Giáo sư Trần Quốc Vượng - Mấy vấn đề về vua Gia Long (2)

  • Bởi Admin
    12/07/2014
    19 phản hồi

    GS Trần Quốc Vượng

    * PHẦN HAI

    01. Luôn “trung thành” với tư duy tự ý thức rằng “Tôi không phải là một nhà sử học chính tông”, sau đây tôi chỉ nói – và viết – đôi điều “lặt vặt” tôi nhớ lại và cảm nhận được về vị vua khai sáng triều Nguyễn – Gia Long.

    01.1. Nguyễn Ánh đã từng bôn ba từ đất liền ra các hải đảo, Côn Lôn, Phú Quốc…

    Do nghiệm sinh cá nhân, tôi rất thích những người “bôn ba”, “từng trải”… dù với ý định chủ quan gì hay là do sự dủi dun của Trời Đất – Tự nhiên. Vị Tam Nguyên Vị Xuyên xứ Nam Hạ – Nam Hà quê tôi Trần Bích San đã có hai câu thơ mà tôi coi là tuyệt bút, nhất là câu sau:

    Văn vô sơn thủy phi kỳ khí,

    Nhân bất phong sương vị lão tài!

    Nghĩa là:

    Văn không sông núi, không cao diệu,

    Người chẳng phong sương, khó rạng tài!

    01.2. Rất gần đây, tôi được đọc bản thảo bài viết của một học giả Mỹ, trong đó có đoạn đại ý rằng:

    Phụ thân Hồ Chí Minh – Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy (Sắc) là một người phiêu lãng (Wanderer), nhưng cụ mới chỉ “lãng du” ở trong nước Việt từ xứ Nghệ xứ Huế đến xứ Thanh, xứ Bình Định rồi vô miền Nam, Sài Gòn, Sông Bé, Long An, Sa Đéc…

    Có thể Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được “di truyền” bởi cái “gen” văn hóa phiêu lãng (wandering) đó, nhưng “CON hơn cha là nhà có PHÚC”, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã phiêu lãng gần như toàn thế giới, từ Á, Âu đến Phi, Mỹ… và ông đã có dịp “sống nghiệm” với nhiều nền văn hóa khác nhau; do đó ông đã trải nghiệm đối sánh nhiều LỐI SỐNG (Way (s)) trên tảng nền LỐI SỐNG VIỆT NAM. Ông giỏi ngoại ngữ mà ngôn ngữ là một sản phẩm đồng thời là một thành tố của Văn hóa, cho nên ông trở thành người của toàn Nhân loại và ông trở nên DUNG DỊ (Generous), rất Việt Nam và cũng rất “Thể tất”, rất “Cận NHÂN TÌNH” (Hunman Sense). Do vậy, Wandering phiêu lãng ở ông là một GIÁ TRỊ VĂN HÓA.

    Thế mà đã có kẻ dám dịch “wandering” là “lang bang, lang thang” và bảo rằng học giả Mỹ đó có dụng ý nói xấu Cụ Hồ! Đáng xấu hổ thay người “DỐT HAY NÓI CHỮ” hay là “HAY CHỮ LỎNG”!

    01.3. Nguyễn Ánh (Gia Long từ 1802) đã bôn ba từ đất liền đến hải đảo, từ Việt đến Xiêm, đánh Tây Sơn bại rồi thắng to cũng có, mà đánh thắng cả Miến Điện theo yêu cầu – có lúc là “quái ác” – của vua Xiêm cũng có. Nguyễn Ánh bẩm sinh và sinh nghiệm là một vị tướng tài ba “thắng không kiêu, bại không nản”. Bị Xiêm rồi bị Pháp và sau cả Thanh Mãn Trung Hoa khống chế, gây “áp lực” song Nguyễn Ánh vẫn tìm mọi cách để “thoát ra” được sự khống chế đó và – cho dù chỉ theo ý kiến cá nhân tôi – ông vẫn là NGƯỜI VIỆT NAM và đứng đầu một CHÍNH QUYỀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM, cho dù ông chịu nhiều áp lực ngoại bang và cũng có lúc phải sử dụng nhiều cố vấn trong nước và nước ngoài. Ông nghe nhiều nhưng ông nghĩlàm phần nhiều theo ý ông. Từ 1815 hay về cuối đời, dù nể trọng Tả quân Lê Văn Duyệt, ông vẫn quyết định chọn hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng ngày sau) chứ đâu có chọn cháu đích tông – con hoàng tử Cảnh – làm người kế vị ông. Mà Minh Mạng, thì nên trọng nể và học tập ông về việc quản lý hành chánh đất nước và xã hội nhiều hơn nữa, chứ trách cứ ông thì cũng dễ thôi.

    01.4. Cho dù ông tin cậy và nhờ cậy vào giám mục Bá Đa Lộc và tỏ ra “khoan hòa” với Thiên chúa giáo của phương Tây, cho dù hoàng tử Cảnh – trưởng nam của ông – đã trở thành giáo dân Thiên chúa giáo, khi ở Gia Định (Nam Bộ) cũng như khi trở thành hoàng đế toàn Việt Nam, ông vẫn tôn Nho, trọng dụng “Gia Định tam gia” người Việt gốc Hoa (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh), vẫn trọng Phật, Lão và tín ngưỡng dân gian, dù là Việt Nam, là Khơ Me, hay là Chăm, là Thượng… Đội cận vệ của Gia Long, theo sử chép, chủ yếu là người “Thượng” (Sơn nhân). Ở thập kỷ 80, tôi đi điền dã ở xứ Quảng, ở Tây Nguyên, các tộc “thiểu số” vẫn nhắc đến Gia Long với một niềm kính nể. Có một thứ cây nửa trồng nửa hoang dại mang tên “Hoàng oanh quất” (quýt vàng) quả ăn ngon, người dân tộc vẫn bảo tôi rằng đó là thứ quả cây của vùng sơn cước đã nuôi sống Nguyễn Ánh thời khăn khó, sau này trở thành Quýt Ngự. Ấy là tôi chưa kể “Quế Trà My”…

    01.5. Ông không chống Tây, Thiên chúa, cũng không sùng bái quá đáng Thanh – Nho như người ta tưởng, và ông loay hoay – tìm mà chẳng được – một HỆ Ý THỨC VIỆT NAM. Ông làm theo kiểu Việt Nam mà chưa điều chế nổi một lối suy nghĩ (Way of thinking) Việt Nam. Chỉ sau này Nguyễn Ái Quốc mới xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam. Nhưng đó lại là một đề tài chuyên luận Triết – Sử khác, ít dính dáng đến chủ đề ta đang bàn về Gia Long.

    02. Sau 10 năm chinh chiến mà dân gian miền Nam Trung Bộ gọi là “TRẬN GIẶC MÙA” (1791-1801) – mùa gió nồm nam, Nguyễn Ánh mới dùng đội thủy chiến THUYỀN BUỒM ra đánh Tây Sơn – cuối cùng ông đã thắng.

    02.1. Tôi là con cháu nhà Nho nên cũng có biết câu “Bất tương thành bại luận anh hùng”, nghĩa là “luận anh hùng, chớ kể hơn thua! ”.

    Song, nếu tôi là nhà sử học như các quý vị Phan Huy Lê, Nguyễn Phan Quang… khả kính, tôi cũng phải tìm cách “giải thích” lịch sử chiến thắng của Nguyễn Ánh với Tây Sơn chứ nhỉ?

    Chả nhẽ lại chỉ dùng một thứ “chủ nghĩa Mác thô sơ” là cuối cùng NÔNG DÂN – nếu không có một Đảng của giai cấp công nhân đô thị hiện đại lãnh đạo thì bao giờ cũng THUA giai cấp địa chủ – phong kiến, mà dù có thắng – như Tây Sơn đã từng thắng trước đó – thì rồi cũng bị ĐỊA CHỦ HÓA, PHONG KIẾN HÓA mà thôi!

    02.2. Như tôi đã nghiệm sinh trên điền dã khắp Bắc Trung và chút chút ở miền Nam, tôi đã thấy cả Nguyễn Nhạc và cả Bắc Bình Vương – Quang Trung (tất nhiên cả Nguyễn Lữ nữa) đã thất nhân tâm khi các ông – như học giả Tạ Chí Đại Trường đã dẫn ra nhiều chứng cứ (Xem Nội chiến ở Việt Nam 1771-1801…) – ở miền Trung, chỉ để 01 chùa ở cấp huyện, ở miền Bắc chỉ để 01 chùa ở cấp tổng. “ĐẤT VUA – chùa LÀNG – Phong cảnh BỤT” – sáng – chiều nghe tiếng chuông chùa “chiêu mộ” để tấm lòng thư giãn, để biết thời gian trôi chảy vô thường đã từ lâu in hằn vào tâm thức người Việt. Phá chùa, đập tượng, nung chuông (làm tiền, làm khí giới) là làm phản lại tâm thức Việt Nam. Có lẽ nào dân gian xứ Bắc – Đàng Ngoài vốn kính VUA (Lê) nể CHÚA (Trịnh) và sùng Phật – Đạo, dù rất trọng Quang Trung đã vì dân mà chiến đấu và chiến thắng giặc Mãn Thanh, thế mà bên câu ca dao “cổ” (XV):

    Lạy trời cho cả gió lên,

    Cho cờ vua Bình Định(2) phất (phới) trên kinh thành(3).

    Lại có câu ca dao “cận đại”:

    Lạy trời cho cả gió Nồm,

    Cho thuyền chúa (vua) Nguyễn thắng buồm thẳng ra!

    Ra… là ra Bắc. Vô là vô (vào) Trung – Nam. Đấy là một câu ca dao thuần Bắc cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đừng nên chỉ suy diễn lòng dân (XVIII-XIX) theo chủ quan “bác học” (XX), mà nhà làm sử rất nên tham khảo Folklore, nhất là Folklore cổ – cận – dân gian.

