Luật sư Lê Công Định - Nguồn gốc và vai trò của luật pháp

  • Bởi Admin
    20/07/2014
    11 phản hồi

    Luật sư Lê Công Định

    Người La-Mã (Roma) cổ đại đã đưa ra quan niệm về nguồn gốc của luật pháp trong một tục dao Latin danh tiếng còn lưu truyền: “ubi societas, ibi jus” (tức là “ở đâu có xã hội, ở đấy có luật pháp”). Theo quan niệm này, bất cứ lúc nào và ở đâu con người sống tập quần, luật pháp sẽ hiện hữu để chi phối các mối tương quan giữa họ với nhau và với cộng đồng. Cộng đồng ấy có thể là nhóm, tộc, họ, làng, đô thị, v.v… hoặc quốc gia, tức một xã hội nói chung. Xã hội loài người luôn có tổ chức, dù sơ khai như thời tiền sử hay văn minh như thời cận và hiện đại, dù có hay không một nhà nước theo khái niệm thông thường mà chúng ta biết.

    Luật pháp gồm những quy tắc có thể bất thành văn dưới dạng tục lệ, tập quán hay lẽ công bằng, hoặc có thể thành văn dưới dạng chỉ dụ của vua, phán quyết của tòa án hay đạo luật của quốc hội. Dù dưới hình thức nào, luật pháp do con người đặt ra, gọi là luật thực tại (droit positif), phải có nền tảng xuất phát từ và thuận theo lẽ trời đất, tức luật tự nhiên (droit naturel). Luật tự nhiên là các quy luật đương nhiên chi phối cuộc sống cá nhân và đời sống xã hội, mà từ khi hiện hữu con người đã phải chấp nhận và tuân hành. Chẳng hạn, chế độ thai sản chỉ dành cho phụ nữ, nghĩa vụ quân dịch chỉ áp dụng cho đàn ông, quyền con người mang tính phổ quát đối với mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, văn hóa, tuổi tác, v.v… .

    Quan niệm của người La-Mã được chấp nhận rộng rãi ngày nay trên thế giới, nhất là tại các nước phương Tây và những nước chịu ảnh hưởng của nền văn minh đó. Chủ nghĩa Marx-Lenin, trái lại, đưa ra một quan niệm khác hẳn, theo đó luật pháp chỉ xuất hiện trong một xã hội có giai cấp, bởi nó là sản phẩm của một nhà nước do giai cấp thống trị thiết lập và duy trì. Dựa vào phương pháp biện chứng, Marx luôn chia xã hội thành hai giai cấp thống trị và bị trị trong mối quan hệ đối kháng, mà nhà nước và luật pháp là công cụ của giai cấp thống trị dùng để trấn áp giai cấp bị trị. Như vậy, nguồn gốc và vai trò của luật pháp được Marx nhìn trong nghĩa hẹp, bởi nếu không có một nhà nước theo khái niệm thông thường thì không có luật pháp. Do đó, xã hội nguyên thủy (mà Marx gọi là xã hội Cộng sản Nguyên thủy) và các cộng đồng dân cư bình thường dù có tục lệ, tập quán hay lẽ công bằng vẫn không có luật pháp.

    Từ luận điểm của Marx như vậy, Lenin vẽ ra một xã hội chuyển tiếp (hay quá độ) từ tư bản chủ nghĩa đến cộng sản chủ nghĩa, mệnh danh “xã hội chủ nghĩa”, trong đó nhà nước và luật pháp vẫn hiện hữu. Tuy nhiên, Lenin vấp phải một nan đề đó là, nếu thừa nhận còn tồn tại nhà nước và luật pháp, tức là mặc nhiên thừa nhận có sự đối kháng giữa hai giai cấp thống trị và bị trị như Marx nói, mà xã hội chủ nghĩa trong trí tưởng tượng của Lenin không thể có sự đối lập như vậy. Vì thế, để thoát khỏi sự lúng túng trong lý luận chấp vá của mình, Lenin gọi nhà nước xã hội chủ nghĩa là “nhà nước một nửa”, tức là một nhà nước không hẳn là nhà nước, bởi nó không phải của giai cấp thống trị mà của “nhân dân lao động”, nó vẫn có luật pháp và các công cụ bạo lực, nhưng không trấn áp giai cấp bị trị, mà chỉ dùng để thực hiện sự chuyên chế đối với “kẻ thù của nhân dân” mà thôi. Ngày nay, thuật ngữ “kẻ thù của nhân dân” được các nhà lý luận nô bộc đổi lại thành “các thế lực thù địch”!

