Huỳnh Minh Tú - Nhìn Lại Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa: Sự Tiếc Nuối Vô Bờ Bến

  • Bởi Tâm Như
    25/06/2014
    50 phản hồi

    Huỳnh Minh Tú

    Sách Giáo Khoa Thời Việt Nam Cộng Hòa

    Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng "nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí," "nền giáo dục đại học được tự trị", và "những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn."

    Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm Tiểu Học, Trung Học, và Đại Học, cùng với một mạng lưới các Cơ Sở Giáo Dục Công Lập, Dân Lập, và Tư Thục ở cả ba bậc học, và hệ thống tổ chức quản trị từ Trung Ương cho tới Địa Phương.

    Phòng Thí Nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn [Hình trên Internet]

    Tổng quan

    Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, Tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim - được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.

    Riêng ở Miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở Miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.

    Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn viên [công viên 30/4 hiện tại], nằm trên đường Boulevard Norodom – [Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà.]

    Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở Miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.

    Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.

    Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm [20%] dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trunghọc, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người [không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng.]

    Cảnh giờ rước học sinh tan trường.

    Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm [từ 1955 đến 1975], bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho Quốc Phòng và Nội Vụ [trên 40% ngân sách quốc gia dành cho Quốc Phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho Giáo Dục], nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.

    Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.

    Thầy cô giáo [Giáo Sư] thời Việt Nam Cộng Hòa

    Triết lý giáo dục

    Năm 1958, dưới thời Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia [lần I] tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc "nhân bản" [humanistic], "dân tộc" [nationalistic], và "khai phóng" [liberal] được chính thức hóa ở hội nghị này.

    Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa [1967].

    Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm.

    1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.

    Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.

    Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

    2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.

    Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

    Sinh viên Đại Học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào Miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964.

    3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.

    Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

    Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

    Mục tiêu giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa:

    1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.

    Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.

    Thanh nữ Việt Nam Cộng Hòa

    2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.

    Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

    Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974.

    3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.

    Điều này thực hiện bằng cách: Giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.

    Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn [Số 3 Công Trường Chiến Sĩ]

    Giáo Dục Tiểu Học

    Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961.

    Bậc Tiểu Học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 [thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất]. Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập [bắt buộc]. Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học "đúp," tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

    Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]


    Niên Học Số Học Sinh Số Lớp Học
    1955 400.865 8.191
    1957 717.198[9]
    1960 1.230.000 [9]
    1963 1.450.679 30.123
    1964 1.554.063[10]
    1970 2.556.000 44.104

    Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.

    Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học [chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc.]

    Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – [Lớp Bốn lớp Năm bây giờ.]

    Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.

    Lớp 1 [trước năm 1967 gọi là lớp Năm] cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dân và Đức dục [còn gọi là lớp Công dân giáo dục.] Lớp 2 [trước năm 1967 gọi là lớp Tư], Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc Văn, Công Dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.

    Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.

    Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ [thông thường vào những ngày áp Tết.]

    Thẻ căn cước học sinh Trường Trung Học Võ Trường Toản

    Giáo dục Trung Học:

    Các vị Giáo Sư Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn

    Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).

    Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…

    Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

    Tên gọi năm lớp bậc tiểu học


    Trước 1975 Sau 1975
    Lớp Năm Lớp Một
    Lớp Tư Lớp Hai
    Lớp Ba Lớp Ba
    Lớp Nhì Lớp Bốn
    Lớp Nhất Lớp Năm[10]

    Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp


    Trước 1975 Sau 1975
    Lớp Đệ Thất Lớp Sáu
    Lớp Đệ Lục Lớp Bảy
    Lớp Đệ Ngũ Lớp Tám
    Lớp Đệ Tứ Lớp Chín

    Tên các lớp bậc trung học đệ nhị cấp


    Trước 1975 Sau 1975
    Lớp Đệ Tam Lớp Mười[10]
    Lớp Đệ Nhị Lớp Mười Một[10]
    Lớp Đệ Nhất Lớp Mười Hai

    Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký

    Trung học đệ nhất cấp:

    Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 8 Năm 1972- 1973

    Trung Học Đệ Nhất Cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ Thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.

    Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai "lục cá nguyệt" [hay "học kỳ."] Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là Tiếng Anh hay Tiếng Pháp, môn Công Dân Giáo Dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.

    Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam [tức Việt Võ Đạo] cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.

    Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: Viết và vấn đáp.

    Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-1967 thì Bộ Quốc Gia Giáo Dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.

    Sân Trường Marie Curie

    Trung học đệ nhị cấp:

    Nam Sinh Võ Trường Toản

    Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.

    Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chường và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.

    Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú Tài I rồi thi Tú Tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.

    Số liệu giáo dục bậc trung học

    [8]


    Niên Học Số Học Sinh Số Lớp Học
    1955 51.465 890
    1960 160.500[9]
    1963 264.866 4.831
    1964 291.965[10]
    1970 623.000 9.069

    Mỗi năm có hai đợt thi Tú Tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.

    Tỷ lệ đậu Tú Tài I [15-30%] và Tú tài II [30-45%], tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng "tối ưu"hay "ưu ban khen" [18/20 điểm trở lên], thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng "ưu" [16/20 điểm trở lên]; "bình"[14/20]; "bình thứ" [12/20], và "thứ"[10/20].

    Thầy trò Trường Nữ Trung Học Gia Long

    Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn [Gia Định] và các trường Quốc học [Huế], Phan Chu Trinh [Đà Nẵng], Võ Tánh [Nha Trang], Trần Hưng Đạo [Đà Lạt], Nguyễn Đình Chiểu [Mỹ Tho] dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh [Huế], Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân [Đà Lạt], Trường Nữ Trung Học Lê Ngọc Hân [Mỹ Tho], Trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm [Cần Thơ] chỉ dành cho nữ sinh.

    Học sinh Trung Học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: Nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.

    Nữ Sinh Lê Văn Duyệt

    Trung học tổng hợp:

    Chương trình giáo dục Trung Học Tổng Hợp [Tiếng Anh: Comprehensive High School] là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường Trung Học Hoa Kỳ. Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.

    Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình Trung Học Tổng Hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức [khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965] , sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh [cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10] và Sương Nguyệt Ánh [cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang] ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

    Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang [cầm đàn] trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960

    Bổ sung

    [theo góp ý của độc giả Nguyễn]:

    Ở Huế: Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm Huế đã thành lập một trường Trung Học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế [khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở].

    Ở Cần Thơ: Năm 1966, Trung Học Kiểu Mẫu Cần Thơ được thành lập thuộc Phân Khoa Sư phạm của Viện Đại Học Cần Thơ.

    Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975

    Trung học kỹ thuật:

    Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’Lao

    Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là Tiếng Anh và Tiếng Pháp.

    Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á Châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng, Trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung Học Kỹ Thuật Don Bosco [do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM.]

    Hiệu trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng.

    Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử

    Các trường tư thục và Bồ Đề:

    Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974

    Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.

    Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Saint Paul, Regina Pacis [Nữ vương Hòa bình], Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo, và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.

    Sân Trường Bác Ái [Collège Fraternité]

    Trường Bác Ái [Collège Fraternité] ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.

    Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.

    Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.

    Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công [hầu hết mang tên mới.]

    Le Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4 – rue Nguyên Trai, Cho Quan..

    Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:

    Saigon 17 March 1971
    Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành
    Thư Viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.

    Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc Gia Nghĩa Tử. Tuy đây là trường công lập, nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ, hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.

    Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến Binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc Gia Giáo Dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

    Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc Gia Nghĩa Tử khác trường Thiếu Sinh Quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.

    Giáo dục đại học:

    Học sinh đậu được Tú Tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.

    Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.

    Trong khuôn viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

    Số liệu giáo dục bậc đại học:


    Niên Học Số Sinh Viên
    1960-1961 11.708 [48]
    1962 16.835 [10]
    1964 20.834 [10]
    1974-1975 166.475 [46]

    Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 [học 4 năm]: Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử Nhân [ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…]; nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp [ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh…]hay bằng Kỹ Sư [ví dụ: Kỹ Sư Điện, kỹ Sư Canh nông…] Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao Học hay Tiến Sĩ đệ tam cấp [Tiếng Pháp: Docteurde Troisième Cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay.] Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến Sĩ [tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ.]

    Riêng ngành Y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm, hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.

    Bổ sung của độc giả Trần Thạnh (26.12.2013)

    Việt Nam Cộng có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:

    Thạc Sĩ người Việt đầu tiên là ông Phạm Duy Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy. Ecole Normale Supérieure.

    Ðánh dấu hoa* là ông Phạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là Tổng Thống Pháp Georges Pompidou

    Theo hệ thống của Pháp (ngày trước)

    - Cử Nhân [Licencié], Cao Học [DEA], Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp [Doctorat de 3è cycle], Tiến Sĩ Quốc Gia [Doctorat d’État.]

    Theo hệ thống của Hoa Kỳ

    - Cử Nhân [Bachelor], Master [trước 1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng cấp này], Tiến Sĩ [PhD].

    Khó có thể so sánh Master và Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên khác nhau. [Hiện nay trong nước dịch Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người.]

    Từ "Thạc Sĩ" trước đây được dùng để chỉ những người thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp [Agrégation.] Người thi đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương đương cho từ này.

    Đại Học Luật Khoa Sài Gòn

    Mô hình các cơ sở giáo dục đại học

    Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện Đại Học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).

    Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ [Tiếng Anh: Credit]. Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa đại học [Tiếng Anh: Faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân Khoa Y, Phân Khoa Sư Phạm, Phân Khoa Khoa Học, v.v…] hoặc Trường hay Trường Đại học [Tiếng Anh: School hay College; ví dụ: Trường Đại Học Nông Nghiệp, Trường Đại Học Kỹ Thuật, v.v…].

    Trong mỗi Phân Khoa Đại Học hay Trường Đại Học có các ngành [ví dụ: ngành Điện Tử, ngành Công Chánh, v.v…]; về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban [Tiếng Anh: Department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay.]

    Trường Đại học Giáo Dục: Tiền thân là Trung Tâm Huấn Luyện Sư Phạm Kỹ thuật

    Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.

    Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.

    Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.

    Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam [Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam].

    Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.

    Trường Đại Học Giáo Dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật

    Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.

    Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.

    Trường Sư Phạm, thuộc Viện Đại Học Sài Gòn

    Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.

    Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các "trường đại học bách khoa" được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại Học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô hình "trường đại học tổng hợp" (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.

    Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 "đại học" cấp quốc gia và 3 "đại học" cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các "đại học" cấp quốc gia và cấp vùng là "viện đại học."
    Các viện đại học công lập:

    Viện Đại Học Sài Gòn.

    Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại Học Quốc Gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại Học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, Tiếng Việt lẫn Tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.

    Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại Học Sài Gòn.

    Viện Đại Học Huế.

    Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật, Sư Phạm, Văn Khoa, và Y Khoa.

    Hàng đầu bên trái: Ông Nguyễn Đăng Trình Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đầu tiên [tháng 3/1957-7/1957 ].Ở giữa: Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Bên Phải: Linh Mục Giáo sư Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965
    .

    Viện Đại Học Cần Thơ.

    Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật Khoa & Khoa Học Xã Hội, Sư Phạm, và Văn Khoa.

    Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.

    Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung Tâm Quốc gia Kỹ Thuật (1957), Học Viện Quốc gia Kỹ Thuật (1972).

    Các viện đại học tư thục:

    Viện Đại Học Đà Lạt.

    Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại Học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo Hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính Trị Kinh Doanh, Khoa Học, Sư Phạm, Thần Học và Văn Khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.

