Giang Lê - Stein Tonnesson vs Phạm Quang Tuấn

  • Bởi Khách
    11/07/2014
    5 phản hồi

    Giang Lê

    Có ba nhóm học giả quốc tế chính nghiên cứu về BĐ-HS-TS. Thứ nhất là các chuyên gia về political science/international relation (vd Greg Austin, John Collins, Ang Cheng Guan, Jeanette Greenfield, Sam Bateman, Ralf Emmers), bao gồm cả các nhà Việt Nam học (Carl Thayer, Jonathan London). Thứ hai là các chuyên gia luật quốc tế (Robert Beckman, Monique Chemillier-Gendreau, Christopher Joyner, Erik Franckx, Choon Ho Park). Cuối cùng là các nhà sử học (David Marr, Marwyn Samuels, Philippe Devillers, Stein Tonnesson). Còn một nhóm thứ tư là các chuyên gia quân sự nhưng họ ít khi xuất đầu lộ diện. Tất nhiên phân chia như vậy chỉ là tương đối vì một chuyên gia có thể biết và viết về nhiều lĩnh vực, nhất là khi nghiên cứu về tranh chấp BĐ-HS-TS hầu như chuyên gia nào cũng đụng chạm đến lịch sử và công pháp quốc tế.

    Trong ba nhóm nói trên nhóm đầu đông nhất và có nhiều bài vở nhất, nhưng họ phải thường xuyên trích dẫn secondary sources, nghĩa là họ phải dựa vào công trình của hai nhóm sau (luật và sử) là những người tiếp xúc và phân tích trực tiếp các bằng chứng primary (luật, án luật, tư liệu lịch sử, phỏng vấn nhân chứng...). Trong số các nhà sử học Stein Tonnesson là một cái tên được trích dẫn khá nhiều trong các bài nghiên cứu về BĐ-HS-TS gần đây. Ông là tác giả của hai quyển sách về lịch sử VN trong giai đoạn 1944-1946, là những công trình nghiên cứu công phu hàng chục năm (từ khi ông làm luận án thạc sĩ năm 1981), và hàng loạt bài viết về tranh chấp BĐ-HS-TS. Dù Tonnesson còn viết về Thailand và một số đề tài khác, có thể nói học giả này là một nhà sử học + Việt Nam học.

    Vì là người "ngoại đạo" nên tôi chỉ biết đến tên Stein Tonnesson (ST) sau "vụ Sam Bateman". Tôi đã cố gắng liên hệ với ông để hỏi ý kiến về HS-TS nhưng ông không/chưa trả lời. Sau khi Google rất kỹ cái tên này tôi tình cờ phát hiện ra một cuộc tranh luận khá căng thẳng giữa Tonnesson và GS Phạm Quang Tuấn (PQT) từ năm 2011. Cuộc tranh luận này còn có sự tham gia của TS Lê Văn Út (Phần lan) và Stein Tonnesson đã chủ động copy thư trao đổi với PQT/LVU cho GS Su Hao (Đại học Ngoại giao TQ). Toàn bộ các email tranh luận được đưa lên website này (bản dịch tiếng Việt ở đây). Đọc kỹ cuộc tranh luận ST-PQT tôi lờ mờ hiểu tại sao Tonnesson không muốn tranh luận một lần nữa với một kẻ ngoại đạo như tôi. Chắc ông đã nhận ra rằng những người VN (hay Philippines, hay Malaysia) email cho ông chủ yếu để tìm sự ủng hộ quan điểm chống TQ mà ông luôn cố gắng giữ trung lập dù ông có thể có cảm tình với VN.

    Trước khi đi vào phân tích cuộc tranh luận có lẽ cần nói thêm về GS Stein Tonnesson, một người Na-uy có quan tâm về VN từ rất sớm trong sự nghiệp học thuật của mình. Quyển sách Vietnam 1946: How the war began của ông xuất bản năm 2009 đã từng được trang web của Đảng Cộng Sản viết bài giới thiệu. Quyển sách này sau đó (2013) đã được nhà xuất bản Sự thật dịch sang tiếng Việt. Một bài review tiếng Việt rất công phu của tác giả Vũ Tường trên Talawas cho thấy Vietnam 1946 được chính quyền VN hoan nghênh vì tác giả cho rằng phần lỗi lớn thuộc về phía Pháp đã gây ra cuộc chiến Việt-Pháp 1946-1954. Tonnesson còn tham gia khá nhiều hội thảo về VN, có một bài viết về Hiến pháp 1946 rất chi tiết. Gần đây nhất ông trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên về vụ tranh luận Sam Bateman-Dương Danh Huy/Phạm Quang Tuấn, tỏ ý chê Sam Bateman trong khi khen DDH/PQT. Tóm lại tôi đánh giá đây là một học giả nước ngoài khá thân thiện với VN nếu không muốn nói có quan điểm "bênh" VN trong các nghiên cứu của mình.

    Quay lại cuộc tranh luận ST-PQT, chủ điểm xoay quanh vấn đề đường chữ U (đường 9 đoạn/lưỡi bò) mà TQ vẽ trên các bản đồ của mình từ năm 1947. Tại một hội thảo về Biển Đông tại HN tháng 11/2011 Stein Tonnesson lập luận rằng đường chữ U chỉ có thể hiểu theo nghĩa TQ muốn tuyên bố tất cả các đảo/bãi đá trong vùng biển bên trong chữ U này thuộc về TQ. Còn cách hiểu của đa số mọi người là TQ claim toàn bộ vùng biển giới hạn bởi đường chữ U là sai. GS Phạm Quang Tuấn cho rằng lập luận của Tonnesson "chạy tội" cho TQ và dẫn chứng quan điểm của một học giả TQ (GS Su Hao) cũng trong hội thảo đó cho thấy cách hiểu của TQ vẫn là nước này đòi hỏi chủ quyền cho toàn bộ Biển Đông chứ không phải chỉ có các đảo. Trong một bài phỏng vấn với đài RFA sau đó GS Tuấn đã tỏ ý nghi ngờ Stein Tonnesson thiên vị TQ và TQ sẽ lợi dụng lập luận của ông để khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Lập luận của GS Tuấn cũng tương tự như một bài báo của Philippines mà tôi trích dẫn mấy hôm trước.

