Phong Uyên - Chủ nghĩa TB Nhà nước kiểu Trung Quốc chỉ là chủ nghĩa Tư bản dã man ở Tây phương thời kỳ hậu bán thế kỷ thứ XIX

  • Bởi Hồ Gươm
    05/07/2014
    4 phản hồi

    Phong Uyên

    made_in_china.jpg

    Tin liên quan:

    Trong một bài thuyết trình tại Diễn Đàn TED tháng 11 năm 2013 đăng trên Dân Luận mới đây, nữ tiến sĩ Dambisa Moyo có vẻ muốn đề cao cái mà bà ta gọi là "chủ nghĩa Tư bản nhà nước mô hình Trung Quốc" khi nói: "Thay vì theo Chủ nghĩa Tư bản tư nhân (kiểu Tây phương), họ (TQ) thiết lập chủ nghĩa tư bản nhà nước. Họ đã không ưu tiên hóa vấn đề dân chủ. Trái lại họ đã đặt các quyền lợi kinh tế ưu tiên hơn các quyền chính trị... Xin thưa với quý vị rằng chính là hệ thống ở Trung Quốc đang khiến người dân các quốc gia đang phát triển nghĩ rằng đó là hệ thống đáng noi theo...."

    Theo giải thích của bà Dambisa Moso, trên thế giới chỉ có 2 mô hình kinh tế. Cả 2 đều rập khuôn theo Tư bản chủ nghĩa. Cả hai chỉ khác nhau tí chút: Một bên là chủ nghĩa Tư bản tư nhân của Tây phương, ưu tiên hóa những quyền chính trị là tự do và dân chủ. Một bên là chủ nghĩa Tư bản nhà nước của cộng sản Trung Quốc, lo tăng trưởng kinh tế hơn là vấn đề cho người dân được tự do chọn lựa nhà cầm quyền.

    Bà Dambisa Moyo có vẻ không biết là cái Kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa (l' Économie Socialiste de Marché) của Tàu cộng không phải là một chủ nghĩa Tư bản Nhà nước như ở các nước cộng sản Liên Xô, Trung Quốc thời Staline và thời Mao, mà chỉ là một hệ thống trong đó nền kinh tế phóng khoáng bị đặt dưới quyền kiểm sát chính trị độc tài của một đảng duy nhất. Tất nhiên là mọi quyền hành chính trị đều nằm trong tay đảng này nên không thể nói đây là chủ nghĩa Tư bản nhà nước "đặt các quyền kinh tế ưu tiên hơn các quyền chính trị" như cách định nghĩa hơi ngây thơ của bà Dambisa Moyo.

    Thật ra cái Chủ nghĩa Xã hội kiểu Tàu (le Socialisme à la chinoise) này chỉ là phiên bản của Chủ nghĩa Tư bản dã man (Le Capitalisme sauvage) thời kỳ cuối thế kỷ thứ XIX:

    Cần nhắc qua những giai đoạn phát triển của Tư bản Âu Tây:

    Thế kỷ thứ XVII-XVIII: Tư bản thương mại (capitalisme marchand):

    Các vua chúa thời này nắm toàn quyền phân phát cho những cá nhân hay những hội đoàn đặc quyền khai thác hầm mỏ, mở lò luyện sắt trong nước và thông thương với các nước ngoài để kiếm thị trường trao đổi sản phẩm, vật dụng (Thời kỳ các lò luyện sắt và công ty Đông Ấn). Tư bản thời này có tính cách cạnh tranh thương mại nhiều hơn là bóc lột.

    Thế kỷ thứ XIX: Tư bản công nghiệp (capitalisme industriel):

    Tới thời kỳ hậu bán thế kỷ này, sản xuất công nghiệp không ngừng tăng trưởng đòi hỏi số vốn mỗi ngày một lớn. Giới tư bản tài phiệt, chủ nhân các phương tiện sản xuất, phải làm sao đạt được tối đa lợi nhuận để chuyển lại thành vốn. Cách độc nhất để có được tối đa lợi nhuận là:

    -- Giảm giá nhân công: Bắt buộc người làm công bán sức lao động của mình với cái giá rẻ nhất. Đồng thời tùy theo nhu cầu sản xuất, chủ nhân có toàn quyền mượn hay đuổi người để giảm giá thành sản xuất hơn nữa.

    -- Thâu mua nguyên liệu với giá rẻ: Để tiếp tế nguyên liệu, nhân công và tạo thị trường cho tư bản nước mình, các nước Tây phương đặc biệt là Anh, Pháp, đem quân xâm chiếm nhiều vùng có tài nguyên trên thế giới.

    Tư bản công nghiệp ở thời kỳ này, dựa vào những quyền lực chính trị để đàn áp những đòi hòi của người công nhân trong nước và dựa vào chủ nghĩa đế quốc để chiếm hữu và khai thác tài nguyên những nước bị trị, đưa ra những chính sách bóc lột, không tuân theo một luật lệ nào cả, nên có tính cách dã man.

    Điển hình của Tư bản dã man phương Tây là chính sách của Đế quốc Pháp cuối thế kỷ thứ XIX.

    Thử so sánh đế quốc Pháp cuối thế kỷ thứ XIX với Tàu cộng ngày nay:

    Đế Quốc Pháp: 10 triệu Km2 gồm chính quốc (550 000Km2) và các đất đai hải ngoại.

