Ngô Vương Anh - Hiệp định Geneva: Những gì để lại cho hôm nay?

  • Bởi Mắt Bão
    20/07/2014
    8 phản hồi

    Ngô Vương Anh

    Bài học lớn nhất, bao quát nhất nhìn từ Hiệp định Geneva sau 60 năm là bài học về tinh thần độc lập tự chủ. Ngoài ra, phải hiểu cả những toan tính của “đồng chí”, “đồng minh”, không mơ hồ và ảo tưởng. Sau hơn hai tháng đàm phán, từ ngày 8/5/1954, Hiệp định Geneva 1954 về Đông Dương được ký ngày 20/7/1954. Đánh giá đúng những bài học, kinh nghiệm từ Hội nghị Geneva và bản Hiệp định này trong bối cảnh hôm nay vẫn có ý nghĩa sâu sắc.

    Thắng lợi chưa trọn vẹn

    Hiệp định Geneva là văn bản pháp lý quốc tế thứ ba của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hai văn bản trước là Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp. Nước Pháp từ vị thế kẻ cai trị thực dân đã phải công nhận và tôn trọng quyền cao nhất của dân tộc Việt Nam là độc lập, quyền cao nhất của nhân dân Việt Nam là tự do. Nước Việt Nam từ chỗ chưa có tên trên bản đồ thế giới đã trở thành một biểu tượng sáng ngời của ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc, là tấm gương cổ vũ các dân tộc bị áp bức vùng lên làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ.



    Vĩ tuyến 17 (Quảng Trị) trở thành giới tuyến tạm thời chia cắt hai miền Bắc - Nam.

    Với Hiệp định Geneva, chúng ta đã kết thúc được chiến tranh, buộc Pháp phải rút hết quân và công nhận quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam; giải phóng hoàn toàn miền Bắc để có điều kiện xây dựng những cơ sở vật chất đầu tiên cho xã hội Xã hội Chủ nghĩa trong điều kiện hòa bình; tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh thống nhất đất nước sau đó.

    Bối cảnh khi đó, trên bàn đàm phán Geneva, Pháp đã thất bại trong trận quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ, muốn rút khỏi “bãi lầy chiến tranh” Đông Dương trong danh dự, Việt Nam đến Geneva với tư thế của người chiến thắng trên chiến trường. Việc bàn giải pháp cho cuộc chiến Đông Dương không do hai bên trực tiếp tham chiến mà do các “nước lớn” giữ vai trò chính. Pháp là bên tham chiến trực tiếp nhưng luôn lẩn tránh đàm phán trực tiếp với phái đoàn Việt Nam mà dùng vai “nước lớn” để thỏa thuận ngầm với Liên Xô và đặc biệt là với Trung Quốc. Tại Geneva, Trung Quốc đã tìm mọi cách dàn xếp các vấn đề tại Hội nghị theo hướng giành lợi ích quốc gia cho Trung Quốc.

    Một khó khăn khác của đoàn Việt Nam là các kênh liên lạc đều nhờ Trung Quốc với lòng tin vào tình đồng chí. Đoàn đàm phán Việt Nam gặp nhiều bất lợi, bị cô lập và không có kinh nghiệm đàm phán nên đã không thể bảo vệ được những yêu cầu quan trọng của mình.

    Hội nghị Geneva đã quyết định những vấn đề có liên quan đến các lực lượng kháng chiến ở Lào và Campuchia mà không có sự tham gia của các chính phủ kháng chiến ở hai nước này. Đại diện cho cả ba Chính phủ kháng chiến ở Đông Dương chỉ có một đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Việc xác định ranh giới quân sự tạm thời và phân chia khu vực tập kết chuyển quân ở Việt Nam không phải vĩ tuyến 13 hay 16 theo phương án của Việt Nam, mà là vĩ tuyến 17. Việt Nam mất ba tỉnh khu V và nhiều vùng tự do phía Nam vĩ tuyến 17.