    Đến đây cần làm rõ khái niệm đường chữ U là gì và giá trị pháp lý của nó như thế nào. Cho đến thời điểm cuộc hội thảo ở HN tháng 11/2011 TQ chỉ một lần duy nhất công bố chính thức bản đồ có đường chữ U cho một tổ chức quốc tế năm 2009 (trong Note Verbale phản đối CLSC Submission của VN và Malaysia) với ngôn ngữ rất mập mờ. TQ chưa bao giờ công bố tọa độ chính xác và nói rõ ý định của đường chữ U là gì mà chỉ nói chung chung họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử về chủ quyền vùng biển bên trong chữ U. Tất nhiên TQ có chủ ý khi cố tình mập mờ như vậy để mọi người tự hiểu. Tuy nhiên các học giả quốc tế, nhất là các chuyên gia luật, khi phân tích các tranh chấp và giải pháp cho BĐ-HS-TS buộc phải giả định cơ sở pháp lý của đường chữ U thì mới đánh giá được TQ và các nước khác đúng hay sai. Ở đây cần nhấn mạnh các học giả đó (cả Tonnesson) đưa ra những giả định không có nghĩa họ ủng hộ hay phản đối claim của TQ về đường chữ U.

    Giả định của Tonnesson là TQ chỉ claim các đảo bên trong đường chữ U chứ không phải toàn bộ vùng biển đó được nhiều học giả đồng tình, bao gồm cả các học giả "nghiêm túc" người TQ như GS Zhiguo Gao. Đơn giản vì theo UNCLOS ranh giới trên biển không phụ thuộc vào historical rights là điều mà TQ vẫn rêu rao. Với giả định này Tonnesson đã thẳng thừng bác bỏ khả năng TQ có chủ quyền trên vùng biển bên trong chữ U, đây là quan điểm có lơi cho VN. Ngay trong bài viết cho hội thảo tại HN năm 2011 Tonnesson khẳng định vị trí tàu Bình Minh bị TQ cắt cáp nằm trong EEZ của VN cũng là hệ quả của giả định nói trên. Tương tự như vậy vị trí giàn khoan HD-981 hoàn toàn nằm trong EEZ của VN bất kể đảo Triton thuộc về ai nếu đảo này không có thềm lục địa và EEZ (nhiều khả năng như vậy).

    Rất tiếc GS Phạm Quang Tuấn và TS Lê Văn Út đã quá vội vàng phê phán giả định này của Tonnesson. Hơn thế nữa Tonnesson cho rằng trong khi TQ chưa chính thức công bố claim toàn bộ Biển Đông (đảo + biển bên trong chữ U) mà VN và các nước khác vội vã kết luận như vậy thì sẽ có lợi cho TQ vì lái dư luận quốc tế theo hướng ngầm hiểm toàn bộ Biển Đông đang bị tranh chấp. Thay vì tập trung vào việc giải quyết chủ quyền đảo HS-TS và các khu vực EEZ bị trồng lấn, các học giả VN bị cuốn vào cuộc tranh luận về đường chữ U mà chắc chắn sẽ không đi đến đâu. Lập luận của GS Tuấn rằng VN và các nước trong khu vực không thể bỏ qua vấn đề đường chữ U vì như vậy là ngầm chấp nhận nó cũng không chính xác. Một khi TQ chưa công bố rõ ràng đường chữ U là gì (claim, tọa độ) thì nó hoàn toàn không có cơ sở pháp lý trong các phiên tòa quốc tế.

    Cơ sở pháp lý cũng không thể được tuyên bố từ các bài nghiên cứu/phát biểu của các học giả TQ như GS Su Hao. Tôi đồng ý với GS Phạm Quang Tuấn là những người như Su Hao là "mouthpiece" của chính phủ TQ nhưng cần phân biệt các dạng tuyên truyền phi chính thức thông qua báo chí và học giả như TQ đang làm với tuyên bố chủ quyền chính thức từ chính phủ. Cho dù Su Hao và các học giả TQ khác có nói thế nào đi nữa đó chỉ là quan điểm cá nhân và chỉ có giá trị thông tin chứ không có giá trị pháp lý. Cho đến thời điểm này (7/2014) TQ vẫn chưa claim chính thức vùng biển trong đường chữ U. Bức thư gửi UN ngày 8/6/2014 BNG TQ vẫn chỉ khẳng định giàn khoan HD-981 nằm ngoài vùng EEZ của VN còn các bài báo của các đại sứ TQ ở một số nước cũng chỉ tuyên bố địa điểm này nằm trong contiguous zone của đảo Triton. TQ không hề dựa vào đường chữ U để phản đối VN. Vậy nên ngay từ năm 2012 Tonnesson đã khuyên một việc VN cần làm là yêu cầu ICJ/PCA xác định các đảo ở HS-TS có được thềm lục địa và EEZ hay không, giống như khuyến cáo gần đây của TS Tạ Văn Tài.

    Điểm cuối cùng trong cuộc tranh luận ST-PQT là lý do tại sao TQ cố tình mập mờ về đường chữ U. Theo Tonnesson có thể có mấy cách giải thích sau: (a) TQ biết điều đó quá vô lý nhưng đã lỡ tuyên truyền trong nước như vậy rồi nên không thể rút lại đường chữ U và đành phải để nó mập mờ; (b) các cơ quan quản lý và lãnh đạo TQ chưa thống nhất được phương án claim chính thức; (c) các lãnh đạo cao nhất của TQ không hiểu rõ luật quốc tế và bỏ qua lời khuyên của giới học giả; (d) vấn đề Biển Đông dính dáng đến Đài loan và TQ muốn giải quyết vấn đề ĐL trước; (e) dọa các nước láng giềng về ý đồ bành trước toàn bộ Biển Đông để các nước phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán khác; (f) chờ thời đến khi TQ đủ mạnh sẽ thực sự chiếm toàn bộ Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế. GS Phạm Quang Tuấn và có lẽ phần đông người Việt (trong đó có tôi) chỉ tin vào phương án (f).