    Viện Đại Học Đà Lạt

    Viện Đại Học Vạn Hạnh.

    Thuộc khối Ấn Quang của Giáo Hội Phật Giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo Dục, Phật Học, Khoa Học Xã Hội, Khoa Học Ứng Dụng, và Văn Học & Khoa Học Nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.

    Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973

    Viện Đại Học Phương Nam.

    Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.

    Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh Tế-Thương Mại, Ngoại Ngữ, và Văn Khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.

    Thư viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn

    Viện Đại Học An Giang [Hòa Hảo].

    Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn Khoa, Thương Mại-Ngân Hàng, Bang Giao Quốc Tế, Khoa Học Quản Trị và Sư Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

    Viện Đại Học Cao Đài.

    Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần Học Cao Đài, Nông Lâm Mục, và Sư Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Cao Đài.

    Viện Đại Học Minh Đức.

    Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ Thuật Canh Nông, Khoa Học Kỹ Thuật, Kinh Tế Thương Mại, Nhân Văn Nghệ Thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo Hội Công Giáo điều hành.

    Các học viện và viện nghiên cứu

    Viện Pasteur Nha Trang

    Học Viện Quốc Gia Hành Chính.

    Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản [gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2], Quận10, Sài Gòn.

    Học viện này trực thuộc Phủ Thủ Tướng hay Phủ Tổng Thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.

    Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp.

    (1972-1974) Tiền thân là Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc gia Nông Nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.

    Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải Dương học Nha Trang, Viện Nguyên Tử Lực Đà Lạt, Viện Khảo Cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.

    Các trường đại học cộng đồng

    Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.

    Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.

    Ở Sài Gòn có Trường Đại Học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.

    Các trường kỹ thuật và huấn nghệ

    Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật

    Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách Khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm Súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học.

    Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục

    : Thoạt tiên là Nha Khảo Cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc Gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (1968-1972), Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc Gia Nông lâm Mục được sáp nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.

    Trường Cao Đẳng Điện Học

    Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ.

    Thành lập năm 1957 thời Đệ Nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Học, Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao Đẳng Hóa Học. Năm 1972, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật đổi thành Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại Học Nông Nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức

    Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia.

    Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.

    Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia

    Các trường nghệ thuật.

    Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điển Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.

    Các giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm [đờn kìm], Phan Văn Nghị [đờn cò], Trương Văn Đệ [đờn tam], Vũ Văn Hòa [sáo] và Nguyễn Vĩnh Bảo [đờn tranh].

    Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế.

    Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.

    Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật

    : Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định [tiền thân là Trường Mỹ Nghệ Gia Định, thành lập năm 1940.]

    Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60

    Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn

    : Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ [1954-1966.]

    Sinh viên du học ngoại quốc

    Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

    TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

    Trang trong sách Địa Lý Lớp Ba

    Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa xuất bản năm 1967

    Năm 1958, chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa cho lập Ban Tu Thư thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]

    Trang bìa sách Địa Lý Lớp Ba

    Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu Thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo.

    Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục sản xuất và cung cấp, với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo Dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.

    Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo Dục cũng đã thiết lập Ủy Ban Quốc Gia Soạn Thảo Danh Từ Chuyên Môn, bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung Tâm Học Liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

    NHÀ GIÁO

    Đào tạo giáo chức

    Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện Đại Học Huế.
    Tòa nhà này thời Pháp là Khách Sạn Morin Frères

    Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.

    Ngoài ra còn có Trường Đại Học Sư Phạm Huế thuộc Viện Đại Học Huế và Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại Học Đà Lạt.

    Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.

    Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm [2 hoặc 4 năm]. Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.

    Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn

    Nha Sư Phạm (thuộc Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên cũng gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…

    Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại Học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng Hòa.

    /center>

    Lễ khai giảng Trường Đại Học Quốc Gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

    Đời sống và tinh thần giáo chức

    Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470.

    Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ Nhất Cộng Hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.

    Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm [người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu], từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.

    Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm.

    THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

    Chứng chỉ Tú Tài I

    Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công Dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp

    /center>

    Chứng chỉ Tú tài II

    Chứng chỉ Tú Tài II

    Đầu những năm 1970, Nha Khảo Thí của Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu [sample] và nhóm định chuẩn [norm group] được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

    Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

    Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng [tức bộ trưởng] và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:

    Ông Phan Huy Quát

    *. Phan Huy Quát. Sinh năm 1911, mất năm 1979; Tổng Trưởng Giáo Dục Quốc Gia Việt Nam 1949. Ông mất trong tù cải tạo dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    *. Nguyễn Thành Giung: Sinh năm 1894 tại Sa Đéc; Tiến Sĩ Vạn Vật Học ] Viện Đại học Khoa Học Marseille]; Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1952-1953 thời Quốc Gia Việt Nam, kiêm Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Hà Nội.

    *. Trần Hữu Thế: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 1995 tại Pháp; tiến sĩ khoa học [1952], từng dạy học ở Lyon [Pháp] và làm giáo sư ở Trường Đại Học Khoa Học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn; từ 1958 đến 1960 làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục; từng làm Đại Sứ của Việt Nam Cộng Hòa tại Philippines. Dưới thời Bộ Trưởng Trần Hữu Thế, số lượng học sinh, sinh viên gia tăng nhanh chóng, và nhiều cải tiến trong giáo dục đã được thực hiện. Cùng thời kỳ này, Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia (lần I) được tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958, chính thức hóa ba nguyên tắc nhân bản, dân tộc, và khai phóng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.

    *. Nguyễn Văn Trường: sinh năm 1930 tại Vĩnh Long; giáo sư tại Viện Đại Học Huế; hai lần đảm trách chức vụ Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Ông là người tích cực vận động và đóng góp vào sự ra đời của Viện Đại Học Cần Thơ vào năm 1966.

    *. Trần Ngọc Ninh: Sinh năm 1923 tại Hà Nội; bác sĩ giải phẫu và giáo sư Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, giáo sư Văn Minh Đại Cương và Văn Hóa Việt Nam tại Viện Đại Học Vạn Hạnh; Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.[98]

    *. Lê Minh Trí: bác sĩ y khoa tai-mũi-họng, giáo sư Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, làm Tổng Trưởng Giáo Dục bị ám sát bằng lựu đạn năm 1969.[100]

    *. Nguyễn Lưu Viên: Sinh năm 1919; bác sĩ, từng làm việc tại Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, Bệnh Viện Chợ Rẫy, và Viện Pasteur Sài Gòn; từ 1969 đến 1971 làm Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục rồ, Phó Thủ Tướng kiêm Trưởng Phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa ở Hội Nghị La Celle Saint Cloud trong chính phủ Trần Thiện Khiêm.

    *. Ngô Khắc Tĩnh: Sinh năm 1922 tại Phan Rang, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; dược sĩ (tốt nghiệp ở Pháp); từ năm 1971 đến 1975 làm Tổng Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên; từ năm 1975 đến 1988 bị tù cải tạo dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    *. Đỗ Bá Khê: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Southern California); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Ông là người đã thiết lập hệ thống các trường đại học cộng đồng ở Miền Nam Việt Nam và được xem là "cha đẻ của các trường đại học cộng đồng Việt Nam." Ông còn thiết lập Viện Đại Học Bách khoa Thủ Đức vào năm 1974, dựa theo mô hình của các viện đại học bách khoa ở California (Hoa Kỳ), và làm việc với vai trò viện trưởng sáng lập của viện đại học này.

    *. Nguyễn Thanh Liêm: Sinh năm 1934 tại Mỹ Tho; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Iowa State, Hoa Kỳ); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị Cộng Hòa.

    *. Các Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục: Vương Quang Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Nguyễn Quang Trình

    ĐÁNH GIÁ

    Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950

    Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:

    "Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.

    Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp."
    [ Trích từ nguồn Blog Lý Toét]

    Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 [tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4], Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam [lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]. Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì "Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra."

    Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện Trưởng Viện Khoa Học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng [Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa], đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: "the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges").[104]

    Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt,[105] nguyên Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

    "Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng Hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục "xã hội chủ nghĩa" (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…"[106]

    Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:

    "Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật Giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu."[107]

    Huỳnh Minh Tú

    [Biên tập và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet]

    [Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen]

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    50 phản hồi

    Phản hồi: 

    Hôm nay tôi bị sốc nặng khi đọc một bản tin trên báo chí quốc tế về sự sắp hạng quốc gia tốt đẹp, đáng sống (kindest) nhất trên quả đất (xét trên bảy lãnh vực).

    Dĩ nhiên tôi biết đất nuớc và xã hội VN mình bây giờ thì đã tuột đốc xuống sâu lắm rồi (đã chạm đáy thiên đường XHCN rồi). Nhưng tôi vẫn bị sốc nặng. Việt Nam được người ta sắp trong số năm nuớc hạng bét, chính xác là thứ ... 124 trên 125 nuớc. Chỉ đứng trên Lybia. VN còn thua cả Iraq (dĩ nhiên thua tòan bộ các nuớc ở ĐNA - kể tên ra chỉ thêm xấu hỗ -; cùng thua nhiều nuớc thường được nghĩ là tệ lắm ở Phi châu như ... Congo, Sudan, Rwanda,...). Không thể tuởng! Nuớc Tàu cộng anh em "tuởng mình ngon" nhưng không phải thì được xếp hạng ... 107.

    Biết rằng các cuộc sắp hạng thế này khó mà hòan hảo hoặc thật chính xác (theo quan điểm từng người). Nhưng mà, hạng ... áp chót! Có đau không?

    Thế thì tại sao lại không cho nuối tiếc nền giáo dục VNCH, đã sản sinh một xã hội mà dân tình hiếu hòa, nhân hậu, tình nghĩa và tử tế với nhau? Một xã hội sung túc, thịnh vuợng, văn minh, đáng sống mà hầu như tòan bộ người dân miền Nam đã từng sống đều thương tiếc?

    Xin mời đọc: http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-2676447/The-kindest-place...

    Phản hồi: 

    Nếu khách Đoàn viên quả thật là một đoàn viên TNCS, thì tuổi còn
    trẻ lắm.

    Những ai nặng tình non nước, lòng chẳng thôi nỗi ưu tư khi thấy
    thế hệ con em mình chẳng hiểu, hoặc hiểu sai về thế hệ cha anh. Một
    ít các em có thể học hành rất giỏi, nhưng thường dễ thấy là chỉ ở các
    ngành khoa học và kỹ nghệ. Còn trên lãnh vực nhân văn xã hội, thật
    đáng lo lắng vô cùng cho phương pháp nhận thức dẫn tới óc lệch lạc
    của người trẻ hôm nay. Đó chính là sản phẩm của nhà máy GD Cộng Sản,
    được vận hành bởi những tay thợ GD, khuôn đúc nhào nặn nên.
    Các em thường rất kém cỏi lý luận, là do không được học luận lý
    và khai phóng tư tưởng. Khai phóng là mở thoát ra khỏi ngục tù chấp
    kiến bảo thủ, khư khư ôm giữ như đười ươi cứ nắm chặt ống tre mà
    đinh ninh đã giữ được tay người. Khai phóng là cuộc vượt thoát ra bầu
    trời tự do bao la, của tư tưởng. Tư tưởng cũng phải vô cùng như vũ trụ
    vô tận. Nhốt tư tưởng trong ngục tù kiến thức cóp nhặt từ thành tựu của người khác dù đúng hay sai, của sách giáo khoa, của báo chí truyền
    đơn, thụ động tiếp nhận rồi yên trí mình là trí thức! Thật ra, đó là
    sự nô lệ tư tưởng mà nhà Phật gọi là Sở Tri Chướng. Chính cái hiểu
    biết thụ động của các em, là chướng ngại cản đường tự do, là cái não
    trạng bất động giữa thế giới - vũ trụ không ngừng biến động. Chỉ có sự đổi thay là không bao giờ thay đổi, chân lý tuần hoàn và phát triển
    mà chắc các em đã từng nghe mà không thật biết, cũng tại các em bị
    giam hãm xích xiềng tư tưởng tự thuở còn thơ. Con chim bị nhốt trong
    lồng từ khi mới nở, nó quen phận trong không gian gang tấc, mà khi
    được mở cũi tháo lồng cũng chẳng dám bay ra. Nó sợ hãi sự mênh mông,
    choáng ngợp bầu trời lộng gió, rồi vui lòng sống nốt kiếp thuần hoá
    theo giáo dục của chủ nhân. Nó sẽ hót như sáo, sẽ kêu như vẹt...rồi
    dương dương tự đắc tự hào ta nói được tiếng người, ta đầy tri thức!