    Tiếc thay, thực tiễn tại các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa từ 1917 đến nay đã bác bỏ học thuyết gượng ép của Lenin, bởi lẽ các nhà nước xã hội chủ nghĩa vẫn sử dụng luật pháp và các công cụ bạo lực khác để đàn áp tầng lớp bị trị chính là nhân dân lao động. Khi nền tảng triết học đã sai lầm, thì mô hình đó tất nhiên phải sụp đổ. Đó chính là quy luật phát triển tự nhiên của mọi xã hội.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    11 phản hồi

    Cám ơn chị Ngự đã quan tâm. Hoàn cảnh của tôi chưa cho phép nói hết ý của mình được mà chỉ muốn nêu ra hiện tượng để nhiều người suy nghĩ, chiêm nghiệm thôi. Điều chị góp ý, xin được ghi nhận. Tôi còn trẻ (dưới 40), phải lo cho gia đình trước và cũng không phải dân chuyên nghiên cứu, thành ra tuy rất muốn nhưng không biết có thực hiện được ý tưởng của chị không.

    thanhtra viết:
    Luật sư Lê Công Định từ một Đông-Ki-Sốt, một mình đấu với cối xay gió, sau khi được đi cải tạo về lại khiêm tốn làm anh giáo làng dạy ABC pháp luật cho công chúng. Bởi giờ đây, LCĐ mới thấy rằng mình không thể sống thực sự bằng nghề luật sư trên chính đất nước của mình. Thực tế đã cho thấy, hầu hết những lời bào chữa, lý lẽ của LCĐ đưa ra bảo vệ cho thân chủ như Nguyễn Văn Hải, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài,...thậm chí là chính mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng ở VN đều như nước đổ đầu vịt, không có chút giá trị nào. LCĐ từng nghĩ mình được đào tạo bài bản, kiến thức pháp luật trên cơ rất nhiều so với những cử nhân được đạo tạo trong nước, thậm chí tại chức, chuyên tu, lái xe, tạp vụ đôn lên thành thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên,...Nhưng LCĐ không am hiểu (không muốn biết, không được biết hoặc biết mà cố tình không theo) về luật đời vốn rất phức tạp, lắt léo ở VN và kết quả như mọi người đã thấy.

    Tôi có quen nhiều người trong giới luật gia, luật sư, trợ giúp viên pháp lý, qua quan sát thấy rằng: ở VN, LG,LS, TGVPL nào hay lý lẽ, thích tranh luận về pháp luật trước cơ quan Nhà nước nói chung, cơ quan tố tụng nói riêng thì công việc của họ thường thất bại hoặc gặp nhiều khó khăn. Luật sư nào nói về pháp luật ít mà biết và xử sự theo luật đời thì thành công. Tôi không cần đưa ra dẫn chứng cụ thể cho nhận định trên của mình bởi bất kỳ người nào chỉ cần theo dõi thông tin trên đài, báo hoặc ngay ở đời thực đều thấy.

    Tôi thật chưa hiểu được ý của bạn thanhtra trong còm trên. Có phải ý của bạn là vì VN áp dụng luật rừng trong thực tế thì ta không nên bàn về pháp luật chính thống?