    Tàu cộng: 9 736 000Km2. Phát khởi từ lưu vực sông Hoàng Hà cách đây 2200 năm, tộc Hán chiếm lần lần những phần đất phía Nam sông Dương Tử và Hán hóa hết cả vùng này trong vòng 1000 năm. Những vùng phía Bắc như Mãn Châu, Mông Cổ, Tân Cương bị nhập vào Trung Quốc từ đời Nguyên, đời Thanh. Tây Tạng bị chiếm đóng hoàn toàn từ 1959.

    Pháp là nước đông dân nhất Âu Châu thời ấy (trừ Nga), hơn cả Mỹ: 40 triệu dân. 49% dân Pháp làm những nghề thuộc về nông, ngư, lâm. 29% là thợ thuyền. 40% dân Pháp được coi là thuộc thành phần chủ nhân hay sở hữu chủ (tiểu tư sản theo nghĩa Mácxít). Thợ thuyền và nông dân làm việc 11-12 giờ/ngày. Luật cấm trẻ em dưới 13 tuổi làm việc. Từ 13 đến 16 tuổi, không được làm việc quá 10 giờ/ngày. Dân thuộc địa Pháp khoảng 40 triệu người. Trong số đó Việt Nam chiếm non nửa (chừng 18 triệu).

    Chế độ Cộng hoà Pháp hồi ấy, có tự do báo chí, có 3 quyền phân lập rõ ràng. Luật pháp dân sự và xã hội được áp dụng ở mọi nơi, chính quốc cũng như thuộc địa. Không phân biệt người thuộc địa với người chính quốc nếu có khả năng và bằng cấp ngang nhau. Những viên chức trong bộ máy hành chánh của Pháp ở Miên, Lào hay ngay cả ở Tân Đảo (Nouvelle Calédonie), phần đông là người Việt. Cái trớ trêu là dưới thời Pháp thuộc, người Việt có khả năng, lại tháo vát hơn người Miên Lào, nên nhiều người di cư qua làm ăn. Nếu không có chiến tranh Việt - Pháp thì 2 xứ này có thể đã bị Việt hoá rồi. Hiện giờ thì ngược lại, những xứ này đang bị "Tàu hoá", và Việt Nam bị mất sân sau. Nói tóm lại tuy tư bản Pháp có dã man, nhất là đối với dân các thuộc địa, nhưng so vói cái gọi là "Kinh tế thị trường XHCN" của Tàu bây giờ thì vẫn là một trời một vực:

    Tàu cộng: 1300 triệu dân. Chính sách Hộ khẩu phân biệt các thành phần xã hội, thành thị với thôn quê, người Hán với người dân tộc, tạo ra nhiều giai tầng trong xã hội:

    • Giai cấp thượng đẳng là ĐCSTQ với 70 triệu đảng viên. Cho là mỗi gia đình đảng viên gồm 3 người cộng với 2 bên cha mẹ thì số người có liên quan tới ĐCSTQ ít nhất cũng tới 3-4 trăm triệu người.
    • Chính cái số 300-400 triệu người này, qua ĐCS, nắm mọi đặc quyền chính trị và kinh tế, đã tạo ra một tầng lớp trung lưu, đa số sinh hoạt ở những thành phố lớn thuộc các tỉnh miền Đông. Khác với tầng lớp trung lưu ở những nước "Tư bản tư nhân" có xu hướng chống đối với quyền hành chính trị và đòi hỏi những quyền tự do dân chủ, tầng lớp trung lưu này có liên hệ kinh tế và chính trị mật thiết với ĐCSTQ nên lại là bức tường thành bảo vệ chế độ cộng sản và hệ thống kinh tế của nó.
    • Nếu có những phần tử chống đối đòi tối thiểu tự do dân chủ, thì những phần tử này nằm trong những tầng lớp trí thức, sinh viên, tiểu thương, tiểu công nghệ, làm nghiệp vụ ở các thị thành. Những phần tử này khó có thể đoàn kết với nhau để tạo ra một xã hội dân sự đủ sức làm đối trọng với ĐCSTQ.
    • Tầng lớp dưới cùng (bách tính) gồm 900 triệu dân quê (min nong). Trong số này có chừng 650 triệu sống bằng hoa lợi của những mảnh đất nhỏ tí. 250 triệu người không đất sống, chỉ còn cách di cư, chiếm đất của các dân tộc Hồi, Tạng, Mông hay bỏ làng bỏ xóm lên tỉnh làm min gong (dân công). Số dân nửa quê nửa thợ này khoảng chừng 200 triệu người. Có thể coi 250 triệu những người này là những người nô lệ.
    • Nhưng còn những người hạng chót có số phận hẩm hưu hơn nữa, là những người dân tộc đang bị tuyệt chủng.

    Xã hội Chủ nghĩa "mèo trắng mèo đen" của họ Đặng và những người kế nghiệp, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và nay là Tập Cận Bình là:

    1° Mở rộng biên cương:

    Năm 1959 "giải phóng" phần đất cuối cùng của Tây Tạng: 1.221.000 Km2. (Đất Tây Tạng nguyên thủy là 2.500.000 Km2, bằng 1/4 Trung Quốc).

    Những năm 70-80: rời cột mốc lấn đất phía Bắc Việt Nam.

    Những năm 2000: sáp nhập Trường Sa - Hoàng Sa. Chiếm 2/3 Vịnh Bắc Việt, chiếm toàn thể biển Đông, mở rộng biển Trung Hoa đến Ấn Độ Dương.

    Với Tập Cận Bình, tham vọng của Tàu cộng là chiếm hết Biển Đông, đem Việt Nam trở lại thời quận huyện Giao chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, dưới quyền cai quản của Tổng đốc tỉnh Quảng Đông vừa mới đi tuần thú phương Nam.