    Sự kiện tàu Bình Minh bị cắt cáp năm 2011, rồi qui định đánh bắt cá của chính quyền đảo Hải Nam năm 2013 và các cuộc bắt bớ đâm tàu cá VN, gần đây nhất là vụ giàn khoan HD-981 cho thấy phương án (f) có vẻ có lý. TQ có âm mưu lâu dài độc chiếm Biển Đông và họ sẽ sử dụng sức mạnh quân sự khi có thể. Điều duy nhất tôi không đồng ý với GS Stein Tonnesson trong cuộc tranh luận này là quan điểm của ông cho rằng TQ có incentive và có lợi giữ gìn hòa bình/ổn định lâu dài trong khu vực theo tinh thần Tôn Tử. Chính Tonnesson cho rằng vị trí tàu Bình Minh bị cắt cáp nằm trong EEZ của VN và hành động của TQ không phải là tranh chấp mà là xâm lược (aggression) đáng phải đưa ra UN Security Council. Việc TQ tiếp tục lấn tới trong những năm sau cho thấy chiến thuật "tằm ăn rỗi" bất chấp luật pháp quốc tế chứ không phải vì sĩ diện. Hi vọng Tonnesson đã "tỉnh ngộ" không còn mơ hồ về một nước TQ "yêu chuộng hòa bình" nữa.

    Update: Tôi đã nhận được thư trả lời của GS Stein Tonnesson

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Phản hồi: 

    Đối phó với âm mưu của Trung Quốc, cách tốt nhất là kiện

    Thứ sáu, 11/07/2014, 06:25 (GMT+7)

    Hiện nay, Trung Quốc vẫn một mặt hung hãn trên thực địa xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đồng thời vu cáo Việt Nam. Đó là âm mưu vô cùng thâm độc. Vậy Việt Nam nên làm gì để đối phó?

    Để trả lời câu hỏi này, PV đã có cuộc trao đổi với TS.Trần Công Trục, Nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ.

    Thưa ông, vậy là đã hơn hai tháng kể từ ngày Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hơn hai tháng nay, tình hình căng thẳng trên Biển Đông vẫn không hề có chiều hướng thuyên giảm mà còn có dấu hiệu gia tăng. Là người từng đề xuất rất nhiều lần “nên kiện Trung Quốc”, vậy cho đến bây giờ ông còn giữ với quan điểm đó không?
    Sau một thời gian dài chúng ta kiên trì, khéo léo, nhẫn nại cùng Trung Quốc ngồi lại bàn bạc, xử lý vấn đề một cách êm thấm nhưng câu trả lời mà chúng ta nhận được lại hoàn toàn ngược lại. Bên cạnh việc tiếp tục duy trì những hoạt động ngang ngược trước đó, hiện nay Trung Quốc còn điều thêm một số giàn khoan khác đặc biệt là giàn khoan Nam Hải 9 để đẩy căng thẳng lên cao, hay vấn đề Gạc Ma, vụ bắt bớ ngư dân đánh cá của Việt Nam… Vừa mới đây, họ còn có một số động thái khác trong vấn đề thông báo bão cũng như tiến hành một số động thái mà người ta cho rằng Trung Quốc chuẩn bị có những hoạt động mạnh mẽ về mặt quân sự trong khu vực Biển Đông.
    Với tất cả những động thái đó tôi nghĩ rằng nếu chúng ta vẫn còn muốn giải quyết vấn đề một cách hòa bình thì chúng ta cần phải tiếp tục làm rõ việc này thông qua Cơ quan Tài phán Quốc tế.
    Nếu kiện Trung Quốc, Việt Nam nên kiện độc lập hay tham gia cùng Philippines?
    Có mấy phương án như sau: Một là chúng ta có thể tham gia cùng với Philippines. Hai là chúng ta cũng có thể đơn phương kiện.
    Cả hai việc đó đều có kết quả như nhau và đều tạo được sự đồng thuận với các nước trong khu vực và quốc tế cũng như tranh thủ được tiếng nói ủng hộ của dư luận nói chung. Tất nhiên, nội dung của từng đơn kiện phải được xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của từng nước.
    Theo ông, nếu kiện Trung Quốc một cách độc lập với tư cách là bên nguyên đơn, Việt Nam cần chuẩn bị những nội dung gì?
    Đối với những tranh chấp như tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, vạch định ranh giới trong các vùng chồng lấn… nếu không có thỏa thuận của các bên liên quan thì tòa án sẽ không thụ lý giải quyết.
    Do đó, chúng ta có thể đơn phương kiện lên Cơ quan tài phán quốc tế và cơ quan này có thể thụ lý đó là việc Trung Quốc đã giải thích và áp dụng sai về Công ước Luật biển năm 1982 để bảo vệ và duy trì một yêu sách rất vô lý, không có cơ sở, không có căn cứ, đó là yêu sách về đường lưỡi bò.
    Nếu Việt Nam tiến hành kiện Trung Quốc, theo ông nên chọn tòa án nào?
    Cái đó cũng cần phải tính kỹ. Trước đây, Philippines cũng tính toán và đưa ra Hội đồng tòa án trọng tài về luật biển theo Phụ lục 7. Tôi cho rằng, nếu Việt Nam cũng làm với hình thức đó thì có thể tạo ra một sự đồng thuận, một tiếng nói mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc chiến chống lại “yêu sách bành trướng” của Trung Quốc.
    Là người theo dõi rất kỹ động thái của Trung Quốc, trong đó có việc Trung Quốc bất ngờ đưa công hàm lên Liệp Hợp Quốc. Ông có đánh giá gì về những chứng cứ mà Trung Quốc đưa ra?
    Những tài liệu mà phía Trung Quốc đưa ra tại Liệp Hợp Quốc chủ yếu là những tài liệu trước năm 1970 để nói rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa. Do đó, Trung Quốc cho rằng mọi hoạt động vừa qua của Trung Quốc đều nằm trong vùng biển Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) còn Việt Nam đang cố tình làm phức tạp vấn đề.
    Chúng ta phải lưu ý rằng, trong văn bản gửi Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc không hề đề cập đến Luật Biển hay Công ước luật biển hay yêu sách trên biển…. đấy là tính toán của Trung Quốc. Tức là họ dựa vào một số tài liệu mà họ có thể khai thác để từ đó tạo ra một lực lượng dư luận ở trong nước cũng như quốc tế nhầm tưởng rằng Việt Nam đã từ bỏ chủ quyền. Từ chỗ đó, họ bắt đầu tính đến các hoạt động rộng hơn trên cơ sở vị trí này. Đấy là cách đi của Trung Quốc mà chúng ta cần lưu ý.
    Tôi đã từng phân tích, vào giai đoạn lịch sử đó, Chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa theo hiệp định Geneva có quyền quản lý lãnh thổ phía Bắc bắt đầu từ vĩ tuyến 17 trở ra và không được quyền giao trách nhiệm quản lý vùng lãnh thổ phía Nam. Do đó, mọi động thái, ý kiến kể cả những văn bản chính thức nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không có giá trị gì khi nói trên Công pháp Quốc tế. Không chỉ những tài liệu tham khảo có tính chất cá nhân, chia sẻ kiến thức như sách giáo khoa, bản đồ địa lý, công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng không có giá trị pháp lý.
    Chính thể của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ quản lý hai quần đảo này bao gồm: Việt Nam Cộng hòa và tiếp đến là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Xin khẳng định một lần nữa, chỉ có 2 chính thể được Luật pháp quốc tế thừa nhận này mới có quyền bảo vệ và quản lý chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    Ông có nghĩ rằng Trung Quốc sẽ sử dụng những luận điệu, bằng chứng này cũng như là những bằng chứng “ngụy tạo” khác để “kiện ngược” Việt Nam hay không?
    Đây không phải lần đầu tiên tôi được nghe vấn đề này, trái lại họ nói rất nhiều lần và trong bối cảnh hiện nay mục đích của Trung Quốc là để cho dư luận hiểu nhầm vấn đề. Đó là cách “tung hỏa mù” mà Trung Quốc đã từng sử dụng nhiều lần.
    Về mặt pháp lý, tôi đảm bảo rằng công thư của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, sách giáo khoa cũng như một vài lời tuyên bố trước đây không có giá trị bởi vì nó không có căn cứ để nói rằng Trung Quốc có chủ quyền về mặt lịch sử đối với hai quần đảo này.
    Chúng ta nhớ rằng, các quyền thụ đắc lãnh thổ đối với vùng này phải là vấn đề chiếm hữu thực sự với tư cách Nhà nước. Đặc biệt, trong quá trình chiếm hữu đó không vấp phải bất kỳ một phản đối nào và có những bằng chứng có giá trị pháp lý chứ không phải đem tất cả những tài liệu, các bản đồ địa lý một cách chung chung mơ hồ để đưa ra và gọi nó là chứng cứ để đấu tranh. Đấy chẳng qua chỉ là hình thức tuyên truyền có tính chất chính trị nhiều hơn là pháp lý.
    Phải chăng theo ông việc kiện Trung Quốc bây giờ nên làm và phải làm?
    Chúng ta phải tận dụng và hành động ngay nếu chúng ta muốn làm cho tình thế bớt căng thẳng hơn cũng như hạn chế được những bài bản mà Trung Quốc đã tính toán sẵn. Nếu chúng ta không hành động thì khó khăn càng chống chất, căng thẳng càng tiếp tục mạnh hơn và nguy cơ của những xung đột không thể kiểm soát vẫn tiềm ẩn.
    Xin cảm ơn ông.
    (Infonet)

