Konrad G. Bühler: Sự thống nhất của Việt Nam – Một trường hợp sáp nhập?

  • Bởi Hồ Gươm
    23/06/2014
    20 phản hồi

    Konrad G. Bühler</br>
    Đinh Lý Trần Lê chuyển ngữ

    Đôi lời giới thiệu của người dịch:

    Thời gian gần đây xuất hiện một loạt các vấn đề có liên quan tới câu hỏi kế thừa nhà nước (state succession) trong liên quan tới Việt Nam sau thời gian 1975-1976. Việc một nhà nước kế thừa một nhà nước tồn tại trước đó như thế nào có ảnh hưởng trực tiếp tới việc kế thừa quyền lợi và trách nhiệm của tiền quốc (predecessor) trước nó.

    Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một phần trong nghiên cứu phân tích trường hợp Việt Nam của ông Konrad G. Bühler, trích từ cuốn Kế thừa nhà nước và vai trò thành viên trong các tổ chức quốc tế: Lý thuyết pháp lý v. chủ nghĩa thực dụng chính trị (State Succession and Membership in International Organizations: Legal Theories Versuc Political Pragmatism) được nhà xuất bản Springer cho ra mắt tháng Hai năm 2001.

    Mag. Dr. Konrad G. Bühler là cố vấn pháp lý của Phái bộ Thường trực của Cộng hòa Áo tại Liên Hợp Quốc từ năm 2004. Trước khi vào làm việc tại Bộ Ngoại giao Cộng hòa Áo trong các năm 1999-2004 với tư cách chuyên viên pháp lý, ông là cán bộ giảng dạy chuyên ngành luật pháp quốc tế và và quan hệ quốc tế tại Đại học Viên.

    Trong bài dịch này chúng tôi cố gắng dùng đúng câu từ của tác giả, nhưng bỏ qua tất cả các ghi chú. Toàn bộ phân tích về sự kế thừa nhà nước của Cộng hòa XHCN Việt Nam với đầy đủ ghi chú, trích dẫn xin xem chi tiết trong cuốn sách trên.

    Tương tự như các trường hợp Cộng hòa A-rập Thống nhất và Tanzania, học thuyết về xác định loại hình pháp lý cho quá trình thống nhất của Việt Nam có nhiều điều tranh cãi. Trong khi một số tác giả cho rằng sự thống nhất của Việt Nam là một trường hợp của hợp nhất (merger), liên quan tới sự tiêu vong (extinction) của hai nước được thống nhất và hình thành một nhà nước kế thừa mới, phần lớn các tác giả có nhìn nhận rằng nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thống nhất là đồng nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được mở rộng thêm về lãnh thổ bởi Cộng hòa miền Nam Việt Nam trước đó, và tư cách cá nhân (personality) quốc tế của Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã biến mất như là kết quả của việc sáp nhập.

    Tuy nhiên, trong trường hợp Việt Nam, việc áp dụng các yếu tố khách quan và chủ quan đã nói tới ở trên để vạch ra một phân biệt giữa trường hợp hợp nhất và sáp nhập (incorporation) không đưa lại một câu trả lời rõ ràng. Trong lúc lý thuyết sáp nhập, lý thuyết chiếm ưu thế, có thể được ủng hộ bởi thực tế là Cộng hòa XHCN Việt Nam thống nhất tiếp tục giữ nguyên thủ đô ở Hà Nội, giữ nguyên hệ thống kinh tế và chính trị, cũng như màu cờ quốc gia và quốc ca của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phần lớn các yếu tố khách quan khác như độ lớn của lãnh thổ, dân số hay lực lượng quân sự là không rõ ràng, không có yếu tố nào có thể đặt Bắc Việt Nam hay Nam Việt Nam vào vị trí có ưu thế rõ ràng.

    Tương tự như vây, các yếu tố chủ quan thí dụ như tự nhìn nhận (self-conception) của nước thống nhất và nhìn nhận của các nước thứ ba cũng khó đưa đến kết luận rõ ràng. Việc đánh giá sự tự nhìn nhận của Việt Nam thậm chí còn trở nên phức tạp hơn bởi yếu tố cả Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam, khẳng định nguyên tắc thống nhất và không thể chia cắt được của lãnh thổ Việt Nam trong các hiến pháp của họ, đã liên tục giữ lập trường rằng toàn bộ lãnh thổ Việt Nam tạo thành một quốc gia duy nhất, chỉ bị chia cắt tạm thời. Kết quả là trong tự nhìn nhận của Việt Nam thì việc thống nhất của Việt Nam được cho là hoàn toàn không liên quan tới trường hợp kế thừa mà chỉ là một thay đổi của chính phủ. Tuy nhiên, xét tới các hoàn cảnh thực trạng không thể chối cãi được thì việc bác bỏ sự tồn tại của hai thực thể nhà nước riêng biệt ở Bắc và Nam Việt Nam trước thống nhất 1976 có vẻ là không vững chắc về mặt pháp lý. Hơn nữa, cách hiểu như thế là mâu thuẫn rành rành với các thông điệp của Việt Nam tới các tổ chức quốc tế như WHO, trong đó nêu rõ là hai nhà nước thành viên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt nam đã hợp nhất tạo thành Cộng hòa XHCN Việt Nam và nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có thể tiếp nối vai trò thành viên chính thức; điều này có xu hướng ủng hộ lý thuyết hợp nhất hay hợp tạo (fusion) của hai nhà nước Việt Nam trước đó.

    Mặt khác, hành vi thực tiễn của nước Việt Nam thống nhất nói chung là bãi bỏ tiếp nối hiệu lực của các hiệp định quốc tế do Nam Việt Nam ký kết trước đó có thể đưa đến suy luận rằng Cộng hòa XHCN Việt Nam nhìn nhận sự thống nhất của Việt Nam như là một trường hợp sáp nhập. Tuy vậy người ta thường bỏ qua bối cảnh Cộng hòa XHCN Việt Nam có phân biệt rõ ràng giữa các hiệp định được ký kết bởi chính phủ Sài Gòn trước đó (Quốc gia Việt nam, Việt Nam Cộng hòa) và các hiệp định được ký kết bởi Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Cộng hòa miền Nam Việt Nam) cộng sản, chính phủ mà Bắc Việt Nam coi là chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho Nam Việt Nam. Thế là nước Việt Nam thống nhất, như một vấn đề có tính nguyên tắc, không bãi bỏ mọi hiệp định quốc tế của Nam Việt Nam trước đó mà chỉ bãi bỏ những hiệp định được ký kết của chế độ Sài Gòn bất hợp pháp. Theo vậy, ngày 4.7.1976, chỉ hai ngày sau thống nhất VN, Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hòa XHCN Việt Nam đã gửi một bức thư tới chính phủ Thụy Sĩ, chủ thể lưu trữ bốn Công ước Genève năm 1949, trong đó có tuyên bố như sau:

    “Cộng hòa XHCN Việt Nam sẽ tiếp nối sự tham gia của Việt Nam Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong bốn Công ước Genève 1949 liên quan tới bảo vệ nạn nhân chiến tranh với những điều kiện hạn chế đồng nhất với những điều kiện hạn chế đã được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đặt ra.”