    2° Thi hành chính sách diệt chủng:

    • Từ 1949 đến 1979 giết 1.triệu 200 ngàn dân Tây Tạng. Từ 1960 đến 1980 cầm tù 1 triệu người. Nhập cư 7 triệu 500 ngàn người Hán khiến số người Hán đông hơn người Tây Tạng (6 triệu người hiện giờ). Với đường xe lửa Bắc Kinh-Lhassa được thiết lập năm 2006, chỉ chừng vài năm nữa cả Tây Tạng chỉ còn người Hán và người Tây Tạng sẽ bị tuyệt chủng.
    • Số người Hán ở Tân Cương và Nội Mông hiện nay đã đông hơn người bản xứ. Số phận bị diệt chủng như dân Tây Tạng khó mà tránh được.

    3° Thực thi chủ nghĩa thực dân đế quốc của Tàu lại nhằm chính vào quê hương của bà Dambisa Moyo:

    Không biết bà ta có biết là:

    Mới chừng 10 năm số người Hán di cư qua Phi Châu đã lên đến 1 triệu người. Phố Tàu mọc như nấm ở những xứ Phi Châu thuộc Pháp, thuộc Anh khi trước. Khai thác dầu hoả, quặng mỏ, làm đường xá cầu cống, phá rừng lấy gỗ, đốt đất làm ruộng, đều là độc quyền của phu Tàu. Dân bản xứ chỉ đứng nhìn xin chút việc con con như quét dọn, rửa chén... không được làm bồi làm bếp như với thực dân Anh, thực dân Pháp ngày xưa vì bồi bếp cũng là người Tàu, y hệt như trong các cơ sở khai thác kinh doanh của Trung Quốc ở Việt Nam hiện giờ.

    Nội trong năm 2008, mậu dịch với các nước Phi Châu đã tăng lên 107 tỷ đô la. Tất nhiên là cũng như ở Việt Nam, thặng dư mậu dịch nghiêng về phía Trung Quốc: 8 tỷ đô la đổ vào Phi châu năm 2008 để kinh doanh là tiền bán đồ rẻ tiền của Tàu. Cũng tiền đó Tàu dùng để đấm mõm những lãnh đạo độc tài tham nhũng Phi châu, mua rẻ tài nguyên khoáng sản cần cho công nghệ. Chỉ một viên đại úy quèn làm cuộc đảo chính cướp chính quyền ở Guinée, giết 150 người dân dám đi biểu tình, mà đã được Bắc Kinh hứa bỏ 7 tỷ Đô la để kinh doanh dầu hỏa thì những tay hiện đang lăm le cướp chính quyền ở Phi châu được Tàu cộng hứa hẹn đến chừng nào! Nói tóm lại, những xứ Phi châu độc tài tham nhũng diệt chủng nhưng có nhiều tài nguyên như Soudan, Zimbabwe, Gabon, Congo, Lybye, Centre Afrique, Mali...dù bị cả thế giới tẩy chay thì Bắc Kinh cũng vẫn sẵn sàng nhẩy vào.

    Để chứng minh là người Tàu đến Phi Châu trước cả thực dân Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, ban Tuyên truyền Trung ương ĐCSTQ còn bịa ra một chuyện tiếu lâm là một tàu của đô đốc Trịnh Hoà dưới triều đại nhà Minh, trên đường đi chinh phục năm châu bốn bể bị đắm: 20 thủy thủ trôi dạt vào bờ biển xứ Kenya (quê cha của Obama), được dân sở tại cho phép định cư nếu giết được con trăn khổng lồ ăn thịt nhiều người. Con trăn bị giết, 20 người này được ở lại lập gia đình sinh con đẻ cái nên hiện nay có nhiều người Kenya còn mang máu Tàu (không biết trong số đó có Obama không!). Có một cô 23 tuổi tên là Sharifu làm test thấy phát hiện ADN Tàu nên được cấp học bổng theo học y khoa Đại học Nam Kinh (sic).

    4° Nếu XHCN kiểu Tàu chỉ sản sinh ra những chuyện tiếu lâm như vậy thì đỡ cho dân Tàu biết mấy. Nhưng ngoại trừ 300 triệu người thuộc giới trung lưu, đại gia và đảng viên ĐCSTQ, cuộc đời của hơn 1 tỷ bách tính Tàu chỉ là một chuỗi dài thảm kịch:

    Lương của một kỹ thuật gia, chuyên viên văn phòng có bằng cấp đại học là 2-3 euros/ngày.

    Những xí nghiệp nhà nước không sinh lợi bị đóng cửa dành chỗ cho những xí nghiệp tư nhân, sa thải (xia gang) cả mấy chục triệu công nhân (Từ 1998 đến 2003 đã 60 triệu người bị đuổi). Những người này sống vất vơ vất vương khi sài hết tiền bồi thường vài ngàn yuan (11 yuan=1 euro). Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân đã phát minh ra "người - Kleenex", dùng xong rồi vứt đi.

    Số phận của những thợ mỏ than còn thảm thương hơn nhiều: 80% điện lực đến từ than đốt. Mỗi năm 20 ngàn thợ mỏ bị chết (bằng 80% của cả thế giới). Lương cao nhất là 80 euros/tháng) trong những mỏ nhà nước. Lương thợ các mỏ tư chỉ bằng một nửa và số tử vong cũng gấp đôi.