    02.3. Quân Tây Sơn vào Nam – Nam Bộ – thì phá Cù Lao Phố (Biên Hòa hiện nay), giết hại thương nhân Hoa kiều, vứt phá hàng ngoại bỏ ra đầy đường, sau ở Sài Gòn thì cũng vậy; ra Trung thì tàn phá Hội An (Faifoo), 10 năm sau còn chưa phục hồi lại được; ra Bắc thì phá Vị Hoàng, phố Hiến và có đâu chừa lắm cả Thăng Long. Khi nho sĩ Bắc Hà – mượn lời nông dân xóm Văn Chương – để thưa kiện với chúa Tây Sơn về việc tòa Văn Miếu – bia Tiến Sĩ bị phá thì Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã thành thật phê vào đơn:

    Thôi! Thôi! Thôi! Việc đã rồi!

    Trăm điều hãy cứ trách bồi vào ta!

    Nay mai dựng lại nước nhà,

    Bia Nghè lại dựng trên tòa muôn gian.

    Thôi cũng đừng đổ oan cho thằng Trịnh Khải (1785-1786)!

    02.4. Gia Long dù bắt đổi Thăng Long (昇 龍) từ thành phố Rồng bay thủ đô cả nước ra Thăng Long (昇 隆) – ngày thêm thịnh vượng – thủ phủ Bắc thành và dời thủ đô cùng cả Quốc Tử Giám – Văn Miếu vào Huế thì ở Văn Miếu Thăng Long, Gia Long vẫn cho xây một tòa Khuê Văn Các, nhỏ thôi mà cực đẹp; và ở thành cũ hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan, ông cũng cho xây một tòa Cột Cờ cao đẹp nhất kinh thành ngày ấy và cho đến nay còn tồn tại!

    Thế thì kể ra cũng khó mà chê Gia Long và nghệ thuật kiến trúc Nguyễn! Mà chê bai làm gì nhỉ, khi chúng – với thời gian – đã trở thành cái ĐẸP, cái Di sản Văn hóa Dân tộc – Dân gian.

    Huế trở thành một Di sản Văn hóa Nhân loại – theo Quyết định của UNESCO 1993, mà hiện nay ta rất tự hào và đang biến thành Trung tâm Du lịch Văn hóa Việt Nam là NHỜ AI, nếu không phải là nhờ VUA – QUAN – DÂN thời Gia Long – Minh Mạng – Tự Đức và Nguyễn nói chung?

    Kính xin quý vị Sử gia – tạm / gượng gọi là “đồng nghiệp” của tôi bơn bớt việc “chửi bới” nhà Nguyễn – đời Nguyễn – bắt đầu từ Gia Long – đi cho tôi và dân chúng nhờ… Và thái độ tốt nhất là xếp cả xứ Huế và Việt Nam khi ấy vào Bảo tàng Lịch sử và coi khi đó, không gian đó như một TẤT YẾU TẤT NHIÊN của LỊCH SỬ VIỆT NAM!

    03. Có một huyền tích lưu hành rất dai dẳng – và còn được ghi bằng giấy mực nữa kia – là khi Nguyễn Ánh – Gia Long (năm 1801) chiếm lại được Phú Xuân – Huế từ tay triều đại Tây Sơn, đã “cướp” công chúa Lê Ngọc Hân – Bắc cung Hoàng hậu của Quang Trung làm vợ. Huyền tích ấy nay đã được giải ảo hiện thực (désenchanter le réel). Sự thực lịch sử là thế này:

    03.1. Sau khi vua Quang Trung mất (1792), Ngọc Hân đã dời cung điện ra ở chùa Tiên gần lăng mộ Quang Trung (xem sách “Đi tìm lăng mộ Quang Trung” của Nguyễn Đắc Xuân và nhất là xem thơ Phan Huy Ích). Theo tôi, đó là vì vua Cảnh Thịnh kế nghiệp Quang Trung mới 12 tuổi (không phải là con đẻ của Ngọc Hân) cùng thái sư Bùi Đắc Tuyên (cậu của Cảnh Thịnh) rất lộng quyền, chẳng ưa gì bà Ngọc Hân xứ Bắc, nên bà đã có ứng xử “chẳng tu thì cũng như tu mới là”; cũng có thể là bà “nặng tình nặng nghĩa” với Quang Trung. Bà có với Quang Trung hai (02) người con, bà mất sớm (1799) và cả hai con bà cũng vậy (1801).

    03.2. Cho nên không làm gì có chuyện vua Gia Long giết hai con bà và lại lấy bà làm vợ. Khi Ngọc Hân làm vợ Quang Trung, đã môi giới để người em cùng nhũ mẫu là Ngọc Bình làm vợ của Cảnh Thịnh.

    Khi Cảnh Thịnh chạy ra Bắc, không hiểu vì lý do gì, bà Ngọc Bình bị kẹt ở Phú Xuân. Gia Long chiếm Phú Xuân, bắt được Ngọc Bình và quyết định ngay lấy làm vợ (phi). Cả đám triều thần của Gia Long xúm lại can ngăn, họ nói: - Bệ hạ nay có cả thiên hạ, thiếu gì gái đẹp – trinh nguyên, việc gì phải lấy vợ của giặc làm vợ mình! Vua Gia Long cười ha hả mà nói: - Đến đất nước của giặc “tau” còn lấy, huống chi là vợ giặc,“tau” lấy vợ giặc làm vợ “tau” thì có chi mô!

    Về việc này Biên Niên sử của triều Nguyễn còn chép hẳn hoi, xem – chẳng hạn – Đại Nam Thực lục Chính biên.

    Tôi kể chuyện này với ông bạn thân – nay đã quá cố “người xứ Huế” (mẹ là dòng Hoàng phái Nguyễn) là PGS Nguyễn Đức Từ Chi, ông cười lâu lắm và bảo tôi rằng: - Ở đại học, tôi học cổ sử Việt Nam với các thầy khác nên không biết chuyện này. Nay nghe anh kể mới biết. Thật là tuyệt! Đây là một “ca” (cas = trường hợp) mà nếu lý giải bằng phân tâm học (psyanalyse) thì sẽ rất lý thú. Nhưng câu nói ấy của Gia Long trả lời các quan đại thần là rất “cynique” (tôi chưa biết dịch là gì cho đúng, đại khái là rất “tởm”, “lỗ mãng”, “bất cần sĩ diện”, “trắng trợn”… nhưng mà rất THỰC) đấy chứ, phải không anh?

    Tôi mủm mỉm gật đầu đồng ý.

    03.3. Tôi được đọc GIA PHẢ nhà họ Nguyễn ở làng Nành (nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội) quê bà Nguyễn Thị Huyền, mẹ bà Ngọc Bình, nhũ mẫu của bà Ngọc Hân. Gia phả có đoạn chép:

    Bà cụ Nguyễn Thị Huyền – qua con gái là bà Ngọc Bình – có làm đơn xin cải táng mộ bà Ngọc Hân (và hai con bà) về Bắc, về quê bà. Vua Gia Long đồng ý. Tiểu sành đựng xương cốt bà Ngọc Hân được chở bằng thuyền về làng Nành và được xây mộ hẳn hoi. Mãi đến thời Thiệu Trị (1840-1847), có một tên cường hào ở làng Nành vì có sự chảnh chọe ngôi thứ gì đó với dòng họ Nguyễn nên làm đơn vu cáo họ Nguyễn đã “lợi dụng” gì đó về ngôi “mả ngụy” Ngọc Hân, cấp trên nó quan liêu hay ăn đút lót gì đó – không biết – phê vào đơn cho phép đào mả Ngọc Hân quẳng xuống sông Nhị Hồng…

    Hiện nay ở Gia Lâm có đền Ghềnh, tương truyền là “rất thiêng”, đấy chính là nơi hài cốt Ngọc Hân dạt vào, được dân vớt lên mai táng lại. Nhiều nhà “Hà Nội học” – không đọc gia phả họ Nguyễn làng Nành – đã nói và viết rất “lu bu” về chuyện này và “đổ vạ” cho Gia Long và nhà Nguyễn đào mả vợ Quang Trung để trả thù! “Trả thù”, vâng, có thể có ở mọi thời, song việc đào mả Ngọc Hân quẳng xuống sông không phải là việc và trách nhiệm – tội lỗi của Gia Long.

    03.4. Gia Long “tội vạ” gì mà gây thù chuốc oán thêm với sĩ phu và dân chúng Bắc Hà mà ông chê bai là “bạc” – theo thành ngữ dân gian – hay được / bị “dân gian hóa” thành câu: “Bạc như dân, bất nhân như lính”.

    Theo chỗ tôi được biết (tôi biết rất ít thôi), thì sau khi vua Gia Long ra Bắc (1802) diệt nốt “dư đảng Tây Sơn” và cử Nguyễn Văn Thành (“Tiền Quân Thành”) làm Bắc thành trấn thủ, vua Gia Long đã – qua ông Thành – làm vài việc sau đây:

    03.5. Tổ chức một lễ tế “Trận vong tướng sĩ” ở bên bờ sông Nhị phía Đông thành Thăng Long. Bài văn tế này vẫn còn và khi xưa – tôi học trung học – vẫn được học ở sách Việt Nam văn học sử yếu của cố GS Dương Quảng Hàm. Sách này đề tên tác giả bài văn tế là “Vô danh”, sau này giới Văn học và Hà Nội học đã tìm ra tác giả chính là Nguyễn Huy Lượng, sĩ phu Bắc Hà – người đã cộng tác với triều đình Tây Sơn đến cùng (1801) và viết bài Phú nôm nổi tiếng “Tụng Tây hồ phú” (và do vậy Phạm Thái, sĩ phu Bắc Hà chống Tây Sơn đã viết bài phản bác cũng khá hay với nhan đề “Chiến tụng Tây hồ phú”). Lễ tế vong này và bài văn tế giành cho mọi sĩ tử binh không phân biệt ai là “chân” ai là “ngụy”. Tế xong, Nguyễn Huy Lượng không bị phạt tù tội gì về việc cộng tác với nhà Tây Sơn và Nguyễn Gia Long “bổ” cho ông cử nhân hay chữ này một chức tri huyện ở phủ Nghĩa Hưng (Nam Định), sau ông bị – theo gia phả và sử địa phương chí chép – giặc cướp giết.