    Trích dẫn:
    Trong xã hội ở VN, luật đời có giá trị, được tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh hơn luật pháp, nhất là về chính trị. Nhưng chưa có nhà nghiên cứu nào tìm hiểu, nghiên cứu một cách thấu đáo. Tiếc thay!

    Bạn thanhtra có thể cho biết "luật đời" là luật gì và được chấp hành nghiêm chỉnh về chính trị như thế nào?

    Nếu bạn đã quan sát thấy nó được chấp hành nghiêm chỉnh thì chính bạn nên làm cuộc nghiên cứu đó để cung cấp thông tin giúp mội người hiểu biết hơn.

    PVĐ viết:
    Tôi đang học luật và đang tiếp cận các loại giáo trình về Nhà nước và pháp luật . Nhìn thấy tiêu đề "Nguồn gốc và vai trò của luật pháp" của Ls Lê Công Định cứ tưởng vớ được của quý, nhưng đọc xong thì rất ngại cho ai đó đem kiến thức này đi vảo vệ luận án hay phổ biến vào giáo trình giảng dạy . Có lẽ người Việt quá thông minh và tinh ranh nên nói ít mà hiểu nhiều .

    Bài của LS Lê Công Định chỉ là một status ở facebook. Có ai lại lấy thông tin từ facebook để cho vào giáo trình giảng dạy hay cho vào luận án thạc sĩ hay tiến sĩ, trừ phi người đó làm luân án về facebook, nên bạn PVĐ khỏi phải lo hộ.

    Nếu bạn PVĐ chưa đồng ý về thông tin nào trong bài của LS Định thì cứ nêu lên để rộng đường dư luận.

    Tôi đang học luật và đang tiếp cận các loại giáo trình về Nhà nước và pháp luật . Nhìn thấy tiêu đề "Nguồn gốc và vai trò của luật pháp" của Ls Lê Công Định cứ tưởng vớ được của quý, nhưng đọc xong thì rất ngại cho ai đó đem kiến thức này đi vảo vệ luận án hay phổ biến vào giáo trình giảng dạy . Có lẽ người Việt quá thông minh và tinh ranh nên nói ít mà hiểu nhiều .

    Luật sư Lê Công Định từ một Đông-Ki-Sốt, một mình đấu với cối xay gió, sau khi được đi cải tạo về lại khiêm tốn làm anh giáo làng dạy ABC pháp luật cho công chúng. Bởi giờ đây, LCĐ mới thấy rằng mình không thể sống thực sự bằng nghề luật sư trên chính đất nước của mình. Thực tế đã cho thấy, hầu hết những lời bào chữa, lý lẽ của LCĐ đưa ra bảo vệ cho thân chủ như Nguyễn Văn Hải, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài,...thậm chí là chính mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng ở VN đều như nước đổ đầu vịt, không có chút giá trị nào. LCĐ từng nghĩ mình được đào tạo bài bản, kiến thức pháp luật trên cơ rất nhiều so với những cử nhân được đạo tạo trong nước, thậm chí tại chức, chuyên tu, lái xe, tạp vụ đôn lên thành thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên,...Nhưng LCĐ không am hiểu (không muốn biết, không được biết hoặc biết mà cố tình không theo) về luật đời vốn rất phức tạp, lắt léo ở VN và kết quả như mọi người đã thấy.

    Tôi có quen nhiều người trong giới luật gia, luật sư, trợ giúp viên pháp lý, qua quan sát thấy rằng: ở VN, LG,LS, TGVPL nào hay lý lẽ, thích tranh luận về pháp luật trước cơ quan Nhà nước nói chung, cơ quan tố tụng nói riêng thì công việc của họ thường thất bại hoặc gặp nhiều khó khăn. Luật sư nào nói về pháp luật ít mà biết và xử sự theo luật đời thì thành công. Tôi không cần đưa ra dẫn chứng cụ thể cho nhận định trên của mình bởi bất kỳ người nào chỉ cần theo dõi thông tin trên đài, báo hoặc ngay ở đời thực đều thấy.