    Ở Lào, lực lượng kháng chiến chỉ được một vùng tập kết gồm hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ - nhỏ hơn nhiều so với vùng giải phóng thực tế. Lực lượng kháng chiến Campuchia phải phục viên tại chỗ. Thời hạn tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam không phải là 6 tháng như phương án của Việt Nam, mà là 2 năm. Dù vậy, việc này đã không thể thực hiện do chính sách can thiệp và xâm lược của Mỹ.


    Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Thụy Sỹ dự hội nghị Genève về Đông Dương, tháng 5/1954.

    Những gì Việt Nam đạt được ở Hội nghị Geneva là kết quả của 9 năm kháng chiến anh dũng, nhiều hy sinh gian khổ của nhân dân ta, nhưng kết quả đó chưa tương xứng với thực tế trên chiến trường. Nhân dân cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam còn phải đi tiếp chặng đường dài 21 năm với nhiều sự hy sinh mất mát đau thương hơn để đạt tới điều lẽ ra đã diễn ra từ tháng 7/1956.

    Bài học về tinh thần độc lập tự chủ

    Bài học lớn nhất, bao quát nhất nhìn từ Hiệp định Geneva sau 60 năm là bài học về tinh thần độc lập tự chủ. Bên cạnh đó là bài học về kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngoại giao với quân sự, tạo cục diện vừa đánh vừa đàm để đối phó với kẻ địch mạnh hơn; kiềm chế kẻ thù, tạo dư luận quốc tế, gây áp lực buộc đối phương xuống thang cả trên chiến trường và trên bàn đàm phán đã được phát huy trên bàn Hội nghị Paris và chúng ta đã đạt thắng lợi.

    Quá trình đàm phán để đi đến bản Hiệp định Paris (1/1973) sau này đã nói lên điều đó. Trong những ngày đàm phán ở Paris, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nói với ông H. Kissinger (được tác giả Larry Berman trích dẫn): “Trong cuộc đấu cờ, người thắng và kẻ thua phải chính là những người chơi cờ, không còn cách nào khác. Chúng tôi độc lập trong việc giải quyết vấn đề của chúng tôi” (1).

    Kinh nghiệm lịch sử cho thấy những “nước lớn” luôn có những toan tính chiến lược riêng. Trong đấu tranh ngoại giao, điều cốt yếu là phải phân tích và nhận rõ chiến lược và những mục tiêu của các nước “lớn” để có chiến lược và sách lược đối phó hiệu quả. Sự dàn xếp, thoả hiệp giữa các nước “lớn” tại Hội nghị Geneva làm hại đến lợi ích của Việt Nam, Lào và Campuchia. Đây cũng là điều khó tránh ở một hội nghị quốc tế, khi “luật chơi” và cả diễn biến “cuộc chơi” đều do các nước “lớn” quyết định. Ở Hội nghị Geneva, Việt Nam đã phải thuận theo nhiều lời “chỉ dẫn” bất lợi từ các “đồng chí”, “đồng minh” của mình. Bài học sâu sắc qua Hội nghị Geneva là phải hiểu cả những toan tính của “đồng chí”, “đồng minh”, không mơ hồ và ảo tưởng.



    Hội nghị Genève khai mạc ngày 26/4/1954. Mục đích ban đầu của hội nghị là bàn về khôi phục hòa bình tại Triều Tiên và Đông Dương.

    Điều bộc lộ rõ trong quan hệ quốc tế hiện nay là trong nhiều trường hợp các nước “lớn” áp đặt những “luật chơi” không phù hợp, làm tổn hại đến lợi ích của nước khác. Nhưng kinh nghiệm lịch sử cũng chỉ ra rằng, tiếng nói của khu vực và các nước vừa và nhỏ có “sức nặng” đến mức nào phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó một phần lớn phụ thuộc vào sự chủ động, sự nhạy bén, khôn khéo của những nước này với các “nước lớn” và cả giữa các nước “vừa” và “nhỏ” với nhau.