    03.6. Cũng dưới thời vua Gia Long, bà phi “tòng vong” với Lê Chiêu Thống xin triều Nguyễn cho đưa hài cốt ông vua Lê cuối cùng này cùng vài quan tòng vong (đã chết bên nước Thanh) đem về nước. Vua Gia Long – qua lời tâu của Trấn thủ Bắc thành – đã đồng ý. Bà phi họ Nguyễn này mang hài cốt chồng và vài quan khác về Việt Nam chôn cất xong thì tự tử chết. Bà cũng được mai táng tử tế (tôi được học chuyện này từ thời trung học Pháp thuộc).

    Vua Gia Long đã sai lập “đền Cố Lê” ở Hà Nội (mạn phố Thụy Khuê) để thờ vua Lê cũ và sai dỡ nhà Thái miếu ở Thăng Long về Bố Vệ xứ Thanh quê nhà Lê lập đền thờ. “Đền vua Lê” (còn gọi là “Thái miếu”) hiện vẫn còn và đã được Bộ Văn hóa Thông tin nhà nước CHXHCN Việt Nam xếp hạng (“Di tích Văn hóa được xếp hạng”).

    03.7. Quê tổ nhà Nguyễn là Gia Miêu ngoại trang ở Hà Trung – Thanh Hóa, đối diện với dãi núi Triệu Tường. Ở Đàng Trong, Nguyễn Hoàng đã trở thành “ông Hai” (ông cả Nguyễn Uông đã bị anh rể – chồng bà Ngọc Bảo – giết để cướp chính quyền Thái Sư (như thủ tướng ngày sau), thay thế ông bố vợ Nguyễn Kim (phụ thân Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng) đã bị đầu độc chết. Từ thế kỷ XVII-XVIII trên đường hình thành đạo Mẫu Việt Nam mà mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giầy (Vụ Bản, Nam Định, Nam Hà) trở thành “Thánh Mẫu” theo thần tích, ít ra là từ đời Cảnh Hưng (1740-1786). Nguyễn Hoàng đã được thờ ở khắp xứ Đàng Ngoài dưới tên gọi “Quan Lớn Triệu Tường”. Vua Gia Long đã về thăm quê gốc Gia Miêu.

    Trên đường công tác điền dã, năm 1994, tôi đã về thăm Gia Miêu, thăm ngoại / nội trang, thăm núi Triệu Tường, và đang đứng trầm ngâm chiêm ngắm ngôi đình được trùng tu lại thời Gia Long, rất đẹp mắt nhưng đang gần như bị “bỏ quên” (chưa được xếp hạng và đang xuống cấp, chưa được trùng tu tôn tạo) thì được một cán bộ xã mời về trụ sở Đảng ủy và UBND xã.

    Tôi những tưởng mình sẽ bị khiển trách và “thăm hỏi” vì đã dám ghé thăm ngôi đình làng mang niên hiệu Gia Long trùng tu mà không trình báo lãnh đạo xã. Nhưng không!, tôi được chiêu đãi một bữa bia “đã đời”, vì đã được cán bộ xã đứng tựa cột đình “nghe lỏm” – tôi đang giảng giải cho các cán bộ cùng đi – về nét đẹp ngôi đình làng này và tỏ ý tiếc vì bị nhà nước bỏ quên! Nghe các nhà lãnh đạo xã quê hương Gia Long nói thêm về tình hình xã, tôi rất mừng vì các đảng viên cộng sản Gia Miêu quê hương nhà Nguyễn đã tỏ ra có “tư duy đổi mới” khi nhận nhìn vai trò lịch sử của vua Gia Long và nhà Nguyễn với thái độ “thể tất nhân tình”, rất đậm đà bản sắc Việt Nam. Vua Gia Long sai sửa đình làng quê gốc của mình nhưng không hề sai sửa lại tên quê. Mãi đến thời Tự Đức (1848-1883), ông vua này mới sai đổi tên Gia Miêu cũ xưa thành tên mới Quý Hương!

    03.8. Tuy Trịnh Kiểm đã giết Nguyễn Uông, nhưng chính sử nhà Nguyễn, kể cả Đại Nam nhất thống chí, quyển về Thanh Hóa tỉnh, mục nhân vật vẫn chép về Trịnh Kiểm mà không hề có một lời nói xấu nào về ông tổ họ Trịnh này.

    Thật là lạ! Càng lạ hơn, khi tôi (1992) về thăm lại quê hương Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan ở Thạch Thất xứ Đoài (nay thuộc tỉnh Hà Tây) – người được coi là “Trương Tử Phòng” (quân sư Trương Lương của Hán Cao Tổ) của Trịnh Kiểm. Gia Long rồi Minh Mạng đã ban cho ngôi nhà thờ Trạng Bùng một bức đại tự chạm trổ rất đẹp với 4 chữ “TRUNG HƯNG CÔNG THẦN”, miễn sưu dịch cho con cháu Trạng Bùng, lại cho 2 “đinh phụ” được coi sóc nhà thờ và mồ mả của ông Trạng đã hết lòng “phù Lê phù Trịnh” này.

    03.9. Tôi có một số bạn bè họ Trịnh đã / đang làm cán bộ cao cấp của nhà nước CHXHCN Việt Nam. Tôi đưa cho họ xem bản Trịnh gia thế phả do Trịnh Cơ vâng lệnh Gia Long, khai báo lại năm 1802.

    Lời mở đầu cuốn gia phả họ Trịnh này viết rằng khi vua Gia Long ra Bắc (1802), ông đã cho gọi tộc trưởng họ Trịnh – Trịnh Cơ – từ xứ Thanh ra Thăng Long và phán bảo rằng: - Họ nhà ngươi và họ ta là hai họ có thâm thù vì tổ họ ngươi đã giết tổ họ ta!

    Trịnh Cơ run rẩy nghĩ rằng mình và họ mình sẽ bị Gia Long “làm cỏ sạch gốc rễ” để trả thù. Nhưng mà không!, vua Gia Long nói tiếp: - Nhưng họ nhà ngươi và họ ta đã từng là thông gia – thân gia. Ta sẽ lấy tình thân gia mà đối đãi với họ ngươi. Song họ ta ở Nam đã quá lâu, ta chẳng biết rõ gì về họ ngươi cả. Vậy ngươi hãy cung khai về gốc gác họ Trịnh trình cho ta biết!

    Trịnh Cơ mang gia phả cũ ra tham khảo và cứ theo sự thực viết ra (cố GS Hoàng Xuân Hãn rất khen ngợi bản gia phả nhà Trịnh này là trung thực, đã viết rõ gốc gác nghèo hèn và hành xử “xấu xa” của Trịnh Kiểm như ăn cắp gà, giết trộm trâu, ăn cắp ngựa…). Đọc xong Gia phả họ Trịnh, Gia Long đã phê ban cho họ Trịnh 200 mẫu ruộng công để dựng nên Trịnh điện làm nơi thờ tự các chúa Trịnh (nay làng Trịnh Điện bên bờ sông Mã có diện tích đúng 200 mẫu, 1 mẫu Trung bộ = 5000m2).

    * LỜI TẠM ĐÓNG

    Khi còn ở Gia Định và mới chỉ có Gia Định (châu thổ sông Mê Kông) trước 1801-1802, Nguyễn Ánh – Gia Long đã vận dụng “cơ chế thị trường” và đã biến Sài Gòn miền Nam thành nơi sản xuất xuất khẩu lúa gạo ra toàn Đông Nam Á để đổi lấy các sản phẩm công nghiệp phương Tây, cố nhiên hàng nhập khẩu được ưu tiên hàng đầu là vũ khí để chống lại Tây Sơn. Tôi không muốn / không cần bình luận về ý đồ chủ quan của Nguyễn Ánh, nhưng Nam Bộ cho đến nay vẫn quen với “cơ chế thị trường” hơn miền Bắc. Có nhiều nguyên nhân lắm, song phải chăng cũng có vai trò của NGUYỄN ÁNH?

    Tôi đã nhắc đi nhắc lại – làm rườm tai bạn đọc, nếu bài này được đọc và được in – rằng tôi, kẻ ngu hèn này, không phải là một nhà Sử học chính tông.

    Vậy, theo ý F. Engels vĩ đại, ai không am hiểu lắm về một lĩnh vực khoa học nào đó mà cứ cố tình “nói chõ” vào thì có thể được lượng thứ về một số sai lầm không đến nỗi lớn lắm.

    Tôi, từ lâu đã rất mê F. Engels, mượn và có thể là “lợi dụng” mấy lời nói của ông để tạm đóng bài viết có nhiều phần “dở hơi” này.

    Hà Nội – Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh)
    Mùa thu tháng Tám, 1996

    Kính nộp,

    GS Trần Quốc Vượng
    (Đại học Quốc gia Hà Nội)

    (1) Có nhà Việt Nam học ở Liên Xô (cũ) còn xem vai trò Gia Long như vai trò của Pi-e đại đế nước Nga xưa nữa kia. Thật là “quá đáng”, nhưng theo tôi, Quang Trung cũng không hề là nhà cải cách vĩ đại của Việt Nam.