    Trung Quốc rêu rao cùng thế giới là đã vượt Nhật và trở thành cường quốc kinh tế mạnh nhất thế giới chỉ đứng sau Mỹ. Các nhà kinh tế gia trên thế giới đều cúi đầu bái phục sức tăng trưởng kỳ diệu của nền kinh tế Trung Quốc mà không biết là sở dĩ Trung Quốc trở thành công xưởng của cả thế giới là vì XHCN kiểu TQ đã bóc lột đến xương tủy sức lao động của 200 triệu min gong:

    Ở mỗi góc đường phố các thành thị lớn đều có "Chợ Lao động". Những người họp chợ giơ cao tấm bảng đề nghề nghiệp của mình: thợ điện, thợ nề, thợ máy, thợ may, phu khuân vác v.v... Xưởng máy nào, công trường nào muốn mướn cứ việc ra "chợ người" này, tha hồ mặc cả lựa chọn, giống hệt như chợ nô lệ ngày xưa. Ngày làm việc bắt đầu từ 7 giờ rưỡi sáng cho tới 12 giờ đêm. Ở chui rúc 4, 5 người trong một xó gần nơi làm việc. Lương trả từng ngày không có giao kèo. Ốm đau hay bị tai nạn lao động ráng mà chịu. Chủ muốn đuổi lúc nào cũng được. Với số lương trung bình 70 euros/tháng, phải trả mỗi tháng 10 euros tiền thuê nhà, 5 euros thuế thổ trạch, thuế hốt rát, thuế chở rác. Nhưng trước khi được lên tỉnh bán sức lao động còn phải nộp cho cường hào làng mình tiền phí tổn giấy chứng nhận được ra khỏi làng, giấy chứng minh thư, giấy chứng nhận độc thân, giấy chứng nhận sinh đúng tiêu chuẩn (con một). Ngoài ra còn phải đặt tiền thế chân cho chủ, tiền giấy cư trú tạm thời và thẻ làm việc. Cả thảy là mất toi 2 tháng lương trước khi có việc.

    Suy thoái kinh tế toàn cầu không làm giảm lợi nhuận tư bản ĐCS Tàu mà ngược lại: mỗi năm thêm 14 triệu "min gong" cộng thêm 24 triệu người thất nghiệp, làm giá nhân công rẻ như bèo. Ngoài ra còn thêm một số con nít thôn quê phần nhiều là con gái, bị cha mẹ gửi lên tỉnh làm "min gông" lậu. Số phận con gái sinh ra thật là thê thảm: Ở nhà quê nếu sinh con đầu là gái được sinh lần thứ hai. Nhưng nếu chẳng may lại sinh con gái thì chỉ có nước phá thai hay bóp cổ chết để hi vọng còn sinh được con trai lần nữa. Nếu may mà đứa con gái thứ hai còn sống sót được thì cũng như là không có ở trên đời vì không có giấy khai sinh. Lớn lên một chút 13-14 tuổi là bị gửi lên tỉnh làm khoán bất cứ công việc gì ở những xưởng lậu đầy ô nhiễm, kiếm 1-2 euros/ngày 15 giờ.

    Thành quả của CNXH kiểu Trung Quốc là: 10% người giầu nhất ở thành thị chiếm hữu 45% của cải của cả nước. 10% người nghèo nhất chia nhau 1,4%. Số người nghèo (lợi tức dưới 75 đô la/năm) đã lên đến hơn 100 triệu người. Nhưng số tỷ phú đô la cũng tăng lên và hiện nay đã vượt Pháp. Còn triệu phú đô la thì chỉ thua Mỹ.

    Chủ nghĩa Xã Hội Tư bản man rợ này có triển vọng bền vững vì những lí do sau đây:

    1° Tư bản Âu châu Thế kỷ XIX không thể tiếp tục tăng lợi nhuận bằng cách bóc lột nhân công được, vì sự cạnh tranh giữa các nước tư bản với nhau, vì công nghiệp tiến triển đòi hỏi nhiều nhân công có trình độ. Những người này biết đoàn kết lập những công đoàn có tính cách siêu quốc gia khiến tương quan lực lượng người sản xuất và người nắm phương tiện sản xuất lần lần cân bằng nhau. Đồng thời ý tưởng công bằng của Cách mạng Pháp và lý tưởng tương thân tương ái của đạo Phản thệ (Protestantisme) vẫn thấm nhuần trong tâm thức nhiều người: Người Pháp đòi hỏi sự công bằng xã hội. Người Anh Mỹ coi làm giầu là để có phương tiện giúp đỡ người nghèo. Những ý tưởng này không bao giờ có trong tư tưởng Khổng Mạnh của Tàu cả. Người Tàu coi "Lộc" là trên hết.

    2° So với thời Mao, dầu sao đời sống của 900 triệu dân quê cũng khá hơn: Trước hết là được tự do khai khẩn mẩu đất của mình nên không bị chết đói. Hai trăm triệu "dân công" lên tỉnh kiếm việc làm cũng có thể gửi chút tiền về nuôi cha mẹ vợ con. Chính sách thực dân chiếm đất người dân tộc cũng tạo đất sống cho người Hán và thổi phình óc Đại Hán tự tôn tự đại. Vì vậy không có lí do gì mà dân quê nổi loạn chống chế độ cả. Và chống cũng không được vì chế độ "Tư bản Cộng sản" có hậu thuẫn vô cùng mạnh mẽ là 70 triệu đảng viên và hơn 3 trăm triệu người thuộc giới trung lưu thành thị. Với sức tăng trưởng 9-10% một năm, PIB/đầu người của tầng lớp này sẽ tiếp tục tăng và có khả năng vài năm nữa bằng một nửa PIB/đầu người của Tây Âu: Trung Quốc lúc đó sẽ trở thành cường quốc kinh tế nhất nhì trên thế giới nhưng cũng là một nước tư bản người bọc lột người man rợ nhất trong lịch sử loài người.