    Điều các nước “nhỏ” luôn cần (phải) làm là tăng cường thực lực của đất nước, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động đối ngoại, bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ hoà bình và an ninh quốc tế. Trong hoạt động đối ngoại phải đánh giá chính xác tình hình thế giới, nhất là chiến lược của các nước “lớn”, tìm ra đối sách phù hợp trong từng thời gian, cho từng vấn đề, đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc. Am hiểu đối tác - đồng thời cũng là đối tượng - là yêu cầu quan trọng trong quá trình hội nhập.

    • Ngô Vương Anh

    (1): Larry Berman (2003) - Không hoà bình, chẳng danh dự Nixon, Kissinger, và sự phản bội ở Việt Nam, (Nguyễn Mạnh Hùng dịch), Việt Tide xuất bản, tr 145

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    Phản hồi: 

    Nếu dùng Việt văn để phân tích bài báo của Ngô Vương Anh theo kiểu học đường, tôi thấy bài báo này rất kém. Bố cục của bài báo rất tào lao. Tựa đề và 2 ý chính trong bài báo chẳng liên quan gì với nhau.
    Tựa đề là: Hiệp định Geneva: Những gì để lại cho hôm nay? Nhưng 2 ý chính trong phần thân bài là: Thắng lợi chưa trọn vẹn, và Bài học về tinh thần độc lập tự chủ. Thật là bá láp.

    Tôi rất ngạc nhiên về cách hành văn của từng đoạn trong bài báo. Tác giả có thói quên là: viết 1 câu và sau đó bỏ dỡ nhảy qua ý khác. Tác giả là người có khả năng viết rất kém, ông ta không hiểu cách hành văn, không biết dùng các câu văn chứa ý phụ để hổ trợ cho câu mà ông ta vừa viết. Nhẻ ông ta không qua khỏi bậc phổ thông cơ sở? Vì học sinh chỉ cần học tiếng Việt tới lớp 9 là viết chửng chạc rồi.

    Bài báo của ông ta chỉ là rác nếu so với một số bài viết về Hiệp Định Geneve 1954 như sau:

    Hiệp định Genève (20-7-1954)- Phần I, Tác giả Trần Gia Phụng
    http://www.danchimviet.info/archives/13976

    Hiệp định Genève (20-7-1954)- Phần II
    http://www.danchimviet.info/archives/14520/hi%E1%BB%87p-d%E1%BB%8Bnh-gen...

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_Gen%C3%A8ve,...

    ------------------

    (Nói thêm về bài báo của Ngô Vương Anh)

    Tác giả Ngô Vương Anh viết: Hiệp định Geneva: Những gì để lại cho hôm nay?

    Phải nói Hiệp Định Geneve 1954 là thắng lợi của Trung Cộng và của ông HCM vì ông ta đã thành công trong việc cầu viện ngoaị bang đem lại thắng lợi cho đảng CSVN để chia hai đất nước VN. Từ một kẻ tay không, ông HCM và đảng CSVN chiếm được 1/2 nước VN. Bằng chứng sờ sờ trong 2 bài báo của đảng và nhà nước:

    Tác giả mở đầu bài báo như sau: "Bài học lớn nhất, bao quát nhất nhìn từ Hiệp định Geneva sau 60 năm là bài học về tinh thần độc lập tự chủ."

    Tinh thần độc lập tự chủ cái nổi gì trong khi tài liệu lịch sử cho thấy ông HCM đã viết thư cầu viện Trung Cộng (1949) giống hệt như vua Lê Chiêu Thống đã từng làm. Sự việc của ông HCM như sau:

    "Khi nhận được tin vui nước Trung Quốc mới thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh lập tức cử hai cán bộ đắc lực mang theo thư tay bằng Hán văn của Người, chia nhau đi theo hai con đường (đường bộ và đường biển) bí mật đến Bắc Kinh, thỉnh cầu Trung Quốc viện trợ.