    Phản hồi: 

    Quốc hội và công thư Phạm Văn Đồng

    Nguyễn Vũ
    Thứ Hai, 16/6/2014, 10:58 (GMT+7)

    (TBKTSG Online) – Quốc hội đang họp kỳ họp thứ bảy trong bối cảnh Trung Quốc đưa giàn khoản Hải Dương vào sâu thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đặc biệt gần đây trong những lập luận “ngược đời” để xác lập chủ quyền Hoàng Sa, phía Trung Quốc đã viện dẫn công thư mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào ngày 14-9-1958.

    Quần đảo Hoàng Sa, thuộc lãnh thổ Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép và tạm thời quản lý. Ảnh lichsuvn.net
    Việt Nam cũng như các nhà nghiên cứu đã nhiều lần lên tiếng khẳng định công thư này hoàn toàn không có giá trị về mặt pháp lý đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nhân dịp Quốc hội đang họp, các đại biểu có nên có những động thái nào để tái khẳng định điều nói trên một cách chính thức?
    Có ý kiến cho rằng Quốc hội nên ra một Nghị quyết riêng, phủ quyết công thư của ông Phạm Văn Đồng với lý do Quốc hội thời đó chưa bao giờ có ý kiến chính thức về công thư này. Cũng có ý kiến cho rằng nên khẳng định công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 hoàn toàn không đề cập đến vấn đề lãnh thổ, chủ quyền và không đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ý kiến khác lại cho rằng những lập luận của các học giả về việc công thư không có giá trị pháp lý là rất rõ ràng, Quốc hội nên sử dụng các lập luận này trong một văn bản chính thức, công bố trong kỳ họp này, để xem đó là tài liệu chính thức mà Việt Nam có thể sử dụng sau này trong các tranh biện pháp lý với Trung Quốc.
    Trả lời phỏng vấn TBKTSG Online, Luật sư Tạ Văn Tài, nguyên giảng viên và hiện là nghiên cứu viên Trường Luật thuộc Đại học Harvard cho rằng Quốc hội không cần ra tuyên bố nói công thư của ông Phạm Văn Đồng là sai và nay Quốc hội phải ra Nghị quyết để hủy bỏ hay phủ quyết gì cả.
    Ông Tài cho rằng cách hay nhất là Quốc hội, với quyền giải thích Hiến pháp và các văn bản pháp quy, các văn kiện luật và dưới luật cho ra một tuyên bố, nói rằng công thư mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1958 chỉ là một tuyên bố đơn phương (unilateral declaration) chỉ nhằm mục đích ủng hộ Chu Ân Lai khi hai nước Việt Nam và Trung Quốc là đồng minh. Phần giải thích của Quốc hội nói rõ công thư chỉ ủng hộ về cái gọi là 12 hải lý lãnh hải mà ông Chu Ân Lai tuyên bố cho Trung Quốc. “Chừng đó cũng đủ để phá luận cứ của Trung Quốc về Hoàng Sa,” luật sư Tài xác quyết.
    Trong một văn bản gởi kèm cho TBKTSG Online, Luật sư Tạ Văn Tài đã đưa ra lời giải thích của ông về công thư Phạm Văn Đồng và cách đáp lại những luận cứ của phía Trung Quốc (phần tóm tắt mà chúng tôi đã đăng tải trên TBKTSG Online, tại đây). Bản giải thích đầy đủ của luật sư Tạ Văn Tài được đăng toàn văn dưới đây.
    Ông Tài cho rằng Quốc hội Việt Nam chỉ cần ra một tuyên bố chấp nhận lời giải thích của ông Tài với tư cách là một học giả độc lập, mang tính khách quan và ghi vào biên bản phiên họp. Theo ông, đây là một hành vi nghị trường nhẹ nhàng và đúng mực nhưng cũng rất công chính, không sợ phía Trung Quốc xuyên tạc.
    **