    Là quan trọng để nhấn mạnh rằng trong bức thư này Việt Nam thống nhất không tuyên bố ý định kế thừa (succeed to) mà tiếp nối (continue) vai trò của Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và Nam Việt Nam (Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam/Cộng hòa miền Nam Việt Nam) như các bên tham gia các Công ước Genève, những hiệp định đa phương duy nhất mà cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cộng sản đều là các bên tham gia. Theo đó, Cộng hòa XHCN Việt Nam thống nhất được đưa vào danh sách thành viên các Công ước Genève với ngày tháng 28.6.1957, ngày tháng tham gia có hiệu lực của Việt nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng với các điều kiện hạn chế của cả hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Cộng hòa miền Nam Việt Nam) đặt ra khi tham gia.

    Thêm vào đó, quốc gia Việt Nam thống nhất có vẻ không chỉ tiếp nối các hiệp định của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Cộng hòa miền Nam Việt Nam) cộng sản, mà – trái ngược với chính sách chung của họ - thậm chí cũng tiếp nối một vài hiệp định của chế độ Sài Gòn. Thí dụ như thực trạng Hiệp định Tương trợ (Agreement of Assistance) giữa Trương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP và Việt Nam Cộng hòa ngày 5.7.1974, đã được tuyên bố kết thúc rõ ràng bởi Cộng hòa XHCN Việt nam khi nước này ký kết một thỏa thuận tiếp sau đó ngày 21.3.1978, dẫn đến việc tiếp tục áp dụng sau khi Việt Nam thống nhất vào tháng Bảy 1976. Tương tự như thế, Hiệp định cho Trao đổi Ấn phẩm chính thức (Exchange of Official Publications) song phương được ký kết giữa Úc và chế độ Sài Gòn vào năm 1954 tiếp tục có hiệu lực trong quan hệ với Cộng hòa XHCN Việt Nam thống nhất. Do vậy, xét theo khía cạnh tiếp nối vai trò thành viên trong các tổ chức quốc tế và chính sách có lựa chọn trong việc ngừng tham gia các hiệp định của Nam Việt Nam, có nghi ngờ liệu các hành vi thực tế của nhà nước Việt Nam thống nhất có được đặt nền móng trên các cơ sở pháp lý giáo điều hay không hay chúng được dẫn hướng bởi các cân nhắc chính trị và thực dụng thiết thực.

    Không may là việc dùng tới yếu tố chủ quan về công nhận và thừa nhận của các nước thứ ba cũng không đem lại nhiều ánh sáng cho câu hỏi xác định loại hình sự thống nhất của Việt Nam. Bên cạnh việc hiếm hoi tài liệu, quan điểm của các nước thứ ba và tòa án của họ cũng rất khác biệt nhau. Thí dụ như một loạt các tòa án Mỹ giữ quan điểm về sự thống nhất của Việt Nam là vào tháng Bảy năm 1976, Bắc Việt Nam, nhận lấy tên mới, đã đơn giản sáp nhập Việt Nam Cộng hòa, điều này dẫn tới nước Việt Nam Cộng hòa kết thúc tồn tại:

    “Tháng Bảy 1976, lãnh thổ trước đó của Việt nam Cộng hòa đã được nối kết vào lãnh thổ của Bắc Việt Nam và nhà nước nảy sinh được gọi là Cộng hòa XHCN Việt Nam. Như thế, Việt Nam Cộng Hòa […] đơn giản không phải là suy tàn; nó đã chết.[…]

    Việt Nam Cộng hòa, cả với tư cách nhà nước và chính phủ, chấm dứt tồn tại về mặt pháp lý cũng như thực trạng và Mỹ cho tới nay chưa công nhận một chính phủ nào là quyền lực hợp pháp trên lãnh thổ trước đó được biết tới như là Nam Việt Nam.”

    Một nhìn nhận tương tự, tuy diễn đạt ít rõ ràng hơn, xem ra có vẻ là được Bộ trưởng Ngoại giao Pháp dùng tới, khi trả lời quốc hội nước này ngày 9.9.1978 đã có nhận định như sau:

    “Sau khi Việt Nam Cộng hòa chấm dứt tồn tại, chính phủ Việt Nam mới không đưa ra tuyên bố cho biết có tiếp tục tham gia các hiệp định 16 tháng Chín 1954 và 16 tháng Tám 1955, đã được ký kết bởi Cộng hòa Pháp và chính phủ nam Việt Nam trước đó, hay không. Điều này, theo các nguyên tắc luật pháp quốc tế hiện thời về kế thừa nhà nước, dẫn đến kết quả là các hiệp định trên không còn tính ràng buộc với chính phủ Việt Nam hiện thời và trở thành vô hiệu lực.”

    Mặt khác, vào ngày 20.1.1981, một tòa án Thụy Sĩ cho rằng: “Cộng hòa XHCN Việt Nam phải được coi là người kế thừa pháp lý của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong liên quan tới sự thống nhất của Việt Nam và địa vị của Cộng hòa XHCN Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa, tòa án này nhận định tiếp như sau:

    “Cộng hòa XHCN Việt Nam không phải là kết quả của một sự phân chia. Ngược lại, nó là một quốc gia duy nhất được hình thành trên lãnh thổ Việt Nam. […] Theo cách nói chung, Cộng hòa XHCN Việt Nam tiếp nhận các quyền lợi [và trách nhiệm] của Việt Nam Cộng hòa trước đó. […] Điều này dẫn đến bên bị tự động tiếp nối các chức năng [của Việt Nam Cộng hòa] liên quan đến các mối quan hệ ngoại giao.”

