Báo Trung Quốc: Việt Nam cần phải tôn trọng công hàm Phạm Văn Đồng: Ý kiến chuyên gia

  • Bởi Admin
    18/06/2014
    6 phản hồi

    Vũ Thị Phương Anh chuyển ngữ

    Lời dịch giả: Bài viết ngụy biện nguy hiểm này vừa được đăng trên trang China.org.cn hôm nay, trong tình hình Dương Khiết Trì đang ở VN. Chúng ta cần đọc để hiểu lập luận của China và tìm cách gỡ những vướng mắc để có thể đưa China ra tòa quốc tế một cách thành công.

    Vũ Thị Phương Anh

    Hà Nội phải thực hiện bổn phận pháp lý đã được nêu rõ trong trao đổi ngoại giao công nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là của China.

    Một giàn khoan của China bắt đầu hoạt động khoan dầu bình thường trong vùng biển ngoài khơi quần đảo Tây Sa của China vào ngày 2 tháng 5 đã trở thành nạn nhân của hàng loạt vụ quấy rối từ các chiếc tàu của VN, mặc dù VN không hề có cơ sở nào cho phép thực hiện những hoạt động phá hoại và nguy hiểm của mình.

    HN cần quay trở lại với sự công nhận đã có từ lâu rằng Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ của TQ. Vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 chính phủ CHNDTH đã ra thông báo rõ ràng rằng quần đảo Tây Sa và Nam Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc và nguyên tắc trên lãnh hải có chiều rộng chủ quyền của 12 hải lý được áp dụng đối với các quần đảo. Trong một công hàm ngoại giao gửi Thủ tướng China là Chu Ân Lai 10 ngày sau đó, Phạm Văn Đồng, Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho biết ông "công nhận và tán thành" tuyên bố của China và cam kết "tôn trọng đầy đủ" chủ quyền trên biển của China trong các quan hệ giữa hai nhà nước. Công hàm đã được ký này được VN gọi là "công thư của PVĐ".

    Trước năm 1974, nước VNDCCH không hề có yêu sách chủ quyền trên hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa của China, cũng không hề tuyên bố những quần đảo này nằm trong phạm vi chủ quyền của mình. Ngược lại, chính phủ VN đã khẳng định lập trường của mình, cả bằng lời lẫn trên văn bản, rằng hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là thuộc về China.

    Việt Nam đã chỉ thay đổi lập trường sau khi thống nhất Bắc-Nam sau năm 1975 và từ đó đến nay luôn cố gắng diễn giải sai lệch và chối bỏ lập trường chính thức đã được nêu rõ trong công hàm PVĐ.

    Trong chuyến viếng thăm China vào tháng 6/1977, để trả lời những phê phán của các nhà lãnh đạo China về việc thay đổi lập trường, PVĐ đã trả lời rằng "trong cuộc chiến chống Mỹ, VN phải đặt việc chống Mỹ lên trên hết, vì vậy cần phải hiểu các tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ, kể cả bức thư của tôi gửi Thủ tướng Chu Ân Lai, trong tình huống lịch sử lúc ấy."

    Với lời chống chế thiếu thuyết phục này, PVĐ đã tỏ rõ lập luận rằng để đạt được mục đích tối thượng là độc lập và thống nhất, VN có thể làm bất cứ điều gì và không phải chịu trách nhiệm về những hậu quả sau đó. Một số học giả VN đã cố gắng lập luận rằng công hàm PVĐ chỉ là một cử chỉ nhằm ủng hộ China với tư cách là một quốc gia đồng minh vào thời ấy và vì vậy không có liên quan gì đến yêu sách lãnh thổ. Vào thời điểm mà VN đang có chiến tranh với Mỹ, nước này cần phải công nhận tuyên bố chủ quyền lãnh hải của chính phủ China để có thể có được sự hỗ trợ của Bắc Kinh, lúc ấy đang viện trợ cho VN.

    Những lập luận ích kỷ từ phía VN không có chỗ đứng trong quan hệ quốc tế hiện đại.