    (2) Bình Định Vương Lê Lợi.

    (3) Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    19 phản hồi

    Bài này nhà sử học Trần Quốc Vượng (mặc dù ông không nhận mình là nhà sử học, không biết lý do vì sao), viết về nhà NGUYỄN nhưng có nhiều bác lại bàn sang chuyện nhà NGÔ, rồi lại bàn cả chuyện học vị GS của cụ Vượng nữa.

    Thôi thì cô cũng nói qua vài lời râu ria trước rồi bàn chuyện chính sau. Học hàm GS thì mãi sau này nhà nước mới chính thức tuyên bố, tôi cũng chưa rõ chính xác vào năm nào, nhưng cái tên gọi GS thì ta giữ theo chế độ cũ. Chưa thấy văn bản nào công bố cụ Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Ngọc, Hoàng Thiếu Sơn...là GS, nhưng từ lâu ta đã gọi thế. Trước kia dưới chế độ cũ thì các giáo viên trung học cũng gọi là GS, những người dạy đại học cũng gọi là giáo sư. Nhưng đến thời Minh Côông (cách gọi mới tên Hồ Chí Minh) muốn hạ bệ tầng lớp trí thức nên không gọi là "giáo sư" nữa. Trong lúc chưa biết gọi thế nào để phân biệt giữa người dạy các trường phổ thông với người đứng trước giảng đường đại học thì GS Trần Đức Thảo phát kiến ra cách gọi người dạy đạị học là CÁN BỘ GIẢNG DẠY và được chấp nhận. Trước kia những người tốt nghiệp đại học các trường đào tạo môn xã hội học, được gọi là cử nhân, Minh Côông không thích tôn vinh những người đó nên chỉ gọi là TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC thôi. Sau này "đổi mới" thì lại TRỞ VỀ CÁI CŨ, gọi những người đó là CỬ NHÂN, nhưng cũng chưa thấy có văn bản nào quy định như vậy. Tôi có hỏi mấy ông to ở Bộ giáo dục & đào tạo, nhưng các ông ấy đều lờ đi.

    Thêm một "thành tích sáng tạo" nữa của Minh Côông là vào dịp khai mạc năm học mới 1968-1969 thì trong một bức thư gửi cho nhà trường (tức là gửi cho người dạy và người học) thì Minh Côông (MC) gọi cả học sinh và sinh viên đều là HỌC SINH. Điều này lại gây ra khó khăn để phân biệt người học phổ thông và người học đại học. Sau đó thì gọi SINH VIÊN là HỌC SINH ĐẠI HỌC. Thế nhưng gọi SINH VIÊN MIỀN NAM như thế làm họ tức giận thì chỉ SINH VIÊN MIỀN NAM mới được gọi là SINH VIÊN, còn sinh viên miền Bắc thì gọi là "học sinh đại học".

    Nhiều người có ý kiến không tán thành việc gọi như thế là không đúng với quy định của quốc tế và về quy luật TIẾT KIỆM CỦA NGÔN NGỮ thì sai, "sinh viên" chỉ có 2 âm, còn "học sinh đại học" phài có tới 4 âm. Nhưng ý Minh Côông là ý trời. Đài báo đều biến cái sai của Minh Côông thành cái đúng, cứ vẹt cách gọi của MC làm cho người ta phải chấp nhận.

    Nay nói về nhà Nguyễn thì tôi thấy trong lịch sử nước ta có tới ba đời nhà Nguyễn nắm chính quyền, đó là nhà Nguyễn Hoàng -Gia Long, nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn Minh Côông. Nếu xét công và tội thì chỉ có nhà Nguyễn MC là có tội tầy đình thôi.

    Viết sử thì phải khách quan và trung thực, nên học tập 3 nhà sử học của Trung quốc. Hai người anh viết "Thôi hữu giết vua của mình là Trang Công" đều bị vua Tề chém đầu, đến người em thứ ba cũng viết thế, không sai một chữ thì vua Tề không dám giết nữa. Còn các nhà sử học CS thì toàn "khen phò mã tốt áo" thành ra xuyên tạc lịch sử.

    Còn dân gian đã tổng kết "được làm vua, thua làm giặc", thời nào lên cũng đều có cái tốt cái xấu. Nhà viết sử phải trung thành, dù cái xấu có tồi tệ thế nào cũng không được che giấu. Chế độ miền Nam có cái tốt cái xấu. Còn chế độ miền Bắc thì đại thể là xấu hoàn toàn, càng ngày càng xấu, nhưng vẫn có nhiều người tốt.

    Cái công lớn nhất của nhà Nguyễn Hoàng là mở mang bờ cõi về phương Nam, nếu như mảnh đất hình chữ S kéo dài hơn nữa thì có lẽ chúa Nguyễn còn chiếm nữa. Đem quân đi chiếm đất của người ta thì goị là "mở mang bờ cõi", còn người bị chiếm đất thì gọi kẻ "mở mang bờ cõi" là kẻ xâm lược.

    Ngay từ thời nhà Trần thế kỷ XIII, các vua Trần đã có ý đồ này nhưng chưa thực hiện được, mới chỉ đem công chua đi đổi được ít đất mấy tỉnh phiá Nam Trung Bộ thôi. Khi quân Nguyên sang chiếm đất Chiêm Tành thì vua nhà Trần đã đem quân đi đánh "hộ" với ý định sau này sẽ chiếm.

    Nhà Nguyễn Hoàng- Gia Long cũng sử dung người Trung quốc trong quá trình dựng nước, ông Phan Thanh Giản, đại thần nhà Nguyễn là người Trung quốc. Ông Trịnh Hoài Đức là người Trung quốc có công viết sách địa lý máy tỉnh phía Nam trung Bộ cũng là người Trung quốc. Điều này khác hẳn thời Nguyễn MC là làm tay sai, nội gián cho Trung quốc. Nói điều này cũng nêu lên cái tài của vua Gia Long. 14 tuổi đã cầm quân và không thua nhiều trận, đến năm 17 tuổi thì Nguyễn Ánh đã làm tổng chỉ huy quân đội và chỉ thua vua Quang Trung thôi. Khi vua Quang Trung bận việc ở Bắc kỳ thì quân của Nguyễn Lữ bị Nguyễn Ánh đánh cho tơi tả. Có lần chỉ còn 200 quân phải bỏ đất liền ra đảo xa, phải đi cướp để sống, kết quả cuối cùng Nguyễn Ánh Gia Long cũng thống nhất giang sơn.

    Nhưng cái tội của Nguyễn Ánh là "cõng rắn cắn gà nhà", giống như Nguyễn MC. Lịch sử nước ta rắc rối quá, lúc công lúc tội.

    Có một điều nổi bật là các vua chúa thời Nguyễn thì để quyền lợi tổ quốc và dân tộc lên trên, có vua bị tù đầy, phải bỏ ngai vàng để cứu nước. Còn Nguyễn MC cũng rước ngoại bang về làm hại dân hại nước, nhưng lại để quyền lợi giai cấp và ý thức ngoại lai lên hàng đầu để rồi nước ta toàn bị yếu tố ngoại bang chi phối.

    Cùng được độc lập vào khoảng thời gian kết thúc thế chiến II năm 1945, nhưng nhiều nước như Ấn Độ, Philippin, Inđônexia... thì êm thấm, còn ta và Triều Tiên thì hết hội nghị nọ hội nghị kia, toàn bị nước ngoài coi như món hàng mặc cả với nhau. Cốt lõi vấn đề là cả hai nước vướng vào mớ bùi nhùi chủ nghiã Mác Lê nin.

    Lịch sử đã cho ta bài học, còn cái duyên nợ với tư tưởng hai lão Tây chết dẫm này thì đất nước còn lụn bại, dân tộc còn khổ dai dẳng.

    Tuan34344 viết:

    Ồng Diệm có thể là một nhà lãnh đạo liêm khiết, nhưng ông phải biết là hai vợ chồng ông Nhu đã tham nhũng, lợi dụng quyền thế để kiếm tiền một cách gian dối và phi pháp (*) [làm sao ông không biết điều này được?], mà ông lại không ngăn cản chuyện ấy. Khi CIA báo cáo những điều tệ hại nầy lại cho Tổng thống Mỹ, ông Kennedy giận dữ ném tập hồ sơ ấy xuống bàn, chửi mắng “Thật là lũ khốn nạn đốn mạt!” (“Those damned sons of bitches”).

    Tôi đọc bài này viết về bà Trần Lệ Xuân. Hơi ngạc nhiên về nội dung, không hề đả kích hay gán ghép bà Trần Lệ Xuân đã tham nhũng....

    Tôi ngạc nhiên vì trang giaoduc.net.vn là một trang của, ở VN. Không rõ chủ trang là ai.

    Một đoạn trong bài:.... "Căn nhà bà Nhu khá tầm thường, với hai phòng ngủ và một phòng khách. Trên tường phòng khách còn treo vài bức ảnh lớn của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu và con gái lớn Ngô Đình Lệ Thủy"...

    http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Tin-nong/Ba-Tran-Le-Xuan-qua-doi-So-phan-chim-noi-cua-de-nhat-phu-nhan-post983.gd

    Trang này của CAND cũng không đàm tiếu về tài sản bà có nếu quả thực ông bà Ngô Đình Nhu đã có tham nhũng.

    http://antgct.cand.com.vn/vivn/nhanvat/2008/4/52123.cand

    Hai trang viết hơi giống nhau.

    Một trang khác "đi tìm hồi ký bà Ngô Đình Nhu"... có cả kho lưu trữ hình miền Nam ngày trước:

    http://namrom64.blogspot.de/2014/02/i-tim-hoi-ky-cua-ba-nhu-tran-le-xuan.html

    Hay trang vietcatholic.net

    http://www.vietcatholic.net/News/Html/119165.htm

    Chúng ta có đi quá xa nội dung bài chủ không?