    Tuyên bố này cho thấy, trong liên quan chỉ riêng tới Việt Nam Cộng hòa trước đó và sự thành lập của nhà nước mới Cộng hòa XHCN Việt Nam như là một nhà nước duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam, sự thống nhất của quốc gia Việt Nam được coi là một trường hợp hợp nhất, dẫn đến sự tiêu vong của hai nhà nước đã được thống nhất lại và sự ra đời của một nhà nước mới, nhà nước này tự động có tất cả các quyền lợi và nghĩa vụ của hai nhà nước tiền quốc trước đó. Trong bối cảnh này, là rất thú vị nhắc tới hành vi thực tiễn của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc trong tư cách chủ thể lưu trữ các hiệp định đa phương, cá nhân này xem ra cũng có vẻ xác định sự thống nhất của Việt Nam như một trường hợp của loại hình hợp nhất .

    “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam (nước đã thay thế cho Việt Nam Cộng hòa) đã thống nhất vào ngày 2 tháng Bảy 1976 để lập ra một nhà nước mới, Cộng hòa XHCN Việt Nam (Việt-Nam)”.

    Tuy nhiên, trong liên quan tới vai trò thành viên trong các tổ chức quốc tế, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc lại không hành động trên cơ sở giả định như trên, mà lại coi sự thống nhất của Việt Nam là một sự hàn gắn(amalgamation) hai tư cách cá nhân (personalities) được tiếp tục, bao gồm cả địa vị thành viên của họ, vào thành một tư cách cá nhân, tương tự như thực tiễn đã được thành lập trong liên quan tới sự thống nhất của Cộng hòa A-rập Thống nhất và Tanzania. Cuối cùng, theo sau sự công nhận quốc gia Việt Nam thống nhất từ phía Vương quốc Anh, nhìn nhận như sau đã được trình bày bởi Bộ trưởng Ngoại giao Hà Lan trong một tuyên bố vào ngày 19.7.1976:

    “Quan điểm của Hà Lan là, do Cộng hòa XHCN Việt Nam tự coi mình là một sự tiếp nối của hai Việt Nam trước đó, một sự công nhận chính thức của Hà Lan là không cần thiết.”

    Tóm lại, với tất cả các yếu tố khách quan và chủ quan đã được xem xét trên đây, có vẻ khó mà đặt Việt Nam vào một loại hình nhất định nào. Một số các yếu tố khách quan, đặc biệt là ưu thế của giới công chức và chính trị gia Bắc Việt Nam sau khi thống nhất, có thể ủng hộ cho thuyết sáp nhập, trong khi các yếu tố khác như độ lớn của lãnh thổ hay dân số lại không ủng hộ cho thuyết này. Theo các yếu tố chủ quan, trường hợp Việt Nam phản ánh một cách hoàn hảo sự non yếu của một trắc nghiệm dựa trên các yếu tố này, các yếu tố này không chỉ là khó nắm bắt mà trong phần lớn các trường hợp, chúng không nhất quán rõ ràng và mâu thuẫn nhau. Nếu thiếu một tự nhìn nhận rõ ràng của quốc gia đang được xét tới, cũng như thiếu tính nhất trí, hoặc ít nhất là một xu hướng phổ biến trong nhìn nhận của các nước thứ ba, một trắc nghiệm dựa vào các yếu tố chủ quan trên trở thành bất khả thi.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    20 phản hồi

    Cám ơn bạn Khách đường xa đã cho tôi dịp chứng tỏ tôi hoàn toàn tỉnh táo và không ngây thơ cụ như bạn tưởng :

    1) CHPVĐ hoàn toàn có giá trị, nhất là đối với Tàu cộng chứ ! Vì một lẽ rất giản dị là với những từ ngữ đặc biêt Tàu như "thưa đồng chí Tổng lí" không có trong từ vựng Việt Nam, chứng tỏ chính Tàu Cộng đã thảo cái công hàm này. PVĐ chỉ ký và đóng dấu thôi. Bây giờ CSVN chỉ còn có mỗi một cách là vực cái thây ma VNCH dậy để chống chế với Tàu cộng rằng Công hàm PVĐ không có thẩm quyền gì đối với HS, TS cả.

    2) Khi tôi nói CHMNVN chỉ là một sự bịa đặt tức là tôi đã bộc lộ rõ ràng ý nghĩ của tôi. Nhưng tôi lại đưa ra một lập luận ngược lại khiến nhiều bạn cho tôi là tiền hậu bất nhất. Tôi phải nói lại là lập luận của tôi chỉ có tính cách thuần pháp lí cũng giống như lập luận của một luật sư phải bào chữa cho một bị cáo can tội giết người với tang chứng dành dành. Tuy người luật sư không tin gì về lập luận của mình nhưng vẫn phải bào chữa cho bị cáo. Bị cáo ở đây tất nhiên là CSVN. Nhưng vì CSVN đã làm cho dân tộc VN mắc vào tròng Tàu cộng nên phải lập luận như vậy để gỡ một phần nào dân tộc Việt Nam ra khỏi cái tròng pháp lí của Tàu cộng với điều kiện là CSVN dám đưa Tàu cộng ra trước một tòa án quốc tế. Nếu gặp may mắn và với sụ ủng hộ của những nước có uy thế như Mỹ, Nhật, Anh, Pháp..., lập luận này cũng có thể thuyết phục được một tòa án như một tòa án Thụy Sĩ theo chính lời kể của ông Buhler : "ngày 20.1.1981, một tòa án Thụy sĩ cho rằng CHXHCNVN phải được coi là nguời kế thừa pháp lý (de jure) của VNCH". Và cũng theo một dẫn chứng khác của ông Buhler : "quan điểm của Hà Lan là CHXHCNVN tự coi mình là sự tiếp nối của hai Việt Nam trước đó, một sự công nhận chính thức của Hà Lan là không cần thiết". Về CHMNVN thay thế VNCH cũng được ONU chính thức công nhận theo dẫn chứng của ông Buhler "VNDCCH và CHMNVN (nước đã thay thế cho VNCH) đã thống nhất vào ngày 2.7.1076 để lập ra một nhà nuớc mới CHXHCNVN". Nói tóm lại, tranh tụng trước tòa chỉ nêu ra những lập luận thuần pháp lý. Tàu cộng cũng chỉ đưa ra những chứng cớ thuần pháp lý chứ không thể đưa ra những bằng cớ tuy rất hiển nhiên là CHMNVN chỉ là một sự bịa đặt của người em bất nghĩa của mình không có hiện hữu thật sự (de facto). Cứ cho là 50% lập luận này được Tòa án chấp nhận đi thì cũng đáng đưa Tàu cộng ra Tòa.

