Tạp chí Phía Trước - Đừng hỏi bao giờ Việt Nam có tác phẩm đỉnh cao

  • Bởi Hermes
    19/07/2014
    2 phản hồi

    Văn học Việt Nam ta trong khoảng 20 năm trở lại đây được đánh giá là bị bão hòa, tức là không có sự kiện văn học hay tác phẩm nào nổi bật. Và nhiều rất nhiều người cứ tỏ ra trăn trở: Bao giờ Việt Nam mới có tác phẩm đỉnh cao? Câu hỏi đó có vẻ đầy thổn thức, bối rối nhưng nhiều khi xét kĩ lại, tôi thấy tốt nhất là đừng hỏi như thế. Bởi cái hệ lụy trước hết của câu hỏi ấy là anh hầu như phủ nhận toàn bộ đời sống văn học hiện thời. Trước tiên anh hãy tự hỏi mình đã đọc được bao nhiêu và theo anh thế nào là một tác phẩm văn học đỉnh cao!

    Cái “tầm” đó là “tầm” gì?

    Có nhiều nguyên do để quyết định thành tựu đỉnh cao của một nền văn học ngoài yếu tố chủ quan thuộc về cá nhân người sáng tác. Có người đổi thừa cơ chế quản lí, người khác lại nói chung chung là do tầm vóc của thời đại nhưng theo tôi cái quyết định tối cao là nội sinh của nền văn hóa nước đó.

    Đôi khi chúng ta đã quá phóng đại tầm vóc của văn chương để rồi xem nó như một cái gì ghê gớm lắm với những sáo ngữ đại loại như người thư kí trung thành với thời đại, phản ánh hùng hồn hiện thực đời sống. Điều đó cũng tốt nếu những ngữ ấy được dùng với hàm nghĩa tôn trọng vai trò của văn chương (ý nghĩ đầy cảm hứng đó nhiều khi nhầm lẫn văn chương với lịch sử hay báo chí truyền thông thì chỉ tổ làm điếm nhục nó, xem nó như một thứ nô lệ làm công cụ, làm chức năng xyz). Nhưng xét cho cùng, phải nhìn cho kĩ, nghiêm khắc, cho đúng với sự thật bất biến của nó mấy ngàn năm nay kể từ khi nhân loại có khái niệm này: văn chương cũng chỉ là một bộ phận trong toàn bộ chỉnh thể đời sống văn hóa (mà nói theo kiểu Marx thì đó là bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng). Văn chương muốn được đánh giá khách quan nhất phải nhìn nó xuyên qua bức màng văn hóa. Tách văn chương ra khỏi điều ấy thì nó sẽ chẳng là gì cả.

    Cái tầm của một nền văn học không thuộc về nhân tố thời đại hay cơ chế, đó chỉ là tác nhân phụ kiềm hãm hay thôi thúc văn chương mà thôi. Có người cho rằng thời đại của Việt Nam hôm nay quá tốt đẹp vậy tại sao văn chương lại không có tác phẩm xứng tầm. Tôi chỉ muốn hỏi thế này, xin lỗi anh, thời đại này là thời đại gì mà bắt văn chương xứng tầm? Cái thời 1954–1975 lịch sử dữ dội như thế nhưng có tìm ra được tác phẩm phổ quát nhân loại hay chỉ toàn là loại văn học chức năng gióng trống thổi kèn. Tôi không dám phủ nhận hết thành tựu của giai đoạn này, và tôi thừa nhận nó có nhiều tác phẩm gây rung động hàng triệu trái tim bạn đọc (chủ yếu là thơ ca) nhưng tìm thấy tác phẩm đỉnh cao thì không (tiểu thuyết).