    Trong xã hội ở VN, luật đời có giá trị, được tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh hơn luật pháp, nhất là về chính trị. Nhưng chưa có nhà nghiên cứu nào tìm hiểu, nghiên cứu một cách thấu đáo. Tiếc thay!

    thủy tiên viết:
    Lãng Du viết: "Tôi nghĩ nếu công dân thiếu ý thức về luật pháp thì xã hội rối loạn, khó có căn cứ để phát triển"..

    Đồng ý hoàn toàn. Cứ nhìn những nước tạo ra các nền văn minh thì tại các nước đó đều có những hệ thống pháp luật vững vàng. Ví dụ: Ai cập, Hi lạp, La mã, văn minh Persia (Ba tư), Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nhật.

    Hệ thống pháp lý XHCN chỉ tạo ra Cuba, Triều tiên, LX cũ, Trung quốc, VN,và Lèo. Sharia và hệ thống luật pháp các quốc gia theo Hồi giáo không chuẩn, chưa giải phóng sự tự do của con người và tôn trọng bình đẳng nên tụ hậu so với thế giới phương Tây.

    Liên xô mới có khá gì? Hãy nhìn Nga của Putin bây giờ thì biết ngay cái hệ quả của cái chủ nghĩa cộng sản và sản phẩm xấu xa và tàn bạo của nó.

    Cám ơn LS Lê Công Định đả viết và DL đã cho đăng những bài về kiến thức luật pháp để giúp gia tăng sự hiểu biết về luât pháp trong công động người Việt ở trong lẫn ngoài nước.

    Bài của LS Định nói về quan điểm cổ điển (classical theroy) căn cứ vào luât La Mã áp dụng ở các nước phương tây. Tuy nhiên, quan điểm luật tự nhiên (natural law) chỉ phổ biến trước thế kỷ 19. Kể từ thế kỷ 19, do sự thay đổi trong đời sống của con người, nhiều quan điểm khác biệt về luật pháp đã xuất hiện để đóng góp vào sự đa đạng trong sự hiểu biết về nguồn gốc và vai trò của luật pháp.

    Trái với quan điểm về luật tự nhiên (natural law) thường gắn liền đạo đức với luật pháp (luật pháp hoá đạo đức), quan điểm pháp luật thực chứng (legal positivism) xuất hiện từ thế kỷ 19 cho rằng phải phân biệt hai lãnh vực luật pháp và đạo đức. Quan điểm này coi luạt pháp là phương tiện giúp xã hội vận hành có hiêu quả (functionalism).

    Theo Montesquieu, luật pháp là một bộ phận không thể tách rời trong đời sống văn hoá của xã hội; luật pháp phản ảnh tập tục (customs), hoàn cảnh (circumstance) và môi trường (environment). Theo quan điểm này, luật pháp ra đời để đáp ứng nhu cầu của đời sống. Thí dụ, về chế độ nghỉ hộ sản thì luật tự nhiên cho là để đáp ứng "thiên chức" sinh con và làm mẹ. Nhưng ngày nay chế độ nghỉ hộ sản ở các nước Âu châu và Canada không chỉ áp dụng cho phụ nữ mà cho cả . . . nam giới. Ở Canada, cha mẹ nói chung (parents) được thay phiên nhau nghỉ 12 tháng có ăn lương (đến mức 75% hay 65%) sau khi em bé ra đời. Theo quan điểm về luật pháp của Montesquieu, luật nghỉ hộ sản ở Canada phản ánh thực tế bình đẳng nam nữ hiện nay vì đàn ông dù không . . . đẻ, nhưng có cũng trách nhiệm nuôi con nên phải được nghỉ.