    Vấn đề là chắc chắn 90% CSVN sẽ không dám đưa Tàu công ra tòa để khỏi mất lòng ông anh.

    Tôi chỉ tìm cách gài CSVN vào một sự : Khi đã tự công nhận mình là kế thừa VNCH, tức là coi VNCH là cha của mình thì không thể cứ tiếp tục coi cha là ngụy nữa và phải đền bù lại tất cả những gì mà người con bất hiếu đã làm tổn thương tới cha mình.

    Về chhuyện bạn coi tôi chưa đủ độ chín để biết thân phận một nước nhược tiểu, chỉ là con tốt trên bàn cờ các siêu cường, thì tôi chỉ mong bạn có dịp đọc những bài tôi viết từ 8 năm nay trên Talawas, Thông Luận, Đàn Chim Việt, Dân Luận... và ngay cả các báo lề phải trong nước, tất nhiên là với một bút hiệu khác.

    Chào bạn P.U

    Trên net nghi ngờ lẫn nhau là chuyện bình thường, khuyên bạn không nên quan trọng hoá vấn đề, ngay như tôi khi góp ý thẳng thắn trên DL này còn bị tra xét đi lính VNCH hồi nào, số quân KBC v.v…cho dù người điều tra tôi là “sinh ra trong một gia đình CS, bố mẹ, anh chị em cũng đều là CS, nhưng tôi biết ơn VNCH”…..làm tôi thấy buồn cười vì tính trẻ con đó vậy, có sao đâu !

    Quay lại vấn đề thảo luận nhé :

    1) Về công hàm PVĐ nếu bạn tỉnh táo thì sẽ dễ nhận thấy hiện nay có 03 ý kiến :

    - Cho rằng CH PVĐ không có giá trị
    - Cho rằng có giá trị vì CH PVĐ giấy trắng mực đen, đóng dấu quốc huy, có chữ ký người đứng đầu nhà nước.
    - Không rõ, đứng cửa giữa.

    Về CH PVĐ, tôi không còn gì để thảo luận nữa, những chứng cớ đó đã quá đủ để hiểu rồi, nếu bạn thích bảo vệ quan điểm cá nhân bạn hay muốn tranh luận thì nên quay về những thread đã mở về đề tài này để thảo luận.

    2) Lập luận của bạn giống y chang DDH khi cố chứng minh CHMNVN là thừa kế VNCH, tôi buột phải nói thẳng : không có thừa kế gì cả.

    Chuyện quá rõ như ban ngày mà sao nhiều người vẫn cố bám víu vào luận điểm này thế ! dễ qua mặt TQ và quốc tế sao ?

    Ngay chính bạn còn viết rõ ràng như vầy mà cãi gì nữa : CHMNVN là một sự bịa đặt của cộng sản Bắc Việt nên không có hiện hữu "de facto"

    Bây giờ bạn làm sao chứng minh : giấy tờ thừa kế, thủ tục bàn giao ra làm sao? nhất là tuyên bố nào của CPLT CHMNVN nói rõ về HS_TS là thuộc chủ quyền của CHMNVN kể thời điểm 30/4/1975?

    Hãy lưu ý kể từ thời điểm 30/4/1975 như trên. Nếu CPLT CHMNVN có những tuyên bố rõ ràng chữ nghĩa chủ quyền về HS_TS trước quốc tế thì mới có giá trị cho CHMNVN, bởi vì trước đó những tuyên bố về chủ quyền HS_TS từ chủ thể là CP VNCH và vì HS đã bị đánh cướp mất trước khi chủ thể VNCH qua đời 30/4/1975.

    Mở ngoặc chỗ này :

    Chính DDH từng ghi rằng “Sau 30/4/1975, khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN thay thế chính phủ VNCH, tư cách pháp lý của hai quốc gia ở hai bên vĩ tuyến 17 tiếp tục được khẳng định bởi một số thực tế ngoại giao, và VNDCCH là một quốc gia khác với CHXHCNVN ngày nay".

    Xin hỏi : nếu đúng như vậy thì CHMNVN (và VNCH) có phải là quốc gia khác với CHXHCNVN ngày nay không ? nếu trả lời khác thì đề nghị không cần tranh cãi nữa, vì rõ ràng CHXHCNVN không có sự thừa kế nào cả.

    Nếu cứ (cố) buột (phải) có thì rơi vào vấn đề pháp lý rất quan trọng mà nhiều người do chủ quan không nghĩ rằng CHXHCNVN kế thừa CHMNVN mà quên đi CHXHCNVN cũng kế thừa VNDCCH.

    Một nhà nước không thể cùng lúc kế thừa hai lập trường đối nghịch : Hoàng Sa là của TQ (lập trường VNDCCH) và Hoàng Sa thuộc Việt Nam (lập trường VNCH).

    3) Xin nói thật : nếu bạn gài được CSVN làm được điều như trên thì toàn thể dân tộc VN, từ trong ra ngoài, nhất định tôn bạn làm thánh !

    Buồn thật !

    Khá nhiều người viết còm, hoặc mở topic vẫn còn những niềm tin “ngây thơ” như kiểu tin rằng ông3X sẽ là “Chúa Cứu Thế” cho dân tộc VN v.v…

    ------------

    Vài lời riêng với bạn P.U

    Biết rằng bạn sẽ buồn hay tự ái khi đọc thêm những lời ghi sau, vậy xin lỗi bạn trước để nói rằng tôi nghĩ rằng chỉ vài năm nữa thôi, bạn sẽ có đủ độ chín về nhận thức để hiểu rằng cả thế giới chúng ta đang sống là bàn cờ và các siêu cường là những đại kiện tướng.

    Thân phận nhược tiểu, một khi trao thân gởi phận, buột sống nhờ cường quốc cần hiểu điều tôi nói : bất cứ con gì hễ nuôi được thì ắt làm thịt (ăn) nó được !

    VNCH hẵn rất thấm thía bài học này trong quá khứ.

    CSVN làm sao thoát khỏi bàn tay lông lá CSTQ ?