    "Trong thư tay, chủ tịch Hồ Chí Minh viết rằng:

    Ân ca, Dĩnh thư (Tức anh Chu Ân Lai và chị Đặng Dĩnh Siêu):..."

    http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/dai-tuong-vo-nguyen-giap/dai-tha...

    Mao dụ ông HCM qua nhận viện trợ quân sự, nhưng phải viết giấy đổi chác bán biển đảo HS và TS cho Trung Cộng. Bởi vậy, ngay sau khi ký kết hiệp định 1954, Trung Cộng chiếm ngay lập tức một số đảo thuọc quần đảo Hoàng Sa (bên phía tây). VNCH lúc ấy còn quá yếu và hỗn loạn, cọng thêm phải lo cho 1 triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. VNDCCH biết rõ Trung Cộng chiếm HS, và Phạm Văn Đồng vội vả ký công hàm 14-9-1958 để công nhận Tuyên Bố 5-9-1958 của Trung Quốc về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cùng lãnh hải.

    "Hai chuyến đi bí mật của Ông HCM" qua Trung Cộng và Liên Xô 2/1950 và chuyến đi 1952 có đăng báo ở đây:

    http://www.vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-...

    Hiệp định Geneva: Những gì để lại cho hôm nay? thì tác giả cần đọc thêm bài báo của Ngô Minh: KHÔNG XÁC ĐINH ĐƯỢC KẺ THÙ THÌ LÀM SAO BẢO VỆ TỔ QUỐC ?

    http://ngominh.vnweblogs.com/post/2246/458218

    https://www.danluan.org/tin-tuc/20140720/ngo-minh-khong-xac-dinh-duoc-ke...

    Phản hồi: 

    [quote]Nguyễn Thiện

    Cả hai nước Nam Bắc Hàn đều KHÔNG ký hiệp ước (hoà bình) đình chiến.[/quote]

    Phát biểu này không hòan tòan chính xác!

    Hiệp định đình chiến (Armistice Agreement) của cuộc chiến tranh Triều Tiên được ký kết ngày 27/7/1953 giữa Bộ Tư lệnh LHQ (mà Hoa Kỳ là lực lượng chủ lực) Bác Hàn và Quân Tình nguyện Trung cộng.

    Tuy nhiên một Hiệp định Hoà bình (Peace Treaty hay Accord, giống Hiệp định Chấm dứt chiến tranh Lập lại Hoà bình Paris 27/3/1974 của VN) thì đã không được ký kết cho đến nay.

    (Tôi cố gằng upload hình tòa nhà nơi hiệp định đình chiến được ký kết mà không thành.)

    Do đó có thể nói cuộc chiến Triều Tiên được ngưng bắn vào tháng 7 năm 1953 nhưng hai miền Nam-Bắc, trên lý thuyết, vẫn còn trong tình trạng chiến tranh.

    Một điều hiển nhiên của lịch sữ thế giới trong gần một thế kỷ qua cho thấy, hầu hết tất cả các chế độ cộng sản phải cần, trực tiếp hay gián tiến, kích động, hoặc tiến hành, chiến tranh (hoặc một tình trạng thù địch nào đó) để tồn tại. Nếu không có "thế lực thù địch" từ bên ngoài biên giới thì một số thành phần nhân dân trong nuớc sẽ là mục tiêu.

    Phản hồi: 

    >>> Ở Hội nghị Geneva, Việt Nam đã phải thuận theo nhiều lời “chỉ dẫn” bất lợi từ các “đồng chí”, “đồng minh” của mình. Bài học sâu sắc qua Hội nghị Geneva là phải hiểu cả những toan tính của “đồng chí”, “đồng minh”, không mơ hồ và ảo tưởng.