    Đoàn viên ạ, lịch sử nhân loại cho ta thấy biết bao cuộc chiến,
    trong nhất thời, phần thắng thuộc về người xấu ác. Nhưng đó là sự lên ngôi của bạo lực vật lý thú tính, không hẳn nó đem lại tốt lành cho
    lòng người. Thời Chiến quốc bên Tàu, nước Tần là nước mọi rợ
    nằm nằm sâu trong đại lục, ngăn cách với văn minh trung nguyên bởi
    núi đèo hoang dã. Văn học sử Trung quốc phân biệt rất rõ, đời sống
    văn hoá lễ nghĩa ở Tần không có một tác phẩm - tác gia nào đáng kể.
    Dân Tần do vậy, ngu và ưa bạo lực, điều thuận lợi cho Tần thuỷ hoàng
    trở thành bạo chúa. Thế mà, nhà Tần đã dùng quân sự bạo lực để nuốt
    hết 6 nước văn minh hơn, có nền triết học - văn học nghệ thuật hơn
    hẳn, nhất là các nước miền Giang Đông vốn là quê hương Bách Việt. Lão
    tử, Khuất Nguyên...- Đạo học , Ly tao - Sở từ là tiền thân của văn nghệ Trung quốc cũng từ địa bàn phong phú văn hoá của Bách Việt, trước
    khi bị bạo lực Tần xâm chiếm và tàn phá ( đốt sách chôn học trò).

    Dông dài để các em thấy rằng, kẻ dốt nát bạo lực vẫn có khi thắng trận
    quân sự. Kẻ thua chính vì họ có nhân tính, văn hoá cao hơn. Trung quốc
    văn minh hơn, nhưng đã thua quân sự và bị người Mông Cổ du mục kém văn
    hoá đè đầu cả thế kỷ. Trung quốc cũng thua trận trước người Mãn Thanh
    có văn hoá thấp hơn, và chịu bị trị suốt mấy trăm năm!
    Sự thắng cuộc một thời của phong trào bần cố nông vô sản trên thế giới, cũng là chiến thắng kiểu bạo lực vô văn hoá trong lịch sử nhân loại.

    Các em đừng bằng lòng với tư tưởng nô lệ của mình, cứ đinh ninh
    rằng quân CS thắng quân Quốc Gia, là nhờ vào tính ưu việt của chế độ
    miền Bắc. Đừng nói năng phát biểu như con chim hót trong lồng có thị
    trường giới hạn, chẳng biết trời rộng đất dày gì cả!

    Phản hồi: 

    Lúc đầu tôi cũng ngạc nhiên thấy mấy hình ảnh đầy tính nhạo báng anh "đòan viên" đưa vào. Nghĩ chẳng liên quan gì về giáo dục. Nhưng ngẫm lại thì thấy cũng có. Chặt chẽ nữa là khác! Nó tương quan khắn khít như nguyên nhân và hệ quả. Bản chất cùng chất luợng một nền giáo dục của một quốc gia sẽ sản sinh ra những con người tạo nên một xã hội tuơng ứng. Thử so sánh xem!


    Thay vì được "tung tăng" dự sinh hoạt huớng đạo vào cuối tuần như thời VNCH thì một nền giáo dục ngu dân yếu kém, bóc lột phu huynh (tiền là ưu tiên), khiến bao trẻ em thất học như hiện nay. Rất nhiều trẻ em g/đ nghèo khó phải bỏ học từ rất sớm, hay không được đi học, và phải ngồi một chỗ như thế này. Có khi cả ngày cho mọi ngày. Và trên khắp đất nuớc


    Trong nền giáo dục đó, thì khi lớn lên, thay vì thấy niềm vui thú trong những giải trí tao nhã, như được cầm đàn, hát hò cho bạn bè SVHS nghe (bài chủ), thì họ thấy việc cầm dao búa có lẽ phù hợp hơn. (hình hung khí của côn đồ Hà Nội)


    Hoặc cầm dùi cui đánh người yêu nuớc biểu tình chống Tàu cộng. Chuyện này xãy ra ở nhiều nơi, nhiều lần, công khai hoặc kín đáo bên trong đồn CA.

    VNCH đã thất trận, lý do vì sao nhiều người đã bình luận, phân tách. Nhiều người dân miền Nam cũng đã nếm đủ mùi đau thuơng, uất hận tận cùng của "bên thua cuộc". Không cần nói thêm.

    Tuy nhiên, rất nhiều năm sau cuộc chiến thắng long trời lỡ đất, sau cuộc "bỏ chạy mất dép" (như một sồ người bên thắng cuộc đã tự đắc), người dân miền Nam vẫn ... tiếp tục bỏ chạy, dù hy vọng sống rất mong manh ngoài biển khơi.


    Họ chẳng phải là ác ôn côn đồ gì. Họ chỉ là những người dân thường muốn có một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, đầy đủ phẩm giá con người. Nhất là con cháu lại được thụ hưởng một nền giáo dục nhân bản khai phóng như dười thời VNCH. Họ không muốn được giáo dục bởi nền giáo dục để thành con người lòng chứa tòan mác-lê. Chính con cháu cán bộ đảng còn sợ cái nền g/d này mà

    Nhiều người vẫn còn muốn thoát khỏi cái xã hội hiện nay bằng mọi cách. Dù bằng những cách hy sinh đau thương như đi làm dâu xứ người. Mọi lãnh vực ở VN, chẳng riêng gì giáo dục, đều lụn bại.

    Phản hồi: 

    Dear bạn Già;

    Có trách cháu nó cũng vô ích, nó có hiểu gì đâu, cây đắng thì làm sao sinh trái ngọt !!

    Mục tiêu GD của Đảng là làm sao nhồi sọ, cho ra lò được, càng nhiều càng tốt những sản phẩm như cháu đoàn viên này, bạn đồng ý chứ ?

    Tôi vẫn nghĩ về thế hệ con cháu hôm nay, không biết chúng nó được định hướng sẽ đi về đâu ?

    -----

    Này cháu đoàn viên;

    Ở trong đây đều là những Chú, Bác, Cô..đáng tuổi Cha Mẹ cháu trở lên, cháu đã vào đây chơi thì nên lịch sự, lễ phép, thắc mắc thì hỏi, không nên phun, ị, trây trét tùm lum làm ô uế diễn đàn..

    Bác chỉ muốn cháu hiểu rằng nền GD VNCH hổng có đào tạo ra vô số những anh chị “bạo lực học đường” như thời nay của cháu, cũng như hổng có đào tạo ra những “sát thủ” tuổi teen như bạn cháu Lê văn Luyện đó, nhớ hông ?

    Bác khẳng định : thi cử thời GD VNCH cũng hổng có gian lận, quay cóp công khai như thời nay của cháu đâu, hổng tin cháu hỏi Thầy Đỗ Việt Khoa

    Bằng cấp của các Cô, Chú, Bác trong đây toàn là đồ xịn, hàng thật, hổng có “mua bằng cấp” như thời nay của cháu đâu nhé !

    Chuyện mấy Chú Bác quân nhân VNCH thua là bình thường thôi cháu à ! Thua vì họ hổng dám nhắm bắn (tàn sát tất cả) những mục tiêu di động trên đường cái quan…thua nhiều thứ lắm, thua vì hổng chịu “giết, giết nữa bàn tay không ngừng nghĩ….thua vì hổng chịu đốt sạch dãy Trường Sơn…thua vì hổng chịu theo 02 ông tây Mác_Lê v.v….mà chuyện này bác biết cháu hổng tin đâu ?

    Vậy thôi, nếu cháu thấy cháu và tụi cháu “ngon” thì rủ nhau ra ngoài kia chơi (bắn súng nước) với Tàu, nhé ?

    Phản hồi: 

    @ doan vien

    Mỹ không rút, Tàu và Nga Xô không tiếp tục viện trợ thì CS thắng sao?

    Không vi phạm trắng trợn hiệp định Paris 1973, CS thắng sao?

    Giáo dục của CS đầy tính nhồi sọ chỉ biết căm thù, sùng bái HCM, gây chia rẽ, khích bác và tàn ác, lạnh tanh lại đáng tự hào sao?

    Tặng chú 3 chữ: hết thuốc chữa. Còn nói như cô Phương Uyên: ĐCSVN đi chết đi!

    Phản hồi: 

    [quote]Phải sống trong một xã hội nhân bản thì nhạc sĩ mới có thể sáng tác những bài hát với lời nhạc như: "Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai?" mặc dù đất nước đang đối phó với hiểm hoạ cộng sản.[/quote]

    Khai phóng quá tay thành phỏng cả tay !
    Bởi tại lơ ngơ mơ hồ dư thế cho nên,

    Nhỏ thì tung tăng tí tửng

    Nhơn nhớn một tí thì mơ mộng, ngu ngơ (hát cho đồng bào tôi nghe ... điếc cả lỗ tai)

    Đã vào lính tráng vẫn cứ lãng tử phiêu diêu, anh hùng rơm rạ (song kiếm trấn ải, hồn ma biên giái)

    Cho nên rút cái cuộc lại thì ... đành cởi áo qui hàng.

    Hay ho gì mà tiếc nuối 'vô bờ' một khi đã bỏ chạy tuốt ra khơi !

    Một nền giáo dục viễn vông, xa rời thực tế khắc nghiệt của cuộc sống, sai lầm tai hại về sứ mệnh, làm phân tán tiềm lực sức mạnh, lung lạc ý chí chiến đấu của quốc gia, góp phần đáng kể dẫn đến sự sụp đổ tan tành của VNCH.

    Phản hồi: 

    Tôi ít học quá, đọc bài này cũng thấy hay hay, thiếu cái gì thích cái đó mà. Thôi thì bạo gan bàn thử vài điều xem sao, sai đúng cũng chẳng chết ai, nếu sai thì còn biết mình sai đến mức nào mà sửa chứ. Các bác nói "học để hoàn thiện nhân cách", theo tôi đó là hoàn thiện tri thức, hoàn thiện nhân cách, điều này thì các trường dưới chế độ miền Bắc cũng nêu lên là giáo dục "trí đức thể mỹ". Nhưng nội dung và phương pháp thì có thể khác chế độ trước. Trí thì nhiều khi sai, có người học nhiều, biết nhiều, nhưng toàn biết những cái sai, điều này thì chẳng phải dài dòng mà ai cũng biết, ví dụ giáo dục cho người học (cả người trong trường và người ngoài xã hội) rằng chủ nghiã Mác Lê nin là đúng, đấu tranh giai cấp là đúng, môn biết nhiều và biết sai nhiều là môn chính trị, triết học và lịch sử Đảng, những môn này lại có tác dụng hình thành nhân sinh quan và thế giới quan. Chính con người được giáo dục và tiếp thu những điều sai như thế nên ra đời họ toàn làm những điều sai trái, nhiều khi dã man vô cùng và mất nhân tính. Thì cứ xem từ ngày Đảng CS lên cầm quyền đến giờ họ sai những gì thì rõ.