    Bài phân tích này không trực tiếp nhằm vào việc giải thích liệu CH XHCN Việt Nam có được kế thừa các quyền lợi (và trách nhiệm nghĩa vụ) của Việt Nam Cộng hòa hay không. Để giải thích vấn đề này thì chỉ riêng phân tích này thôi là không đủ, việc áp dụng nó vào nỗ lực này đều là những suy luận và suy đoán của người đọc.
    Hơn nữa, phân tích này gợi dẫn một câu hỏi: Một số học giả, thí dụ như ông Greg Austin trong cuốn China’s Ocean Frontier, 1988, cho rằng CH XHCN Việt Nam, với chính phủ về bản chất là chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đó, có khó khăn trong đòi hỏi thừa hưởng các quyền lợi (và trách nhiệm) của Việt Nam Cộng hòa, vì cả hai nhà nước này trước đó đã liên tục bác bỏ tính hợp pháp của phía kình địch (Tương tự như vậy cho trường hợp CH Nhân dân Trung hoa và Trung Hoa Dân quốc/Đài Loan). Vậy liệu CHMNVN có thể được sử dụng như một “đệm trung gian” để phá giải khó khăn này không?

    Trong phân tích này tác giả Konrad G. Bühler chỉ đưa ra các cân nhắc xem trường hợp kết thừa của CH XHCN Việt Nam có phải là một trường hợp sáp nhập (incorporation) hay là một trường hợp hợp nhất (merger) thôi. Bởi vì các bác muốn dùng nó để giải quyết các luận điểm tranh chấp giữa VN với Tàu, lại theo ý chủ quan của mình, nên mới dẫn đến nhiều điểm không rõ ràng như vậy.

    Tôi "copy & paste" tên quyển sách nhưng edit sai chữ Succession. Tên sách đúng là:

    State Succession and Membership in International Organizations: Legal Theories Versus Political Pragmatism

    Phiên Ngung viết:

    Tôi cố gắng tìm bản chính bằng Anh ngữ bài viết của tác giả trên mạng nhưng không được. Ai có bản Anh ngữ xin đăng lại giúp để mọi người có thể tham khảo. Cám ơn.

    Dường như bài nầy tác giả phỏng dịch từ trang 68, Chương (Chapter) III trong quyển sách: State Succes and Membership in International Organizations: Legal Theories Versus Political Pragmatism của tác giả Konrad G. Bühler: http://books.google.ca/books/about/State_Succession_and_Membership_in_Inter.html?id=Ty7NAG1Jl-8C&redir_esc=y

    Trả lời các bạn có ý nghi ngờ tôi :

    1) Tôi khẳng định nằm trong số "những người ghét cộng sản đến mấy" nhưng vì lòng yêu nước (có thể là sai), về mặt thuần túy pháp lý, bắt buộc phải đứng về phía luận điểm 4 của CSVN, nhất là trong luận điểm này CSVN bị Tàu cộng chiếu tướng đã phải tự phủ nhận Công hàm PVĐ khi công nhận VNCH không phải là "ngụy" mà là một quốc gia có chủ quyền trên một lãnh thổ từ Vĩ tuyến thứ 17 trở xuống. Tôi cũng không bao giờ có ý nghĩ rằng những người Việt Nam yêu nước khác không cùng một suy luận pháp lý như tôi là không yêu nước, là phản động. Xin đừng chụp mũ tôi.

    2) Về cái gọi là CHMNVN ,tôi đã nói nó chỉ là một sự bịa đặt của cộng sản Bắc Việt nên không có hiện hữu "de facto". Nhưng năm 1975 nó được quốc tế công nhận theo nghĩa nó được trên 50 nước trong số đó có nhiều nước trong thế giới tự do công nhận và ONU coi nó là một quốc gia ngang hàng với một quốc gia khác là VNDCCH khi cho cả 2 nước này quy chế quan sát viên của ONU. Trong cuộc tranh đấu về mặt pháp lí với Tàu cộng, sụ kiện này rất quan trọng vì nó chứng minh sự hiện hữu "de jure" của cái quốc gia được bịa đặt này trong khi Tàu cộng cố chứng minh là nó không có hiện hữu "de facto" để từ chối tính cách kế thừa của nó đối với VNCH.

    3) Khi tôi đưa ra ý kiến thành lập Liên bang Việt Nam với 2 thành phần là miền Bắc Việt Nam (VNDCCH cũ) và miền Nam Việt Nam (VNCH cũ) là có ý gài cộng sản Bắc Việt vào thế phải lấy lại cái lý tưởng của VNCH với một quốc hội, một chính phủ tự trị, một quốc kỳ, một quốc ca cho mỗi miền như nhiều liên bang dân chủ khác trên thế giới.

    Nói tóm lại tôi cần sự góp ý kiến về mặt pháp lý của các vị học giả để thoát ra được khỏi vòng cương tỏa của Tàu cộng hơn là sự chụp mũ lẫn nhau.

    Konrad G. Bühler viết:
    Tóm lại, với tất cả các yếu tố khách quan và chủ quan đã được xem xét trên đây, có vẻ khó mà đặt Việt Nam vào một loại hình nhất định nào. Một số các yếu tố khách quan, đặc biệt là ưu thế của giới công chức và chính trị gia Bắc Việt Nam sau khi thống nhất, có thể ủng hộ cho thuyết sáp nhập, trong khi các yếu tố khác như độ lớn của lãnh thổ hay dân số lại không ủng hộ cho thuyết này. Theo các yếu tố chủ quan, trường hợp Việt Nam phản ánh một cách hoàn hảo sự non yếu của một trắc nghiệm dựa trên các yếu tố này, các yếu tố này không chỉ là khó nắm bắt mà trong phần lớn các trường hợp, chúng không nhất quán rõ ràng và mâu thuẫn nhau. Nếu thiếu một tự nhìn nhận rõ ràng của quốc gia đang được xét tới, cũng như thiếu tính nhất trí, hoặc ít nhất là một xu hướng phổ biến trong nhìn nhận của các nước thứ ba, một trắc nghiệm dựa vào các yếu tố chủ quan trên trở thành bất khả thi.

    Không biết ông Hồ Gươm và những vị góp ý kiến trong mục này có gặp khó khăn gì khi đọc bài (dịch) này không nhưng bản thân tôi phải đọc đi đọc lại từng đoạn của bài này mà vẫn không đủ tự tin để nói rằng mình hiểu trọn vẹn vấn đề bài viết này muốn trình bày.

    Không biết khi dịch giả đọc nguyên bản có thấy bài viết phức tạp, khó hiểu hay không nhưng quả tình theo nhận xét của tôi, bản dịch quá khó hiểu có lẽ vì cách hành văn (hay dịch) cộng thêm sự phức tạp của vấn đề: Tính thừa kế quốc gia theo công pháp quốc tế.