    Như vậy là từ 1954, Đảng và Nhà nước ta đã biết những toan tính của “đồng chí”, “đồng minh” Trung quốc. Thế nhưng năm 1958, Đảng và Nhà nước ta, mà đại diện là đồng chí Thủ Tướng Phạm văn Đồng vẫn thản nhiên ký công hàm 1958 cho Trung quốc. Và từ năm 1954 đến 1975, Đảng và Nhà nước ta hồ hởi phấn khởi gửi thanh niên Việt đi đánh miền Nam, đánh Nguỵ, đánh Mỹ, chết cho “đồng chí”, “đồng minh” vĩ đại Liên xô, Trung quốc.

    Và cho đến bây giờ lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta liên tục khẳng định quan hệ bạn 16 vàng + 4 tốt, quan hệ anh em trong tình gia đình xã hội chủ nghĩa với Trung quốc XHCN.

    Dưới thời thực dân Pháp cho đến 1954, nhân dân ta đóng sưu, đóng thuế thân, nhưng chính quyền thực dân bảo vệ được và để lại Hoàng sa, Trường sa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, dân ta vẫn tiếp tục đóng thuế, nhưng đồng chí Phạm văn ĐỒng ký công hàm 1958 cho Trung quốc, sách giáo khoa của ta ghi Tây sa, Nam sa là trường thành bảo vệ Trung quốc, Trung quốc quản lý giúp Gạc Ma, mang giàn khoan vào nước ta, đánh bắt ngư phủ của ta, và lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta liên tục khẳng định quan hệ bạn 16 vàng + 4 tốt, quan hệ anh em trong tình gia đình xã hội chủ nghĩa với Trung quốc XHCN.

    Như vậy, nếu còn chính quyền thực dân Pháp, chưa chắc nước ta suy thoái, mất biển mất đảo, dân ta mất tự do như dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Đó là những gì Hiệp định Geneva chưa giải quyết được, để lại cho hôm nay.

    Phản hồi: 

    Muốn hiểu được Hiệp định Geneve 20-7-1954, phải tìm hiểu các biến chuyển lịch sử chung quanh và trước đó. Sau khi đệ nhị thế chiến kết thúc 1945, những anh cả của thế giới chia nhau lãnh thổ. Việt Nam, Đại Hàn, Đức, và miền Đông Âu là các quốc gia tép riêu, số phận bị định đoạt bởi các nướ lớn. Đức bị chia hai, Đại Hàn bị chia hai (1948), và mãi sau này VN bị chia hai (1954).

    1949, Mao chiếm được Trung Hoa, chiếm dần các nước nhỏ chung quanh; và nước nào Trung Cộng không chiếm được thì Mao biến các nước ấy thành các vành đai hay tiền đồn để bảo vệ Trung Cộng khỏi bị xâm chiếm bởi các nước khối tự do.

    1950-1953, Liên Xô và Trung Cộng giúp Bắc Hàn tấn công định chiếm Nam Hàn 1950. Mỹ và đồng minh Nam Hàn phản công đánh tràn qua vĩ tuyến 38, có ý chiếm luôn miền Bắc. Trung Cộng đem quân nhảy vào giúp Bắc Hàn vì không muốn Bắc Hàn bị chiếm vì nếu Bắc Hàn bị chiếm thì quân Mỹ và đồng minh sẽ đóng quân ở sát biên giới Trung Cộng. Vì không muốn xảy ra chiến tranh nguyên tử, cả hai phe nhân nhượng nhau, và lấy vĩ tuyến 38 làm biên giới. Cả hai nước Nam Bắc Hàn đều KHÔNG ký hiệp ước (hoà bình) đình chiến.

    1949 HCM viết thư cầu viện Trung Cộng xin vũ khí và mời bộ đội Trung Cộng qua VN giúp đỡ giải phóng VN. Nhưng Mao ranh mãnh buộc HCM phải đích thân qua gặp Mao 2/ 1950 để làm giấy tờ thực hiên cuộc đổi chác.

    Lúc đầu, Trung Cộng muốn giúp HCM chiếm cả nước Việt Nam, nhưng sau Trung Cộng biết là không thành. Trung Cộng đành giúp HCM chiếm Bắc Việt để làm thành 1 trái độn hay một tiền đồn của Trung Cộng, tương tự như Bắc Hàn.