    Còn "đức" theo quan điểm của những người CS là "đaọ đức cách mạng", bàn về điều này thì khá phức tạp và mất nhiều thời gian, lại liên quan tới nhân vật Minh Côông (Hồ Chí Minh), nhưng có thể tóm tắt đức là "vâng dạ", Đảng nói gì thì nghe thế vậy và phải nhận là đúng, không được phản biện, không được thắc mắc, không được hỏi. (Đọc Dân luận cả tuần vừa rồi, biết thêm nhiều, nhưng đọc xong lại quên, chỉ để lại trong đầu tôi hai điều qua mấy cái còm, một là "thoát Trung" thì gọi cụ Hồ bằn tên (Minh Côông) chứ không gọi theo họ (là Hồ), điều thứ hai là gọi từ "tham nhũng" là ăn cắp lớn).

    Như vậy thì đạo đức cách mạng có thể mâu thuẫn với đạo đức mà người ta vẫn quan niệm từ lâu, ví dụ Đảng bảo phải có tinh thần tập thể (triệt tiêu những quan điểm cá nhân, độc lập suy nghĩ...), có tinh thần giai cấp, cứ phấn đấu vào Đoàn, vào Đảng thì là có đạo đức...Nói chung cái "đức" của những người CS là đạo đức giả.

    Quan điểm và thẩm mỹ của CS cũng vậy thôi, có nhiều cái trái với những quan điểm truyền thống.

    Nói chung cái nền giáo dục của CS thì ngày càng thảm hại, càng cải tiến thì càng cải lùi. May mà ngày nay thế giới phẳng, các nền giáo dục của các nước tiên tiến đang tràn vào nước ta, nhiều vị tai to mặt lớn cho con cái sang các nước tư bản học, họ cũng tiếp thu được những điều mới tiến bộ hơn, mặt khác quá trình nhân loại hóa ngày càng cao là quy luật, không thể niú kéo được nên giáo dục CS có bớt nguy hiểm phần nào, Nếu còn phe XHCN thì cái nền giáo dục của Đảng đã biến dân ta thành lũ lừa và dĩ nhiên không thể có những bài, những còm loại này trên báo mạng.

    Phản hồi: 

    [quote]
    Khách đường xa (khách viếng thăm) gửi lúc 10:04, 29/06/2014 - mã số 121774

    ...
    Vẫn dựa vào những nguyên tắc cơ bản mà BQGGD VNCH ấn hành 1959, được phổ quát trong Hiến Pháp 1967, tóm lại 03 điểm chính đã biết, đó là :

    - Giáo dục nhân bản (humanistic education)
    - Giáo dục dân tộc (nationalistic education)
    - Giáo dục khai phóng (liberalic education)

    ...

    [/quote]

    Các bác,

    Thanks bác "Khách đường xa" đã giải thích.
    Giáo dục là một chủ đề khó và cơ bản cho mọi nước trong mục đích đào tạo công dân của mình và cho nhân loại (xu hướng toàn cầu hóa). Chủ đề này khó cho tôi vì tôi không theo học về xã hội, giáo dục và con người mà theo học các ngành khoa học tự nhiên.

    Câu "giáo dục khai phóng", là lần đầu tiên tôi đọc được ở bài chủ này.
    Khuynh hướng của một số nước châu Âu, chắc chắn có :
    - Giáo dục khai phóng (liberalic education) : nội dung và tổ chức.
    Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (kể cả hội phụ huynh), các chuyên gia, bàn bạc và ra chương trình giáo dục chung (mục đích, các môn bắt buộc chung và các môn lựa chọn).
    Họ có đủ mọi trường theo công (chính phủ tài trợ ngân sách) và tư (tư nhân 100% hoặc một phần tài trợ của chính phủ). Cho dù trường là tư nhân 100%, muốn được chính phủ công nhận bằng cấp, các trường phải thỏa một số điều kiện bắt buộc của chương trình giáo dục (thông qua thanh tra).

    Nội dụng có thể có các môn triết lý và xã hội liên quan đến quan điểm Mác (không phải là thực hành Mac-Le), bắt buộc cho một số ngành chuyên môn nhưng là options hoặc không hề có trong chương trình

    Cái cần phải có ở VN là :
    -nội dung chương trình phải thoáng, thông qua bàn bạc giữa chính phủ, hội đoàn, đảng phái và các phụ huynh
    -không áp đặt chủ nghĩa, tôn giáo, đảng phái vào trong giáo dục (nội dụng và tổ chức).
    Ở Pháp gọi là laicité, tách màu sắc tôn giáo ra khỏi chính quyền ...
    Tự do tôn giáo là cá nhân, không liên quan gì đến hệ thống quốc gia vì không phải mọi công dân đều theo 1 tôn giáo và tình nguyện theo mãi mãi.

    Ở những khu đông dân hồi giáo, các trường không có môn tôn giáo nhưng vẫn có thể thể dạy hồi giáo thông qua môn đạo đức. Tức là dẹp bỏ dạy tôn giáo trong khía cạnh thực hành mà chỉ lấy những điểm đạo đức trong tôn giáo để dạy, nét chung cho mọi người

    Cùng một lý luận, cần áp dụng cho cả đảng phái và chủ nghĩa.

    Ai muốn trở thành hiệu trưởng của trường, phải thông qua kỳ thi tuyển công khai cho mọi công dân theo các tiêu chuẩn công bằng. Mọi đảng tịch phải dẹp bỏ trong các tiêu chuẩn thi tuyển vào hệ thống nhà nước nói chung và giáo dục nói riêng

    Không chính trị, có nghĩa là không đem màu sắc đảng phái chính trị vào hệ thống tổ chức quốc gia, không thể hiện trước công chúng trừ phi đang là mùa bầu cử chính thức.

    Nền giáo dục VN đang bị bó chặt theo tính đảng, nghị quyết đảng, cần phải khai phóng.
    Bỏ điều 4 HP là một trong những bước đầu cần có, một trong những điều kiện cần nhưng hoàn toàn chưa đủ. Mục đích là tách rời tôn giáo, chủ nghĩa và đảng phái ra khỏi nhà nước.

    Thực tế ở VN, Tàu, BTT không phải là chủ nghĩa mà là độc đảng. Nhìn các bộ mặt mập ú của các lãnh đạo CS, giàu có tham nhũng như thế, đứa lãnh đạo CS nào dám bảo tao là vô sản ?

    Độc đảng là vì giả sử các bác nào muốn thành lập một đảng khác theo chủ nghĩa Mác, cũng không được vì chỉ có đảng do Hồ Chí Minh lập ra mới đúng là theo Mac(-Le) ! Đó là lý do tại sao CSVN nhất định phải tôn thờ HCM, và theo Tàu, trong mục đích độc quyền đảng trị phe nhóm mà thôi.

    Phản hồi: 

    Phải sống trong một xã hội nhân bản thì nhạc sĩ mới có thể sáng tác những bài hát với lời nhạc như: "Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai?" mặc dù đất nước đang đối phó với hiểm hoạ cộng sản.

    Phản hồi: 

    Đọc phản hồi của anh Khách đường xa, đến đoạn: "Nếu có những người chỉ có cơ hội học hết Tiểu Học thôi, thì giáo dục vẫn có bổn phận giúp họ phát triển đến hết mức đó, và vẫn làm thế nào giúp họ trở thành người tốt với mức học Tiểu Học của họ.", lòng tôi vừa cảm ơn anh vừa
    sực nhớ: hổm rày chúng ta quên nhắc nhau là trong nền GDVNCH còn
    có hệ thống bán công và trung học tráng niên.

    Các trường bán công, hoặc độc lập, hoặc là một phần trong mối liên
    kết với một trường công. Trong mối liên kết đó, các lớp bán công được
    học vào buổi tối với cùng chương trình như lớp công lập học ban ngày.
    Công và bán công liên kết, mang chung một tên trường, chỉ khác phù
    hiệu xanh/đỏ. Ban giám đốc và ban giảng huấn cũng là một. Loại hình
    giáo dục này là nhằm chiếu cố các HS thi trượt khi dự tuyển vào trường
    đó.
    Loại hình GD tráng niên dành cho người đã trưởng thành đang làm các
    việc khác nhau ngoài xã hội, có cơ hội nỗ lực "học để hoàn thiện mình".
    Khi thi cử để lấy văn bằng, bất cứ công lập, bán công, hay tráng
    niên, đều cùng thi chung một đề thi. Điều này bảo đảm cho giá trị văn
    bằng không khác biệt dù được GD bởi loại hình nào. Không có chuyện bằng cấp bị phân biệt
    chính quy hay chuyên tu tại chức, phổ thông hay bổ túc văn hoá, đầy sai khác về giá trị và thành kiến như bây giờ!
    Tính nhân bản ở chỗ, con người trong xã hội có những hoàn cảnh khác
    nhau, điều kiện khác nhau, nhưng một khi đã cố gắng tự hoàn thiện, thi
    giá trị ây được thừa nhận một cách công bằng. Nền GD.VNCH minh bạch
    trong sáng, không có chỗ cho mọi mánh khoé lọc lõi đi quanh về tắt ám
    muội. Nền GD.VNCH không sản ra và đổ vào xã hội những quái thai khiếm
    khuyết dị dạng của thành phần gọi là trí thức như nước Việt hôm nay!
    Than ôi, "Xanh kia thăm thẳm tầng trên, Vì ai gây dựng cho nên nỗi
    này"?

    Phản hồi: 

    [quote=NGT]Bác Khách đường xa và các bác khác, có thể triển khai thêm, đi vào chí tiết triết lý sâu xa của nền giáo dục VNCH "Học để hoàn thiện mình", để mọi người hiểu rõ hơn hay không ?
    "Học để hoàn thiện mình" là đúng rồi ? Nhưng hoàn thiện cái gì, học cái gì để hòan thiện mình ...
    Ai đánh giá sự hoàn thiện này ? Để hoàn thiện mình hơn với thời gian chứ khó mà mình đạt được hoàn thiện mãi mãi[/quote]

    Chào bác NGT

    Tôi cố gắng rút gọn những ý chính để đàm đạo với bác, nếu chỗ nào chưa rõ mong bác bổ khuyết thêm cho, đa tạ trước nhé..

    Vẫn dựa vào những nguyên tắc cơ bản mà BQGGD VNCH ấn hành 1959, được phổ quát trong Hiến Pháp 1967, tóm lại 03 điểm chính đã biết, đó là :

    - Giáo dục nhân bản (humanistic education)
    - Giáo dục dân tộc (nationalistic education)
    - Giáo dục khai phóng (liberalic education)

    Ngoài phần đã dẫn của anh HMN qua Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Trần Hựu Thế, phần dưới đây tôi dựa theo tài liệu của Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm (cựu Thứ Trưởng Bộ QGGD) để gút lại những điểm chính nhằm giúp bạn đọc dễ theo dõi hơn (quan điểm của 02 GS cũng không khác gì lắm đâu) :

    1) Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.

    Cung ứng cho học sinh đầy đủ tin tức, dữ kiện, để học sinh phán đoán, lựa chọn, không che dấu tin tức hay chỉ cung cấp những tin tức chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, một hướng đi định sẵn nào.