    3° Chủ nghĩa "Tư bản Cộng sản Tàu" này cũng không bao giờ chuyển hoá về hướng "dân chủ xã hội" hay "dân chủ khai phóng" như ở Tây phương vì một lí do giản dị là như vậy không thể tiếp tục bóc lột được nguồn nhân lực vô tận hơn 1 tỷ người để hạ giá thành sản xuất và tràn ngập thị trường thế giới đồ rẻ tiền của mình. Không có thặng dư xuất nhập, tăng trưởng của Trung Quốc sẽ giảm ít nhất là 40% và chế độ có nguy cơ bị mất ổn định vì sẽ mất hậu thuẫn của tầng lớp trung lưu thành thị.

    4° Tư bản cộng sản còn được sự đồng loã của 1 số tư bản phương Tây: Di chuyển sản xuất qua Tàu, đóng cửa cơ sở sản xuất những đồ thực dụng trong nước, là phương cách hay nhất tránh được đòi hỏi tăng lương của công nhân. Chỉ sản xuất đồ xa xỉ phẩm để phục vụ thị trường mỗi ngày một lớn của 300 triệu trung lưu thành thị và đảng viên ĐCSTQ là thu được nhiều lợi tức mà không phải mướn nhiều nhân công. Hậu quả là tỉ số thất nghiệp ở những nước Tư bản dân chủ - xã hội ở Tây phương sẽ mỗi ngày một cao.

    5° Tiêu thụ đồ Tàu nhiều nhất là Mỹ. Chế độ XHCNTQ cho phép các tay tài phiệt trong Đảng, đáng lẽ dùng số tiền thặng dư mậu dịch đó để nâng cao đời sống 900 triệu dân quê thì lại lấy 850 tỷ Đô la thặng dư đó mua trái phiếu kho bạc của Mỹ, cho Mỹ vay để Mỹ dùng tiền đó mua đồ của mình. Rút cục tiền dân Tàu lại dành cho Mỹ tiêu. Tư bản Mỹ, Tàu đề huề với nhau, chế độ "Xã hội Tư bản Cộng sản Tàu" sẽ bền vững đời đời.

    Kết luận

    Cái gọi là Kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa của Tàu cộng chỉ là bộ mặt gớm tởm nhất của nền kinh tế tư bản thực dân các nước Tây phương cách đây hơn 100 năm. Một chế độ tư bản man rợ như vậy mà một nữ tiến sĩ "tháp ngà" lại muốn các nước đang phát triển tôn lên làm thần tượng thì thật khó mà hiểu nổi nếu không nghĩ, hoặc là cái bà tiến sĩ này không hề bước chân đến một xứ Phi châu nào đang bị thực dân Tàu khai thác, hoặc có lẽ bà ta cũng bị tiền Tàu đấm mõm.

    Phong Uyên

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Trả lời ông Khương Việt từng điểm một :

    1) Tôi không có ý so sánh, và cũng không thể so sánh được, một giai đoạn tiến triển (thay đổi với thời gian) của nền kinh tế tư bản Tây phương với một chủ nghĩa (tức là một cái gì cứng ngắc) của Tàu cộng. Tôi xin nhắc lại, sở dĩ tôi cho giai đoạn cuối thế kỷ thứ 19 của nền kinh tế TB Tây phương có tính cách dã man là vì : "Sản xuất công nghiệp không ngưng tăng trưởng đòi hỏi số vốn mỗi ngày một lớn...Phải làm sao đạt được tối đa lợi nhuận để chuyển lại thành vốn. Cách độc nhất là giảm giá nhân công (bóc lột sức lao động). Thâu mua nguyên liệu với giá rẻ (đem quân đi xâm chiếm nhiều vùng có tài nguyên trên thế giới)". Giai đoạn này chỉ giới hạn ở khoảng thời gian hậu bán thế kỷ thứ 19 (Từ khi có bản Tuyên ngôn cộng sản cho tới khi Đệ Nhị QT Dân chủ-Xã hội ra đời). Sau đó là sự thành hình các tổ chức, các nghiệp đoàn siêu quốc gia, và sự tiến triển của kỹ thuật (hiện giờ những nước Tây phương, Nhật, Đại Hàn ở giai đoạn tư bản hậu công nghiệp kỹ thuật) khiến không cần dùng nhiều nhân công nữa, đồng thời sản xuất thặng dư khiến cần nhiều người tiêu thụ hơn nhiều người sản xuất, đưa đến những nền tư bản dân chủ-xã hội, dân chủ khai phóng và một xã hội tiêu thụ. Tàu cộng, trái lại, biến giai đoạn này thành một chủ nghĩa tức là muốn trường cửu hóa nó, biến nó thành một chính sách bất di bất dịch "người bóc lột người" và xâm chiếm tài nguyên bàng võ lục hay bằng tham nhũng, mua chuộc.