    Cái “tầm” đó là “tầm” gì? Tại sao cái thời trước 1945, nước ta ngập chìm trong nô lệ, lí tưởng bị cho là mù mờ mà văn chương và các ngành nghệ thuật khác lại có những đỉnh cao thành tựu rực rỡ đến như vậy? Cái thời đại mà nhiều nhà “triết nhân, vĩ nhân lỗi lạc ở tỉnh lẻ nước ta” vẫn nguyền rủa và quăng cho nó hết mọi tội lỗi lại chấp cánh cho những kì tài xuất chúng. Còn bây giờ thời đại làm chủ, thời đại tự do, của sự ngợi ca và tung hê bất chấp văn chương lại bị cho là yếu kém. Tất cả đều do cách nghĩ đầy phân biệt, định kiến của ta giới hạn mà thôi. Tại sao Cao Hành Kiện viết được Linh Sơn trong một thời đại mà Trung Cộng vô cùng cực đoan hà khắc, “cưỡng bức” tinh thần của nhà văn một cách thô thiển. Cơ chế càng chặt thì sức phản kháng và nội lực vùng dậy để tạo sức bật cho văn chương càng tiến xa hơn đấy thôi. Cơ chế có thể đe nẹt những nhà văn yếu tầm, thích sự bình yên chứ không “dìm” chết được những thiên tài đích thực. Và cũng chính trong cơ chế nước ta một thời vẫn xuất hiện được một Nguyễn Huy Thiệp với tiếng nói đầy mạnh mẽ, dứt khoát, như thách thức như chòng ghẹo lại cơ chế ấy mà thôi (rồi còn Phạm Thị Hoài hay Dương Thu Hương nữa). Cơ chế ấy có thể trù giập, phỉ báng Cao Hành Kiện, Nguyễn Huy Thiệp và phủ nhận sáng tác của hai ông nhưng cái quan trọng là những tác phẩm của hai ông đã ra đời chính trong cơ chế đó như một sự phản kháng, một kiểu kháng sinh và nó dần được thừa nhận. Tóm lại, đừng đem cơ chế ra, dù là hướng tích cực hay tiêu cực để quy chụp mọi thành tựu hoặc thất bại của một nền văn học.

    Cần ‘thoát khỏi các công thức chung chung’

    Tôi đã đọc bài viết “Tại sao Việt Nam chưa có tác phẩm đỉnh cao?” của tác giả T.T.T trên VNN và cảm thấy cần phản biện. Khi người viết đưa ra hai dẫn chứng về hai văn tài là L. Toltoi và Mạc Ngôn và phân tích những yếu tố làm nên tài năng của họ tôi thấy có vẻ quá lí thuyết. L. Toltoi là một nhà văn quý tộc, sinh ra trong một giai đoạn bạo liệt và có những nỗ lực tự thân; Mạc Ngôn từng kinh qua cách mạng văn hóa đầy biến động, có những trải nghiệm trong môi trường quân đội… Những yếu tố ngoại cảnh đó chỉ thuộc về một trường hợp ví dụ sao có thể đem nó làm chuẩn mực để đi khái quát những vấn đề liên quan đến đời sống văn học. Chung quy lại vẫn là không thoát khỏi cái công thức chung chung nhà văn – cuộc sống – tác phẩm. Có một nhân tố tác giả quên phân tích mà theo tôi nó sẽ làm cho nhận định đó trở nên chặt chẽ hơn: hai người đó sinh ra trên hai đất nước có nền văn hóa vĩ đại, lộng lẫy (kể cả điên cuồng bật nhất) và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới. (Dĩ nhiên chúng ta không thể làm phép suy luận ngược lại ai sinh ra trên một đất nước có nền văn hóa vĩ đại thì đều thành những L. Toltoi những Mạc Ngôn).

    Tôi biết khi nói điều này có vẻ đánh mất đi lòng tự trọng dân tộc, lẽ nào lại cho rằng nền văn hóa nước ta không đủ tầm. Nhưng tôi thà nhận xét sắc lạnh như vậy để nhìn thẳng vào sự thật còn hơn lúc nào cũng mang tinh thần AQ quá ảo tưởng về mình. Chúng ta yêu tha thiết nền văn hóa nước nhà và trân trọng thành quả của cha ông nhưng cũng không thể nào đem nó sánh nổi với những nền văn hóa lớn, có tính khai phá và bứt phá như Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Nga…Mà một trong những nhân tố làm nên hào quang của nền văn hóa chính là nền tảng triết mĩ của dân tộc đó.