    Cũng trong quan điểm luật pháp thực chứng (legal positivism), Max Weber cho rằng luât pháp được xử dụng để hướng dẫn hành động của công chúng theo chiều hướng mong muốn bằng cách xử dụng phần thưởng để khuyến khích và hình phạt để ngăn ngừa. Thí dụ, chính quyền muốn dân chúng để dành một phần tiền trong lợi tức kiếm được để phát triểu đầu tư và để dành cho khi về hưu thì có luât miễn thuế cho số tiền để dành vào quỹ hưu bổng. Để ngăn ngừa tử vong hay thương tật do tai nạn xe hơi (gây thiêt hại cho xã hội) khi việc xử dụng xe hơi trở nên phổ biến thì có luật dùng seat-belt, ai không dùng sẽ bị phạt nặng như ở Hoa Kỳ.

    Cách đây hơn 40 năm, có sự xuất hiện và phát triển một số quan điểm về nguồn gốc và vai trò của luật pháp dựa trên lý thuyết về kinh tế chính trị học của Karl Marx gọi chung là lý thuyết xung đột (conflict thoeries) vì nó đối nghịch với quan điểm functionalism. Tôi cần nhấn mạnh là Marxist legal theories nói ở đây không phải là quan điểm Marxist Leninist mà LS Định đã trình bày trong bài viêt.

    Theo quan điểm Marxist, luât pháp có nguồn gốc từ hệ thống kinh tế (economic system) của mỗi xã hội và đươc dùng làm phương tiện để nắm giữ quyền lực của giới lãnh đạo (ruling class). Do đó quan điểm này cho rằng luật mang tính giai cấp (bảo vệ giai cấp).

    Các quan điểm Marxist về luật pháp đưọc chia làm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất (instrumental Marxist legal theory) coi luật pháp là công cụ để bảo vệ quyền lợi của giới lãnh đạo. Xét về thực tế, luật pháp ở VN phản ảnh quan niệm này. Các điều luật mơ hồ trong luật hình sự, như điều 79, điều 88, điều 258. v.v. là phương tiện để dập tắt những tiếng nói chỉ trích phê bình hay chống đối chính quyền với mục đích củng cố quyền lực của giới lãnh đạo.

    Các người thuộc môn phái conflicts còn cho rằng, tính giai cấp của luật pháp (ở nhiều quốc gia) có thể được thấy trong luât hình sự vốn thường trừng phạt các hành vi gây thiệt hại nhỏ của người nghèo (ăn cắp, ăn trôm, đánh lộn, lừa đảo văt) nhưng ít khi trừng phạt các hành vi gậy ra những thiệt hại lớn cho xã hội như tham ô, hối lộ của các viên chức cao cấp, việc gây tác hại cho mội trường của các nhà máy do vi phạm luật bảo vệ môi trường, hay hành vi gây hại cho sức khỏe của công nhân do các vi phạm về bảo hộ lao động.

    Thí dụ thứ hai về quan điểm cho rằng luật được dùng để bảo vệ quyền lợi của tấng lớp lãnh đạo là luật vagrancy ở nước Anh hồi thế kỷ thứ 17. Theo Williams Chambliss, khi bắt đầu phong trào kỹ nghệ hoá, nhiều người nghèo ở nông thôn bỏ quê lên thành phố tìm viêc trong các nhà máy gây thiếu hụt lao động ở nông thôn và khó khăn cho chủ canh nông (được coi là tầng lớp cai trị, ruling class). Những người lên thành phố trong khi chưa kiếm được việc phải sống lang thang ngoài đương (vagrancy). Để giúp chủ canh nông, nước Anh ra luật Vagrancy trừng phạt những người lang thang không có việc làm và bắt họ vào các workhouse để ngăn ngừa họ bỏ quê lên thành phố.