    Dĩ nhiên, cũng có những bài viết về những chuyên thầm kín, cá nhân, nhưng tôi không đưa lên đây, không đọc khi lướt mắt qua tựa, biết Tg đã viết cái gì.

    Nguyễn Jung

    Cùng bác Tuan34344,

    Vâng, vì tôi dù có lưu tâm học hỏi tìm hiểu về nhân cách TT.NĐD,
    nhưng tự biết sự hiểu biết của mình hạn chế, nên đã thận trọng viết
    là: "Có lẽ,...". Tức là tôi chưa khẳng định, vẫn chừa chỗ để tiếp thu những chỉ giáo
    thuyết phục từ các bác trái với điều tôi hiểu. Bởi dù sao tôi cũng còn là chú bé con khi TT.Diệm đương quyền, mọi kiến thức
    đều chỉ là học hỏi về sau. Vả, tôn trọng các góc nhìn khác, tưởng cũng
    không nên tự phụ cho sự hiểu biết của mình là chân lý (lẽ thật). Cái
    đúng sai cũng còn tuỳ quan niệm.
    Tôi cũng chỉ nhắc tới ông Nhu, vì cái chết chung của anh em ông, nhưng
    không nói gì về sự liêm hay bất liêm của ông cố vấn.

    Tôi cũng tán thành ý kiến của bác 34344, không dễ tin ngay
    cuốn sách bởi James S. Olson & Randy Roberts. Bác Tuan34344 nghĩ sao?

    Sách báo Mỹ nhận định về VN, có nhiều lúc tỏ ra lệch lạc. Riêng
    cá nhân tôi, theo dõi tin tức mẹ con bà Nhu, được biết họ từ ngày
    bất hạnh đổ xuống gia đình sáng 02/11/63, đến lúc tạ thế 4/2011,
    đã sống một quãng đời u buồn đơn sơ. Riêng bà Nhu, còn được dư luận
    khen là đoan chính nữa.

    Nhân vô thập toàn, chúng ta không cầu toàn. Những sai lầm của anh em
    ông, dù có chăng nữa, cũng còn phẩm giá hơn nhiều các nhà lãnh đạo
    khác, nhất là các vị chóp bu CS.

    Tuan34344 viết:
    Lương ngọc Phát viết:
    Có lẽ, ông Diệm là vị lãnh đạo quốc
    gia liêm khiết và có đời tư trong sáng nhất trong thế kỷ 20.

    Ồng Diệm có thể là một nhà lãnh đạo liêm khiết, nhưng ông phải biết là hai vợ chồng ông Nhu đã tham nhũng, lợi dụng quyền thế để kiếm tiền một cách gian dối và phi pháp (*) [làm sao ông không biết điều này được?], mà ông lại không ngăn cản chuyện ấy. Khi CIA báo cáo những điều tệ hại nầy lại cho Tổng thống Mỹ, ông Kennedy giận dữ ném tập hồ sơ ấy xuống bàn, chửi mắng “Thật là lũ khốn nạn đốn mạt!” (“Those damned sons of bitches”).

    (*) Chi tiết trong cuốn "Where The Dominoes Fell: America and Vietnam, 1945-1995", ấn bản thứ ba, bởi James S. Olson & Randy Roberts (1999), (trong Chương 4: The New Frontier in Vietnam)

    Ông Tuấn 34344 có thể nói rõ hơn vụ hai vợ chồng ông Nhu đã tham nhũng, lợi dụng quyền thế để kiếm tiền một cách gian dối và phi pháp. Thử hỏi James S. Olson & Randy Roberts có thể tin được hay cũng chỉ là Đỗ Mậu, riêng tôi cũng có thể nói "Kennedy là thằng điếm"

    Khách PCT viết:
    ...

    "Chỉ sau này Nguyễn Ái Quốc mới xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam."

    Theo tôi, đó không phải vì không thể là văn phong và ý tưởng của TQV. Ông không bao giờ nịnh ai, chứ đùng nói nịnh đảng và Hồ của đảng một cách thô thiển như vậy!

    Ai đó đã nhét vào miệng ông TQV những câu như thế, dù ông đã nằm dưới mồ gần chục năm nay.

    ...

    PCT

    Cảm ơn bác PCT, một người trong cuộc ở VN những thập niên trước, đã nêu nghi vấn về những "hiện tượng lạ" trong bài viết của GS Trần Quốc Vượng. Ở VN chẳng ai lạ gì con dao giải phẩu thẩm mỹ của các cơ quan kiểm duyệt nhà nước, cắt mũi, nâng cằm, bơm, vá tứ tung, v.v. để gắn thêm "tính Đảng" vào những công trình sắp được công bố trước công chúng.

    Điều khá thú vị là những son phấn lòe loẹt, bôi quẹt thô thiển đó thường đối chọi chan chát với nội dung còn lại của các công trình, nên cũng rồi lòi đuôi ra mà thôi.

    Trước nay ít lâu tôi có đọc bài của nhà văn miền Nam Hoàng Hải Thuỷ phê phán nhà văn hoá Vương Hồng Sển gay gắt vì trong quyển sách Nửa Đời Còn Lại của VHS xuất bản tại Sài gòn sau 1975 VHS đã có những tựa đề "nâng bi" như "Sài gòn Xét Chung Trước Khi Mang Tên Bác Kính Trọng" hay dùng những tên gọi miệt thị các nhân vật VNCH như "mụ Nhu và con chiêu đãi cao cờ",v.v.

    Tôi cho rằng VHS đã bị án oan. Ta thấy được bàn tay nhám nhúa của kẻ lạ trước khi sách được xuất bản.

    http://hoanghaithuy.wordpress.com/2010/05/08/vuong-hong-sen-bac-kinh-trong-va-chieu-dai-cao-co/

    Lương ngọc Phát viết:
    Có lẽ, ông Diệm là vị lãnh đạo quốc
    gia liêm khiết và có đời tư trong sáng nhất trong thế kỷ 20.

    Ồng Diệm có thể là một nhà lãnh đạo liêm khiết, nhưng ông phải biết là hai vợ chồng ông Nhu đã tham nhũng, lợi dụng quyền thế để kiếm tiền một cách gian dối và phi pháp (*) [làm sao ông không biết điều này được?], mà ông lại không ngăn cản chuyện ấy. Khi CIA báo cáo những điều tệ hại nầy lại cho Tổng thống Mỹ, ông Kennedy giận dữ ném tập hồ sơ ấy xuống bàn, chửi mắng “Thật là lũ khốn nạn đốn mạt!” (“Those damned sons of bitches”).

    (*) Chi tiết trong cuốn "Where The Dominoes Fell: America and Vietnam, 1945-1995", ấn bản thứ ba, bởi James S. Olson & Randy Roberts (1999), (trong Chương 4: The New Frontier in Vietnam)

    Xin cảm ơn bác NJ đã chia sẻ cơn giận của tôi. Cơn giận này âm ỉ dồn
    nén đã lâu bác ạ.
    Tôi cũng cảm ơn 2 bác PCT và Lê văn Mọi, cung cấp những thông tin mà
    dân Nam như tôi không được dịp thấy nghe như các bác ở Bắc.

    Tôi có một ông bạn vong niên gốc Bắc di cư, trước 75 là một thiếu tá
    BS Quân Y. Ông họ Bùi, và là cháu họ cụ Bùi Kỷ. Ông có nhạc phụ từng
    làm Đổng lý văn phòng / phủ Tổng Thống thời đệ nhất CH.
    Theo ông bạn già thủ thỉ sau ngày đi cải tạo về, xưa ông học trường
    Bưởi cùng lớp với GS.Trần quốc Vượng, mà ông nhìn được ảnh sau này trên
    truyền thông. Ông kể cho tôi, một hậu bối, vài nét hồi trẻ của GS.Vượng kèm theo nhận xét có phần thiện cảm.
    Không dám chắc lắm lời kể của người bạn cao tuổi nay cũng đã qua đời,
    nhưng cũng thú vị vì được nghe những chuyện bên lề chính sử. Về nhân
    cách khả kính của ông NĐD thể hiện, hoàn toàn không giống một chút nào
    với sử học XHCN. Sau khi anh em ông bị thảm sát, những thành viên trong gia đình 2 ông đã sống nốt phần đời còn lại một cách giản dị đơn
    sơ, không một chứng cứ cho thấy họ lạm giữ chút tài sản nào của
    quốc gia trong 9 năm cầm quyền. Có lẽ, ông Diệm là vị lãnh đạo quốc
    gia liêm khiết và có đời tư trong sáng nhất trong thế kỷ 20.

    Lương ngọc Phát viết:

    Thế thì làm sao an lòng khi đọc loại sử học ấy? Chỉ có thể tạm tin tưởng khi sử gia là ẩn sĩ vô danh, không màng danh lợi, chánh tâm quân tử, âm thầm chụp ảnh lịch sử như nó là.

    Quan điểm công bằng trên tinh thần nhân bản, trong nhận thức về triều Nguyễn cùng các vị vua quan, như phần nào trong bài viết trên đây của cố GS.Trần quốc Vượng, có thể là một món lạ miệng cho nhu cầu tinh thần của đồng bào sinh ra lớn lên trong lòng toàn trị CSVN, đến nỗi chính tác giả cũng dè dặt khi muốn mời nhân dân thưởng thức vì e có thể gây dị ứng thực phẩm, và ông sẽ bị truy cứu trách nhiệm.

    ......