    Mỹ, Pháp, Trung Cộng mỗi nước đều có tâm sự và âm mưu riêng ở Việt Nam và Đông Dương.

    Trung Cộng đã có công (90%) giúp HCM và đảng CSVN chiếm được miền Bắc VN, đã giúp HCM đánh thắng trận Điện Biên Phủ 5-1954. Không có Trung Cộng thì Việt Cộng không có súng ống, đạn dược , lương thực và pháo binh đánh Pháp. Không có Trung Cộng giúp từ 1951, thì HCM đành chết già, và đảng CSVN mãi mãi là du kích trong rừng.

    Pháp nghe lời Mỹ, dụ Việt Cộng tập trung bộ đội bao vây Điện Biên Phủ, và theo đó, Pháp sẽ nhờ không quân Mỹ giúp thả bom để tiêu diệt Việt Cộng một lần cho gọn. Thật là một kế hoạch quân sự điên rồ vì Điện Biên Phủ không phải là vị trí chiến lược, mà cũng chẳng có tài nguyên gì để Pháp phải đóng quân ở đấy.

    Mỹ muốn vào VN thay chân nên phải gạt Pháp. Trước đó, Mỹ hứa sẽ (giúp Pháp) sử dụng máy bay thả bom tiêu diệt Trung Cộng và Việt Công nếu quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị bao vây. Nhưng sau đó Mỹ đã nuốt lời hứa, thế là Pháp thua trận ĐBP. Mỹ muốn Pháp rút khỏi VN và muốn thay chân Pháp để vào VN. Cam Ranh là nơi mà Mỹ đã dòm ngó từ lâu cho mục đích quân sự và chiến lược.

    (Trận Khe Sanh 1968 là sự lập lại của trận ĐBP. Nhiều sư đoàn Bộ đội Bắc Việt (hoả lực mạnh hơn thời 1954), đã bao vây Khe Sanh gần 6 tháng, nhưng Bắc Việt thua trận xiểng liểng một phần vì không quân của Mỹ oanh tạc suốt ngày đêm, và phần khác bị quân Mỹ và VNCH mở cuộc phản công đánh tan tác các sư đoàn bộ đội Bắc Việt (sđ 304, 320, 324, và 325) bao vây tại Khe Sanh và Mặt Trận Đường 9.)

    Vì mục đích riêng, Mỹ, Pháp, Trung Cộng đã BẮT BUộc cả hai miền Nam Bắc Việt Nam PHẢI ký Hiệp định Geneve 1954.

    HCM đồng ý ký ngay vì đảng CSVN từ TAY KHÔNG, không có đất, không có văn phòng và ddiajw chỉ liên lạc thì bổng nhiên sau khi ký hiệp định Geneve, HCM sẽ có được ½ lãnh thổ VN.
    Nhưng, TT Ngô Đình Diệm KHÔNG chịu ký Hiệp định Geneve vì các lý do riêng (các bạn google sẽ thấy), và ông chỉ cử quan sát viên đến chứng kiến việc ký hiệp định ấy. Ông Diệm mới thành lập chính phủ, quân đội chưa ổn định, trong miền Nam có nhiều phe phái, súng ống và vũ khí lệ thuộc vào sự giúp đỡ của phe đồng minh.

    Và thế là Mỹ, Pháp, Trung Cộng, Bắc Việt điềm nhiên ký hiệp định Geneve 20-7-1954.

    http://en.wikipedia.org/wiki/North_Korea

    http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Khe_Sanh

    http://www.youtube.com/watch?v=nLoZY8PDh7E

    Phản hồi: 

    Đã ngót 40 năm nay, người miền Nam cứ mỗi dịp tháng 7 về, lại được
    nhồi đi nhồi lại luận điệu về HĐ Geneve na ná như bài này.
    Riêng tôi, đến nay vẫn chưa quên hai câu lục bát mà tuổi thơ tôi đọc
    được trên những bức tường thời đầu thập niên 60:

    Hai mươi tháng bảy năm tư
    Giặc Hồ chia rẽ cơ đồ Việt Nam.

