Bà Đầu Đinh - Quảng Trị hơn 40 năm sau ngày Giải Phóng

  • Bởi Admin
    30/06/2014
    5 phản hồi

    Bà Đầu Đinh

    Không biết ai người Quảng Trị suy nghĩ gì, cảm thấy thế nào về quê hương họ. Riêng tôi, đó là nỗi niềm khôn nguôi.

    Lần đầu đến Quảng Trị là lúc 20 năm sau ngày MN Giải phóng. Một nỗi niềm đan xen, khó diễn đạt bằng một hai từ. Vừa thương cảm, vừa xót xa, đau đớn, vừa chua xót, nghẹn uất. Lúc đó tôi đã nhớ đến câu nói của Trịnh Công Sơn. Năm đó TCS ra Hà Nội, và các báo đã đồng loạt đưa bài. Một bài nào đó đã nhắc đến câu TCS nói về Hà Nội: “HN như miếng bọt biển, mà mỗi bước đi đều làm bắn ra những tia nước của dấu tích lịch sử”. Còn tôi, tôi nói về Quảng Trị: “Quảng Trị như chiếc chảo gang nóng bỏng, mà mỗi bước đi đều phát ra những tiếng kêu chát chúa của đau thương, đói nghèo, cơ cực, và nỗi đau chiến tranh”.

    Quảng Trị 20 năm trước

    Năm 1995. Đó là một cuộc khảo sát đói nghèo trên toàn quốc. Từ Quảng Bạ, Hà Giang, đi qua Gio Linh, Quảng Trị, đến Mang yang, Gia Lai, và kết thúc ở Củ Chi. Đoàn gồm những người từ 10 lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Mỗi người tự làm lĩnh vực của mình. Hàng ngày, chúng tôi sáng đi qua Dốc Miếu, chiều về qua Dốc Miếu. Cái địa danh mà nhắc tên ai cũng thấy rợn người vì cuộc chiến khốc liệt. Đi qua đó, cuộc sống thanh bình. Những người đi chợ về thưa thớt. Một quán bán nước, quà bành lèo tèo. Nhưng sao tai vẫn nghe chát chúa tiếng rền bom đạn. Xung quanh cây cối xanh tươi, đường đi phẳng lỳ, dưới cái nóng cháy người của tháng 5. Mà sao vẫn cảm thấy sức nóng ghê người của đạn và pháo. 20 năm bình yên đã qua nhưng cảm nhận trong con người vẫn còn. Đấy là cảm giác bên trong. Còn những sự kiện bên ngoài lại là những nỗi ám ảnh khắc nghiệt hơn nhiều.

    Ngồi trong xe lạnh, giữa trưa nắng trang trang. Đầu óc lâng lâng, u mê. Chợt bừng tỉnh, nhìn ra ngoài. Khung cảnh trắng toát, với những cây thông đâm lên như rạch toạc cái trắng trời trắng đất. Chợt ngơ ngác, không hiểu mình đang ở đâu. Giữa cánh đồng tuyết trắng hay giữa sa mạc cát trắng. Lúc đó tôi đã nghĩ, với phong cảnh này, với bãi biển trong xanh, bãi cát trắng, và hàng phi lao dài vô tận, nếu làm du lịch, nghỉ dưỡng thì Quảng Trị không giàu mới là lạ.