    Luật sư Tạ Văn Tài. Ảnh TL
    Phụ lục lời giải thích của Luật sư Tạ Văn Tài về công thư/công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958

    Luận cứ của Trung Quốc khi họ viện dẫn công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng, KỂ CẢ TRONG VỤ BIỆN MINH CHO VIỆC ĐẶT GIÀN KHOAN TRONG VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM, là để nói rằng ông Đồng đã ra công hàm ủng hộ tuyên bố của Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai, do đó công nhận:
    - “Lời tuyên bố chủ quyền Trung Quốc trên các lãnh hải, kể cả lãnh hải tính từ các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

    - Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là hải phận của Trung Quốc

    - Nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuân thủ các luật lệ liên hệ của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”

    Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Tổng lý Chu Ân Lai năm 1958. Ảnh TL
    Ông Phạm Văn Đồng gửi bức công hàm cho Ông Chu Ân Lai nguyên văn như sau:
    “Thưa đồng chí Tổng lý,

    Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

    Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.”

    * * *
    Nên ghi chú ngay rằng ông Phạm Văn Đồng chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói về đảo, đất. Nhưng chúng tôi xin đi vào chi tiết 2 luận cứ pháp lý để bác luận cứ của Trung Quốc về công hàm Phạm Văn Đồng như sau:
    (a) Thứ nhất, và quan trọng nhất, Hiệp định Geneva trao quyền quản lý hành chánh Hoàng Sa và Trường Sa, đều ở phía nam vĩ tuyến 17, cho chính phủ Miền Nam Việt Nam, tức Việt Nam Cộng hòa (VNCH), ở phía nam vĩ tuyến đó, cho nên các hành vi xác lập và hành xử chủ quyền về Hoàng Sa và Trường Sa phải thuộc thẩm quyền VNCH, và chính phủ này cũng như hải quân của họ đã mạnh mẽ xác nhận chủ quyền Việt Nam ở các hải đảo trong và sau biến cố hải chiến 1974. Còn ông Phạm Văn Đồng, đại diện miền Bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) lúc đó, không có thẩm quyền hay không có ý định tuyên bố gì về chủ quyền đất đai về Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH vào thời điểm đó, mà chỉ dưa ra lời tuyên bố công nhận hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
    Tuy nguyện vọng “dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một” là chính đáng, nhưng tình trạng hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) trong luật quốc tế, cho nên thực tại có hai nước Việt Nam, VNDCCH và VNCH, trong thời gian 1954-1975, là đúng với luật quốc tế và có lợi về mặt chính trị và pháp luật trong việc bảo vệ chủ quyền đất đai trên Hoàng Sa và Trường Sa bởi VNCH trong thời gian đó, mà ngày nay, sau khi thống nhất dất nước năm 1976, thì VNDCCH rồi Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia kế quyền (successor state) trong sự bảo vệ chủ quyền đất đai đó. Sự kế quyền trong việc bảo vệ chủ quyền đất đai này đã được chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới.
    Vào ngày 25-11-2011 tại Quốc hội, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có những phát biểu về Hoàng Sa và Trường Sa: “Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự ít nhất là từ thế kỷ XVII. Chúng ta làm chủ hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào và chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục hòa bình. Nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa. Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo, với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển này, vùng biển trong phạm vi mà 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta. Trong khi đó ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc cũng đã chiếm 7 bãi đá ngầm, Đài Loan chiếm 1 đảo nổi, Philippines chiếm 9 đảo, Malaysia chiếm 5 đảo, còn Brunei có đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển nhưng không có chiếm giữ đảo nào”.
    Khi một quốc gia đã hội đủ 4 điều kiện sau đây của Hiệp ước Montevideo 1933 (nó xác lập truyền thống luật quốc tế mấy thế kỷ về tình trạng quốc gia/statehood), thì phải được coi là một quốc gia (state) thành viên trong cộng đồng quốc tế: (a) một dân số ổn định vĩnh cửu (a permanent population); (b) một lãnh thổ rõ rệt (a defined territory); (c) một chính quyền (a government); và (d) có khả năng giao dịch với quốc gia khác (capacity to enter relations with other states). VNCH là một thực thể có đủ 4 điều kiện này. Còn vấn đề các nước khác nhìn nhận một state có đủ bốn điều kiện trên để lập bang giao thì là một vấn đề chính trị và tiêu chuẩn chính trị thêm vào bốn tiêu chuẩn luật, và chính phủ nào ghét một nước nào mà không nhìn nhận thì cũng không thể xóa bỏ tư cách state của nước đó - đó là trường hợp Cuba bị Mỹ ghét, không nhìn nhận, mà Mỹ đâu có xóa tư cách state của Cuba được. Tòa án Mỹ vào các năm 1920’s công nhận chính phủ Bolshevik của Liên xô có đặc miễn như chủ thể quốc tế khi có các vụ kiện đòi các tiền ký thác khi xưa trong ngân hàng ở Nga bị Bolsheviks quốc hữu hóa, mặc dù chính phủ Mỹ hồi đó chưa nhìn nhận nước Liên xô.
    Nước VNCH 1954-75 đã được mấy chục nước nhìn nhận ngoại giao, có lúc Liên xô đã đề nghị cả hai nước Việt Nam vào Liên hiệp quốc. Việc có vô Liên hiệp quốc hay không vô được (thí dụ bị một trong 5 quốc gia hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an phủ quyết) , thì là chuyện chính trị, không phải là tiêu chuẩn về sự khai sinh một nước/state.
    Những ai, cứ viện dẫn Hiệp định Genève nói sẽ có một nước Việt Nam sẽ được thành lập với tuyển cử thống nhất hai phần đất tạm thời chia cắt, mà coi nước VNCH như không có trong trời đất là không hiểu luật quốc tế mấy trăm năm về statehood và lẫn lộn tiêu chuẩn pháp lý về statehood trong luật quốc tế với những sự sắp xếp chính trị của các cường quốc trong một hiệp định giữa vài nước mà thôi, đã cố tình quên cái thực tại chính trị là đã có mấy chục nước nhìn nhận sự khai sinh của VNCH, và cũng quên mất luật quốc tế theo nghĩa là một số ít nước ký Hiệp định Geneve không thể truất cái quyền tối cao (sovereign) của mấy chục nước kia đã nhìn nhận VNCH.