    Khí chất của dân tộc ta xưa nay đã được các học giả uyên bác như Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim khái quát: chúng ta tinh nhạy tiếp nhận, tiếp biến cái mới rất khéo nhưng hạn chế về tầm sáng tạo. Chúng ta giỏi bắt chước hơn sáng tạo. Nhìn kĩ lại hệ thống triết học của ta phần lớn là tiếp thu từ Trung Quốc và Liên Xô, Pháp chứ chưa có một tư tưởng hệ nào do mình khai phá. Từ triết học Nho – Phật – Lão đến chủ nghĩa Marx – Lenin…tất cả đều dựa trên nền tảng du nhập mà tiếp biến cho phù hợp với văn hóa nước nhà. Đó là chưa nói dân tộc ta hầu như bỏ qua tinh thần triết học hiện đại của các nước phương Tây và nhìn nó với cái nhìn kì thị như triết học hiện sinh, Nietzsche, triết học phi lí hay phân tâm học của Freud… Nói chung một phần do dân tộc ta nằm ở giao lộ văn hóa chịu ảnh hưởng nhiều luồng tư tưởng, nhưng nhìn ở góc độ nội sinh, văn hóa ta không có truyền thống triết học căn cơ mà chủ yếu là chịu ảnh hưởng từ các nền văn hóa lớn. Những thần tượng mà ta tôn sùng như Khổng Mạnh, Lão Trang, Marx Lenin…đều từ các nền văn hóa lớn khác.

    Do đó, dù bản thân tôi rất trân trọng văn hóa đẹp mà cha ông để lại và tự hiểu bản thân mình có học cả đời cũng không bao giờ biết hết nhưng tôi cũng đành thẳng thắn khẳng định nội lực văn hóa của nước ta khó lòng chấp cánh cho những thiên tài văn chương có tác phẩm đủ tầm phổ quát nhân loại. Thế nên, đừng nên cứ khư khư nhìn vào thành tựu các nước lớn rồi cứ chắc lưỡi hít hà hỏi mãi cái điệp khúc bao giờ nước ta có tác phẩm đỉnh cao. Nội sinh nền văn hóa nước ta chưa đủ tầm vươn tới nhưng đỉnh cao đó. Mà đó cũng là cục diện chung của rất nhiều nước ở châu Á. Cả một châu lục to lớn như thế đến nay chỉ vài người đạt tầm Nobel, và hiếm có nhà văn châu Á nào có tầm ảnh hưởng khắp thế giới như Tagore hay Cao Hành Kiện. Kiệt tác Truyện Kiều mà ta ngợi ca mấy thế kỉ này trên thế giới thử hỏi mấy ai biết tới, và truy cho cùng gần như nó chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa. Bỏ qua hệ thống điển tích Trung Quốc thì toàn bộ ngôn ngữ Truyện Kiều đều bị mã hóa không thể hiểu nổi. Không cần phải so sánh với ai, tầm vóc gì, Truyện Kiều làm đẹp cho nền văn hóa nước nhà, kết tinh văn hóa dân tộc, thế là đủ rồi. Cần gì mơ cao, mơ tầm này tầm nọ.

    Tôi khẳng định điều này không phải hạ thấp nền văn hóa nước nhà mà chỉ mong (một cách thành tâm) đánh giá đúng giá trị của chính mình. Như vậy cũng đủ ta biết ơn cha ông và tự hào vì đã thông minh tiếp thu và tiếp biến một cách sáng tạo để có nền văn hóa đẹp ngàn đời nay. Và chỉ vậy thôi chứ đừng quá ảo tưởng xem Việt Nam là cái gì cũng nhất nhất muốn sánh tầm với các cường quốc mọi phương diện. Tôi vẫn bảo thủ quan niệm của mình, một dân tộc mà không có truyền thống căn cơ triết học (như Trung Quốc, Ấn Độ, Đức, Pháp, Nga…) thì khó mà có một nền văn học rực rỡ đẳng cấp nhân loại được. Trường hợp Mỹ và Nhật thì là hai ngoại lệ, họ có tinh thần đổi mới và rộng mở, sáng tạo một cách kiệt xuất kì tích nên dù trong quá khứ nền văn hóa nước họ không lộng lẫy như các nước kể trên nhưng họ đã kịp bứt phá tạo ra văn hóa hiện đại mà các nước khác khó theo kịp.