    Không như HĐ đình chiến 27/7/53 về vấn đề Triều Tiên, chỉ là lập lại
    nguyên trạng có trước giữa hai miền, HĐ Geneve 20/7/54 bắt đầu cắt đôi
    lãnh thổ VN cùng sự thừa nhận một nhà nước CS mới ở phần Bắc Việt, liền kề Trung Cộng!
    Từ vai trò thực tế của TC trong chiến thắng của VM, mà các cường quốc chấp nhận mời TC tham dự hội nghị này. Từ một vị thế tầm thường trên trường bang giao quốc tế, TC được dịp ngang hàng thảo luận với các cường quốc khác.

    Chính TC, đại diện là Chu ân Lai chứ không ai khác, đã đề nghị tách vấn đề VN ra khỏi v/đ Cambodge và Lào, đi ngược lại lập trường ý chí của VM. Trung Cộng còn đòi rút hết quân ngoại quốc khỏi Cambodge và Lào, mà VM thì cũng là quân ngoại quốc. TC muốn làm yếu VM để dễ khống chế, ép VM chấp nhận chia cắt theo ý họ. VM chẳng cưỡng được ý muốn của TC.
    Nhưng CSVN thì chỉ một tham vọng không đổi là độc quyền cai trị toàn cõi VN, không bằng Hiệp định được, thì bằng bạo lực.

    Chu ân Lai còn mời ông N.Đ.Luyện, ngoài lề hội nghị, nêu ý muốn trao đổi bang giao với CP.Quốc Gia ở SG. Nhưng Thủ Tướng NĐD bác bỏ đề nghị này.

    Dù thế nào, thì thủ phạm chia cắt VN cũng chính là CSVN và ngoại bang.

    Chính phủ Quốc Gia VN và Hoa Kỳ không chấp nhận ký HĐ này!

    Phản hồi: 

    [quote]Ngô Vuơng Anh
    Thời hạn tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam không phải là 6 tháng như phương án của Việt Nam, mà là 2 năm. Dù vậy, việc này đã không thể thực hiện do chính sách can thiệp và xâm lược của Mỹ.[/quote]

    Đọc mấy câu này mà thấy nãn quá! Bao sự thật đã phơi bày hàng mấy chục năm nay mà vẫn còn phán như thế. Không biết nguợng với sự thật.

    Bài viết này khiến tôi liên tuởng ngay đến bán đảo Triều Tiên và cuộc chiến Nam Bắc ở đó. Cũng bị chia đôi Quốc -Cộng; cũng bị "sự can thiệp và xâm luợc của Mỹ" (cùng rất nhiều nuớc của Liên Hiệp Quốc).

    Cũng nhờ sự "xâm luợc" và bảo vệ của Mỹ và LHQ mà ngày nay Nam Hàn (hay Đại Hàn) giàu có, hùng mạnh, văn minh, thế giới khâm phục. Là một nơi ở trong uớc mơ của bao người dân VN muốn đến để được làm ... công nhân, gửi tiền về giúp gia đình. Có đau đớn không? Khỏi bàn đến nguyên nhân vì sao Bắc Hàn thì lại nghèo đói nhưng hung hãn, bị cả thế giới xa lánh.

    Khi tìm hiểu thêm về Hiệp uớc đình chiến giũa hai miền Triều Tiên, tôi đọc được thông tin này, truớc đây chưa biết (theo Wikipedia, có reference):

    In April 1975, South Vietnam's capital was captured by the North Vietnamese army. Encouraged by the success of Communist revolution in Indochina, Kim Il-sung saw it as an opportunity to invade the South. Kim visited China in April of that year, and met with Mao Zedong and Zhou Enlai to ask for military aid. Despite Pyongyang's expectations, however, Beijing refused to help North Korea for another war in Korea.