    Chính là mục tiêu dạy và học nhằm hoàn thiện nhân cách học sinh : không theo phe phái, không tôn thờ ai, sự học không phải vì tấm bằng cấp để kiếm cơm, hay được quyền cao chức trọng. Học sinh cũng được thỏa sức học, tìm hiểu không hạn chế về năng lực sáng tạo của con người

    Ngay từ điểm này cũng dễ so sánh sự khác biệt giữa 02 nền GD thuộc VNCH và VNCS để từ đó rút ra nhận xét cho mình.

    2) Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.

    Bằng cách giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sinh sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xăm bảo vệ tổ quốc, yêu thương giúp đỡ nhau trong tình đồng bào; giúp học sinh học tiếng Việt và xử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết cái đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực và tự lập.

    Sự khác biệt cũng khá rõ : GD HS lòng yêu nước không chính trị, đảng phái, luôn đoàn kết chống giặc ngoại xâm.

    Càng học lên cao, học sinh càng hoàn thiện bản thân hơn, tỏ ra khách quan hơn, “người lớn” hơn do ảnh hưởng của sự tiếp thu phong phú về trí tuệ của chương trình dạy,cũng ảnh hưởng một phần từ nhân cách của các nhà giáo (đòi hỏi nhà giáo phải gương mẫu)nhất là từ những hành động và việc làm của các nhà lãnh đạo quốc gia (có thể thấy rõ nhất qua “tuyên bố của VNCH về chủ quyền Hoàng Sa)_ lời nói cần đi đôi với hành động.

    Các bạn cần bàn thêm.

    3) Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm tự trị với sự phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp phát triển sự phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp đón nhận những giá trị văn hóa rộng rãi.

    Đến đây thì mục đích cần đạt được là nhằm hình thành và hoàn thiện nhân sinh quan và thế giới quan cho HS rồi..

    Và Giáo Sư đã kết luận như sau :

    Tóm lại, mục đích của giáo dục quốc gia là giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện để trở thành những người có kỹ năng thực tiễn, có khả năng tư duy, để làm việc, sinh sống, có đạo đức, có tình người, để gây dựng hạnh phúc gia đình và hội nhập vào xã hội góp phần vào việc bảo vệ và phát triển quốc gia. Người được đi học sẽ trở thành người tốt và có ích cho chính mình, cho gia đình, và cho quốc gia dân tộc.
    Giáo dục Việt Nam không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt giai cấp xã hội, không phân biệt tôn giáo, địa phương, chủng tộc.

    Giáo dục Việt Nam cố tạo những cơ hội đồng đều cho mọi người được đi học tuy nhiên không phải ai cũng có thể học được đến hết bậc đại học, hay ai cũng học đến bác sĩ, kỹ sư hoặc các ngành cao đẳng chuyên nghiệp khác.

    Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo khả năng và sở thích, có người chỉ học được hết Tiểu Học, có người học hết Trung Học Đệ Nhất Cấp, hay Trung Học Đệ Nhị Cấp, có những người khác thì học đến hết bậc đại học.

    Nhưng dù bất cứ học đến bậc học nào, mục đích của giáo dục vẫn phải là giúp tất cả mọi người trở thành người tốt, người đã được phát triển về khả năng cũng như đạo đức, dù khả năng đó ở mức độ nào. Nếu có những người chỉ có cơ hội học hết Tiểu Học thôi, thì giáo dục vẫn có bổn phận giúp họ phát triển đến hết mức đó, và vẫn làm thế nào giúp họ trở thành người tốt với mức học Tiểu Học của họ.

    So sánh với "The Four Pillars of Learning" (bốn trụ cột của giáo dục) theo UNESCO :
    - Học để biết (Learning to know)
    - Học để làm (Learning to do)
    - Học để tự khẳng định (Learning to be) và
    - Học để cùng chung sống (Learning to live together)

    Bác thấy có giống với triết lý sâu xa của nền giáo dục VNCH đã nêu chính là Học để hoàn thiện mình…không?

    Chỗ này tôi cho rằng GD VNCH đã đi trước thời đại một bước, tuy nhiên vẫn sẽ có nhiều người thắc mắc GD xưa phải khác nay chứ?

    Đúng là nay phải khác xưa, nhưng cái gốc mới vấn đề chính : giả sử vẫn tồn tại thì 03 nguyên lý GD của VNCH vẫn được vận dụng, những kiến thức cũ trong chương trình dạy, môn học sẽ được thay thế bằng những kiến thức mới hoặc bỏ đi cho phù hợp với người học, đây cũng chính là vấn đề bác hỏi “người học có thể hoàn thiện mãi mãi không”

    Khi xem clip một đám các cháu gái (nữ sinh) túm tóc, lột trần bạn mình ngay giữa ban ngày, tôi không khỏi xót xa vì nghĩ rằng trường học là nơi ngoài gia đình phải chịu trách nhiệm về nhiều biến động cả tốt lẫn xấu về tinh thần và thể chất của học sinh, trong khi nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường phải được coi là giáo dục con người.

    Chính trị hóa học đường là trò chơi chính trị của người lớn thì phải trả giá.

    Các bác góp ý thêm..

    Thanks

    Phản hồi: 

    [quote=Lương ngọc Phát]Thân tặng chị Ngự, anh Khách đường xa, anh Việt ...

    THỜi ẤY

    Hồ ngọc Cẩn, từ xa
    Trôi theo tuổi ngọc ngà
    Đường xưa neo ý sách
    Lối về tim vướng hoa.

    Ta bây giờ lữ thứ
    Bụi cuốn chân trời xa ...
    Nhớ người Lê Văn Duyệt
    Vai nhỏ, tóc mượt mà
    Cặp vàng ôm giấu ngực
    "Bộ bộ sinh liên hoa"...

    Bao năm rồi đi mãi
    Dần xa...ngày dần xa...
    Trường xưa ra thiên cổ
    Trần ai dẫu nhạt nhoà
    Muôn năm Hồ ngọc Cẩn
    Ngôi đền thiêng trong ta!

    BÂY GIỜ

    Bốn mươi năm đã xa rời
    Ngày xanh tôi ngỡ quên đời dở dang
    Từ ai mang cả thu vàng
    Cho tôi Thanh Tịnh vào trang vỡ lòng
    Từ ai gieo phấn vàng thông
    Cho tôi Xuân Diệu trang hồng điểm son

    Cây cằn lại nẩy chồi non
    Khơi dòng nhựa cũ đã mòn hồn nhiên
    Bấy lâu lá rủ muộn phiền
    Hoa xưa lại nụ bút nghiên rộn ràng
    Rập rình bài vở xênh xang
    Nhiệm màu sao, cả thiên đàng hồi sinh ...![/quote]

    Cảm ơn bác Lương Ngọc Phát.

    Phản hồi: 

    [quote=Khách đường xa]

    -----

    Dear anh Lê văn Mọi

    Thật ra……triết lý sâu xa của nền giáo dục VNCH chính là Học để hoàn thiện mình…
    [/quote]

    Bác Khách đường xa và các bác khác, có thể triển khai thêm, đi vào chí tiết triết lý sâu xa của nền giáo dục VNCH "Học để hoàn thiện mình", để mọi người hiểu rõ hơn hay không ?

    "Học để hoàn thiện mình" là đúng rồi ? Nhưng hoàn thiện cái gì, học cái gì để hòan thiện mình ...
    Ai đánh giá sự hoàn thiện này ? Để hoàn thiện mình hơn với thời gian chứ khó mà mình đạt được hoàn thiện mãi mãi

    Phản hồi: 

    Một bài thơ hay…

    NĂM MƯƠI NĂM NHÌN LẠI

    ¤ Uyên Giang.

    Thân gửi ¤ Nguyễn Trong Đạt - Phạm Bá Hân.
    Nguyễn Gia Tản – Đinh Sơn Quê -Vũ Quốc Anh
    Trần Thế Lộc – Vũ Văn Thư - Phạm An Đà.
    Trần Cao Lượng -Trần Quốc Cường …

    ¤ Các bạn cùng lớp B1

    ¤ Cùng Cấp Lớp

    ¤ Và Cùng Trường Trần Lục, Sàigon.

    -------------------------

    Mới nhìn lại ngỡ hình ai,
    Hóa ra là bạn từ thời ấu thơ.
    Nhớ ngày Tân-Định, nắng trưa,
    Xếp hàng vô lớp… ngu ngơ…buổi đầu.

    Quần xanh, áo mới trắng phau,
    Trang nghiêm như thể sắp vào phòng thi.
    Tên nhau, hỏi cũng thầm thì,
    Dáng thầy Hiệu Trưởng uy nghi, trên thềm.

    Chẳng bao lâu… đã thân quen,
    Đùa vui… nghịch ngợm… bon chen hoc hành.
    Bốn năm… vèo thoáng … qua nhanh !
    Đứa lo học tiếp, đứa đành phá ngang.

    Gặp nhau, tay bắt… mặt mừng,
    Hân hoan giữa phố… tưng bừng chuyện xưa.
    Chợt cười… chợt tiếc… vẩn vơ…
    Những ngày trốn học… những giờ… ra chơi.

    Đột nhiên… chiến cuộc bùng sôi,
    Ầm ì tiếng súng… sáng trời hỏa châu.
    Bạn bè khó kiếm lại nhau,
    Đứa ra Quảng Trị, thằng vào Bình Long.

    Sàigòn… sáng đợi, chiều mong,
    Mẹ thao thức ngủ, phập phồng… tin xa !
    Người đi khói lửa mịt mờ,
    Người đong thương nhớ… hững hờ điểm trang. (1)

    Tháng Tư… đứt gánh...bàng hoàng,
    Khi không xảy nghé, tan đàn… Vì đâu ?
    Súng buông… ngơ ngác… nhìn nhau,
    Buồn loang đáy cốc, hận trào lên mi.

    Chia tay… chẳng biết nói gì,
    Thằng vô cải tạo, đứa đi xứ người.
    Thằng lê la bán chợ trời,
    Tỉnh say… say tỉnh… mộng đời… Kinh Kha.

    Ba mưoi năm đã trôi qua,
    Ngoảnh nhìn quê cũ… xót xa… ngậm ngùi.
    Còn mang…ách đỏ… quằn vai,
    Thì trăm năm nữa đổi đời… được sao ? !

    “Con mèo mà trèo cây cau” (2)
    Kính thưa thầy Sỹ : Khi nào chuột ra ?
    Liệu… mèo… chuột…có thuận hòa ?
    Và khi nào… Mẹ Âu Cơ… lại cười ?

    “Gặp nhau” lưu lạc xứ người,
    Xem hình… chợt thấy… buồn vui… ngỡ ngàng.
    Guồng tơ rối… gỡ dở dang,
    Soi gương… Tóc bạc ! Bàng hoàng… ngẩn ngơ !
    Chồi còn. Mầm sẽ ra hoa ? (3)

    ¤ Uyên Giang.
    (Nguyễn Đình Lữu)
    Na-Uy, tháng 4-2006.

    (1) “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai !”. Chinh Phụ Ngâm.
    (2) Tên một truyện ngắn trong tập Sợ Lửa của thày Doãn-Quốc-Sỹ. Sàigòn 1956.
    (3) “Còn da lông mọc, còn chồi nở hoa”. Ca Dao.

    Phản hồi: 

    Thân tặng chị Ngự, anh Khách đường xa, anh Việt ...