    Tôi nghĩ, vấn đề này vốn dĩ đã phức tạp, dịch giả cần phải có hiểu biết về luật pháp và chính trị để có hiểu rõ điều tác giả muốn trình bày. Thêm vào đó, khi dịch lại một trích dẫn của bài ra tiếng Việt một đoạn văn tác giả đã dịch từ Việt ngữ sẽ rất dễ đưa đến kết quả là bản dịch Việt ngữ của bản dịch Đức/Anh ngữ từ nguyên bản tiếng Việt khác với nguyên bản bằng tiếng Việt. Trong trường hợp này, các trích dẫn từ các tuyên bố của các chính phủ Việt nam có vẽ như là bản dịch, có thể từ bản dịch Đức/Anh ngữ của tác giả hơn là nguyên bản tiếng Việt các công bố của các chính phủ VN. Cũng có thể tác giả trích lại nguyên bản các tuyên bố của các chính phủ VN gởi cho các giới chức và chính quyền và tổ chức quốc tế liên hệ bằng Anh/Pháp ngữ và tác giả trích lại. Trường hợp này, dịch giả cũng phải thận trọng để (1) bản dịch Việt ngữ đúng với từ và nghĩa dùng trong nguyên bản Anh/Pháp và/hay đúng với nguyên bản bằng Việt ngữ các tuyên bố của các chính phủ VN.

    Tôi cố gắng tìm bản chính bằng Anh ngữ bài viết của tác giả trên mạng nhưng không được. Ai có bản Anh ngữ xin đăng lại giúp để mọi người có thể tham khảo. Cám ơn.

    Các bác cứ nói lung tung. Mặt Trận DTGPMNVN chỉ là một 'tổ chức đấu tranh cách mạng' chủ yếu bằng bạo lực khủng bố, tuy nhiên, Cọng Hoà MNVN cùng Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời MNVN của nó từng là một thực thể có đầy đủ tư cách như là nhà nước de facto.

    1. Trụ sở của chính phủ CMLTMNVN đặt ở thủ đô là Cam Lộ, Quảng Trị, Việt Nam.
    http://quangtri360.com/du-lich-quang-tri/tru-so-chinh-phu-cach-mang-lam-thoi-cong-hoa-mien-nam-vn.html

    2. Chính phủ CMLTMNVN có nội các với đầy đủ ban bệ từ chủ tịch cho đến các bộ trưởng, thứ trưởng các bộ quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, giáo dục, y tế, ...
    http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/thanhvienchinhphuquacacthoiky?governmentId=614

    3. Có lãnh thổ là các vùng giải phóng.

    4. Có dân cư trong các vùng giải phóng.

    5. CHMNVN từng được chính thức công nhận bởi và đã thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với nhiều nước trên thế giới, trong đó có cả 2 thành viên thường trực của HĐBA LHQ.
    http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&Itemid=33&id=330

    CHMNVN cùng với VNDCCH đã cưỡng chiếm lãnh thổ VNCH, ép chính quyền VNCH đầu hàng, sau đó nhập cả mớ vào thành CHXHCNVN. Do đó, CHXHCNVN hôm nay chả có kế thừa kế dư từ VNCH thứ gì cả !

    Cám ơn NJ có ý kiến xác thực không tranh cải về CPLV.

    Theo như bạn viết thật đau lòng cho lãnh đạo CHMNVN, kể cả giới trí thức MN, họ như con cừu bên Đãng CSVN, họ chính là nhân tố đưa 16 triệu nhân dân MN vào tay Quỷ đỏ CSBV, họ có ân hận gì không ?, để hiểu rỏ hơn, tôi tham khảo các bài viết trên diễn đàn của bác Nguyễn văn Lục vậy.

    Khương Việt viết:
    Xin góp ý mọn về từ ngữ:

    SÁP NHẬP (annexation,incorporation), chứ không phải SÁT NHẬP.

    Chữ SÁP có nghĩa là gộp vào làm một; còn chữ SÁT có nghiã hoặc là XEM XÉT (quan sát), hoặc là GIẾT (sát nhân).

    Nhiều người vẫn viết nhầm từ ngữ đó.

    Xin vui lòng tra lại tự điển tiếng Việt.

    Cảm ơn bác Khương Việt đã góp ý, chúng tôi đã sửa lại bài chủ.

    Phong Uyên viết:
    Bởi vậy không một người VN yêu nước nào, dù ghét cộng sản đến mấy, cũng không thể không đứng cùng một phía với CSVN, tìm cách tăng cường sức thuyết phục của Luận điểm 4 để hóa giải cái công hàm bán nước này

    Tôi thật sự giật mình vì P.U đã viết như trên !

    Hỏi thật nhé : P.U đang kết tội những người hiện giờ không đứng cùng một phía với CSVN là phản động, không yêu nước, phải không ?

    Xin góp ý mọn về từ ngữ:

    SÁP NHẬP (annexation,incorporation), chứ không phải SÁT NHẬP.

    Chữ SÁP có nghĩa là gộp vào làm một; còn chữ SÁT có nghiã hoặc là XEM XÉT (quan sát), hoặc là GIẾT (sát nhân).

    Nhiều người vẫn viết nhầm từ ngữ đó.

    Xin vui lòng tra lại tự điển tiếng Việt.

    Tóm lại theo tác giả Buhler, mọi sự vẫn "rối như canh hẹ" khi nói đến đề tài "kế thừa" và "hợp nhất" của chính quyền CSVN. Tại sao? Cái gọi là Mặt Trận GIải Phóng Miền Nam VN, và sau này là Chính phủ cách mạng lâm thời MNVN của Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát chỉ là một "động tác giả," một tổ chức "ma." Khi xong chuyện, thì các "đỉnh cao trí tuệ" của đảng CSVN vốn dĩ kiến thức về công pháp và luật pháp rất nghèo nàn, nếu như không muốn nói là số 0 tròn trĩnh, cộng thêm sự coi thường vốn có về những tiền lệ, công ước, hiệp nghị quốc tế nên đã vô tư, và tuỳ tiện vứt bỏ, khai tử cái chính phủ "ma" CHMNVN theo kiểu "sao cũng được," miển là biến mất. Hậu quả là bây giờ bị Tàu Cộng nó "chiếu tướng."