    (Tháng Tư 1975, thủ đô Nam VN bị chiếm lấy bởi quân Bắc Việt. Được khuyến khích từ sự thành công của cách mạng cs ở Đông duơng, Kim Nhật Thành (chủ tịch Bắc Hàn lúc đó) thấy đây là cơ hội để xâm lăng miền Nam. Kim đã đến TQ vào tháng Tư năm đó và gặp gỡ với Mao Trạch Đông cùng Chu Ân Lai yêu cầu viện trợ quân sự. Tuy nhiên, ngoài sự kỳ vọng của Bình Nhưỡng, Bắc Kinh đã từ chối giúp Bắc Hàn cho một cuộc chiến tranh khác ở Triều Tiên.)

    Thật là may mắn cho người dân Nam Hàn do "thái độ trở mặt" của các "đồng chí kính yêu", đồng thời cũng là quan thầy, Trung cộng. Nếu không thì dân Nam Hàn đã bị "giải phóng" ngoài ý muốn rồi. Họ có cơ đã phải phải độn, thậm chí là ăn cỏ hay vỏ cây, để sống sót như dân Bắc Hàn.

    Dù vậy các lãnh tụ của một Bắc Hàn nghèo đói hiện nay vẫn còn tiếp tục hò hét và đe dọa sẽ "giải phóng miền Nam, thống nhất đất nuớc".

    Một bài học cho những ai chưa mở mắt!

    Phản hồi: 

    Hiệp định Geneve là cần thiết. Nó cần thiết để tách bạch giữa thế giới man rợ cộng sản và tự do. Nó cần thiết để phân nửa VN được sống trong tự do (hay tương đối tự do) một thời gian và để chứng minh VN có khả năng phát triển như bất cứ nước nào trong vùng.

    Đáng lý ra VN không nên thống nhất. Thống nhất làm gì khi kẻ man rợ ngoài Bắc bỏ tù hàng trăm ngàn người trong các trại cải tạo và cướp chỗ làm? Thống nhất làm gì khi hàng trăm ngàn người phải liều mạng vượt biển bỏ quê hương? Thống nhất làm gì khi những kẻ man rợ ngoài Bắc vào Nam cướp nhà, cướp của của người miền Nam tạo dựng lên? Thống nhất làm gì để miền Nam phải è cổ ra nuôi thêm vài chục triệu người chẳng làm gì cả? Thống nhất làm gì khi cả miền Nam phải đi thụt lùi cả 30 năm so với các nước trong vùng? Tôi nghĩ không nên thống nhất đất nước. Miền Bắc cứ để cho họ theo con đường XHCN. Miền Nam cứ để cho họ sống với Mỹ Nguỵ.

    Phản hồi: 

    Thử hỏi ông Ngô Vương Anh :

    1) "Thắng lợi" gì mà Việt Nam phải chịu cái nhục bị chia đôi như nước Đức bại trận, như Cao Ly thuộc địa của Nhật sau khi phải đầu hàng ? Ai thắng lợi nếu không phải là Tàu cộng, nhờ Geneve được ngồi cùng bàn với 3 cường quốc và bắt cả miền Bắc phải phụ thuộc mình ?

    2)"Tinh thần độc lập tự chủ" chỗ nào để với 4 triệu đồng bào bị chết, 3 triệu người phải bỏ nước ra đi, 21 năm sau, mất đất mất biẻn, cả nước bị "đồng chí đồng minh" "lạ" ngự trị không biết bao giờ mới thoát khỏi gông cùm ? Nếu có chút tinh thần tự chủ thì đã không xâm chiếm miền Nam cho Tàu cộng và miền Nam đã trở thành một Nam Hàn hùng mạnh, Việt Nam bây giờ đã thống nhất trong hòa bình và thịnh vượng.

    Một dư luận viên tồi tệ nhất cũng không thể viết một bài phản tuyên truyền như tác giả bài này.