    2) Tính cách dã man của tư bản Tây phương ở khoảng thời gian 50 năm ở chính quốc, cho tới Thế chiến thứ 2 ở những xứ thuộc địa, là : bóc lột nhân công, đem quân đi chiếm tài nguyên, đất đai ở các xứ hải ngoại (Việt Nam cũng như đa số các nước Bắc Phi bị xâm chiếm ở khoảng thời gian này). Tính cách man rợ của chủ nghĩa Tư bản Tàu cộng là: Chia chính dân tộc mình ra thành nhiều thành phần để bóc lột một cách tinh vi hơn. Đem quân, đem người đi các xứ chung quanh, Mông Cổ, Hồi, Tạng, để biến những xứ này thành những thuộc địa. Thi hành chính sách di dân, diệt chủng. Nay lại đem quân đi xâm chiếm các nước hải ngoại (Việt Nam) hay dùng tiền bạc lũng đoạn chính quyền các nước Phi châu, Nam Mỹ..., hệt như các đế quốc Anh Pháp ở hậu bán thế kỷ thứ 19 nhưng ác ôn hơn nhiều.

    3) Về bà Moyo, ngoài vài ba từ ngữ chỉ có tính cách từ chương, tôi vẫn tiếp tục không hiểu nổi một kinh tế gia có thể nghĩ tôn Trung Quốc là thần tượng được. Thần tượng chỉ có 2 nghĩa :

    Một là: Cảm phục sự thành tựu kinh tế của TQ : Khó có thể coi là thành tựu được với một PIB xấp xỉ Nhật Bản, nhưng nếu tính theo đầu người, thì chẳng hơn gì những nuớc hậu tiến, nghĩa là 10 người Tàu mới bằng 1 người Nhật ! Còn nếu tính theo thành phần thì còn tệ hại hơn nhiều vì 6 người dân quê mới bằng một người có hộ khẩu ở một thành phố miền Đông !

    Hai là: Cho là mô hình TQ đáng được noi theo đi. Nhưng nước nào dám bóc lột 3/4 dân số của mình (900 triệu/1300 triệu) để làm giầu cho 1/4 dân số có dính líu đến một đảng cầm quyền duy nhất? Cái tỷ lệ này không thể thay đổi được vì thay đổi thì TQ sẽ hết là công xưởng của cả thế giới và cái nền kinh tế Tàu cộng này sẽ sụp đổ ngay tức khắc. Cũng chả bao giờ có dân chủ được, ngay cả khi nhờ chính sách bóc lột này TQ có trở lên một nước giầu nhất thế giới. Vì chỉ có dân chủ nếu dân số của giới trung lưu (tiểu tư sản theo nghĩa Macxit) chiếm 70-80% dân số của cả nước như ở những nước Tây phương, Nhật Bản...

    Xin góp vài ý mọn như sau:

    1.- Đề bài là Chủ nghĩa TB Nhà nước kiểu Trung Quốc chỉ là chủ nghĩa Tư bản dã man ở Tây phương thời kỳ hậu bán thế kỷ thứ XIX

    Đó là một đầu đề hấp dẫn. Tiếc rằng khi đi sâu hơn tác giả đã không phân tích chi tiết bản chất, mức độ " dã man" của Tư Bản Tây Phương ở nửa sau thế kỷ 19. Mặt khác, tác giả cũng không nêu được một cách thuyết phục mức độ " dã man" của nền kinh tế TQ ngày nay. Rồi cuối cùng đem so và chứng minh được rằng hai sự " dã man" là giống nhau.

    Với đầu đề như vậy, một sự so sánh kỹ càng giữa hai nền kinh tế : Chủ nghĩa Tư Bản " dã man" của Tây Phương ngày xưa một bên và bên kia là Chủ nghĩa Tư Bản Nhà nước kiểu của TQ ngày nay, là hết sức cần thiết, nếu không nói là chính yếu. Nhưng tác giả đã không làm tốt được điều đó ở mức mong đợi của một độc giả trung bình. Điểm quan trọng nhất là tác giả đã không nói được, một cách mạch lạc, với chứng cứ là sự " dã man " của hai hình thái kinh tế đó giống nhau như thế nào.

    Có rất nhiều lý do để không bị thuyết phục bởi lập luận của tác giả, nhưng vì cho ngắn gọn, chỉ xin nêu một khiá cạnh thôi. Đó là bối cảnh kinh tế quốc tế thời hậu bán 19 và ngày nay, ở cuối thế kỷ 20 và đầu 21 hoàn toàn khác nhau về mức độ toàn cầu hoá, về các luật lệ kinh tế quốc tế, về trình độ khoa học kỹ thuật, v.v...Điển hình là thời đó làm gì có WTO,như ngày nay, là một định chế quốc tế có sự tham gia của hơn 160 quốc gia với những luật lệ mậu dịch quốc tế chặt chẻ, có ảnh hưởng để giảm thiểu rất nhiều sự " dã man" mà tác giả nêu ra.

    2.- Một đầu đề như vậy cũng đòi hỏi một sự trình bày, tuy khái quát, nhưng chính xác lịch sử phát triển và bản chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Tây Phương hồi hậu bán 19. Nhưng tác giả đã không làm được vậy; sự trình bày của Ông về mặt này quá sơ sài, không nêu lên được điều độc giả mong đợi, đó là bản chất " dã man" của nền kinh tế đó. Có lẽ tác giả nên nghiên cứu thêm về lịch sử kinh tế để bổ sung cho bài viết của mình.

    3.-Khi nhắc đến nữ tiến sĩ Moyo, tác giả đã tỏ ra, như một số người, nặng định kiến và chưa hiểu thấu đáo quan điểm của vị nữ tiến sĩ này, chưa kể là tác gỉa đã có những lời lẽ mang tính chất personal attack; điều mà giới trí thức thật sự thường tránh.