    Sự thật là China và VN đã có quan hệ hữu nghị tốt đẹp vào thời điểm ấy và VN đã có những cử chỉ ủng hộ China trên trường quốc tế trong một số trường hợp. Tuy nhiên, lãnh thổ luôn luôn là vấn đề quan trọng vì nó liên quan đến chủ quyền của một quốc gia. Nếu VN không đồng ý với China về vấn đề lãnh thổ liên quan đến hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, thì PVĐ lúc ấy với tư cách là thủ tướng VN, một quốc gia luôn có lập trường dân tộc cứng rắn, hẳn đã không gửi bức công hàm ấy đến cho China, hoặc ít nhất sẽ không đề cập đến hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa. Sự thật là VN đã gửi một công hàm ngoại giao với lời lẽ pháp lý chặt chẽ như vậy chỉ 10 ngày sau khi China đưa ra tuyên bố này, nhằm bày tỏ sự ủng hộ với Bắc Kinh. Điều này, cùng với việc VN đã nhiều lần công khai công nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là một phần lãnh thổ của China, đã đủ để chứng minh công hàm PVĐ thừa nhận hai quần đảo là một phần lãnh thổ cố hữu của China đại diện cho lập trường thực của chính phủ VN.

    Và cũng chẳng có chứng cứ nào để có thể nói rằng China đã lợi dụng việc VN cần hỗ trợ trong chiến tranh để buộc chính phủ VN phải đi ngược lại với nguyện vọng của mình và công nhận yêu sách lãnh thổ của China. Việc gửi bức công hàm đến chính phủ China và sử dụng những lời lẽ như vậy hoàn toàn là quyết định từ phía VN.

    Theo các luật lệ, cách hành xử và chuẩn mực quốc tế, công hàm PVĐ là một tuyên bố đơn phương của một quốc gia có thể tạo ra một bổn phận pháp lý và chính phủ VN buộc phải thực hiện bổn phận ấy. PVĐ vẫn còn là thủ tướng sau khi thống nhất Bắc-Nam và cũng chẳng có thay đổi gì về bản chất công hàm mà ông đã gửi đến China với tư cách một tuyên bố đại diện cho một nước vào năm 1958.

    Chính phủ VN không thề chối bỏ hiệu lực pháp lý của công hàm PVĐ. Bổn phận của VN là phải giữ lập trường nhất quán với bức công hàm ấy.

    Nguồn: http://www.china.org.cn/opinion/2014-06/18/content_32701491.htm

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    1/ Nếu Wu Yuanfu, tác giả bài báo, nhận thức được

    Trích dẫn:
    , lãnh thổ luôn luôn là vấn đề quan trọng vì nó liên quan đến chủ quyền của một quốc gia.

    thì y cũng phải hiểu rằng vấn đề đó không thể được đề cập đến trong một công hàm, loại văn thư ngoại giao thông thường, cho dù nó được dùng trong giao tiếp tay đôi giữa 2 người cao cấp nhất của 2 chính phủ.

    2/ Trong CH PPVĐ không có mấy chữ "... đầy đủ" chủ quyền trên biển. Nguyên văn đoạn này: triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc. Thân danh giám đốc một viện nghiên cứu mà cố tình trích dẫn sai, điều này quá đủ để đánh giá tư cách người viết.

    3/ Việc giải thích một văn bản chính thức như CH PVĐ bắt buộc phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định, chẳng hạn: Văn bản phải được giải thích một cách chặt chẽ; Điều được nêu rõ loại trừ điều khác (không được nêu rõ), v.v. Do đó, phần chính văn (89 từ) trong CH PVĐ buộc phải được hiểu: “ghi nhận, tán thành, tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung quốc”, cho dù tuyên bố của Chu Ân Lai có ghi trời trăng mây nước gì đi nữa thì tất cả cũng bị loại bỏ ngoài điều đã được ghi rõ.

    Xin quý vị đừng vội ném đá tôi khi tôi nói như sau. Nếu hiểu VN là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì dù muốn dù không ta cũng phải THỪA NHẬN rằng lập luận của TQ trong bài báo trên đây là hợp lý và vững chắc. Nếu đưa ra một tòa án quốc tế để xét về chủ quyền trên Hoàng Sa (hay Trường Sa) khả năng CAO là quan tòa sẽ cho TQ thắng dựa vào lập luận trên, nếu quan tòa xem CHXHCNVN là nước kế thừa VNDCCH.