    Chỉ xin ngắn gọn, quan điểm sử học VNCH hơn xa quan điểm sử học XHCN, ít ra là trên tính nhân bản và đức công bằng. Mãi rất gần đây, khi không thể khác, người viết sử XHCN mới cất giấu bớt những gì họ đã, vì sự sống sượng nghiệt ngã của những sản phẩm sử học của họ. Đơn cử, họ đã từng dạy trong sách giáo khoa để đầu độc tính phi nhân bản, tính tà vạy vọng ngữ cho các con em, rằng:

    "Mạt kiếp Gia Long mang tội nước, Nghìn năm Nguyễn Huệ sử ghi công".

    ....

    Cứ nhìn toàn xã hội miền Nam ngày trước, nơi nơi đều tôn vinh các nhân vật lịch sử có công với dân tộc ở cả 2 phía Tây Sơn và Nguyễn, qua việc đặt tên những ngôi trường, những con đường, những quân trại, những cư xá...đã phản ánh quan điểm đạo đức hiếu thảo với tiền nhân và lòng công bằng con cháu, khi nhìn ngước lên bàn thờ cha ông cùng các mâu thuẫn giữa các vị lúc sinh thời.

    Ở phần đất do VNCH quản trị, có đủ các trường : Quang Trung/Gia Long;
    Trần quang Diệu/ Võ Tánh và Ngô tùng Châu; Bùi thị Xuân, Ngô thời Nhậm bên hàng ngũ Tây Sơn vẫn được tôn kính không khác bên hàng ngũ Nguyễn Vương, Lê văn Duyệt, Đỗ thanh Nhân... Có một đại học xá mang tên Minh Mạng, cùng thành phố với một trung tâm huấn luyện quân sự Quang Trung, không hề phân biệt công đức người xưa.

    Sau 75, người ta tự cho mình cái quyền tuỳ tiện xoá sạch các tên tuổi
    danh nhân đã phục vụ triều Nguyễn, trên các chốn công cộng
    . Thay vào
    đó là vô số những cái tên vừa thấp tầm vừa bẩn thỉu.

    Trong tấm lòng hậu thế VNCH, tuy vẫn rút ra những đúng sai của mỗi bên làm bài học kinh nghiệm, nhưng không cực đoan gay gắt đến mức hỗn hào với tiền nhân như những bài sử học XHCN. Kết quả của giáo dục tốt đẹp đâu không thấy, chỉ thấy tính xấc láo của con em XHCN khi nhét tiền lẻ vào tay tượng đức Thánh Trần, khi nhảy lên ngai vàng tôn nghiêm của lịch sử mà tạo dáng chụp ảnh, khi thương mại hoá di tích miếu đền, khi.v.v.và.v.v...họ đã nhảy xổm lên anh linh liệt tổ, lơ láo như lũ vong bản nơi chốn hí trường.

    ....

    Cám ơn bác đã viết ra những điều trên.
    Tôi cũng đã bàng hoàng khi nhìn thấy những cảnh "nhét tiền lẻ vào tay tượng đức Thánh Trần, khi nhảy lên ngai vàng tôn nghiêm của lịch sử mà tạo dáng chụp ảnh, khi thương mại hoá di tích miếu đền...họ đã nhảy xổm lên anh linh liệt tổ, lơ láo như lũ vong bản nơi chốn hí trường."

    Nguyễn Jung

    Khách PCT viết:
    Theo tôi biết, ông Trần Quốc Vượng chưa bao giờ được nhà nước CSVN phong giáo sư, đơn giản vì họ rất sợ những sự thật trong các khảo cứu "dã sử" của ông nên không công nhận, không cho công bố, chứ đằng nói cho đăng hay in ấn. Tài liệu của bài chủ này là một ví dụ.

    Ông TQV còn thường xuyên công khai đính chính khi mọi người gọi ông là giáo sư, ngay cả trước các hội nghị lớn hay cấp cao mà thỉnh thoảng ông được mời tham luận lúc cuối đời (thường là do các học trò ông, đã làm quan, tổ chức).

    Vì thế, ví dụ, tôi không tin mấy chữ cuối cùng của bài chủ là của TQV:
    "Hà Nội – Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh)
    Mùa thu tháng Tám, 1996

    Kính nộp,

    GS Trần Quốc Vượng
    Đại học Quốc gia Hà Nội)"

    Thứ nhất, là về chữ "GS" như là ông TQV tự gọi mình là giáo sư, dù ông có thể biết mình hơn nhiều giáo sư được phong khác, còn cá nhân tôi tin và coi trọng ông hơn nhiều giáo sư sử học khác.

    Thứ hai, về chữ "Đại học Quốc Gia Hà Nội" sau tên ông. Đến khi ông bị treo bút và "mất dạy" suốt hơn 2 năm sau chuyến đi Mỹ 1993-1994, rồi "ngồi chơi xơi nước", về hưu không có quyết định (1993-2000)... ĐHQHHN vẫn chỉ tồn tại trên giấy từ một Nghị định 97/CP không được thực thi, và bản thân ông phản đối ý tưởng thành lập ĐHQGHN mà ủng hộ vẫn giứu nguyên Đại học Tổng hợp HN, nên không thể năm 1996 ông ghi đơn vị của mình là ĐHQGHN được, mà chỉ có thể là ĐHTH HN.

    Thứ ba, chữ "Mùa thu tháng Tám, 1996" là rất "sến" và giả dối (nịnh CS), không phải văn phong cũng như tâm tư của ông, nhất là năm 1996 ông đang bị CS đì "mất dạy" và cũng không được cho về hưu (đã 62 tuổi).

    Tôi nói đến chi tiết vụn trên là để nói đến những "chi tiết vụn" khác trong thân bài, đó là những câu như:

    "Chỉ sau này Nguyễn Ái Quốc mới xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam."

    Theo tôi, đó không phải vì không thể là văn phong và ý tưởng của TQV. Ông không bao giờ nịnh ai, chứ đùng nói nịnh đảng và Hồ của đảng một cách thô thiển như vậy!

    Ai đó đã nhét vào miệng ông TQV những câu như thế, dù ông đã nằm dưới mồ gần chục năm nay.

    Tôi vẫn nhớ trận mưa rào lớn bất ngờ giữa trưa hôm hạ huyệt ông ở nghĩa trang Vĩnh Phúc năm 2005 đó, và tôi như chợt thấy ông cười mỉm vì việc tôi đang vạch trần và phản đối những kẻ làm việc vô văn hóa như vậy với người đã chết...

    Với tôi, ông là nhà nghiên cứu văn hóa lớn hàng đầu VN hiện đại, như ông Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Từ Chi...

    PCT

    Đọc hai bài của ông Trần Quốc Vượng, tôi cảm thấy lấn cấn, lạ lùng về những đoạn viết về ông Hồ Chí Minh. Những đoạn này tạo cho tôi cảm giác, ông Vượng muốn thanh minh, gỡ tội cho ông Minh:

    Vua Gia Long có công thống nhất giang sơn, dù phải cầu viện Pháp = ông Minh "cũng" đã thống nhất Việt Nam dù "cũng đã" cầu viện 2 đảng Cộng sản Liên xô, Trung cộng.

    Tôi không có may mắn được học, quen ông Vượng, nên không rõ sự thật như thế nào. Có thể đúng như bác Châu Thành đã viết:

    PCT viết:
    Ai đó đã nhét vào miệng ông TQV những câu như thế, dù ông đã nằm dưới mồ gần chục năm nay.

    Một người viết sử chân chính, khi viết về một triều đại nào, vị vua nào
    chỉ viết về triều đại đó, vị vua đó, không thể "tự nhiên" quăng vào giữa bài viết những giòng ca tụng một "vị vua" sinh sau, đẻ muộn những 128 năm.
    Khi vua Gia Long qua đời, ông Hồ chí Minh vẫn còn "lang thang, lãng du"
    đâu đó trong cõi Ta Bà, chưa được phép "giáng trần" để "cứu nước".

    Nguyễn Jung

    Tư tưởng HCM thì đã được giải thích, thế nhưng giải thích kiểu CS thì có cũng như không, đó là "Tư tưởng HCM là yêu nước kết hợp với CNXH." Hiến pháp thì ghi "ta theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng HCM". Tôi hiểu chủ nghiã Mác Lê nin và CNXH là một, lý do Mác và Lê nin là tác giả của CNXH, đó là công hữu hóa mọi tư liệu sản xuất, có đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, làm ăn tập thể không có người bóc lột người. Trên lý thuyết thì đã không tưởng, còn chưa thấy trong thực tế. Trong thực tế thì nước nào giương cao ngọn cờ của CNXH thì đều là nhà nước độc tài, kìm hãm phát triển kinh tế, tức là đi ngược lại sự tiến hóa của nhân loại (yếu tố của phản động).

    Còn câu "Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam" thì đây là lần đầu tiên tôi được nghe. Thú thực tôi cũng đéo hiểu ý nghĩa nó ra làm sao.

    Tôi chỉ biết: GS Trần Quốc Vượng (do thói quen gọi từ trước, còn nhà nước có phong hay không thì tôi không biết, có lẽ cũng giống như GS Trần Đức Thảo, chưa thấy có văn bản nào của nhà nước phong cho nhà triết học hàng đầu thế kỷ XX, rồi GS Lê Quang Vịnh thì ông này trước dạy trung học (cấp 2) chế độ cũ gọi là GS), nay ta vẫn gọi ông Vịnh như thế) có thời gian đi Pháp và xin tị nạn chính trị (như ông đại tá Bùi Tín) nhưng Pháp không chấp nhận, sau đó GS Vượng sang Mỹ cũng xin tị nạ chính trị, nhưng Mỹ cũng không nhận. Không hiểu sao các nước tư bản lại cần (đánh giá cao) một nhà báo co danh hơn là một GS sử học cũng thành danh?