    Vào một nhà dân. Mái tranh xơ xác. Hai mẹ con, gầy gò, đen cháy trong cái nắng, gió Lào. Chị chủ nhà mời nước. Chỉ là nước đun sôi, không có nước chè. Nước chè là thứ phổ biến ở mọi làng quê Việt Nam. Vậy mà… Hỏi chị: - ở đây mọi người có uống nước chè không? Chị bảo: - có, nhưng có nhà uống, nhà không. - Sao nhà chị không uống? – không có tiền. Con trai chị đi học ở trường xã bên cạnh, cách nhà gần chục cây. Nhưng không có xe đạp. Hàng ngày đều đi bộ. (Trời nắng thế này, ăn uống thế này, vất vả thế này, thảo nào cả 2 mẹ con đều gầy đét.). Chị bảo, năm ngoái trồng ớt, thu hoạch được lắm. Năm nay trồng cũng được nhiều lắm. Đất cát hợp với cây ớt. Nhưng năm nay không bán được vì người ta bảo không xuất được. Để lại ớt khô ngoài ruộng cát thôi. Rồi chị bảo đợi chị đi lấy dưa lê về mời khách ăn. Đợi một lát, chị mang từ ngoài ruộng về quả… dưa bở. Tôi ngạc nhiên hỏi: sao lại bảo đây là dưa lê? Chị bảo: cán bộ khuyến nông mang giống về giao cho dân trồng, bảo đấy là dưa lê. Trồng để xóa đói giảm nghèo. – thế chị ăn quả này có thấy ngon không? – cũng ngon. Hôm trước con trai bị ốm cho nó ăn, nó cũng thích. – Nó ốm, đã uống thuốc gì chưa? – nó uống nước đường rồi. – sao lại uống nước đường? – không có thuốc, cho uống nước đường cho nó chóng khỏe. Hỏi thằng con trai: - cháu uống nước đường có thích không? – thích lắm. cháu muốn ngày nào cũng được uống nước đường. – Cháu có hay được uống nước đường không? – Hồi cháu bé, có 1 lần đã được uống nước đường. Hôm trước cháu ốm, được uống lần thứ 2. (Một nỗi đau nghẹn lên cổ. Ngày bé, khi ốm tôi được uống sữa. Sau đó, lúc nào tôi cũng mơ ước được uống sữa. Nỗi ám ảnh suốt tuổi thơ). Nỗi đau nghẹn ngào. Người ta đã nghèo như thế, vậy mà… ớt cũng không bán được, vậy mà trồng dưa lê lại ra dưa bở. Đã 20 năm qua rồi mà tôi vẫn không quên được điều này.

    Đi trong làng, gặp những con người ốm yếu. Nhiều người bị sốt rét với nước da vàng bủng, hoặc tái mét màu chì. Nhiều người có dấu hiệu bị lao. Gày trơ xương, hốc mắt trũng xuống. Luôn ôm ngực với những cơn ho thắt ruột. Ánh mắt nhìn ngơ ngác, mất hồn. Bây giờ chắc chương trình sốt rét, chương trình lao, và các chương trình sức khỏe khác đã đến với vùng này rồi. Bên cạnh những bệnh đó, tôi thấy Gio Linh còn một đặc trưng nữa, đó là bệnh đao. Ngày trong chiến tranh, có câu nói tự hào rằng: ở Việt Nam ra ngõ gặp anh hùng. Ngày đó, tôi đã nghĩ, Gio Linh, ra ngõ gặp người đao. Ra ngõ là gặp. Ra đường là gặp. Từ đứa trẻ, cho đến thiếu niên, rồi thanh niên. Sao nhiều thế. (không biết có liên quan gì đến hàng rào Mc Namara không?). Rải rác trong làng là những người đàn ông vác theo máy dò. Hỏi: họ dò gì mà nhiều người đi dò thế? – Họ dò mìn. ở đây, không có gì nhiều và sẵn như mìn và súng đạn. Họ lấy về để bán sắt vụn. Và… họ còn dò cá nữa. Họ dùng điện để làm cho cá chết, họ vớt về ăn. Nhưng cá cũng ít lắm. Đi cả buổi, chỉ mang về được ít cá con đủ ăn 1 bữa. Trời tháng 5, nắng chói trang. Nhưng cảm giác trong người tôi thật u ám. Bầu trời như xam xám, mờ mịt.