    THỜi ẤY

    Hồ ngọc Cẩn, từ xa
    Trôi theo tuổi ngọc ngà
    Đường xưa neo ý sách
    Lối về tim vướng hoa.

    Ta bây giờ lữ thứ
    Bụi cuốn chân trời xa ...
    Nhớ người Lê Văn Duyệt
    Vai nhỏ, tóc mượt mà
    Cặp vàng ôm giấu ngực
    "Bộ bộ sinh liên hoa"...

    Bao năm rồi đi mãi
    Dần xa...ngày dần xa...
    Trường xưa ra thiên cổ
    Trần ai dẫu nhạt nhoà
    Muôn năm Hồ ngọc Cẩn
    Ngôi đền thiêng trong ta!

    BÂY GIỜ

    Bốn mươi năm đã xa rời
    Ngày xanh tôi ngỡ quên đời dở dang
    Từ ai mang cả thu vàng
    Cho tôi Thanh Tịnh vào trang vỡ lòng
    Từ ai gieo phấn vàng thông
    Cho tôi Xuân Diệu trang hồng điểm son

    Cây cằn lại nẩy chồi non
    Khơi dòng nhựa cũ đã mòn hồn nhiên
    Bấy lâu lá rủ muộn phiền
    Hoa xưa lại nụ bút nghiên rộn ràng
    Rập rình bài vở xênh xang
    Nhiệm màu sao, cả thiên đàng hồi sinh ...!

    Phản hồi: 

    Dear anh Việt, anh Phát, chị Ngự…

    Anh Việt à, lúc đó tôi chuyển đệ nhị cấp vào C.V.A, được biết là có một số nữ sinh Thiên Phước_Tân Định chuyển về bên Thanh Đa (Lạc Mai Thôn) để học tiếp các lớp Đệ Nhị Cấp, còn chuyển sang St Paul thì tôi không rõ lắm, riêng cô bạn nhỏ sau đó chuyển ra tận Quy Nhơn theo cha (trong trại gia binh) học trường nữ Cường Để..tôi và người bạn nhỏ này hồi đó học Đệ Tứ (thật ra tôi lớn hơn cô ấy 3 tuổi vì ông ngoại tôi làm khai sinh cho các anh em tôi rút tuổi lại, hồi đi học tôi lớn con hơn tụi bạn là vậy)

    Mà hồi đó là bạn vui thôi, chưa là…first love !

    Anh nhắc tôi liền nhớ trường nam Lasan Đức Minh cạnh trường nữ Thiên Phước (thanks)

    (trường này có đủ các lớp Trung Tiểu học đó chứ)

    Ờ cũng theo link anh cho biết một vài thông tin về trường cũ Trần Lục, tôi nhớ kỹ lại, anh bạn đồng môn, anh Khôi viết bài post đó có chỗ nhầm lẫn :

    Trường Trần Lục chỉ có trung học đệ nhất cấp nên sau lớp đệ Tứ, chúng tôi được chuyển sang đệ Tam các trường khác như Chu Văn An, Petrus Ký!. Khi được đổi trường ai cũng rất hân hoan, phấn khởi. Riêng tôi và một số bạn bè cùng quê lại khá ngậm ngùi. Tại sao trường không mở đệ nhị cấp? (Có thử hai lớp đệ Tam, một B ban toán, một C ban văn chương, mượn trường Đồ Chiểu Nam trên đường Huynh Tịnh Của đang bỏ trống với những gốc phượng vàng rực rỡ, không xa trường Đồ Chiểu.

    Trường Đồ Chiểu là trường tiểu học con gái, giáp với trường tiểu học con trai Tân Định (hướng Huỳnh Tịnh Của), hồi xưa trường Trần Lục là mượn tạm cơ sở của trường Đồ Chiểu.

    (Hình như sau này trường Tân Định phát triển thành trường Trung Học, dạy đủ các lớp Đệ I và Đệ II cấp, nam và nữ sinh…riêng trường Đồ Chiểu trở thành trường Tiểu học.)

    Một dịp tình cờ tôi đã ghé vào trường Trần Lục_Đồ Chiểu xưa, bây giờ là trường Nguyễn Thị Diệu….đếm thời gian mà giật mình đã ½ thế kỷ, chợt nhớ 02 câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan :

    đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
    nước còn cau mặt với tang thương…

    Thắm thoát…

    -----

    Dear anh Lê văn Mọi

    Thật ra……triết lý sâu xa của nền giáo dục VNCH chính là Học để hoàn thiện mình…

    Phản hồi: 

    [quote=Khách đường xa]

    @ Đỗ Chí Việt
    - Có đúng là trường Trần Lục đổi tên thành trường Nguyễn Trãi ?
    - Có đúng là trường Thiên Phước trước 75 chỉ có học sinh mẫu giáo hay nhi đồng ?
    Bạn có biết đồng phục màu hồng riêng cho nữ sinh trường nào không ?

    Tôi ghi bóng hồng đủ nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, ở tuổi tôi lúc đó cũng ảnh hưởng không ít văn hóa Mỹ và Phương Tây cho nên bạn thắc mắc cặp kê sớm quá chăng ?

    (gợi ý : trường T.P hồi đó có cả các lớp cho HS Tiểu Học nữa đó nhé )[/quote]

    1. Về trường Trần Lục, tôi viết theo tri nhớ về một 1 người bạn học Nguyễn Trãi. Nhận được câu hỏi của anh, tôi tìm hiểu kỹ hơn và biết là mình sai: Trường Trần Lục sau nay dời địa điểm và đổi tên là trường Nguyễn Du:
    http://tranlucsaigon.wordpress.com/2010/11/28/tr%E1%BA%A7n-l%E1%BB%A5c-n...
    http://tranluc.net/diendan/viewtopic.php?t=882&sid=5a916c63c70c5de420fc7...

    2. Tôi có may mắn học chung (đại học) với 2 cô học trường St Paul. 2 cô cho biết là hồi nhỏ học trường Thiên Phước rồi chuyển qua St Paul vì Thiên Phước không có lớp cao hơn. Bây giờ, tôi ngờ rằng trường Thiên Phước dạy tới cấp 2 (hay tới lớp 10 không chừng) và "hồi nhỏ" ("chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì"!) của 2 cô muốn nói chắc là các cô khoảng 14, 15, 16 tuổi.

    Có thể Thiên Phước là một collège, chứ không phải lycée. Nếu có cô nào học TP đọc được những giòng này, xin cho biết rõ giùm.

    P.S.: Nữ sinh Thiên Phước mặc đồng phục màu hồng. Có thể số tôi xui, khi nào chạy ngang qua TP đều là giờ các em học tiểu học, mặc đồ đầm màu hồng.

    Hình như phía sau trường Thiên Phước có thể tiếp giáp/nối tới La san Đức Minh (không nghe bài chủ nói tới).

    ---------
    (*) Thơ Xuân Diệu:
    Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá
    Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.

    Phản hồi: 

    [quote=Lương ngọc Phát]

    Thưa chị Trần thị Ngự,

    Tôi là một cựu HS Hồ Ngọc Cẩn, hàng xóm thân thiết với trường Lê văn Duyệt của chị. Tôi đoán có lẽ chị học lớp đệ nhị ban C, sinh ngữ 1 Anh Văn năm 1963? Năm này trường LVD chưa có lớp đệ nhất nên các chị phải chuyển qua Trưng Vương học tiếp.

    Nữ Trung học LVD ra đời trễ hơn các trường bạn, chắc chị thuộc thế hệ HS đầu nên mới có cảnh chuyển trường vào năm cuối cấp. Hồ Ngọc Cẩn lúc đó đã đủ các cấp lớp,ở gần, song là vì trường Nam nên các chị phải chuyển qua Nữ Trưng Vương hơi xa.

    Bức ảnh mà chị bảo có chị trong đó, chắc là tác giả lấy từ trang "nữ trung học Lê văn Duyệt" đấy. Chị cứ gõ google rồi vào dòng "hình ảnh..."sẽ thấy ngay. Gần đây, thỉnh thoảng vẫn có giao lưu giữa cựu HS hai trường chúng ta đấy chị ạ.

    Hi vọng còm này mách chị tìm lại được dấu xưa, mà tôi tin là chi sẽ rất xúc động.

    Kính .[/quote]

    Thưa bác Lương Ngọc Phát,

    Tôi thuộc thế hệ "tú tài Mậu Thân, cử nhân Nhâm Tý" ạ. Tôi bắt đầu vào LVD khi bà Bùi thị Lắm làm hiệu trưởng, sau đó là cô Diệu Linh và cô Ngọc Hương. Lúc tôi chuyển trường thì cô Hoàng Mai giữ chức giám học.

    Chúng tôi là những người đầu tiên theo học ban C ở Lê Văn Duyệt thời ấy. Lớp Đệ Tam Ban C Pháp văn của chúng tôi có một số từ Trưng Vương qua vì lớp C Pháp văn ở Trưng Vương quá đông. Sau này, sau kỳ thi Tú Tài 1, có một số rơi rụng, số còn lại không đủ sĩ số cho một lớp nên chúng tôi lai chia nhau, kẻ đi qua Trưng Vương, người đi qua Gia Long.

    Tôi có một số bạn thân là học sinh Hồ Ngọc Cẩn, vẫn thường liên lạc và thỉnh thoảng có họp mặt (ở Mỹ). Rất vui được biết thêm một cựu học sinh Hồ Ngọc Cẩn ở trên mạng. Nếu có còm sĩ nào trước đây là dân Lê Văn Duyệt và Hồ Ngoc Cẩn xin giơ tay để nhận "họ hàng" nhé.

    Phản hồi: 

    [quote=Lương ngọc Phát]

    Tôi cũng nhớ có một ngôi trường (quên tên), hình như là tư thục của Công Giáo, nằm trên đường Hai Bà Trưng, phía bên trái nếu từ hướng Saigon ra Phú Nhuận, bên kia nhà thờ Tân Định. Trường này, nữ sinh mặc áo dài màu hồng nom rất lạ và bắt mắt. [/quote]

    Đó là Trường Thiên Phước.

    Phản hồi: 

    Đây là lĩnh vực quá xa lạ đối với tôi, nhưng đọc cả bài, cả còm thì lại thấy có ước mơ "Bao giờ cho đến ngày xưa" để được học dưới mái trường Mỹ ngụy.

    PVT viết: "Đến hôm nay, 2014, các trí thức như Hoàng Tụy và rất nhiều người khác của họ vẫn loay hoay với triết lý giáo dục mà không đưa ra được cái gì thuyết phục như điều Giáo dục VNCH đã đưa ra từ 1958, Và kết quả vẫn là cái Luật giáo dục như các bác đưa ra ở đây."

    Tôi chẳng biết cái "triết lý giáo dục" là cái gì, chỉ biết hồi được cắp sách đến trường thì được nghe giảng là "nhà trường XHCN đào tạo ra những con người mới XHCN, vừa hồng vừa chuyên". Những điều như thế thì gọi là cái gì? Lại có một số người nói là nhà trường XHCN "ưu việt", hỏi họ vì sao thì họ trả lời: "Có người không phải thi cử vẫn được tuyển vào trường đại học, đó là do có lý lịch tốt."

    Lại có trường hợp xẩy ra ở các năm 1960 là có người thi vào trường này, đỗ đạt cẩn thận thì nhà trường chuyển sang học trường khác do nhu cầu tuyển dụng, phần lớn những người bị chuyển như vậy là thi môn khoa học tự nhiên thì chuyển sang các môn xã hội, ví dụ thi vào đại học bách khoa thì chuyển sang học khoa văn, hoặc sử đại học sư phạm. Không có trường hợp ngược lại thi văn, sử chuyển sang tóa lý hóa. Còn hiện tượng có sinh viên đang học, đạo đức không có vấn đề, học lực khá, nhưng bỗng nhiên nhà trường lên đuổi vì phát hiện ra họ là con nhà địa chủ hay con nhà có nợ máu gì gì đó.