    Để THOÁT ra khỏi mọi THIỆT THÒI, VƯỚNG MẮC do những hệ lụy của Công hàm Phạm Văn Đồng và các động thái của VNDCCH và CHXHCNVN trước đây liên quan tới HS và TS, toàn dân VN cần vùng lên giật sập chế độ hiện hành do ĐCSVN cai trị, thành lập một chế độ Cộng hòa Việt Nam mới, tuyên bố phủ nhận các cam kết, hiệp ước, mật ước (nếu có) do ĐCSVN hứa hẹn với ĐCS TQ, tuyên bố kế thừa VNCHQuốc gia VN trước đây. Chế độ CHVN mới này sẽ trưng cầu dân ý về nguyện vọng và ý chí của toàn dân Việt (trong và ngoài nước) về chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải VN đã bị ĐCSVN nhượng cho TQ qua Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 và qua các Hiệp định biên giới BẤT BÌNH ĐẲNG việt Trung trên bộ và trên Vịnh Bắc Bộ năm 1999 và 2000. Nhân danh quyền dân tộc tự quyết của toàn dân Việt, nhân dân VN sẽ BÁC BỎ mọi yêu sách phi lý và bất hợp pháp của TQ trên lãnh thổ và lãnh hải của VN có sẵn từ trước năm 1945, trước khi xuất hiện chế độ phản quốc và BÁN NƯỚC VNDCCH do ông Hồ và ĐCSVN cai trị ở Miền Bắc và đòi TQ phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải của nước VN thống nhất từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mâu.

    PVĐ viết:
    Nếu phía Trung Quốc mà dựa vào lập luận này để chiếm Hoàng Sa và Trường Sa thì phía Trung Quốc sẽ ăn đòn đủ về việc tham vọng đường lưỡi bò. Trung Quốc tham lam dùng nhiều bằng chứng mà không biết các bằng chứng đó mâu thuẫn với nhau. Nếu TQ muốn vùng lưỡi bò thì tối thiểu phải phủ nhận giá trị pháp lý cái công hàm này .

    Bác PVD,

    Theo tôi thấy TQ chẳng có gì phải sợ ăn đòn cả, với VN nó dùng công hàm + sự nô lệ của hệ thống CT trước khi dùng quân sự. Còn với đường lưỡi bò, loại VN thì TQ sẵn sàng chơi cả bằng chứng khống với sức mạnh quân sự. Chỉ là selective quote thôi mà.

    Theo tôi mấy cái trò kiện cáo ra quốc tế chỉ hình thức thôi. Tôi không nói nó không có ích nhưng tính toán lâu dài thì nên tính worst-case.

    Năm xưa VN đánh Mỹ thế nào thì giờ tính với Tàu cũng vậy, nhu nhược thì có thể còn có bạn thương, nhưng hèn nhát + ngu muội của hệ thống lãnh đạo thì chắc chắn không ai thèm làm bạn cả.

    Hãy cứ xác định trong tình huống xấu nhất là tất tay với TQ một khi bọn nó chiếm thêm "bất cứ một đảo nào ở TS". Tất tay thì phải đổ máu (năm xua đánh Mỹ ngoài máu ra còn gì đâu ?). Muốn đổ máu ít thì phải có bạn bè hỗ trợ (năm xưa có Nga Trung) giờ phải tìm bất cứ ai ghét Khưa.

    CT ai cũng sợ nhưng không chuẩn bị cho CT chính là sự ngu ngốc nhất trên đời.

    Nếu phía Trung Quốc mà dựa vào lập luận này để chiếm Hoàng Sa và Trường Sa thì phía Trung Quốc sẽ ăn đòn đủ về việc tham vọng đường lưỡi bò. Trung Quốc tham lam dùng nhiều bằng chứng mà không biết các bằng chứng đó mâu thuẫn với nhau. Nếu TQ muốn vùng lưỡi bò thì tối thiểu phải phủ nhận giá trị pháp lý cái công hàm này .

    Xin hỏi, nếu bây giờ phía TQ tố cáo phía CQVN luôn truy bắt, giam cầm và đối xử tàn tệ với những người dân phản đối TQ chiếm giữ Hoàng Sa ( một cách hành xử với dân mà quốc tế cũng phải lên án ), làm một bằng cớ cho thấy rằng như vậy là nhà cầm quyền VN đã thừa nhận tính hợp pháp của TQ đối với HS thì phía CQVN trả lời ra sao ạ ?