    Bởi vậy, nên chăng chúng ta nhìn văn học từ góc độ văn hóa để biết chấp nhận nhìn ra đâu là giới hạn của nó. Đâu cần phải là một tác phẩm đỉnh cao mới thỏa lòng bao nhiêu thế hệ bạn đọc. Đời sống văn học vốn phong phú đa dạng, đáp ứng nhiều nhu cầu…Văn chương có thể không đình đám kiểu như Chiến tranh và hòa bình, Linh Sơn… nhưng nó đạt giá trị nhân văn, làm đẹp tâm hồn con người, giúp họ giải trí lành mạnh và làm phong phú, sổi nổi cho đời sống văn học nước nhà thì hãy coi đó là phúc đức. Không nên cứ lên gân gào thét mãi: Bao giờ Việt Nam có tác phẩm đỉnh cao, bao giờ Việt Nam có tác phẩm xứng tầm… kiểu như đào đến tầng sâu hiện thực, phản ánh sâu sắc hiện thực đời sống, nói lên tiếng lòng của triệu người, vượt qua mọi bờ cõi và giới hạn…thì xin trả lời một cách nhẫn tâm rằng: chẳng bao giờ có ngày đó.

    Bởi thế, một nhà văn có tầm luôn tự ý thức ngoài việc tiếp thu nền văn hóa đẹp của cha ông còn phải không ngừng tiếp cận, đào sâu, thẩm thấu nền tảng triết mĩ của các nền văn hóa khác thì mới mong vươn tới cái tầm nào đó. Hãy nhìn Linh Sơn của Cao Hành Kiện mà xem, nó là tổ hợp của tinh thần triết học Phật, Nho, Lão, tinh thần siêu nhân, triết học hiện sinh, phi lý, hư vô… Còn ta cứ mãi gậm nhấm vài ba bài học luân lí cũ rích về tình yêu vụn vặt, tình yêu làng quê, đất nước, tình yêu chế độ, yêu vốn văn hóa truyền thống thì mãi mãi văn chương không vượt nổi lũy tre làng.

    Phát triển tự nhiên

    Có một hạn chế mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều mắc phải đó là ta hay sùng bái những giá trị truyền thống một cách mù quáng mà đôi khi không nhận ra sức ì của nó. Chỉ có tinh thần của Nietzsche mới đủ sức giúp ta có tư duy vượt thời gian, vượt qua ranh giới quốc gia, dân tộc để vươn lên tầm phổ quát nhân loại. Điều này Nguyễn Tuân đã từng mơ màng chạm tới và bị người ta đánh tơi bời tan nát. Và đến lượt Thiệp ông đã đẩy lên đến mức độ “hổn láo” nên mới dám khẳng định Nguyễn Du là người con của sự cưỡng bức hai nền văn hóa, và ông cũng chịu nhận sự trù giập tương tự. Yêu trọng văn hóa cha ông là một lẽ nhưng cũng phải tự trọng, nghiêm túc nhìn ra giới hạn để mà bứt phá đến những giá trị tiến bộ, đạt tính toàn cầu. Chừng nào làm được điều đó, nền văn hóa nước này vượt qua mặc cảm tự ti và sự tự tôn đầy cảm hứng thì hãy mơ đến nền văn chương đỉnh cao. Xin đừng nhai mãi cái tuyên ngôn hòa nhập chứ không hòa tan nữa. Luận điệu chính trị đó sẽ giết chết những giá trị tiến bộ của văn hóa. Hãy nhìn Nhật mà xem, nhắc đến Nhật hôm nay không phải chỉ là hoa anh đào, kiếm đạo, kimono, nữ thần mặt trời nữa mà còn là Manga, là cái chết đẹp, là ẩm thực sushi… Tất cả đều trở thành văn hóa toàn cầu tạo ra lợi nhuận kinh tế.