    Câu chuyện cuộc đời một người đàn bà vẫn ám ảnh tôi đến bây giờ. Tôi đến nhà bà, một cái nhà tường và mái làm bằng pờ rô xi măng. Nóng kinh khủng. Người đàn bà ngồi nhẫn nại trong cái nóng nung người. Bà người Gio Linh. Lấy chồng Vĩnh Linh, bên kia sông. Sinh được 1 con trai thì bắt đầu chia cắt đất nước. Khi có bắn nhau, bà mang con về nhà mẹ đẻ. Được một vài tháng thì bà bị bắt đi học tập. Những người vợ cộng sản bị đi học tập. Bà không chịu được cảnh o ép nên trả con cho nhà chồng. Lúc đó có chính sách lính quốc gia lấy vợ của cộng sản. Trong lúc bà bị bắt giữ (hàng ngày đi dọn nhà vệ sinh, đi gánh nước, và thường bị lính trêu ghẹo) thì có người lính thương tình, chăm sóc, giúp đỡ. Cuối cùng 2 người lấy nhau. Bà sinh 2 con, 1 gái, 1 trai. Rồi người chồng đi lính trong Đà Nẵng. Hàng tháng bà có tiền của chồng. Cuộc sống dư giả. Rồi người chồng chết trận. Bà có tiền, nuôi 2 con. Sau ngày Giải Phóng. Bà lại phải đi học tập. Không còn tiền của chồng nữa, 3 mẹ con phải tự bươn chải, làm ruộng. Con gái lấy chồng, con trai lấy vợ. Nhưng chúng không tự lo được, vẫn về xin tiền bà. Con trai đi Đà Nẵng kiếm việc. Được một thời gian, không có việc làm, sinh nghiện. Quay về nhà, đi dò mìn. Năm ngoái dò được quả mìn. 2 cha con nhà nó cưa mìn lấy thuốc, bán vỏ. Mìn nổ, cha chết, con bị què. Cô con dâu bỏ đi Đà Nẵng làm. Được vài tháng, rồi không thấy tin tức gì. Còn lại bà và thằng cháu nội bị què, nuôi nhau. Hỏi:- cuộc đời bà khi nào là sướng nhất? Khi chồng đi lính Đà Nẵng, gửi tiền về. – Khi nào khổ nhất? – Khi thằng con đi Đà Nẵng, bị nghiện, về xin tiền bà. – Bây giờ có khổ không? – không, 2 bà cháu nuôi nhau, cũng không khổ. - Con trai bên Vĩnh Linh có tìm bà không? – có, hồi sau Giải Phóng, bên đó họ có đi tìm. – Bà có định về ở với con trai bên Vĩnh Linh không? – không, cha nó chết liệt sỹ. Nó cũng nghèo, tự nó nuôi nó cũng khổ rồi. Nó có gia đình, có con. Mấy năm nay cũng không liên hệ gì nữa…

    Các ngài Tổng Thống, các ngài Thủ Tướng, các ngài Chủ Tịch, có nghe câu chuyện cuộc đời người đàn bà này không? Họ là những người dân thường. Các ngài làm gì mà giáng họa lên đời họ như vậy?

    Quảng Trị hơn 40 sau ngày Giải Phóng

    Sau chuyến đi Gio Linh đầy ấn tượng đó, tôi đã dự định sẽ tham gia vào những dự án giúp Quảng Trị. Sẵn sàng làm tự nguyện, không cần tiền công. Nhưng, có lẽ tôi không có duyên với Quảng Trị. Và hình như Quảng Trị cũng không hấp dẫn với những dự án.

    Không có dịp quay lại Gio Linh, lần này chỉ đi thăm các di tích và đi đường 9 lên Lao Bảo. Mọi thứ đã thay đổi. Thay đổi lớn nhất là con đường xuyên Á. Ngày xưa, con đường 9 đã là mồ chung của bao người. Bây giờ nó là con đường tốt hàng đầu Việt Nam. Nhìn vào con đường thì biết tầm quan trọng của nó đối với đất nước và đối với nền kinh tế. Mà không chỉ với kinh tế đất nước mà còn với kinh tế của cả những nước nó đi qua. Cửa khẩu Lao Bảo cũng được xây dựng rất hoành tráng, tương xứng với tầm quan trọng của nó. Con đường và cửa khẩu là dấu hiệu đầy hy vọng cho sự khởi sắc của kinh tế Quảng Trị. Du lịch của Quảng Trị chắc chắn sẽ phát triển. Quảng Trị có biết bao nhiêu là di tích lịch sử. Quảng Trị lại có bãi biễn, với những bãi cát trắng mênh mông.


    May mắn là có dịp được vào UBND huyện Hướng Hóa, được tiếp xúc với lãnh đạo UB. Cũng giống như mọi nơi trên cả nước, Tòa nhà UBND, và những tòa nhà cơ quan lãnh đạo huyện khác, rất to và đẹp và khang trang và bề thế và uy nghi. Cũng giống như lãnh đạo các địa phương khác, lãnh đạo huyện cũng rất là… lãnh đạo huyện. đ/c nói là cũng đã ra TƯ để đi học chính trị. Đ/c nói là các dự án xóa đói giảm nghèo đạt kết quả tốt. Đ/c nói là đã tổ chức cầu truyền hình về các trận chiến. Đ/c nói là đang xây tòa nhà to để đón tiếp các gia đình thân nhân liệt sỹ về thăm viếng… Bla bla… nói chung là mình ngửi thấy… thôi không nói nữa. Mình nghĩ bụng, hy vọng dân nhận được ơn mưa móc. Hy vọng là ơn mưa móc không rơi vãi dọc đường. Hy vọng là…, là…, là…