    Phong Uyên viết:
    Trả lời bạn ongvang :

    Ai cũng biết cái gọi là CHMNVN chỉ là một sự bịa đặt của CSVN. Tàu Cộng cũng biết thóp như vậy nên khi CSVN đưa ra luận điểm 4 để lấp liếm Công hàm PVĐ thì Tàu cộng phản biện lại qua cái gọi là "Phản biện 4 của Ngô". Bởi vậy không một người VN yêu nước nào, dù ghét cộng sản đến mấy, cũng không thể không đứng cùng một phía với CSVN, tìm cách tăng cường sức thuyết phục của Luận điểm 4 để hóa giải cái công hàm bán nước này. Tôi xin nhắc lại Luận điểm 4 : "Ở thời điểm đó(1956-1975), TS-HS thuộc quyền quản lí của VNCH, chính quyền miền Bắc là bên thứ ba ở ngoài, không có quyền sử lí đối với 2 quần đảo này, vì vậy CHPVĐ không có giá trị".

    1. Sai. Yêu quốc gia VN và dân tộc VN không có nghĩa là phải đứng xếp hàng chung với CSVN để "lươn lẹo chữ nghĩa," nhằm tuyên truyền lừa bịp, cho dù có lợi nhỏ trước mắt. Chính cái kiểu vì lợi ích nhỏ trước mắt, mà các việc làm, tuyên cáo, ký kết hiệp nghị với mục đích trí trá, lừa bịp đã làm ra cái Công hàm Phạm Văn Đồng gây hại cho tới nay. Nếu cái công hàm Phạm Văn Đồng vốn "vô giá trị" thì tại sao Tàu Cộng cứ đem ra vẫy qua vẫy lại, cười chế nhạo bao nhiêu năm nay? Chúng nó ngu dốt, si khờ hết cả lũ hay sao mà mang một cái "vô giá trị" ra để làm trò cười cho thiên hạ? Hay là cái công hàm đó đúng là "vô giá," và cái luận điệu xảo biện của CSVN là ngây ngô, trò cười??

    Phong Uyen viết:
    Sau 30-4-75, quốc tế công nhận có 2 quốc gia Việt Nam "de jure" là VNDCCH và CHMNVN

    "Quốc tế" là những nước nào đã "công nhận" CHMNVN? Xin Phong Uyên đưa ra 3 nước làm chứng với văn bản "công nhận" nước "CHMNVN," "de jure" hay "de facto," hay gì đi nữa.

    1. Ai được cử làm đại sứ của Tàu Cộng với chính phủ CHMNVN, và ngược lại? Nếu không có văn bản ký kết trao đổi đại sứ, công nhận chính quyền lẫn nhau, thì có văn bản ký kết song phương nào giữa Tàu Cộng và CHMNVN do ai ký, ở đâu?

    2. Cùng câu hỏi trên với Liên Xô.

    3. Cùng câu hỏi trên với Vương quốc Anh (UK), nếu không có thì thay thế Gia Nã Đại (1 thành viên của ban giám sát 4 bên của hiệp định Paris), hay Pháp quốc cũng được.

    Chỉ cần 3 bằng chứng như trên thì tôi tin cái gọi là "CHMNVN" được "quốc tê công nhận." Trong đó có 2 là "bồ nhà" rồi.

    Trả lời bạn ongvang :

    Ai cũng biết cái gọi là CHMNVN chỉ là một sự bịa đặt của CSVN. Tàu Cộng cũng biết thóp như vậy nên khi CSVN đưa ra luận điểm 4 để lấp liếm Công hàm PVĐ thì Tàu cộng phản biện lại qua cái gọi là "Phản biện 4 của Ngô". Bởi vậy không một người VN yêu nước nào, dù ghét cộng sản đến mấy, cũng không thể không đứng cùng một phía với CSVN, tìm cách tăng cường sức thuyết phục của Luận điểm 4 để hóa giải cái công hàm bán nước này. Tôi xin nhắc lại Luận điểm 4 : "Ở thời điểm đó(1956-1975), TS-HS thuộc quyền quản lí của VNCH, chính quyền miền Bắc là bên thứ ba ở ngoài, không có quyền sử lí đối với 2 quần đảo này, vì vậy CHPVĐ không có giá trị". Sau 30-4-75, quốc tế công nhận có 2 quốc gia Việt Nam "de jure" là VNDCCH và CHMNVN. Muốn tăng cường sức thuyết phục của luận điểm 4 tôi thấy phải làm sao thuyết phục được quốc tế là CHMNVN là kế thừa "de jure" của VNCH và vì vậy tôi mới đưa ra giải pháp là phải thay thế cái CHXHCNVN bằng sự thành lập một liên bang Việt Nam với 2 thành viên là miền Bắc tức là VNDCCH cũ và miền Nam, tức là VNCH cũ. Đó chỉ là ý kiến của tôi, một người chỉ có một chút hiểu biết về Lí thuyết pháp lí. Cần phải có ý kiến của các bậc học giả cao kiến hơn xem có thực hiện được không. Nếu thực hiện được thì cũng là một cách tái phục lại lý tưởng dân chủ của VNCH cho một phần đất nước thuộc VNCH cũ.

    ongvang viết:
    Nếu công dân VNCH thành lập Chính phủ lưu vong thì vấn đề hợp pháp của CHMNVN sẽ rỏ ràng hơn.
    KÍnh mong các học giả VN quan tâm bài viết của Konrad G. Bühler.Stop

    Có 2 vấn đề, tôi nghĩ, KHÔNG THỂ lập một chính phủ lưu vong.

    1. Một CP lưu vong là một chính phủ bỏ chạy, không đầu hàng đối thủ! Ngày 30.41975 TT Dương văn Minh đã ra lệnh đầu hàng. Trong một chừng mực nào đó, tôi thông cảm và chấp nhận lệnh đầu hàng này.

    Ông Dương Văn Minh, có thể bỏ chạy, đem theo một số tướng lãnh, quân đội, vũ khí.... của VNCH, không tuyên bố đầu hàng, để từ đó lập ra một CP lưu vong.
    CP lưu vong này sẽ được QT chấp nhận.