    Thí dụ thứ ba, hiện nay, luật thuế ở Hoa Kỳ cũng đuợc coi như bảo vệ quyền lợi của các công ty và chủ nhân tư bản (ruling class). Theo báo cáo của Institute on Taxation and Economy Policy ở Hoa Kỳ, 26 đại công ty, trong đó có Boeing, GE, Verizon thu được 170 tỷ đô la lợi nhuận trong vòng 5 năm nhưng không phải đóng một đồng xu tiền thuế nào do các chế độ miển giảm (tax breaks hay deductions) http://www.itep.org/itep_reports/2014/02/the-sorry-state-of-corporate-taxes.php?gclid=CjwKEAjw0a2eBRDVrabv9vWJ90USJACsKRDHQwd81WT7ZtwHITc53prztXnY9bhhGOx1O_tqIqEqqBoCeoDw_wcB#.U8wa70BAISk

    Nhóm thứ hai có quan điểm hơi khác về vai trò của luật pháp trong chế độ tư bản: luật là phương tiện để bảo vệ chế độ tư bản, chứ không phải giới lãnh đạo. Thí dụ, luật chống tội ăn cắp đươc ra đời khi thương mại được phát triển (và ăn cắp gia tăng) vào thế kỷ 16 được cho là để bảo vệ cho việc buôn bán được thuận lợi và phát triển. Hiện nay, luật anti-trust ở Hoa Kỳ chống lại nạn độc quyền và cạnh tranh bất chính và luật insider-trading chống lại việc mua bán trái phép chứng khoán cổ phần cũng được cho là để bảo vệ chế độ tư bản vì các hành vi kể trên ngăn cản sự vận hành và có thể làm sụp đổ nền kinh tê ở Hoa Kỳ.

    Ở trên là sơ lược vài quan điểm khác nhau về nguồn gốc và vai trò của luật pháp. Các còm có tính cách xây dựng sẽ đóng góp vào việc mở rộng sự hiểu biết về luật pháp cho bạn đọc của DL.

    Khương Việt viết:

    Trước hết ,đây rõ ràng là một loại đầu đề cơ cấu (structured question), trong đó tổng quát sẽ có hai phần rõ rệt: NGUỒN GỐC của Luật Pháp, và VAI TRÒ của nó. Tiếc rằng tác giả, một luật sư, chỉ trình bày, hết sức sơ sài phần đầu, và hầu như không đề cập bao nhiêu phần thứ hai; tức phần vai trò của LP trong xã hội.

    Kế đến, không thể nói về nguồn gốc LP mà không xác định LP là gì,nhưng ở đây tác gỉa cũng đã không giới thiệu được những định nghĩa phổ biến nhất về LP của các tác giả tiêu biểu. Còn định nghĩa của chính tác gỉa thì lại quá mơ hồ, nếu không muốn nói là sai. Cho rằng: "Luật pháp gồm những quy tắc có thể bất thành văn dưới dạng tục lệ, tập quán hay lẽ công bằng, hoặc có thể thành văn dưới dạng chỉ dụ của vua, phán quyết của tòa án hay đạo luật của quốc hội. Viết như vậy, theo hiểu biết của một người không chuyên môn như tôi, e rằng không đúng. Lý do là vì giữa LP (law) và phong tục (mores), tập quán (folkway), điều cấm kị (taboo) hay sự công bằng (fairness)có những khác biệt rất xa. Khác biệt chính yếu nhất là mức độ chế tài (sanctions)hay trừng phạt dành cho các vi phạm; kế đến là khác biệt về mức độ phổ biến và các yếu tố cấu thành. Vì vậy gộp chung tất cả: phong tục, tập quán, hay sự công bằng vào trong phạm trù (category) của LP là không đúng, hiểu theo một quan điểm chặt chẻ về LP.

    Tác giả viết tiếp rằng: "Luật tự nhiên là các quy luật đương nhiên chi phối cuộc sống cá nhân và đời sống xã hội, mà từ khi hiện hữu con người đã phải chấp nhận và tuân hành. Viết vậy, nếu tôi hiểu không lầm thì tác gỉa có vẻ lẫn lộn giữa hai chữ TỰ NHIÊN (nature) và ĐƯƠNG NHIÊN (obviousness). Chưa kể một vấn đề là làm thế nào để xác định cho chính xác lúc nào dược xem là lúc con người hiện hữu, tính từ khi có homo sapiens hay từ khi có Neanderthal?