    Bây giờ ông Thủ tướng Dũng nói, và trước đây giả thử tiền nhiệm của ông là ông Đồng nói một cách minh thị hơn nữa, nói đến hai nước Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975, thì cũng không giảm giá trị của sự nghiệp thống nhất đất nước vào năm 1975-76 vì trong lịch sử thế giới, đã có nhiều quốc gia chia ra nhiều mảnh rồi lại thống nhất, và cũng có quốc gia chia ra hai, thí dụ Pakistan chia thành hai, nửa kia thành Bangladesh, Sudan trước là một thì nay là hai quốc gia, mà các quốc gia đó vẫn có vị trí được nhìn nhận trong cộng đồng các quốc gia; và các lãnh tụ chính trị đưa hai quốc gia của một dân tộc đến thống nhất, mà biết tôn trọng quyền lợi của cả dân tộc sau khi thống nhất, thì cũng được lịch sử khen ngợi—như Lincoln, sau Chiến tranh Nam Bắc Mỹ, đã nói “Cùng nhau, chúng ta sẽ săn sóc cho cô nhi, quả phụ của cả hai bên”
    Vậy xin nhắc lại là ông Đồng, đại diện miền Bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó, phải được giải thích là không có thẩm quyền hay không có ý định tuyên bố gì về chủ quyền đât đai về Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH, một quốc gia khác vào thời điểm đó, mà chỉ dưa ra lời tuyên bố công nhận hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Có giải thích như vậy mới không bị Trung Quốc bắt bí, và cứ quy cho Việt Nam cái thế “há miệng mắc quai” vì lối giải thích công hàm Phạm Văn Đồng của Trung Quốc.
    (b) Thứ hai, một bản tuyên bố đơn phương (unilateral declaration) như Công hàm Phạm Văn Đồng không có hiệu lực pháp lý về mặt quốc tế. Trong luật quốc tế, không thể cố áp dụng lý thuyết estoppel, tức là lý thuyết trong luật pháp quốc nội của một số quốc gia có quy định là “Đã nói ra thì không nói ngược lại được”, vì lý thuyết này không áp dụng trong luật quốc tế theo cùng các điều kiện như trong luật quốc nội, vì có những điều kiện ngặt nghèo, và do đó không thể coi lời nói đơn phương có hiệu lực ràng buộc đương nhiên trong luật quốc tế.
    Tòa án quốc tế trong một vụ xử giữa Đức và Đan Mạch/Hà Lan về thềm lục địa đã nói như vậy. Ngoài ra, theo một án lệ khác, khi xét ý nghĩa của lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải xét một cách chặt chẽ ý định (intention) của người tuyên bố.
    Theo án lệ NUCLEAR TESTS CASE AUSTRALIA& NEW ZEALAND v. FRANCE 1974 I.C.J. 253, thì “dĩ nhiên là không phải hành vi đơn phương nào cũng tạo ra nghĩa vụ; nhưng một quốc gia có thể chọn theo một lập trường về một vấn đề nào đó với ý định sẽ tự ràng buộc—miễn là ý định này phải xét kỹ bằng sự giải thích hành vi đó. Khi các quốc gia đưa ra lời tuyên bố hạn chế tự do hành động của mình, thì phải giải thích hạn hẹp…” Tòa án cũng nói là: “chỉ cần xét một vấn đề quan trọng là xem lời văn trong lời tuyên bố có biểu lộ một ý định rõ rệt không … Tòa án phải tự có quan điểm riêng về ý nghĩa và phạm vi mà tác giả lời tuyên bố đơn phương nào có thể tạo ra một nghĩa vụ pháp lý, và tòa không thể bị ảnh hưởng gì bởi quan điểm của một quốc gia khác vốn không thể là một bên đương sự trong lời tuyên bố đó.” (Of course, not all unilateral acts imply obligation; but a State may choose to take up a certain position in relation to a particular matter with the intention of being bound--the intention is to be ascertained by interpretation of the act. When States make statements by which their freedom of action is to be limited, a restrictive interpretation is called for......The Court further stated in the same case: “... the sole relevant is whether the language employed in any given declaration does reveal a clear intention...”(Ibid., p. 32). Court must however form its own view of the meaning and scope intended by the author of a unilateral declarationwhich may create a legal obligation, and cannot in this respect be bound by the view expressed by another State which is in no way a party to the text.).
    Ý định của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong cái câu ông nói ở Công hàm 1958 (“Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc") có thể nói thêm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã im lặng nhiều năm, không phản đối chuyện mất Hoàng Sa về tay họ năm 1956 (khu vục Amphitrite với đảo Woody/Phú Lâm, phía đông Hoàng Sa) và 1974 (khu vực Crescent có đảo Pattle/Hoàng Sa phía tây Hoàng Sa). Sau hết, Việt Nam có in bản đồ ghi Tây Sa, Nam Sa (Trung Quốc) và có in một dòng trong sách giáo khoa lớp 9 như sau: “ Chuỗi hải đảo Nam Sa, Tây Sa, Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ and Châu Sơn như một vòng cung bức trường thành nó bảo vệ lục địa Trung quốc”
    Nhưng Việt Nam có thể bác khước là ngay cả lời tuyên bố đơn phương/unilateral declaration của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng không có giá trị về chuyển nhượng lãnh thổ, nữa là mấy bài báo Nhân dân thời đó hay lời nói thoáng qua của Bộ trưởng Ngoại giao Khiêm chỉ nhắc lại nguyên văn bản tuyên bố của Trung Quốc.
    Còn việc Trung Quốc biện luận là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa im lặng khi mất Hoàng Sa trong những năm trước 1975 thì có thể trả lời là lúc đó, việc phản đối thuộc thẩm quyền của chính phủ có quyền quản lý là quốc gia Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa đã mạnh mẽ phản đối, kể cả chống cự bằng võ lực.
    Sau khi thống nhất,hay khi sắp sửa thống nhất, thì hải quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã vội chiếm trong tay quân đội Việt Nam Cộng hòa các đảo ớ Trường Sa vào năm 1975 và từ 1976 trở di, chính phủ của nước Việt Nam thống nhất liên tục lên tiến phản đối để bảo lưu chủ quyền Việt Nam.
    Sau hết, việc in bản đồ ghi Tây Sa, Nam Sa (Trung Quốc) là Việt Nam chỉ nói để làm được lòng Trung Quốc, đồng minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang viện trợ lúc đó, muốn yêu sách như vậy, cũng như Trung Quốc bây giờ in khung Đường Lưỡi Bò vào trong sổ hộ chiếu họ dùng, nhận vơ hầu như tất cả Biển Đông trong khung Đường Lưỡi Bò đó; cả hai việc đó không có giá trị của một lời hay một hiệp ước nhượng đất của các cơ quan hiến định Việt Nam có quyền nhượng đất, là chủ tịch nước và nghị viện hay quốc hội.
    Cái câu trong sách giáo khoa thì cũng chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền ngoa ngữ để ủng hộ tinh thần cho Trung Quốc khi nước này đang lo sự đe dọa của Tổng thống Mỹ ít năm trước đó chỉ định các vùng đó là vùng chiến trận, và câu đó không có giá trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhượng đất hiện dưới chủ quyền của VNCH.