    Trước hết, nội dung chính trong quan điểm của Moyo không phải là ca ngợi mô hình kinh tế-chính trị của TQ. Khi bảo rằng nhiều nước đang phát triển, và dân chúng ở các nước, đó thán phục trước thành quả của TQ và muốn noi theo, Moyo chỉ nêu lên một sự kiện về cảm nghĩ của các quốc gia đó đối với TQ; cảm nghĩ mà Moyo hoặc tự mình thu nhận khi tiếp xúc với dân chúng hoặc nhận được từ thăm dò của PEW. Không ở đâu, Moyo trực tiếp khẳng định rằng mô hình TQ là mô hình nên theo.

    Luận điểm chính (theme) của Moyo là gì. Đó là thành quả kinh tế trong suốt 30 năm qua, và hình thái chính trị-kinh tế khác biệt của TQ, đang gây những phân ly (schism)trong cộng đồng nhân loại về quan điểm, cũng như về thực hành,giữa một bên là mô hình TQ, và bên kia là quan điểm và hệ thống kinh tế-chính trị thống soái hiện thời của Tây Phương. Để giảm thiểu sự phân ly đó, và duy trì được điạ vị của mình trong trường kỳ, Tây Phương nên HỢP TÁC với TQ trong ngắn hạn, để về sau có thể CẠNH TRANH trong dài hạn. Và để làm được vậy, Moyo đề nghị Tây Phương nên có thái độ phóng khoáng (opened mind)để tiếp cận chân lý; cần phải " xé sách", nghĩa là thoát khỏi mọi giả định (assumptions) đã lỗi thời và những giáo điều sai lầm.

    Đó là luận điểm chính của Moyo. Luận điểm đó , cùng với sự phê phán về các chế độ dân chủ giả hiệu (illiberal democracies), là những chế độ hạn chế các quyền căn bản của con người như ngôn luận và đi lại, chứng tỏ rằng, cuối cùng, Moyo không phải là kẻ ủng hộ mô hình TQ, mà trái lại Moyo đang cố gắng góp ý mình cho việc duy trì và vun bồi hệ thống tự do-dân chủ của TP.

    Đơn giản là vậy, nhưng tác giả Phong Uyên, và một số người khác đã không hiểu đúng chủ ý của Moyo nên " đánh" sai.

    5.-Sỡ dĩ tôi phải dài dòng như vậy là vì tôi đã giới thiệu bài nói chuyện của Moyo. Tôi giới thiệu vì muốn những độc giả quan tâm có cơ hội để đọc và nghe về vấn đề TQ và hiện tình quốc tế từ một góc độ khác, có vẻ dễ gây tranh cãi, nhưng lại hữu ích, vì ít nhiều nó sẽ giúp chúng ta so chiếu các quan điểm khác biệt, từ đó tiếp cận được sự thật hơn, thoát khỏi tình trạng nhận định thời sự hoặc theo cảm tính ưa-ghét, hoặc do định kiến ý-hệ.

    Phần đông chúng ta thường để tình cảm, ở đây là lòng yêu Nước và sự căm thù kẻ xâm lăng truyền kiếp, chi phối vào sự nhận định tình hình đất nước trong quan hệ quốc tế, nên thường tỏ ra chủ quan và phiến diện. Thái độ đó nhiều khi trở nên cực đoan và hơi lố bịch. Lố bịch vì chúng ta đã không ngớt hô hào, cổ võ cho dân chủ và tự do ngôn luận, nhưng khi ai có quan điểm gì không thuận đôi tai đầy thành kiến của chúng ta thì chúng ta lại bắt đầu hoặc công kích, ngay cả thoá mạ nữa, không khác nào làm công việc của kẻ kiểm duyệt vậy, thay vì có thái độ cỡi mở của một opened mind, của một người tôn trọng sự khác biệt ý kiến.

    Trả lời bác PCT,

    Từ ngữ "bền vững" trong câu "Chủ nghĩa Xã hội tư bản man rợ này có triển vọng bền vững" chỉ có nghĩa thuần chính trị : " Khó mà lay chuyển, làm biến chuyển hay lật đổ nó (chủ nghĩa, thể chế, chế độ Tàu cộng) được " vì 5 lí do tôi đã kể trên. Bác thử đọc kỹ bài viết sẽ thấy tôi không hề nói gì đến "phát triển kinh tế bền vững" của Tàu cộng vì theo tôi , "Phát triển kinh tế" chỉ có nghĩa nếu mọi tầng lớp trong xã hội đều được hưởng lợi, chứ phát triển kinh tế như Tàu cộng, bóc lột 1 tỷ dân cho một thiểu số chừng 300 triệu người được hưởng lợi thì không thể gọi là phát triển kinh tế.

    Cảm ơn bác Phong Uyên đã viết bài này, rất công phu, rất giá trị.

    Tôi hầu như hoàn toàn đồng ý với bác Phong Uyên, nhất là đánh giá về tác giả Moyo, trừ chút băn khoăn về phần đánh giá kinh tế TQ trước kết luận bài của bác: "Chủ nghĩa Xã Hội Tư bản man rợ này có triển vọng bền vững vì những lí do sau đây: ...etc" và 5 lý do cho điều trên (xin hãy xem bài chủ).

    Những, " có triển vọng bền vững" là được dự đoán sẽ phát triển bền vững? Vậy 5 lý do bác Phong Uyên đưa ra là 5 lý do cho thể chế kinh tế TQ phát triển bền vững?