    Và như đã nêu ở trên, tác giả hầu như không viết gì về phần thứ hai của đề bài, phần VAI TRÒ của LP cả. Thay vào đó, tác giả, ở phần sau của bài viết, đột ngột nhảy vào phê bình quan điểm của Marx mà không hề có một sự chuyển tiếp văn mạch nào cho thuận cả.

    Viết từ cương vị của một luật sư, nhằm giới thiệu với công chúng những điểm căn bản của LP, là một chủ ý tốt. Tuy nhiên, theo thiển ý, để giúp độc giả, những người không chuyên, tiếp thu được, người viết cần tỏ ra tôn trọng những nguyên tắc căn bản của việc viết lách; đó là từ ngữ đơn giản, với dàn bài rõ ràng, và ý tứ mạch lạc (cohesiveness),gắn chặt với đầu đề. Về mặt này, thiện chí thôi, không đủ.

    Tôi đồng ý phần nào với những ý kiến của bạn Khương Việt về nội dung bài viết của LS Lê Công Định. Tuy nhiên, đây là một đề tài mới và khá bao la nên đòi hỏi một sự hoàn chỉnh thì hơi quá khắt khe. Hơn nữa, bài viết của LS Định đăng trên facebook có thể chỉ là sự trình bày một vài suy nghĩ về luật pháp chứ không phải là một bài biên khảo nhắm vào một nhóm độc giả nào nhất định. Nhưng tôi cho bài viết có giá trị ở chỗ nó kích thích được suy nghĩ, tạo ra phản biện và thảo luận để có nhiều tiếng nói đóng góp hơn (giống như bạn Khương Việt đoc xong là có ý kiến). Theo tôi, sự mở mang kiến thưc (khai dân trí?) sẽ hữu hiệu hơn khi mọi người cùng tích cực tham gia qua phản biện và thảo luận thay vì chỉ có một người trình bày và những người khác chỉ đọc một cách yên lặng.

    Các khái niệm về luật pháp chắc còn mới mẻ với nhiều bạn đọc, nhưng lâu dần thì mọi người sẽ làm quen với chúng. Nếu có chổ nào chưa hiểu rõ thì các bạn cứ nêu câu hỏi, ai biết sẽ đóng góp trả lời. Ở đây là chúng ta cùng giúp đỡ nhau mở mang kiến thức, người có chuyên môn thì giúp người không có chuyên môn cùng tìm hiểu chứ không hề có chuyện khoe kiến thức ở đây. Mà khoe để làm gì trên mạng ảo khi người ta chỉ biết nhau qua cái nick?

    Nhan đề của bài chủ là NGUỒN GỐC và VAI TRÒ CỦA LUẬT PHÁP, một đề tài rất rộng và nặng lý thuyết quá, nên bản thân tôi,là kẻ không chuyên, không dám lạm bàn xa hơn, chỉ xin nêu vài cảm nghĩ nhỏ nhặt của một độc giả trung bình quanh nội dung của bài mà thôi.

    Trước hết ,đây rõ ràng là một loại đầu đề cơ cấu (structured question), trong đó tổng quát sẽ có hai phần rõ rệt: NGUỒN GỐC của Luật Pháp, và VAI TRÒ của nó. Tiếc rằng tác giả, một luật sư, chỉ trình bày, hết sức sơ sài phần đầu, và hầu như không đề cập bao nhiêu phần thứ hai; tức phần vai trò của LP trong xã hội.