    Còn với tôi, tôi trân trọng với những gì mà các nhà văn hôm nay cống hiến cho cuộc sống. Khi cần giải trí lành mạnh, trong sáng nhẹ nhàng và giàu tính nhân văn tôi sẽ đọc Nguyễn Nhật Ánh; khi tôi muốn cảm nghiệm chút cảm giác ghê gợn, hồi hợp tôi đọc Dili; có khi cần trải nghiệm nhân sinh sâu sắc tồi tim đọc Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà… Và còn vô số những nhà văn, những tác phẩm thú vị mà mình chưa đọc hết. Có thể đối với văn đàn thế giới họ chẳng là ai cả, nhưng họ đang đem đến cho người đọc những món ăn tinh thần rất nhân văn. Vậy thì còn đòi hỏi gì nữa. Đọc đi để thấy đời sống văn học đã có dòng thác chuyển động của riêng nó đầy thú vị và vẫn có độc giả cho riêng nó ở mỗi thể loại. Tại sao cứ cực đoan ngồi đấy phủ nhận hết rồi mơ đến một chân trời không tưởng mà không hiểu rằng, cần gì phải lên gân như vậy. Miễn sao những tác phẩm ấy ra đời, làm phong phú đời sống văn học, đáp ứng đa dạng nhu cầu người đọc, tạo dư luận là phúc đức ngàn đời cha ông để lại rồi. Tôi không hiểu tác phẩm đỉnh cao là gì và tại sao cứ gào thét mãi điệp khúc ấy? Cứ để văn học tự nhiên phát triển theo đúng quy luật và khả năng của nó (do nền văn hóa quy định).

    Chúng ta nên học hỏi Trung Quốc, từ sau cải cách đến nay, họ đã thật sự tạo ra một đời sống văn học trăm hoa đua nở với đầy đủ các dòng phái, thể loại, thượng vàng hạ cám đều có nhưng chắc chắn khi sàng lọc sẽ có lắm tinh hoa. Ngoài dòng tiểu thuyết chính thống kiểu Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Vương Mông, Lý Nhuệ,… họ còn có dòng văn học nữ quyền (Vệ Tuệ, Trì Lợi), dòng văn học trinh thám kinh dị, văn học giả tưởng, tiểu thuyết diễm tình, truyện chưởng, tiên hiệp, kiếm hiệp… Họ khác Việt Nam ta ở chỗ đặt tản văn, bút kí ngang hàng với tiểu thuyết, kịch. Chính sự rộng mở đó sẽ tạo sự hồi sinh và động lực để văn hóa, văn học bùng nổ. Chúng ta nên tôn trọng và kiên nhẫn đọc đa dạng chứ không phải ngồi mơ mãi về quá khứ bao giờ mới có tác phẩm sánh với sáng tác của Nam Cao hay các tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma… Đó là do ta cực đoan mà thôi, nhìn ở góc độ thi pháp, các nhà văn hôm nay đã vượt rất xa cái bóng của những tiền bối rồi và văn học đang hội nhập, thay da đổi thịt từng ngày. Việc gì cứ sùng bái mãi những tượng đài trong quá khứ mà cho rằng bao giờ tìm được tác phẩm sánh ngang với nó.

    Tóm lại, quan điểm của tôi là không cực đoan cầu toàn đặt ra bất kì tiêu chí, chuẩn mực nào cho văn học. Cứ để nó tự nhiên phát triển, đến một lúc nào đó sàng lọc lại, tinh hoa sẽ lấp lánh trong rừng văn bề bộn đó. Hãy kiên nhẫn đọc và chấp nhận chứ đừng ảo tưởng mà hỏi hoài hỏi mãi: Bao giờ Việt Nam có tác phẩm xứng tầm? – Một câu hỏi tưởng đâu nhức nhối nhưng thật ra ngây ngô, vô tâm và vô duyên hết sức. Tôi biết trong cách lập luận của mình và giọng điệu có phần trịch thượng, non kém nhưng mong mọi người nhìn nó với tinh thần đối thoại và chấp nhận chút gì thành tâm của tôi. Tôi luôn hiểu rằng cái mình biết còn nhiều giới hạn.


    © TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2012

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Phản hồi: 

    Chẳng hiểu từ "cơ chế" ở đoạn #5 trong bài này có nghĩa gì?
    Bài viết có vẻ lượm thượm mà chẳng nêu lên được ý niệm hay luận điểm gì đáng kể cả, chỉ quanh quẩn nhắc đi nhắc lại là chúng ta chớ tự hỏi chừng nào thì Việt Nam mới có những đại tác phẩm (trong bài gọi là "tác phẩm xứng tầm"). Theo tác giả bài viết, hỏi như thế "là anh hầu như phủ nhận toàn bộ đời sống văn học hiện thời."

    Hỏi thì cứ hỏi, so what? Tại sao hỏi câu đó lại là phủ nhận tất cả những gì đang hiện hành trong lãnh vực văn học hiện giờ?
    Người ta vẫn hỏi "chừng nào mới có một Einstein hay Newton nữa xuất hiện?", nhưng chuyện ấy không có nghĩa là người ta phủ nhận hay chê bai tất cả những công trình và phát hiện về vật lý đương thời. Người ta có thể đang đi lên dốc, nhưng vẫn có thể hỏi "chừng nào thì tới đỉnh cao?", chứ hỏi câu đó không có nghĩa là mình tự thú nhận đang đi xuống dốc. (Dĩ nhiên, cái "dốc" ở đây là một thí dụ, chứ tôi không muốn nói là nền văn học dưới chế độ Việt cộng đang đi lên dốc).

    Phản hồi: 

    Tác giả này viết hai câu khởi đầu và kết thúc của một đoạn/paragraph mà đã đá nhau chan chát- phủ nhận nhau thế này:

    "Cái “tầm” đó là “tầm” gì? Tại sao cái thời trước 1945, nước ta ngập chìm trong nô lệ, lí tưởng bị cho là mù mờ mà văn chương và các ngành nghệ thuật khác lại có những đỉnh cao thành tựu rực rỡ đến như vậy? Và.... Tóm lại, đừng đem cơ chế ra, dù là hướng tích cực hay tiêu cực để quy chụp mọi thành tựu hoặc thất bại của một nền văn học."

    thì không biết tác giả muốn và có thể đưa ra kết luận gì?

    Muốn có tác phẩm đỉnh cao, trong bất kể thể loại nghệ thuật nào - dù văn học hay hội họa, âm nhạc... - đều phải có những tác giả đỉnh cao. Tác giả phụ thuộc vào cơ chế, tức thể chế chính trị.

    Trong cơ chế của CSVN từ 1945 thì làm gì có được những tác giả đúng nghĩa, chứ chưa nói tác giả đỉnh cao, vì họ đâu có tự do sáng tác, tự do trải nghiệm và thể hiện nghệ thuật của mình, họ chỉ được phép nói theo ý đảng, sống và sáng tác sao cho có "tính" đảng. Đấy là chưa kể họ bị o ép muôn mặt và phải sống trong cái đói khát, nghèo túng, hèn kém...và thường phải vật lộn để tồn tại an toàn sinh học cũng đã gần hết năng lượng sống thoi thóp rồi, thì sáng tác làm sao?

    Hôm nay, ừ thì họ không đói nữa đi, nhưng họ vẫn đâu có quyền làm người, mà các nghệ sĩ lại rất nhạy cảm với điều đó, và nguy hiểm hơn nữa là họ cũng dễ quen với điều đó - với sự mất hết các quyền làm người cơ bản đó suốt mấy thế hệ rồi, nên họ cũng mất hết khả năng sáng tạo của con người đúng nghĩa rồi, và họ cũng không ý thức được điều đó, thì làm sao mà đòi hỏi các tác phẩm đỉnh cao được?

    Thế cho nên, chỉ bao giờ người VN được sống với đầy đủ quyền làm người cơ bản (tức ít nhất là không còn chế độ CS này nữa) thì may ra mới bắt đầu nên kỳ vọng những tác phầm đỉnh cao, trong bất cứ môn nghệ thuật nào, tức là pải một vài thế hệ sau nữa, không thể sớm hơn.

    PCT