    Trong các trường đại học thì có sự phân hóa rõ rệt Đoàn viên và sinh viên ngoài Đoàn. Khi họp chi đoàn thì những sinh viên là đàon viên thả phanh nói xấu kể tội sau lưng những sinh viên ngoài đoàn, lại có thứ phê là tác phong tiểu tư sản. Nghe kể lại, tôi không hiểu tác phong tiểu tư sản là tác phong như thế nào? Còn sinh viên ngoài đoàn phàn nàn cán bộ lớp (thường là đoàn viên hay đảng viên) thì bị phê là "nói xấu cán bộ". Thỉnh thoảng trong các trường đại học lại tổ chức cho sinh viên đấu tố lẫn nhau. Trường đại học nào cũng có công an được phân công theo dõi.

    Có người kể lại: ngay những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước, có nhiều sinh viên đã nhận định: Liên xô trước sau sẽ sụp đổ vì đi ngược quy luật tiến hóa của nhân loại, kìm hãm sản xuất. Họ tiên đoán đúng đấy chứ, hóa ra không phải nhà trường cứ dạy thế nào thì người học tiếp thu thế vậy. Nay xem trên mạng thấy có người sinh ra lớn lên học tập đều dưới chế độ XHCN, nhưng đọc những gì họ viết thì thấy họ cũng tự thoát ra khỏi cái vòng kim cô CS.

    Phản hồi: 



    Lời đầu xin cám ơn BBT Dân Luận đã cho chúng tôi có dịp cùng nhau ôn lại kỷ niệm thời ăn học VNCH, trên trang nhà.

    Thưa bác Khách đường xa,

    Tôi có biết trường Trần Lục và nhiều trường bạn khác nữa, không kể hết. Tôi cũng nhớ có một ngôi trường (quên tên), hình như là tư thục của Công Giáo, nằm trên đường Hai Bà Trưng, phía bên trái nếu từ hướng Saigon ra Phú Nhuận, bên kia nhà thờ Tân Định. Trường này, nữ sinh mặc áo dài màu hồng nom rất lạ và bắt mắt. Bài "Tôi đi học" của Thanh Tịnh được dạy trong sách Giảng Văn lớp Đệ Lục, không kể nó cũng được dùng làm bài tập đọc của lớp tiểu học. Môn Triết lớp 12 tuỳ ban mà nặng nhẹ khác nhau. Ban khoa học như A,B nhẹ hơn ban C,D: gồm các môn Luận Lý, Tâm Lý , Đạo Đức.

    "Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ" là một hoạt động của Sinh Viên Học Sinh (SVHS) mỗi dịp Xuân sắp về, thường là lạc quyên để chúc tết các đơn vị quân đội. Trường Hồ Ngọc Cẩn /GD chúng tôi kết nghĩa với Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Lai Khê. Sắp tết, học sinh chở bánh tét lên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn (BTL/SD) bằng xe GMC (tôi không rõ là xe từ SĐ về, hay là xe của Tiểu khu Gia Định cho mượn (TKGĐ cho mượn),cùng với báo xuân và thư của HS. Có lần, hồi cuối năm 74, quân SĐ5 di chuyển về Sài Gòn vì quân vụ gì không rõ, chỉ biết họ ghé vào trường tôi rất đông kín cả sân chơi. Nhìn các anh lính phong trần ngồi quây từng tốp ăn cơm bên những cái chảo to, những gaument khổng lồ với thức ăn hết sức kham khổ, chúng tôi thương muốn ứa lệ. Tôi bỗng tự thấy mình được tươm tất quần xanh áo trắng, sách bút xênh xang như lúc đó, sao mà như có gì cay đắng!Những người lính trẻ, nhỉnh tuổi hơn bọn HS chúng tôi chút ít, quân phục đầy bụi, cũng là người VN mà sao họ đang chịu gian khổ một cách rất nhẫn nại thương khó, không một ánh suy bì khi thản nhiên nhìn lũ HS trắng phau phơi phới hậu phương. Tôi nghĩ, họ thật cao thượng! Chỉ ghé vài giờ nghỉ chân ở ngôi trường kết nghĩa, họ lại rùng rùng súng ống kéo đi.

    Bác ạ, Giám Học không phải là Giám Thị như bác nhớ lộn. Giám Học chính là Hiệu Phó Chuyên Môn theo cách gọi bây giờ, chỉ do một vị đảm trách. Ban Giảng huấn rất nể nang Giám Học, vì là cấp giám sát việc giảng dạy. Còn Giám Thị có thể nhiều vị, phụ trách kỷ luật và an ninh học đường.

    Ngày ấy, mùa giáp Tết, các trường thường làm báo Xuân, do Khối Xã Hội Học Tập (XHHT) và Văn Nghệ Thể Thao (VNTT) trong ban chấp hành trường phát động.

    Bài vở do các ban XHHT và VNTT các lớp đóng góp. Khối sẽ có trách nhiệm chọn lựa, biên tập. Báo Xuân in ra, thường hình thức như một tờ nguyệt san ngoài thị trường báo chí. Và các trường mang báo của mình đến các trường khác, vào từng lớp giới thiệu, mời mua ủng hộ để đọc và hiểu tiếng nói lẫn nhau. Tôi khoái vụ này lắm, mấy buổi học giáp Tết thầy trò có phần lơi lỏng, xả sú bắp. Mà tập trung thế nào được, khi một buổi học, chốc chốc lại có một đoàn bán báo Xuân ghé vô lớp. Bọn Nam sinh HNC chúng tôi quanh năm đực rựa khô khốc, thấy các bạn Lê Văn Duyệt - Trưng Vương - Sương Nguyệt Anh - Gia Long ...đến trường mình giao lưu báo chí, họ tha thướt áo dài và ăn nói lưu loát duyên dáng (vì là HS tuyển chọn đem chuông đi đấm xứ người mà!). Lòng dạ tâm trí nào mà học hành gì mấy buổi cuối năm như thế ?

    Chưa hết, hàng năm còn có diễn hành các trường Sài Gòn – Gia Định (SG-GĐ) trên sân Cộng Hoà. Có CUP hẳn hoi. Diễn hành từ bên ngoài vào vòng chạy quanh sân banh rồi quay vào giữa dâm chân tại chỗ theo trống quân nhạc chơi bài "Việt Nam... Việt Nam nghe từ vào đời, VN hai câu nói trên vành môi,VN nước tôi..." của Phạm Duy. Tiếp theo là nghe Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trực tiếp nói chuyện với HS từ trên khán đài. Lại được xem nhảy dù biểu diễn do quân đội thực hiện từ trên trời xuống sân banh.

    Tôi còn nhớ nhiều...nhiều thứ các bác ạ. Sau 75, mãi đến 1988 tôi mới thoát khỏi nỗi ám kỳ thị, ráng học thêm 4 năm nền GDDT của bên thắng cuộc, nhưng trái tim tôi vẫn chỉ thổn thức khi hoài niệm thời đi học VNCH !

    Phản hồi: 

    Bác Khách đường xa đía bác Già
    Nằm vùng khi ấy nhận sao ra
    Hơi cay nên Khách đường xa móc
    Chuyện cũ. Già, nay đã khác xa.

    Phản hồi: 



    Thú thật hồi còn học ở bậc Tiểu Học thời VNCH thì tôi nhớ không nhiều lắm, chỉ nhớ nhất là cứ niên học mới là nhớ bài học đã thuộc lòng của Thanh Tịnh: Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức ...ở tuổi này tôi ham chơi hơn ham học, cũng ham đá dế, thả diều, bắn bi v.v….lại thích gần Tết, nhà trường tổ chức Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ được ăn no bụng đủ thứ bánh trái kẹo mứt v.v….

    Phần nữa là nhớ lại hồi đó không hiểu sao luôn được Thầy Cô chọn giao cho vai trò giữ gìn kỷ luật nên cứ phải đi học sớm hơn các bạn, đeo giải băng chéo ngắn màu đỏ trên tay áo là tụi bạn nể lắm….

    Học vậy mà cũng thi đậu lớp Đệ Thất !

    Lên bậc Trung Học Đệ nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp thì lo học lắm vì là học sinh trường công, một số môn học như Việt Văn thì có 02 phần điểm : phần Luận và Giảng văn, môn Sinh Ngữ cũng có 02 phần : Vấn Đáp và Bài Làm (lên Đệ Nhị Cấp học Sinh Ngữ 02), môn Vạn Vật…Triết thì Triết Học Đông Phương, Triết Tây Phương (chẳng ai bắt ép phải học Triết Mác Lê).v.v..

    Mỗi năm cũng có 02 kỳ thi bán niên, gọi là Đệ Nhất và Đệ Nhị Bán Niên , điểm các môn học cao nhất là 20 điểm, một số phân môn có hệ số 2, hàng tháng đều được Giáo Sư Hướng Dẫn hoặc Giám Thị (Giám Học) báo về cho Phụ Huynh (ký kiểm nhận) ghi khá rõ Điểm trung bình trên 20, thứ hạng, số ngày nghĩ, lời phê nhận xét của GSHD….

    Hè 1972, năm tôi chuẩn bị thi Tú Tài 2, chiếc xe Jeep đỗ xịch trước cửa nhà báo tin Cha tôi tử vì nước, Mẹ tôi xỉu, khóc khô nước mắt…tôi quyết định theo bước ông già…..Mẹ tôi lần nữa tiễn con đi cũng khóc mà nước mắt đâu còn…năm sau tôi về cưới vợ do bà già ép, họ hàng mai mối (chắc sợ tôi giống như ông già) năm sau nữa về nựng thằng con đầu lòng, rồi bắt đầu những ngày tháng 04/75….từ Huế về Đà Nẵng đạn pháo cứ đuổi theo dân, theo lính như mưa….

    Lặn lội về đến SG mãi sau ngày 30/4 khi Mr. Minh kêu đầu hàng…ra trình diện đi học tiếp..

    Mẹ tôi cứ đêm nào cũng thức, thắp nhang vái cho tôi…có lẽ nhờ vậy mà bây giờ tôi còn ngồi đây, ngước lên bàn thờ thì thấy như 02 ổng bả đang mỉm cười ..
    ---------
    @NNG :

    Hồi xưa mỗi lần cha tôi về phép, hay đưa tiền biểu tôi chạy mua cho 02 đứa em những quyển truyện tranh như Xì Trum, Lucky, Tí Hon Thần Lực, Phan Tân và Sĩ Phú v.v….tôi mới biết đó là của tạp chí Thiếu Nhi chủ trương làm Sách Vàng…hình như có một khoảng thời gian eo hẹp vốn họ định ngưng xuất bản…tôi ít để ý mấy truyện tranh đó, thích những ca từ, bài hát của Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương v.v…sau này vô lính rồi thì làm bạn với những bài nhạc của Nhật Trường_Trần Thiện Thanh….

    -----
    @ Đỗ Chí Việt
    - Có đúng là trường Trần Lục đổi tên thành trường Nguyễn Trãi ?
    - Có đúng là trường Thiên Phước trước 75 chỉ có học sinh mẫu giáo hay nhi đồng ?
    Bạn có biết đồng phục màu hồng riêng cho nữ sinh trường nào không ?