    Kế đến, không thể nói về nguồn gốc LP mà không xác định LP là gì,nhưng ở đây tác gỉa cũng đã không giới thiệu được những định nghĩa phổ biến nhất về LP của các tác giả tiêu biểu. Còn định nghĩa của chính tác gỉa thì lại quá mơ hồ, nếu không muốn nói là sai. Cho rằng: "Luật pháp gồm những quy tắc có thể bất thành văn dưới dạng tục lệ, tập quán hay lẽ công bằng, hoặc có thể thành văn dưới dạng chỉ dụ của vua, phán quyết của tòa án hay đạo luật của quốc hội. Viết như vậy, theo hiểu biết của một người không chuyên môn như tôi, e rằng không đúng. Lý do là vì giữa LP (law) và phong tục (mores), tập quán (folkway), điều cấm kị (taboo) hay sự công bằng (fairness)có những khác biệt rất xa. Khác biệt chính yếu nhất là mức độ chế tài (sanctions)hay trừng phạt dành cho các vi phạm; kế đến là khác biệt về mức độ phổ biến và các yếu tố cấu thành. Vì vậy gộp chung tất cả: phong tục, tập quán, hay sự công bằng vào trong phạm trù (category) của LP là không đúng, hiểu theo một quan điểm chặt chẻ về LP.

    Tác giả viết tiếp rằng: "Luật tự nhiên là các quy luật đương nhiên chi phối cuộc sống cá nhân và đời sống xã hội, mà từ khi hiện hữu con người đã phải chấp nhận và tuân hành. Viết vậy, nếu tôi hiểu không lầm thì tác gỉa có vẻ lẫn lộn giữa hai chữ TỰ NHIÊN (nature) và ĐƯƠNG NHIÊN (obviousness). Chưa kể một vấn đề là làm thế nào để xác định cho chính xác lúc nào dược xem là lúc con người hiện hữu, tính từ khi có homo sapiens hay từ khi có Neanderthal?

    Và như đã nêu ở trên, tác giả hầu như không viết gì về phần thứ hai của đề bài, phần VAI TRÒ của LP cả. Thay vào đó, tác giả, ở phần sau của bài viết, đột ngột nhảy vào phê bình quan điểm của Marx mà không hề có một sự chuyển tiếp văn mạch nào cho thuận cả.

    Viết từ cương vị của một luật sư, nhằm giới thiệu với công chúng những điểm căn bản của LP, là một chủ ý tốt. Tuy nhiên, theo thiển ý, để giúp độc giả, những người không chuyên, tiếp thu được, người viết cần tỏ ra tôn trọng những nguyên tắc căn bản của việc viết lách; đó là từ ngữ đơn giản, với dàn bài rõ ràng, và ý tứ mạch lạc (cohesiveness),gắn chặt với đầu đề. Về mặt này, thiện chí thôi, không đủ.

    Lãng Du viết: "Tôi nghĩ nếu công dân thiếu ý thức về luật pháp thì xã hội rối loạn, khó có căn cứ để phát triển"..

    Đồng ý hoàn toàn. Cứ nhìn những nước tạo ra các nền văn minh thì tại các nước đó đều có những hệ thống pháp luật vững vàng. Ví dụ: Ai cập, Hi lạp, La mã, văn minh Persia (Ba tư), Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nhật.

    Hệ thống pháp lý XHCN chỉ tạo ra Cuba, Triều tiên, LX cũ, Trung quốc, VN,và Lèo. Sharia và hệ thống luật pháp các quốc gia theo Hồi giáo không chuẩn, chưa giải phóng sự tự do của con người và tôn trọng bình đẳng nên tụ hậu so với thế giới phương Tây.

    Hoan nghênh nỗ lực của Ls LCĐ đưa kiến thức pháp luật vào cộng đồng VN. Nó cần thiết cho đa số, viết bình dân dễ hiểu chứ không hàn lâm.

    Tôi nghĩ nếu công dân thiếu ý thức về luật pháp thì xã hội rối loạn, khó có căn cứ để phát triển.