    HN 29/6/2014

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Hơn một lần, tôi đọc thấy câu "Quảng Trị hơn 40 năm sau ngày Giải
    Phóng" như cái tít của bài này.
    Lần trước, tình cờ thấy đâu đó không buồn nhớ ,chỉ biết là báo lề
    đảng, một bài
    nhân kỷ niệm cuộc chiến Quảng Trị ca ngợi "hi sinh to lớn của quân ta", 81 ngày trong chiến dịch Nguyễn Huệ, do quân CSBV
    tiến hành hồi năm 72. Bài báo ấy cũng viết "trên 40 năm giải phóng..."
    Thì ra, họ đã lấy thời điểm mùa hè đỏ lửa 72 làm mốc thời gian.
    Nhưng sự thật lịch sử đâu có phải thế. Người miền Nam đều biết, năm
    ấy, sau khi tướng Vũ văn Giai cho sư đoàn 3BB/VNCH di tản chiến thuật rút lui vì không chịu nổi áp lực Cộng quân đông gấp bội, để sau đó
    Quảng Trị cũng thất thủ. TT.Thiệu cử tướng Trưởng từ QD4 ra làm Tư
    lệnh QD1 với trọng trách tái chiếm Quảng Trị. Ông Trưởng đã hoàn
    thành xuất sắc quân lệnh này trước thời hạn yêu cầu. Tài liệu CS thừa
    nhận, trong 81 ngày đánh nhau với quân Nhảy dù, BB và TQLC của VNCH,
    bình quân mỗi ngày Cộng quân "hi sinh" mất một đại đội!
    Và, kể từ ngày hát bài "Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố
    thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu. Cờ bay, cờ bay tung trời
    ta về với quê hương vừa chiếm lại, quân ta tiến về ...", thì chính quyền VNCH cùng dân chúng Quàng Trị tị nạn, lại về
    tái lập cuộc sống cũ ở đó cho đến năm 75.
    Năm 75, cùng với toàn quốc thất trận, Quảng Trị mới thật "được
    giải phóng", và đến nay, 2014, mới 39 năm .

    Quảng Trị đâu chỉ có Dốc Miếu là địa danh rợn người !?

    Tác giả kể chuyện đã đến Quảng Trị, tôi vẫn cho rằng tác giả vẫn chưa biết nhiều gì về Quảng Trị !!

    Cồn Tiên , Quảng Ngang, Hải lăng, Ái Tử, Mỹ Chánh, Gio Linh, Đông Hà, La Vang, Thành Cổ v.v….nhất là Đại Lộ Kinh Hoàng !

    (Ký ức vô số xác người trên Đại Lộ Kinh Hoàng…không dẫn)

    Ngồi trong xe máy lạnh, tác giả không nhìn thấy suốt dọc 02 bên đường nhà nào cũng có một bàn thờ dựng ngoài sân, không phải thờ ông bà, tổ tiên, mà để thờ những oan hồn của vùng đất này !

    Nhiều vô kể…

    Thánh địa La Vang : một trận đánh biển người không cân sức, duy nhất còn sót gốc cây lớn và nhà Nguyện còn nguyên mà bom đạn không đụng tới, ngoài ra toàn bộ thành bình địa…

    Thật lạ là khi có dịp ghé thăm lại Thánh Đường La Vang, tôi chứng kiến quá nhiều người dân bị mắc bệnh hủi (cùi), hỏi thăm thì biết gần nhà thờ có một khu vực nhiều người mắc bệnh này, mà bệnh khoảng 20 năm trở lại đây, cả làng người cùi ngồi xin ăn suốt con đường từ ngoài dẫn vào cổng nhà thờ…

    Ban đầu tôi nghĩ họ đóng kịch, nhưng tận mắt nhìn thấy những phần xương thịt bị mục ruỗng, rớt từng mảng, mà đau lòng…