    Những lý do để một thể chế kinh tế phát triển bền vững phải là những lý do nội tại và nền tảng như: lý thuyết đúng đã kiểm chứng, mô hình kinh tế đúng đã kiểm chứng, con vận hành nền kinh tế đó có bản chất nhân bản phù hợp với Tự nhiên và Con người ngày nay nói chung (có tính người), có khả năng vượt qua những khủng hoảng (phát triển có tính có tính chu kỳ), có khả năng khai thác và tạo ra điều kiện phát triển bên trong xã hội cho chính sự phát triển bền vững đó.

    Kinh tế tư bản tư nhân của Phương Tây sau hơn ba thế kỷ phát triển dường như (vẫn chưa chắc chắn 100%) đã đáp ứng các điều kiện phát triển bền vững đó. Còn kinh tế TB XHCN của TQ thì sao? Nhìn qua đã thấy nó không đáp ứng các tiêu chuẩn để phát triển bền vững trên. Nhưng tôi xin dùng chính 5 luận cứ của bác Phong Uyên để phân tích và vẫn đi đến kết luận đó (con đường nào cũng dẫn đến thành Rôm mà):

    1) Kinh tế TBTN phương Tây đã chuyển sang phát triển về chất (dân chủ và nhân quyền đi trước) nên về lượng, kinh tế TBNN TQ sẽ đuổi kịp và vượt qua trong thời gian tới? Đây không phải yếu tố nội tại, mà ngoại vi, kinh tế TQ không thể tác động cho lợi ích của nó. Khi lợi ích của các nền kinh tế TNTN phương Tây bị ảnh hưởng nghiêm trong, họ sẽ không làm ngoại vi hỗ trợ cho kinh tế TQ phát triển về lượng nữa, vì như thế sẽ là quá tự hại mình và xã hội phương Tây sẽ không cho phép nữa. Và điều đó - ngăn cản sự phát triển mang tính hủy hoại thế giới của TQ - đã xảy ra trong những năm gần đây và sẽ còn được đẩy mạnh tiếp, như TPP...

    2)"So với thời Mao, dầu sao đời sống của 900 triệu dân quê cũng khá hơn...Vì vậy không có lí do gì mà dân quê nổi loạn chống chế độ cả. Và chống cũng không được vì chế độ..." Đây là lý do nội tại lượng đổi sang chất, mức sống cao hơn thì khả năng đòi dân chủ cao hơn và khả nang đàn áp dân chủ thấp hơn. Nông dân VN có thu nhập đầu người cũng thấp như và hơn TQ mà sự phản kháng đòi dân chủ tăng rất mạnh thì dân TQ càng thế hơn. Kinh tế TQ còn nguy khốn hơn VN ở chỗ nó đàn áp con người và khai thác tài nguyên của các dân tộc "tự trị" rất tàn khốc tạo sự phản kháng chủng tộc trong nội bộ thể chế mạnh mẽ hơn ở Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông... làm nó khó có thể phát triển bền vững.

    3)"Chủ nghĩa "Tư bản Cộng sản Tàu" này cũng không bao giờ chuyển hoá về hướng "dân chủ xã hội" hay "dân chủ khai phóng" như ở Tây phương vì một lí do giản dị là như vậy không thể tiếp tục bóc lột được nguồn nhân lực vô tận hơn 1 tỷ người để hạ giá thành sản xuất và tràn ngập thị trường thế giới đồ rẻ tiền.." Đồng ý, nhưng chính vì thế mà nó gây mâu thuẫn đối kháng cả quốc nội (với hàng tỷ người) và quốc tế (với 5-6 tỷ người). Vậy 300 trieuj cộng sản TQ trụ được bao lâu? và sẽ có bao nhiêu Lưu Hiểu ba nữa từ trong họ?

    4)"Tư bản cộng sản còn được sự đồng loã của 1 số tư bản phương Tây: Di chuyển sản xuất qua Tàu..." Đây chỉ là phần nhỏ của yếu tố ngoại, và nó cũng sẽ không mạnh, không lâu được để làm cơ sở cho "phát triển bền vững" cho TB XHCN TQ? và...

    5)"Tiêu thụ đồ Tàu nhiều nhất là Mỹ. Chế độ XHCNTQ cho phép các tay tài phiệt trong Đảng, đáng lẽ dùng số tiền thặng dư mậu dịch đó để nâng cao đời sống 900 triệu dân quê thì lại lấy 850 tỷ Đô la thặng dư đó mua trái phiếu kho bạc của Mỹ, cho Mỹ vay để Mỹ dùng tiền đó mua đồ của mình. Rút cục tiền dân Tàu lại dành cho Mỹ tiêu..." Điều này thì bác PU lại chứng minh ngược lại: TBTN Mỹ khai thác lợi ích từ TB XHCN TQ, thì làm sao giúp TQ phát triển được, mà chỉ làm nó chậm phát triển chứ. Đến khi TQ "hết ngu" hay "hết lực" mua trái phiếu Mỹ thì chuyện này sẽ chấm dứt, chẳng thể bền vững được.

    Tóm lại, bác Phong Uyên nói: "Tư bản Mỹ, Tàu đề huề với nhau, chế độ "Xã hội Tư bản Cộng sản Tàu" sẽ bền vững đời đời." theo tôi là không chính xác.

    Một bài viết rất tốt mà đưa ra một kết luận sai thì thật đáng tiếc, dù tôi tin tác giả cúng không muốn tin vào kết luận đó của mình, chỉ mong điều ngược lại.

    PCT