    Phản hồi: 

    Trích post ngày 14/6/14 "KIỆN TRUNG QUỐC ?" trên blog http://hohuyanh.wordpress.com/

    "... Có ít nhất hai hành động khả thi về pháp lý quốc tế mà Việt Nam có thể chọn một trong hai, hoặc chọn cả hai: (1) kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Công lý Quốc tế – International Court of Justice (ICJ); và (2) kiện Trung Quốc ra trước Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật biển – International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS).

    (1) Nếu muốn dùng việc xét xử của một tòa án quốc tế để thách thức việc Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam cần kiện Trung Quốc ra trước ICJ. Lý do là vì chủ quyền lãnh thổ (territorial sovereignty) nói chung không được coi là một vấn đề thuộc thẩm quyền của ITLOS (sẽ được nói đến trong (2) ở dưới).

    Điều quan trọng cần thấy là Trung Quốc dựa trên tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của họ đối với quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) để làm cơ sở cho quyền đặt giàn khoan dầu HD-981, chứ không dựa trên “đường chín đoạn” (nine-dash line) mà thường được các báo chí nhắc đến là “đường lưỡi bò” ...

    (2) Ngoài cách (1) ở trên,Việt Nam còn có thể kiện Trung Quốc ra trước ITLOS – tức là cơ quan trọng tài của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển – United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).

    Như đã thấy, Philippines đã khởi kiện và Trung Quốc đã từ chối không tham gia. Tuy nhiên, việc Việt Nam kiện Trung Quốc ra trước ITLOS sẽ hỗ trợ cho Philippines trong việc bắt bí “đường chín đoạn” của Trung Quốc và các vấn đề khác có liên quan đến UNCLOS." ...

    Phản hồi: 

    Tác giả viết:

    "Điểm cuối cùng trong cuộc tranh luận ST-PQT là lý do tại sao TQ cố tình mập mờ về đường chữ U. Theo Tonnesson có thể có mấy cách giải thích sau: (a) TQ biết điều đó quá vô lý nhưng đã lỡ tuyên truyền trong nước như vậy rồi nên không thể rút lại đường chữ U và đành phải để nó mập mờ; (b) các cơ quan quản lý và lãnh đạo TQ chưa thống nhất được phương án claim chính thức; (c) các lãnh đạo cao nhất của TQ không hiểu rõ luật quốc tế và bỏ qua lời khuyên của giới học giả; (d) vấn đề Biển Đông dính dáng đến Đài loan và TQ muốn giải quyết vấn đề ĐL trước; (e) dọa các nước láng giềng về ý đồ bành trước toàn bộ Biển Đông để các nước phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán khác; (f) chờ thời đến khi TQ đủ mạnh sẽ thực sự chiếm toàn bộ Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế. GS Phạm Quang Tuấn và có lẽ phần đông người Việt (trong đó có tôi) chỉ tin vào phương án (f)."

    ==>

    Tôi đồng ý quan điểm của ông Stein Tonnesson, rằng TQ không chính thức claim chủ quyền cả Biển Đông (hay trên 80% diện tích BĐ), mà chỉ gây hỏa mù để đánh lạc hướng các bên nhằm có cơ hội chiếm giữ và củng cố chủ quyền các đảo/bãi cạn tạo nên chữ U, và nếu có thể cả các EEZ từ chúng nữa.

    Đó là chiến lược không chỉ "dương đông kích tây", mà cả là "to mồm áp đảo, muốn 2 thì đòi 10", dù 10 là thậm vô lý nhưng phải thế vì 2 cũng là... vô lý.