    Bên dòng sông Thạch Hãn, Cổ Thành là chứng nhân cho sự xâm lăng điên cuồng, đày đọa cả dân tộc bởi Mộng Bá Đồ Vương ngụy biện bằng mỹ từ giải phóng đất nước, rồi ngày nay đẩy tiếp cả dân tộc ra khơi xa giữa giông bão gầm thét dữ dội liên tục trên Biển Đông, lạc lối mất rồi…

    ---------

    Các bạn đã đọc chưa :

    Em bé gái trên Đại Lộ Kinh Hoàng của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972
    http://daohieu.wordpress.com/2014/02/24/em-be-gai-tren-dai-lo-kinh-hoang-cua-mua-he-do-lua-1972/

    Tác giả viết, "Khi có bắn nhau, bà mang con về nhà mẹ đẻ. Được một vài tháng thì bà bị bắt đi học tập. Những người vợ cộng sản bị đi học tập. Bà không chịu được cảnh o ép nên trả con cho nhà chồng. Lúc đó có chính sách lính quốc gia lấy vợ của cộng sản. Trong lúc bà bị bắt giữ (hàng ngày đi dọn nhà vệ sinh, đi gánh nước, và thường bị lính trêu ghẹo) thì có người lính thương tình, chăm sóc, giúp đỡ."
    Trong bài có 3 điều trên đây cần nói cho rõ:
    1- " Những người vợ cộng sản bị đi học tập." Đây là một luận điệu lừa bịp trắng trợn. Miền Nam tự do không có chính sách "bắt đi học tập" như chính sách "học tập cải tạo" tàn ác của cộng sản miền Bắc. Vả lại tất cả gia đình những người cộng sản cho dù là tập kết hay bị tù trong nam đều không bị phân biệt đối xử. Điều này không cần phải giải thích nhiều. Hãy đọc bài của Nguyễn Ngọc Già, người con của một gia đình toàn thể đều là đảng viên cộng sản hoạt động bí mật trong Nam và bị bắt tù, với tựa đề "Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa" (http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/bandocviet-06112014-nguyenngocgia-06112014152222.html)
    2- Tác giả lại viết, "Lúc đó có chính sách lính quốc gia lấy vợ của cộng sản." Tác giả vẫn u mê bởi những tuyên truyền của cộng sản. Miền Nam là một quốc gia pháp trị. Nền dân chủ miền Nam tuy chưa hoàn hảo như phương tây nhưng ngang tầm với mọi quốc gia tiên tiến của châu Á như Mã Lai, Singapore, Đại Hàn, và hơn Thái Lan. Vì vậy việc lấy vợ lấy chồng là chuyện tự do cá nhân, chính quyền không thể có chính sách ép buộc công dân phải lập gia đình theo chính sách như chế độ Cộng sản được.
    3-Tác giả còn viết, " Trong lúc bà bị bắt giữ (hàng ngày đi dọn nhà vệ sinh, đi gánh nước, và thường bị lính trêu ghẹo)" Việc lính trêu ghẹo là chuyện thường tình. Khi đó là chuyện giữa người nam và người nữ. Người nam đó có thể là lính, có thể là viên chức, có thể là thầy giáo, có thể là sinh viên. Người thiếu nữ có đẹp, có nhan sắc thì mới được nam giới chọc ghẹo. Việc này không liên quan gì tới chính trị, không liên quan tới "ngụy". "Ngụy" hay "không ngụy", "cộng sản" hay "không cộng sản", ta hay tầu, hay tây thì người đẹp thường "được nam giới chọc ghẹo" là chuyện bình thường, chuyện khiến người nữ hãnh diện.
    Miền Bắc đã được miền Nam giải phóng 39 năm rồi (Không phải miền Bắc giải phóng miền Nam mà việc cộng sản thôn tính miền Nam đã khiến người dân miền Bắc được giải phóng khỏi sự bịp bợm của cộng sản). Người miền Bắc đầu tiên được giải phóng là nhà văn nữ Dương Thu Hương. Cô đã khóc khi cùng với đoàn quân miền Bắc xâm lăng miền Nam bởi vì ngay lúc đó cô hiểu ngay rằng trong bao năm trước đó cô đã bị cộng sản tuyên truyền lừa bịp để đưa hàng chục vạn thanh niên thiếu nữ vào "giải phóng miền Nam". Cho đến bây giờ thì đại đa số nhân dân miền Bắc đã tỉnh ngộ. Những người tỉnh ngộ nổi tiếng như ông Bùi Tín, Hà Sĩ Phu, Cù Huy Hà Vũ, v...v. Thế nhưng tác giả vẫn tỏ ra vẫn còn u -mê.
    Thời buổi google và báo điện tử này thì viết rất dễ và dễ phổ biến. Nhưng đối với người viết lại có khó khăn khác là viết phải chính xác, phải nghiên cứu, phải phối kiểm dữ kiện trước khi công bố bài viết. Nếu viết thiếu chính xác, thì chỉ trong vài chục phút sau khi bài được phổ biến, độc giả có thể tìm ra cái sai, cái thiếu hiểu biết của tác giả. Bởi vậy, một người viết có ý tưởng sâu sắc, mới lạ và có thông tin chính xác sẽ mau chóng có uy tín. Nhưng nếu người viết đầu óc nông cạn, lại không chịu kiểm chứng, hoặc không biết cách sưu tầm tài liêu để kiểm chứng thì sẽ mau chóng bị đánh giá là dốt. Thời buổi này không ai bịp được ai. Những người được đảng phong chức, phong tước, phong hàm, cấp học vị, mà ngu dốt thì lòi đuôi chuột ngay. Và số này hiện nay chiếm đại đa số trong giới có học vị xã hội chủ nghĩa.
    Nguyễn Tường Tâm

