tự kiểm điểm như trong/trước chi bộ đảng thế này: "Giới luật sư Việt Nam cần phải làm rất nhiều việc để xứng với kỳ vọng của xã hội về nghề luật sư", làm tôi hoàn toàn thất vọng.

    Không biết Ls.Trai không nhìn ra thực chất tình trạng như trên, hay Ls cố tránh né nó? Tôi nghĩ là tránh né. Mà đã tránh né thì đừng viết gì còn hơn, chỉ làm người đọc thất vong.

    Tôi thì không kỳ vọng gì từ các luật sư của VN hôm nay cả, vì tôi biết nếu họ không phải công cụ của đảng hay tự nguyện hành xử theo "tính đảng" thì họ cũng không thể làm gì ngoài tự lừa dối mình và lừa dối người khác, vì sinh mạng hay miếng ăn của họ, mà thôi.

    Vậy nên, tương lai nào cho giới luật sư VN ư? Luật sư nào? Luật sư của đảng ư? Rất sáng lạn! Luật sư đích thực ư? Rất tối tăm hay hoàn toàn không có, cho đến khi... không còn đảng nữa.

    PCT

    Trích dẫn:
    Đứng đầu tổ chức luật sư nguyên là một phó chánh án tòa án tối cao, một người hầu như chưa bao giờ hành nghề luật sư. Cấp phó thường trực của ông này là một vị nguyên là vụ trưởng một vụ của Bộ tư pháp, một người cũng hầu như chưa hề hành nghề luật sư.

    Các luật sư cần phải đấu tranh để cải tổ điều lệ tổ chức sao cho hợp lý nhất :

    1- Đoàn luật sư (barreau, bar association) : chỉ bao gồm các luật sư đang hành nghề thật sự
    2- Tổ chức luật sư cả nước : chỉ bao gồm các luật sư đang hành nghề thật sự
    3- Để thể hiện tính công bằng, không quanh co (biaiser, bias, go arround), một luật sư đang hành nghề, chỉ có hoạt động duy nhất là luật sư, không thể làm việc khác có ảnh hưởng đến nghề luật sư ví dụ liên quan đến ngành tư pháp, chính phủ (thẩm phán, chánh án, công an, ...)
    4- Các cuộc bỏ phiếu để bầu "Tổ chức luật sư cả nước" : ứng cử viên tự do, là luật sư . Do các luật sư bầu ra trực tiếp và bỏ phiếu kín

    Ở Pháp, Conseil National des Barreaux (Hội đồng quốc gia của các đoàn luật sư), chủ tịch là ông Jean-Marie Burguburu, một luật sư

    Président : Jean-Marie Burguburu
    Jean-Marie BURGUBURU est avocat au Barreau de Paris depuis 1966

    Vấn đề lớn của VN là trong tất cả mọi việc, mọi tổ chức, không có cái gì hoạt động trực tiếp một cách tự nhiên mà đều bị biến thái, bóp méo bởi sự can thiệp khống chế trực tiếp của cái gọi là đảng CSVN.

    Cái gọi là đảng CSVN khống chế chính phủ, khống chế Quốc hội, khống chế tòa án, thì cái gọi là đảng CSVN khống chế các đoàn luật sư là việc không thể tránh khỏi !

    Phải đấu tranh quyết liệt để VN có một hệ thống nhà nước lành mạnh, không bị một đảng phái nào (ví dụ cái gọi là đảng CSVN) khống chế, bắt hệ thống nhà nước làm con tin