    Tôi được biết GS Trần Quốc Vượng có nhiều công trình nghiên cứu về Minh Côông (tức Hồ Chí Minh) tôi chỉ nhớ được 2 điều khi nghe ông nói chuyện:

    - Trong lý lịch khai với Quốc tế CS III thì Minh Côông khai vợ là bà Nguyễn thị Minh Khai, sau này bà Minh Khai lấy Lê Hồng Phong. (Bà Khai có con hay em gì đó -có lẽ em thì đúng hơn vì bà bị xử tử sớm quá, lại có nghi vấn là Minh Côông tố bà với cảnh sát Pháp để trả thù cả hai vợ chồng bà) tên là Dung làm giám đốc bệnh viện Viết xô ( nay là bệnh viện Hữu nghị). Về trình độ văn hóa thì Minh Côông rất ma lanh láu cá, đéo dám khai thực là mình học lớp mấy mà khai là "tự học". Điều này thì có lần cụ Võ Nguyên Giáp cũng nói thế.

    - Điều thứ hai GS Vương nói: Có lần Minh Côông sang Liên xô gặp Xta lin. Ý Xtalin là làm cách mạng vô sản toàn cầu, Minh Côông gân cổ lên lên cái "Tôi làm cách mạng cho dân tộc tôi, cho đất nước tôi." Xtalin cho là tên xô vanh nên tát cho một cái và đầy đi Xibêri. Trên đường đi thì cụ Hoàng Văn Hoan (có thời làm phó chủ tịch quốc hội, sau xin tị nạn tại Trung quốc và chết ở bên đó) cứu được và đưa về Bắc Kinh, được bà Vương Quang Mỹ là vợ Lưu Thiếu Kỳ (chủ tịch nước Trung Hoa vĩ đại, lúc chết thì không bằng người hành khất) mua cho quần áo để hóa trang. Có lần vợ chồng bà Quang Mỹ đến thăm Hà Nội sau khi Minh Côông đã trở thành CHỦ CHIẾU nước VNDCCH, có cuộc mít tinh chào mừng hai vị khách "quý" này thì trước cuộc mít tinh, Minh Côông kể chuyện này trước toàn dân tỏ lòng biết ơn vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ giúp mình lúc ba đào sa chân lỡ bước.

    Tiếng Trung quốc gọi người đứng đầu một tổ chức nào đó là CHỦ TỊCH, TỊCH có nghĩa là cái chiếu, nay ta "thoát trung" thì nên gọi là CHỦ CHIẾU.

    Ông GS này là cán bộ Sử học của nhà nước CỘng sản VN, nên mới viết ' Tư tưởng Hồ chí Minh ', thú thật tôi cũng muốn đọc nhưng chả có sách nào viết ra Tư tưởng HCM là tư tưởng như thế nào ?, nói thêm , ai cũng học tốt theo gương học tập và đạo đức của bác Hồ thì VN có tới 90 triệu vị cha già của dân tộc thì nguy wuoá xá !
    Ông GS có thế viết đề tài này được không ?, nhưng viết thì đừng có tư tưởng 'dở hơi ' nhá, kẻo đi đứt tiền hưu trí ấy.

    Tại sao viết về nhân vật lịch sử mà nhà sử học Trần Quốc Vượng lại tự thú không phải là sử gia?

    Tại sao khen Hồ Chí Minh là người duy nhất xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam mà cuối bài phải mượn lời của Angels để phân bua rằng ông không rành về triết để nói chuyện tư tưởng.

    Lý do là vì sử gia Trần Quốc Vượng phải khen Hồ Chí Minh để có thể chữi cha mấy thằng Việt cộng đã bao đời dùng duy vật biện chứng để suy diễn về lịch sử Việt nam, đặc biết là thời nhà Nguyễn.

    Nên nhớ ông Vượng viết bài này vào năm 1996. Trước đó ít lâu, tập Trong Cõi của ông bị cấp xuất bản vì có bài về tông tích của Hồ Chí Minh theo lời đồn đại của dân gian làng Sen xứ Nghệ. Mấy tên Việt cộng như bị kiến cắn vào mông, hung hăng ngăn cấm ông Vượng nhưng mấy nhà xuất bản hải ngoại đã in sách và tuyển tập những bài viết của Trần Quốc Vượng mới đến tay người đọc. Còn bản thân ông, chắc phải chịu nhiều khó khăn với đám văn nô văn nghệ Việt cộng.

    Sống trong vòng kềm toả của chúng, chẳng phải Nguyễn Tuân từng nói ông ta sống còn là vì biết sợ (Việt cộng khủng bố). Nhạc sỹ Tô Hải phải đến cuối đời mới đủ can đảm nhận mình là hèn. Ông Vượng chắc cũng biết phải lươn lẹo trong xã hội CS mới có cơ hội viết lách và xuất bản, từ đó trình bày những điều mình muốn nói mà không phải mang hoạ với công an Việt cộng.

    Khi ông gs Trần Quốc Vượng còn sống, chỉ vì tính nói thẳng mà ông bị đảng csvn không ưa, họ rất khó chịu nhưng đành mặc vì tiếng tăm ông đủ lớn. Sự ra đi của ông đã như một món quà cho họ. Bởi vậy, những gì đã viết trong một giai đoạn nào đó của 'một gs Vượng đã chết' được đem ra giới thiệu, nhất là liên quan tới việc nói hay, nói tốt cho một kẻ thuộc loại 'Vua dối trá' của csvn thì độc giả nên suy nghĩ kỹ về dụng ý sâu xa bên trong.

    Tự thân lịch sử như nó đã vận động tự nhiên là thế, với sử học, là 2 vấn
    đề chứ không phải 1.
    Lịch sử khách quan, hoàn toàn không bị chi phối bởi tình cảm và ý chí của
    đời sau. Nhưng Sử học, dĩ nhiên là được ghi lại khi hiện tượng đã xảy ra
    rồi.
    Sử học, ngoài tính khoa học thường kiêm tính văn học ít nhiều. Dùng ngôn từ
    là mặc nhiên đã chở tình cảm - lý trí - nghệ thuật trong nó, như một phương tiện vận tải. Lý trí mỗi sử gia mỗi khác, tình cảm cũng khác, xuất xứ
    cũng khác, nghệ thuật văn chương cũng khác...
    Sử học, do vậy, rất chủ quan. Nó là chủ thể nhận thức trước đối tượng nhận
    thúc là bản thân lịch sử.
    Cùng duy một đối tượng lịch sử, mà có nhiều chủ thể khác biệt nhận thức cùng
    với các điều kiện riêng cho mỗi chủ thể dị biệt không/thời.
    Ấy thế mà, đa phần hậu nhân rất dễ tin vào các văn liệu sử học! Tính văn
    học không tránh khỏi phải hàm trong sử học, khiến lịch sử dễ bị hư cấu gia
    giảm. Nhất là một khi các sử gia thiếu đức vô tư trong sáng và chính trực,
    tức là không đủ tư cách sử gia cao quý. Làm sử học, mà có mục tiêu tư lợi
    cho bản thân, cho triều đại xã hội mà mình đang nhận ân sủng, thì độ khả tín
    càng thấp.

    Thế nên, dã sử tuy vô danh, lắm khi có giá trị gần sự thật hơn là chính sử
    viết ra từ các sử quan tên tuổi.
    Đứng trong, và sống nhờ đặc ân của một chế độ chánh trị khét tiếng độc tài
    toàn trị, thì việc việc chép chính sử càng nằm sâu giữa vòng toàn trị.

    Thế thì làm sao an lòng khi đọc loại sử học ấy? Chỉ có thể tạm tin tưởng khi sử gia là ẩn sĩ vô danh, không màng danh lợi, chánh tâm quân tử, âm thầm
    chụp ảnh lịch sử như nó là.

    Quan điểm công bằng trên tinh thần nhân bản, trong nhận thức về triều Nguyễn cùng các vị vua quan, như phần nào trong bài viết trên đây của cố
    GS.Trần quốc Vượng, có thể là một món lạ miệng cho nhu cầu tinh thần của
    đồng bào sinh ra lớn lên trong lòng toàn trị CSVN, đến nỗi chính tác giả
    cũng dè dặt khi muốn mời nhân dân thưởng thức vì e có thể gây dị ứng thực
    phẩm, và ông sẽ bị truy cứu trách nhiệm.

    Nhưng món ăn văn hoá này, đối với người trưởng thành ở miền Nam trước 1975,
    thì không có gì đặc biệt để xếp nó vào hàng cao lương mỹ vị. Người Nam thời
    VNCH vẫn đã từng ăn như cơm bữa ngày thường. Nó nuôi sống tinh thần, nhưng
    không lạ miệng, không có gì đặc biệt đáng nói.

    Trong giới hạn của một cái còm, tôi không thể diễn bày căn cứ vào đâu mà
    dám nói thế, có vẻ xem thường một món đặc sản của nhiều đồng bào không may
    sinh trưởng trong lòng toàn trị như vậy? Không, trung ngôn nghịch nhĩ, lời thật
    mất lòng, nhưng biết mà không nói để mặc lớp em cháu trường kỳ lầm lẫn, tôi
    thấy lòng ray rức.

    Chỉ xin ngắn gọn, quan điểm sử học VNCH hơn xa quan điểm sử học XHCN, ít ra
    là trên tính nhân bản và đức công bằng. Mãi rất gần đây, khi không thể khác,
    người viết sử XHCN mới cất giấu bớt những gì họ đã, vì sự sống sượng nghiệt
    ngã của những sản phẩm sử học của họ. Đơn cử, họ đã từng dạy trong sách giáo khoa
    để đầu độc tính phi nhân bản, tính tà vạy vọng ngữ cho các con em, rằng:

    "Mạt kiếp Gia Long mang tội nước, Nghìn năm Nguyễn Huệ sử ghi công".

    Khốn nạn thay, ngay trong nhà tôi, mấy đứa em lớn lên sau 30/4/75, nay vẫn
    còn đinh ninh bài học ấy!