    2. Nếu muốn lập một CP lưu vong, thì phải lập ngay tức khắc trong thời điểm 30.4 1975, trễ nhất là tháng 5.1975, để được QT ủng hộ. Sau 40 năm người Việt tị nạn không thể lập CP lưu vong được nữa vì tính cách thời gian, sẽ không được TG công nhận.
    -----
    Trước ngày 30.4.1975 Mặt trận giải phóng MNVN CHỈ LÀ một Mặt trận. Mặt trận này đã tham gia ký Hiệp định Paris 1973, nhưng ký chưa ráo mực thì mặt trận này với sự tiếp sức của VNDCCH đã tiếp tục đánh, lật đổ Việt Nam Cộng Hoà. TT Dương văn Minh của VNCH đã tuyên bố đầu hàng và ngay sau khi, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thì Mặt trận này, trên danh nghĩa trở thành nước Cộng Hoà miền Nam Việt Nam. Để đến giữa năm 1976 sát nhập với VNDCCH thành nước CHXHCN VN.
    --------

    Đó là những gì mà QT công nhận trên danh nghĩa. Sự thật Mặt trận GPMNVN là con đẻ của VNDCCH, ai cũng biết, nhưng biết để biết vậy thôi.
    -----

    Người Việt tị nạn có thể thành lập một mặt trận để đối chọi, đấu tranh, với hy vọng lật đổ nhà nước VNCS, như Mặt Trận giải phóng miền Nam đã làm với Việt Nam Cộng Hoà.
    Nhưng không thể lập một CP lưu vong.
    Mặt trận này có bộ trưởng các bộ... etc, nhưng không có QH, cũng không có TT hay TT, CHỈ CÓ Chủ tịch mặt trận.

    Nguyễn Jung.

    Cám ơn Phong Uyên có bài viết comment.
    Nhưng rất tiếc CHMNVN, Độc lập Tự do Dân chủ Hạnh phúc, có quốc kỳ, nhưng không có lảnh thổ, dân cư, không có Quốc hội,không có Chính phủ hợp hiến, chỉ có quân đội đày súng đạn thôi, không có gì cả, nó được thành lập phi Pháp luạt, mà VNDCCH giải tán như món đồ chơi.Giải pháp của bạn rất khó thực hiện.
    Thiển ý trao đổi cùng bạn. Kính.

    Theo tôi, chỉ có một giải pháp duy nhất có thể chứng minh tính kế thừa CHVN của CHMNVN là giải tán cái quốc gia giả tạo CHXHCNVN, tái lập lại 2 quốc gia VNDCCH và CHVN được tiếp nối bởi CHMNVN. VNDCCH có thể vẫn duy trì quốc kỳ, quốc ca của mình, nhưng CHMNVN bắt buộc phải lấy lại quốc kỳ, quốc ca của VNCH và ngay cả hiến pháp VNCH, khẳng định tam quyền phân lập với một quốc hội đa nguyên, đa đảng để chứng minh tính kế thừa của mình . Hai quốc gia (États) này hiệp thương để thành lập một liên bang gọi là Cộng hòa Liên bang Việt Nam theo mô hình liên bang của đa số những liên bang dân chủ trên thế giới như Hiệp chúng quốc Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức, Anh (United Kingdom), Tây Ban Nha, Úc v.v.... Thủ đô Hà Nội có thể vừa là thủ đô của chính phủ tự trị nước VNDCCH, vừa là thủ đô của Liên bang Việt Nam với một chính phủ thống nhất và Sài Gòn sẽ vẫn là thủ đô của chính phủ tự trị CHMNVN. Tất nhiên là cũng như mọi liên bang trên thế giới, ngoại giao và quốc phòng thuộc thẩm quyền của chính phủ Trung Ương và hiến pháp (tất nhiên là phải làm lại) là hiến pháp chung của cả 2 quốc gia thành viên của Cộng Hòa Liên bang Việt Nam tương lai. Cũng như tôi nói trên, mỗi quốc gia thành viên vẫn có thể giữ quốc kỳ, quốc ca của mình chẳng hạn như tiểu bang Texas Mỹ, xứ Basque Tây Ban Nha... Nhưng quốc kỳ quốc ca của liên bang thì tùy theo sự lựa chọn của 2 quốc gia thành viên.

    CHMNVN là quốc gia không mang tính pháp lý của CPQT, tiền thân của nó chỉ là Mặt trận ( lực lượng tự phát đối kháng với Chính phủ ).
    CHMNVN có được là do dùng vủ lực, cụ thể hơn là quân đội của cộng sản Bắc VN,dùng súng đạn xâm lấn và tiêu diệt quốc gia VNCH, Chính phủ VNCH buộc phải đầu hàng vô điều kiện, TT VNCH ký lịnh đầu hàng, không phải ký bàn giao quốc gia, ký trong hoàn cảnh xe tăng, họng súng AK vây quanh, mà sau đó các thành viên CP nói chung cũng như nhân dân đã trở thành tù nhân chiến tranh.
    Không thể phủ nhận, mà thực tế chính thể VNCH vẫn tồn tại theo lịch sử nhân loại, hàng triệu công dân đang sống lưu vong ở các quốc gia khác.
    Lại càng không thể mặc nhiên VNDCCH thống nhất với CHMNVN thành lập CHXHCNVN,kế thừa quyền lợi của VNCH, theo nguyên tắc Luật pháp ,không thể sở hữu những gì mà do xâm lược ( ăn cướp )mà có.
    Nếu công dân VNCH thành lập Chính phủ lưu vong thì vấn đề hợp pháp của CHMNVN sẽ rỏ ràng hơn.
    KÍnh mong các học giả VN quan tâm bài viết của Konrad G. Bühler.Stop

    CHMNVN là quốc gia không mang tính pháp lý của CPQT, tiền thân của nó chỉ là Mặt trận ( lực lượng tự phát đối kháng với Chính phủ ).
    CHMNVN có được là do dùng vủ lực, cụ thể hơn là quân đội của cộng sản Bắc VN,dùng súng đạn xâm lấn và tiêu diệt quốc gia VNCH, Chính phủ VNCH buộc phải đầu hàng vô điều kiện, TT VNCH ký lịnh đầu hàng, không phải ký bàn giao quốc gia, ký trong hoàn cảnh xe tăng, họng súng AK vây quanh, mà sau đó các thành viên CP nói chung cũng như nhân dân đã trở thành tù nhân chiến tranh.
    Không thể phủ nhận, mà thực tế chính thể VNCH vẫn tồn tại theo lịch sử nhân loại, hàng triệu công dân đang sống lưu vong ở các quốc gia khác.
    Lại càng không thể mặc nhiên VNDCCH thống nhất với CHMNVN thành lập CHXHCNVN,kế thừa quyền lợi của VNCH, theo nguyên tắc Luật pháp ,không thể sở hữu những gì mà do xâm lược ( ăn cướp )mà có.
    Nếu công dân VNCH thành lập Chính phủ lưu vong thì vấn đề hợp pháp của CHMNVN sẽ rỏ ràng hơn.
    KÍnh mong các học giả VN quan tâm bài viết của Konrad G. Bühler.Stop