    Ngoài các lý do a->f mà ông ST đưa ra trên theo tôi con có thể nêu ra mấy (05) lý do quan trọng khác nữa là:

    g)gây hỏa mù để đánh lạc hướng các bên nhằm có cơ hội chiếm giữ và củng cố chủ quyền các đảo/bãi cạn tạo nên chữ U cho TQ;
    => Cụ thể, TQ đang gấp rút san lấp và xây dựng 5 bãi đá chìm thành đảo cát nổi ở TS trong khi tạo xung đột ở vùng HS;

    h)TQ hiểu rõ luật quốc tế và biết việc claim cả Biển Đông là xâm phạm lợi ích (hàng hải, không lưu, n/c khoa học, môi trường biển, trật tự pháp lý quốc tế...) của thế giới, tức là động chạm/đối đầu trực tiếp đến quyền lợi của Mỹ và các nước khác trong khu vực như NHật và Asean - điều mà TQ dù rất hung hăng "trỗi dậy" nhưng còn chưa dám bất chấp;
    => TQ chưa đưa ra LHQ claim pháp lý nào cho chữ U mà chỉ đưa ra claim về EEZ cho các đảo TQ đã chiếm được ở HSa;

    i)chiến thuật hỏa mù đó tạo điều kiện cho CSVN - vốn đã là tay sai của TQ - dễ bề xoay sở và thao túng hơn với dân VN (trong và ngoài nước) thay vì chỉ tập trung claim thẳng vào chủ quyền HS và TS và các EEZ của chúng mà TQ đang "tranh chấp" với VN.
    =>CSVN trong khi "phản đối" TQ hiện nay luôn nhấn mạnh chữ Biển Đông trước hết rồi mới đến HS/TS, hoặc chỉ BĐ thôi. CSVN đang lờ đi việc TQ xây cất ở Trường Sa và tránh nói đến chủ quyền Hoàng Sa trong vụ HD981...

    j) đó cũng là cái bẫy cho những ai ngây thơ "phản đối chữ U" như CSVN thì sẽ bị lạc (mất thời cơ và mất công sức) vào đó.
    -> Bằng chứng là Mỹ và các nước khác không chính thức phản đối chữ U mà chỉ yêu cầu TQ làm rõ nó. Họ chỉ phản đối hành vi của TQ trong khu vực có tranh chấp là vi phạm các thông lệ hay thỏa thuận (chưa phải luật) quốc tế.

    k) Claim chữ U mù mờ của TQ không mâu thuẫn với quyền đánh bắt cá trên Biển Đông mà TQ cũng có như VN và các nước khác, trừ khi đó là EEZ của nước khác không có tranh chấp (TQ công nhận), tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đánh cá của ngư dân TQ trên BĐ làm người ta lầm tưởng đó là hoạt động dựa trên chủ quyền lãnh thổ hay EEZ của TQ.
    => Vì thế, Mỹ, Nhật và các nước chỉ phản đối khi TQ đem tầu chiến và máy bay đến các khu vực có tranh chấp này, và phản đối hành vi và cách xử lý khi có tranh chấp quyền đánh bắt cá của TQ mà thôi...

    Việc cắt cáp tàu Bình Minh tất nhiên là sai trái ngỗ ngược, về pháp lý TQ có thể coi như để bảo vệ quyền đánh bắt cá của TQ ở khu vực còn tranh chấp EEZ đó (vì dây cáp cản trở việc đánh bắt, dù chỉ tạm thời)...

    Vì thế, theo tôi, nhận định và kết luận sau của tác giả Giang Lê chỉ thiên về lý do (f) trên là không khách quan và vì thế lạc hướng:

    "Sự kiện tàu Bình Minh bị cắt cáp năm 2011, rồi qui định đánh bắt cá của chính quyền đảo Hải Nam năm 2013 và các cuộc bắt bớ đâm tàu cá VN, gần đây nhất là vụ giàn khoan HD-981 cho thấy phương án (f) có vẻ có lý. TQ có âm mưu lâu dài độc chiếm Biển Đông và họ sẽ sử dụng sức mạnh quân sự khi có thể. Điều duy nhất tôi không đồng ý với GS Stein Tonnesson trong cuộc tranh luận này là quan điểm của ông cho rằng TQ có incentive và có lợi giữ gìn hòa bình/ổn định lâu dài trong khu vực theo tinh thần Tôn Tử. Chính Tonnesson cho rằng vị trí tàu Bình Minh bị cắt cáp nằm trong EEZ của VN và hành động của TQ không phải là tranh chấp mà là xâm lược (aggression) đáng phải đưa ra UN Security Council. Việc TQ tiếp tục lấn tới trong những năm sau cho thấy chiến thuật "tằm ăn rỗi" bất chấp luật pháp quốc tế chứ không phải vì sĩ diện. Hi vọng Tonnesson đã "tỉnh ngộ" không còn mơ hồ về một nước TQ "yêu chuộng hòa bình" nữa."

    Mà đã là lạc hướng, sa đà vào thuyết âm mưu - "TQ có âm mưu lâu dài độc chiếm Biển Đông và họ sẽ sử dụng sức mạnh quân sự khi có thể" thì rất vô cùng, và chỉ có hại cho VN, chỉ càng có lợi cho CSVN và TQ (vốn là một trong cuộc diễn này)!

    Tóm lại, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa đã và đang mất vào tay TQ thì CSVN không bảo vệ và đòi lại mà chỉ cứ dựng lên cái cối xay gió Biển Đông để mà đưa ngư dân VN ra chiến đấu (chỉ ngư dân VN thôi) như Đôn Kikhốt vậy!

    Còn ông Stein Tonnesson là người tỉnh táo khách quan thì tác giả lại khuyên ông ta "tỉnh ngộ", thật là hài kịch trùm lên bi hài kịch...

    PCT

    Phản hồi: 

    Rất thích bài này. Dù nói khá nhiều về Biển Đông, tôi chưa coi mình là một chuyên gia về vấn đề này. Chỉ là một người rất quan tâm. Dù sao, phân tích trong bài này là hay, và useful. Cảm ơn bạn!