    Trích dẫn:
    Bà Đầu Đinh:
    Các ngài Tổng Thống, các ngài Thủ Tướng, các ngài Chủ Tịch, có nghe câu chuyện cuộc đời người đàn bà này không? Họ là những người dân thường. Các ngài làm gì mà giáng họa lên đời họ như vậy?

    Đọc những lời ta thán này, trong câu chuyện hết sức buồn này, mà muốn khóc!

    Nhưng tôi không nghĩ các ông TT VNCH đã làm gì để giáng hoạ lên đời họ (dù trong thời chiến tranh). "Các ngài Thủ Tướng, các ngài Chủ Tịch" thì đúng hơn. Chiến tranh đã chấm dứt 39 năm rồi! Người dân Quảng Trị (và nhiều nơi khác trong cả nước) đã sống gần trọn một đời người dưới "chế độ XHCN ưu việt". Mấy ông Tổng thống chẳng có "quyền" gì được dính vào.

    Chính bà Gio Linh (nhân vật trong chuyện) còn cho biết khoảng thời gian sướng nhất của đời bà là lúc chồng đi lính ở Đà Nẳng (trước 1975). Đâu có ông Tổng thống nào giáng hoạ cho bà? Còn thời khổ nhất? Đúng là có vô số "ngài chủ tịch" từ cấp xã ấp lên đến ... cao ngất trời đã giáng họa cho bà.

    Trong bài t/g hay dùng từ "giải phóng". Tôi nghĩ từ ngữ nên diễn tả đúng với sự thật lịch sữ. Người dân miền Nam (đúng ra là nước VNCH) đâu có cần được miền Bắc (tức nước VNDCCH) nghèo đói, độc tài, tàn bạo, giải phóng cho họ khỏi cuộc sống sung túc, ấm no, an bình, thịnh vượng? Để rồi sau khi "được giải phóng" lại có cuộc sống (nếu chưa chết trên rừng vùng kinh tế mới hay ngoài biển sâu) tồi tệ hơn rất nhiều về cả vật chất lẫn tinh thần sao? Phi lý! Mỹ cũng đâu có chiếm đóng miền Nam để phải giải phóng khỏi sự chiếm đóng? Mỹ chỉ đổ quân vào (1965) để cứu miền Nam đồng minh sau khi miền Bắc trực tiếp xâm lăng miền Nam mà?

    Chữ giải phóng phải mang một ý nghĩa cao cả và nhân ái.

    Các nay mấy tuần (6/6) cả Âu Châu tưng bừng kỷ niệm 70 năm ngày quân Đồng minh đổ bộ Normandy, bước đầu tiến tới giải phóng toàn Âu châu khỏi sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã. Đó mới thực sự là giải phóng!

    Đây mới thực sự là giải phóng nên nét mặt mọi người
    Hãy nhìn ánh mắt, nụ cười của những người dân thật sự được giải phóng.

    Tôi nghĩ nên dùng từ ngữ diễn tả đúng sự thực lịch sữ đã xảy ra. Ngày 30/4/1975 là ngày miền Bắc đã "hoàn thành việc cộng sản hoá toàn đất nước Việt Nam".