    Cứ nhìn toàn xã hội miền Nam ngày trước, nơi nơi đều tôn vinh các nhân vật
    lịch sử có công với dân tộc ở cả 2 phía Tây Sơn và Nguyễn, qua việc đặt tên
    những ngôi trường, những con đường, những quân trại, những cư xá...đã phản
    ánh quan điểm đạo đức hiếu thảo với tiền nhân và lòng công bằng con cháu, khi nhìn
    ngước lên bàn thờ cha ông cùng các mâu thuẫn giữa các vị lúc sinh thời.

    Ở phần đất do VNCH quản trị, có đủ các trường : Quang Trung/Gia Long;
    Trần quang Diệu/ Võ Tánh và Ngô tùng Châu; Bùi thị Xuân, Ngô thời Nhậm bên
    hàng ngũ Tây Sơn vẫn được tôn kính không khác bên hàng ngũ Nguyễn Vương:
    Lê văn Duyệt, Đỗ thanh Nhân... Có một đại học xá mang tên Minh Mạng, cùng thành phố với
    một trung tâm huấn luyện quân sự Quang Trung, không hề phân biệt công đức
    người xưa.

    Sau 75, người ta tự cho mình cái quyền tuỳ tiện xoá sạch các tên tuổi
    danh nhân đã phục vụ triều Nguyễn, trên các chốn công cộng. Thay vào
    đó là vô số những cái tên vừa thấp tầm vừa bẩn thỉu.
    Trong tấm lòng hậu thế VNCH, tuy vẫn rút ra những đúng sai của mỗi bên làm bài học kinh nghiệm,
    nhưng không cực đoan gay gắt đến mức hỗn hào với tiền nhân như những bài sử học XHCN. Kết quả của giáo dục tốt đẹp đâu không thấy,
    chỉ thấy tính xấc láo của con em XHCN khi nhét tiền lẻ vào tay tượng đức
    Thánh Trần, khi nhảy lên ngai vàng tôn nghiêm của lịch sử mà tạo dáng chụp ảnh, khi thương mại hoá di tích miếu đền, khi.v.v.và.v.v...họ đã
    nhảy xổm lên anh linh liệt tổ, lơ láo như lũ vong bản nơi chốn hí trường.

    Còn những chi tiết về hoàng hậu Ngọc Hân sau khi vua Quang Trung băng hà,
    như GS Vượng vừa đề cập, đâu có bất ngờ gì với giới học sử đã hơn 40 năm
    trước tại miền Nam. Nhìn chung toàn bài, không thấy có bất ngờ nào.

    Chỉ như một bữa cơm thường ngày!
    Nhưng cái gia vị HCM mà đầu bếp GS.Vượng thêm vào, làm bữa ăn vô duyên khó nuốt.

    Theo tôi biết, ông Trần Quốc Vượng chưa bao giờ được nhà nước CSVN phong giáo sư, đơn giản vì họ rất sợ những sự thật trong các khảo cứu "dã sử" của ông nên không công nhận, không cho công bố, chứ đằng nói cho đăng hay in ấn. Tài liệu của bài chủ này là một ví dụ.

    Ông TQV còn thường xuyên công khai đính chính khi mọi người gọi ông là giáo sư, ngay cả trước các hội nghị lớn hay cấp cao mà thỉnh thoảng ông được mời tham luận lúc cuối đời (thường là do các học trò ông, đã làm quan, tổ chức).

    Vì thế, ví dụ, tôi không tin mấy chữ cuối cùng của bài chủ là của TQV:
    "Hà Nội – Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh)
    Mùa thu tháng Tám, 1996

    Kính nộp,

    GS Trần Quốc Vượng
    Đại học Quốc gia Hà Nội)"

    Thứ nhất, là về chữ "GS" như là ông TQV tự gọi mình là giáo sư, dù ông có thể biết mình hơn nhiều giáo sư được phong khác, còn cá nhân tôi tin và coi trọng ông hơn nhiều giáo sư sử học khác.

    Thứ hai, về chữ "Đại học Quốc Gia Hà Nội" sau tên ông. Đến khi ông bị treo bút và "mất dạy" suốt hơn 2 năm sau chuyến đi Mỹ 1993-1994, rồi "ngồi chơi xơi nước", về hưu không có quyết định (1993-2000)... ĐHQHHN vẫn chỉ tồn tại trên giấy từ một Nghị định 97/CP không được thực thi, và bản thân ông phản đối ý tưởng thành lập ĐHQGHN mà ủng hộ vẫn giứu nguyên Đại học Tổng hợp HN, nên không thể năm 1996 ông ghi đơn vị của mình là ĐHQGHN được, mà chỉ có thể là ĐHTH HN.

    Thứ ba, chữ "Mùa thu tháng Tám, 1996" là rất "sến" và giả dối (nịnh CS), không phải văn phong cũng như tâm tư của ông, nhất là năm 1996 ông đang bị CS đì "mất dạy" và cũng không được cho về hưu (đã 62 tuổi).

    Tôi nói đến chi tiết vụn trên là để nói đến những "chi tiết vụn" khác trong thân bài, đó là những câu như:

    "Chỉ sau này Nguyễn Ái Quốc mới xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam."

    Theo tôi, đó không phải vì không thể là văn phong và ý tưởng của TQV. Ông không bao giờ nịnh ai, chứ đùng nói nịnh đảng và Hồ của đảng một cách thô thiển như vậy!

    Ai đó đã nhét vào miệng ông TQV những câu như thế, dù ông đã nằm dưới mồ gần chục năm nay.

    Tôi vẫn nhớ trận mưa rào lớn bất ngờ giữa trưa hôm hạ huyệt ông ở nghĩa trang Vĩnh Phúc năm 2005 đó, và tôi như chợt thấy ông cười mỉm vì việc tôi đang vạch trần và phản đối những kẻ làm việc vô văn hóa như vậy với người đã chết...

    Với tôi, ông là nhà nghiên cứu văn hóa lớn hàng đầu VN hiện đại, như ông Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Từ Chi...

    PCT

    Lịch sử được/bị "kể lại" thì có bao nhiêu sự thật trong đó? Với một "thằng" khố rách áo ôm , "wandering" là đời du mục, rày đây mai đó, lang thang, lang bang. Khi "thằng ngốc gặp hên" hoá thành "ông" rồi, lúc ấy "wandering" trở thành văn hoá, mà văn hoá thì phải "phiêu lãng" chứ không thể "lang thang" được. "Shit" là "phân" hay là "cứt" thì cũng vậy.
    "Malgré ses ambitions de vérité, l'histoire n'est, après tout, que de la parole humaine, soumise à la triste condition de la parole humaine, qui est de pouvoir tromper et de pouvoir être trompée" (Barbey d'Aurevilly)
    (Tạm dịch: Mặc dù những tham vọng về sự thật của mình, lịch sử xét cho cùng chỉ là lời nói của con người, (nó) phải tuân thủ cái điều kiện tồi tệ mà lời nói áp đặt cho, ấy là (nó) có thể lừa dối và bị lừa dối)

    GS Trần Quốc Vượng viết: "Chỉ sau này Nguyễn Ái Quốc mới xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam."

    "Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam" là như thế nào? Bác nào biết xin giải thích giúp. Cám ơn,

    Tại sao tư tưởng Hồ Chí Minh lại là đại đoàn kết dân tộc?
    - Đoàn kết dân tộc sao lại đi chỉ điểm và giết hại các nhà hoạt động chính trị không theo cộng sản?
    - Đoàn kết dân tộc tại sao lại khởi động cuộc chiến đẫm máu giữa người Việt hai miền với nhau, dẫn chết hết hại cả triệu người?

    Tại sao tư tưởng Hồ Chí Minh lại là "tương đối" thuần Việt Nam?
    - Cải cách ruộng đất sát hại địa chủ (và những người bị V.C. chụp mũ, kết tội oan) cũng như Nhân Văn Giai Phẩm là hai sản phẩm được nhập cảng từ nước Tàu và có nhúng máu của bàn tay chệt đỏ (Mao-Ít). Tổ chức chính trị, sinh hoạt xã hội, tác phong ăn bận/ăn nói cũng được sao chép lại gần như y chang từ Tàu đỏ; tư tưởng và đường lối chính trị thì nửa Tàu, nửa Liên Xô.
    Ông này chắc bị nhiễm văn hoá Tàu nhiều quá nên giống như cá bơi trong sông, không để ý là có nước ở chung quanh.

    Giáo sư Trần Quốc Vượng viết:
    01.5. Ông không chống Tây, Thiên chúa, cũng không sùng bái quá đáng Thanh – Nho như người ta tưởng, và ông loay hoay – tìm mà chẳng được – một HỆ Ý THỨC VIỆT NAM. Ông làm theo kiểu Việt Nam mà chưa điều chế nổi một lối suy nghĩ (Way of thinking) Việt Nam. Chỉ sau này Nguyễn Ái Quốc mới xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt Nam. Nhưng đó lại là một đề tài chuyên luận Triết – Sử khác, ít dính dáng đến chủ đề ta đang bàn về Gia Long.

    Gia Long không chống Tây, Thiên chúa, nhưng tại sao các vua sau lại chống ?

    Tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung gì mà lại cho là tương đối thuần Việt Nam?

    Trước đây có bác nào đó (quên tên) giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đoàn kết dân tộc thì phải. Nếu thế thì chẳng có gì lạ về tư tưởng vì cái câu đoàn kết vẫn nghe như khi có đình công, khi có khó khăn ở châu Âu.

    Nhưng trong thực tế việc Hồ Chí Minh theo CN Mac-Le, ra tay "phải chuyên chính với kẻ thù" của độc tài vô sản, Hồ Chí Minh có đi ngược lại đại đoàn kết dân tộc hay không ?