    Tôi ghi bóng hồng đủ nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, ở tuổi tôi lúc đó cũng ảnh hưởng không ít văn hóa Mỹ và Phương Tây cho nên bạn thắc mắc cặp kê sớm quá chăng ?

    (gợi ý : trường T.P hồi đó có cả các lớp cho HS Tiểu Học nữa đó nhé )

    Phản hồi: 

    Xin được trả lời chị Nguyễn Jung,

    Vâng,trường hợp người anh thứ nhất của chị được học bỗng bán phần
    để du học, có lẽ nhờ thành tích học hành của anh ấy ở bậc đại học chứ
    không phải bởi chuẩn quyền lợi quy định cho thành tích đậu Tú Tài.
    Về trường hợp anh thứ hai, có lẽ là ngoại lệ gì đó mà ít nhiều
    xã hội nào cũng có chăng?
    Năm học lớp 12, chúng tôi được thầy Giám Học, trong một lần nói chuyện với HS liên lớp 12 về quyền lợi du học, và tôi còn nhớ rất rõ
    hình ảnh buổi thầy trò nói với nhau ngày ấy. Những năm cuối của VNCH,
    Nam sinh chúng tôi đều già trước tuổi vì ưu tư trước vận nước gắn liền
    với sinh mệnh của bản thân. Bạn bè tôi, anh nào học trễ tuổi một năm
    thôi, đều bị động viên lên đường học trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, nhiều
    người vừa ra trường đã vội hi sinh. Ấn tượng rất mạnh nên chúng tôi nhớ
    rất dai, các thầy cô lúc nào cũng vừa giảng dạy mà ánh mắt đượm buồn
    nhìn lũ nam sinh 18 tuổi sắp: hoặc đỗ Tú Tài hoặc đi Trung sĩ! Có thể
    tâm trạng này không có ở các trường Nữ. Lúc đó, nước sắp mất(giống hôm
    nay), VNCH ngày một kiệt quệ khắp các mặt kinh tế-quân sự, ra trận mà
    ai cũng biết mình thua tới nơi rồi(74-75)! Là nam sinh chuẩn Tú Tài,chỉ vài tháng nữa là từ biệt trường để vào đời sinh viên hoặc lính
    tráng, chỉ có 2 đường.
    Sở dĩ chính phủ VNCH quy định chuẩn du học như trên là bởi:
    * Với 10 điểm trung bình (thang điểm 20)trong chứng chỉ Tú Tài hạng
    Thứ, là
    không bảo đảm trình độ cần và đủ để có thể theo học đại học ngoại quốc không sử dụng tiếng Việt.

    * Tránh tình trạng công dân không xuất sắc trên phương diện học tập,
    không có triển vọng thành tài năng quý của quốc gia, nhưng nhờ giàu
    có thì có thể trốn lệnh động viên quân dịch qua con đường du học, gây
    bất công xã hội, trút trách nhiệm ra chiến trường cho người nghèo và
    thiếu may mắn ít được học hành. Tóm lại, theo luật, không xuất sắc là
    không được ưu tiên. Nhưng nếu xuất sắc mà tình nguyện không du học, ở
    nhà để vào võ bị thì khỏi bàn rồi.

    Mấy lời sẻ chia cùng đồng môn của nền GD/VNCH. Kính.

    Phản hồi: 

    [quote=Lương ngọc Phát]

    Thứ hạng đậu Tú Tài Hai thứ tự Tối Ưu-Ưu-Bình-BìnhThứ-Thứ. Hạng Thứ là kém nhất. Từ hạng Ưu trở lên được chính phủ cấp học bổng du học. Hạng Bình, nếu muốn thì phải tự túc. Các hạng dưới không đủ chuẩn du học, chỉ có thể học đại học quốc nội.

    [/quote]

    Tôi có người anh họ, đậu tú tài 2 hạng Bình thứ, vô đại học khoa học Sài gòn năm đầu, gần hết năm thì được học bổng bán phần du học, đi hình như năm 1967 hay 1968. Đang tính chuyện trở về, thì miền Nam "được giải phóng", Đất Nước thống nhất, hắn ở lại nước ngoài.

    Người khác đậu Tú tài 2 hạng Thứ, ông bác xin được giấy, cho du học tự túc ở Canada, nhưng hắn sợ không đi, gia nhập Hải quân làm người hùng trên biển. Năm 1975 cũng được "đi học tiếp" ở Thượng du Bắc Việt. "Tốt nghiệp" trường này năm 1981 hay 1982, không "chịu" ở lại "phục vụ" giông tuốt sang Mỹ.

    Tôi không nhớ được rõ ràng như bác, chỉ nhớ chuyện 2 người anh họ.
    Cám ơn bác kể lại chuyện xưa.

    Nguyễn Jung

    Phản hồi: 

    Ơi khách đường xa, khách đường xa

    Ý anh xấu quá nhìn hổng ra

    Ở đây muốn gì thì nói thẳng

    Để lâu trong bụng ráng chịu nha!

    Hê hê hê!

    Phản hồi: 

    [quote=Khách đường xa]
    Ừ, thì còn thiếu tên trường Trần Lục một thời….

    Già đầu rồi, cháu nội ngoại có đủ mà vẫn nhớ….hồi đó cũng từng có lúc cúp cua đi coi ciné ở rạp Kinh Thành (đối diện xéo chợ Tân Định)..qua khu Đa kao ăn bánh cuốn Thanh Trì….vòng về nhà thờ Tân Định để chờ bóng hồng trường Thiên Phước tan trường…hehe..[/quote]

    1. Trường Trần Lục sau này đổi tên là Nguyễn Trãi.

    2. Từ bao giờ, trường Thiên Phước là cho học sinh lớp nhỏ, lớn lên qua St Paul? Chắc thời bác "Khách đường xa" không chạy theo một em bé? :)

    [quote=Khách Nguyễn Ngọc Già]-Nếu không lầm, cách gọi: đệ thất cho đến đệ nhất vẫn duy trì cho đến 1975.[/quote]

    Bác Già nhớ nhầm. Sau 1970 đã bắt đầu gọi các tên lớp từ lớp l đến lớp 12 như bây giờ.

    Phản hồi: 

    [quote=tên tác giả]Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn [Gia Định] và các trường Quốc học [Huế], Phan Chu Trinh [Đà Nẵng], Võ Tánh [Nha Trang],….. [/quote]

    Ừ, thì còn thiếu tên trường Trần Lục một thời….

    Già đầu rồi, cháu nội ngoại có đủ mà vẫn nhớ….hồi đó cũng từng có lúc cúp cua đi coi ciné ở rạp Kinh Thành (đối diện xéo chợ Tân Định)..qua khu Đa kao ăn bánh cuốn Thanh Trì….vòng về nhà thờ Tân Định để chờ bóng hồng trường Thiên Phước tan trường…hehe..

    (nhắc về khu Đa kao là lại nhớ thằng cha Duyên Anh với Zũng Đa Kao, Bồn Lừa…)

    Khoảng đầu năm 1970 thì trường tôi chuyển qua khu cư xá sĩ quan Chí Hòa, đổi tên thành trường Nguyễn Du..

    Vượt kì thi Tú Tài 1 cuối cùng (1972) lo học cho xong Tú tài Phần 2 trong những tháng ngày khói lửa bao trùm ác liệt khắp các tỉnh thành miền Nam…cũng cuối năm học lớp 12 này, cùng nhiều bạn bè khăn gói lên đường, đứa thì Đà lạt, đứa thì Thủ Đức, đứa nào đã thôi học thì học tiếp ở Quang Trung, Đồng Đế v.v….(tuy nhiên cũng có đứa gốc con nhà VC nằm vùng nên đâu có dám đi như tụi tôi mà bây giờ bày đặt hỏi tôi số quân KBC lãng nhách !)

    Năm cuối lớp 12, môn học tôi sợ nhất là môn Triết….tôi vẫn còn lưu giữ tất cả Thành Tích Biểu từng niên khóa trước 1975 , kể cả Chứng Chỉ Học Trình v.v…

    (Sau 30/4/1975 lại “đi học” tiếp….hôm nay bạn cũ gặp lại ít lắm, nhiều đứa đã không còn..)

    Phản hồi: 

    Trường tôi!

    Một thời tuyệt đẹp. Một tiếc nuối vô vàn.

    Tôi ghét cái tên mới của trường vô cùng. Chẳng ăn nhập gì đến văn hoá giáo dục (cùng với nhiều cái tên mới khác nữa). Chẳng biết những người này thật sự có công trạng gì cho đất nước? Công tội vẫn chưa được minh định rõ ràng hay được toàn thể nhân dân đồng tình. Một sự áp đặt trắng trợn.

    Phản hồi: 



    5:24pm Thứ Năm ngày 26 tháng 6 năm 2014

    Thưa các bác,

    Tôi thuộc thế hệ của những người chào đời vào cuối thập niên 1960, chỉ được học dưới mái trường của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa vỏn vẹn vài năm. Ngày Miền Nam thất thủ tôi đang theo học Bậc Tiểu Học, nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn không quên hình ảnh thầy cô, hình ảnh các anh chị học sinh Trung Học - chắc là đồng trang lứa với các bác bây giờ.

    Tôi đọc trên Facebook của Huỳnh Minh Tú, thấy tác giả ghi chép một tài liệu phong phú về Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa, dù bài thật dài và có nhiều hình ảnh minh họa, tôi vẫn cố gắng mang về trang nhà Dân Luận, trình bày giống như nguyên bản của tác giả. Không ngờ được các bác đồng cảm, bày tỏ những tâm tình sâu lắng thật cảm động của thuở học trò, của thời thư sinh tay trắng mộng đầy.

    Tôi viết đôi giòng này, để cảm ơn tác giả Huỳnh Minh Tú nói riêng, và cảm ơn các bác nói chung, đặc biệt cảm ơn các bác Lương Ngọc Phát, Nguyễn Ngọc Già, Trần Thi Ngự, Nguyễn Jung...v.v...! Trên cõi ảo ở chừng mực nào đó "văn là người." Qua văn phong có thể phác họa chân dung của người viết...Tôi rất kính phục và ngưỡng mộ một số bác vẫn đóng góp bài vở, phản hồi trên trang Dân Luận. Bây giờ đọc những giòng hoài cảm của các bác, được biết các bác là "môn sinh của Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa" - xin mượn câu chữ của bác Lương Ngọc Phát - tôi lại càng cảm phục, và thật sự hiểu tại sao người xưa lại nói: "Nền giáo dục như thế nào, sẽ khuôn đúc ra những người giống y như vậy."

    Tôi rất tự hào vì trang Dân Luận của chúng tôi được các bác - những người thuộc thế hệ cha anh - vào đọc, góp ý, gửi bài, chia sẻ cảm nhận. Những kinh nghiệm quý báu chắt lọc từ sự lịch duyệt trong cuộc đời của các bác, giúp thế hệ đàn em như chúng tôi biết ngẩng cao đầu, kiên cường nhìn thẳng vào phía trước, bằng cặp mắt biết quan sát và một bộ óc biết phán đoán.

    Một lần nữa thay mặt Ban Biên Tập Dân Luận, tôi chân thành cảm ơn sự đóng góp của các bác qua phần phản hồi, cũng như qua các bài viết, các bài dịch thuật. Ước mong các bác luôn cùng song hành nhịp bước với trang Dân Luận.

    Kính chúc các bác Thân-Tâm Thường An Lạc.

    Thay mặt Ban Biên Tập Dân Luận

    Tâm Như

    Pages