Trà Giang - Phơi tiền dân

  • Bởi Khách
    17/06/2014
    0 phản hồi

    Trà Giang

    Trường đại học Phạm Văn Đồng tỉnh Quảng Ngãi được thành lập năm 2007, trong thời gian xuất hiện và bắt đầu cho cao trào địa phương hóa (trước hết là cấp tỉnh) đại học, chống xu thế tập trung (về các thành phố lớn), tinh hóa hóa (chỉ tiêu đào tạo ít, điểm chuẩn cao, khó trúng tuyển) tuyển sinh và đào tạo đại học; tạo điều kiện cho con em các tỉnh nghèo, ở xa trung ương và các đô thị trung tâm của quốc gia, có cơ hội học tập, “ăn cơm nhà đi học đại học”, có bằng tốt nghiệp đại học công lập hẳn hoi tại tỉnh, bất chấp yêu cầu về chất lượng vốn được làm nên bởi đội ngũ giảng viên và lịch sử, kinh nghiệm đào tạo của các trường đạo tạo lâu đời; xóa bỏ bất bình đẳng kinh tế - xã hội khi tỉnh nghèo chuyển kinh phí đào tạo đại học về làm giàu cho các trung tâm đã giàu có (trừ các trường hợp có khả năng du học tự túc ở các nước tư bản). Cao trào này hết sức rầm rộ, kéo theo sự hưởng ứng, ủng hộ của nhiều tỉnh, nên trong thời gian trên dưới 10 năm, cả nước đã có đến trên 200 trường đại học, cao đẳng cấp tỉnh, cả công lập và ngoài công lập mở ra, chủ yếu cũng chỉ để phục vụ con em, góp phần phát triển nền đại học nước nhà, mà trước hết, nó tạo nên kinh nghiệm và sự vận hành đường dây dịch vụ thành lập trường đại học, cao đẳng với công tác tư vấn, lập hồ sơ, hình thành đội ngũ giảng viên ảo, thẩm định dự án thành lập, vận động ra quyết định thành lập, lập dự án đầu tư xây dựng, dự thầu, đấu thầu xây dựng, và...; việc gì và khâu nào cũng được tính bằng tiền cả.

    Đối với Trường Đại học Phạm Văn Đồng, Bộ chủ quản chỉ cần tiếng nói đó của địa phương, cộng thêm với điểm ưu tiên về tên trường có tính chất đặc hữu địa phương – Phạm Văn Đồng, đã có ý kiến ủng hộ thuận ngay. Lúc đầu, vì những mục đích tư lợi khác, lãnh đạo tỉnh muốn thành lập mới, nguyên đai nguyên kiện, với giá trị dự án 0 + n = gần 1000 tỷ, với phương án huy động gồm vốn trung ương, vốn ngân sách tỉnh (70%) và nguồn thu học phí 30% (theo tính toán giá trị của phần nguồn này còn hơn cả tiền bỏ ra cho con em đi học ngoài tỉnh với chừng đó thời gian thu hồi vốn). Tuy nhiên, bằng kinh nghiệm và sợ trách nhiệm, Bộ không chấp nhận nên phương án cuối cùng được chọn là hợp nhất và nâng cấp từ một số cơ sở đào tạo cấp đại học (cao đẳng) công lập vốn có của tỉnh, với tổng vốn khoảng một nửa phương án 1.

    Với sức đầu tư của địa phương cấp tỉnh như Quảng Ngãi, số vốn trên dưới nửa nghìn tỷ không phải giải quyết cấp thời ngắn hạn, cho nên dự án bắt đầu từ 2008 đến nay chưa hoàn thành, chưa kết thúc; mỗi năm, tùy thuộc vào tình hình ngân sách và các nhu cầu chi ưu tiên, cần thiết và phù hợp (cả những phù hợp riêng tư và nhóm), dự án được cấp thêm một ít. Quá trình xây dựng, nghiệm thu, bàn giao, đưa vào sử dụng trường, do vậy, kéo dài, hầu như vô định. Sau 6 năm thi công, hiện nay khu vực hành chính (hiệu bộ) và 6 đơn nguyên chức chức năng (chưa tính thêm một khu miếu thờ gì đó được xây mới ngay phía trong hàng rào) khác nhìn từ ngoài vào hình như đã hoàn thành; việc tiếp tục thi công chỉ dành cho nhiệm vụ giải tỏa diện tích khuôn viên trường khu vực chưa giải phóng, xây dựng công viên, sân thể dục thể thao, đường đi nội bộ, cây xanh và một số hạng mục dịch vụ khác. Tuy nhiên, chỉ mới bàn giao sử dụng một phần khu vực hành chính; 6 đơn nguyên chức năng, mỗi cái có giá trị xây dựng nhiều chục tỷ đồng, đã hoàn thành xây dựng 2-3 năm nay, bỏ hoang, cỏ mọc lút bậc cấp, hành lang tầng sàn. Nhìn tổng thể, khuôn viên trường rộng mênh mông với 6 cổng bảo vệ, chỉ mới mở và có nhân viên trực 2 cổng, chưa có cây xanh nên như một hoang mạc, héo khô xơ xác nằng hè; 6 khu nhà hoàn chỉnh cửa đóng im ỉm đìu hiu, chứng tỏ cái nhu cầu sử dụng như luận chứng lập trong hồ sơ thành lập trường đại học cấp tỉnh chưa cao. Việc học tập, thực hành thí nghiệm, thi đấu thể dục thể thao, nội trú của sinh viên... vẫn có thể giải quyết được bằng các cơ sở hạ tầng cũ. Nửa nghìn tỷ đồng ngân sách nhà nước – thuế đóng góp của dân bỏ ra trong nửa thập kỷ chỉ để phơi nắng và khấu hao khống. Công trình xây dựng được tính lãi – khấu hao bằng sự bù đắp của quá trình sử dụng. Đàng này, lãi – khấu hao được tính bằng thời gian dãi dầu mưa nắng. Nếu tính tiền lãi thu được từ đầu tư tín dụng số vốn đó mấy năm qua chắc cũng không nhỏ. Sắp đến, khi đưa những khu nhà này vào sử dụng, có lẽ đã hết thời hạn bảo trì xây dựng và hết định kỳ khấu hao theo qui định đối với công sản. Số tiền lãng phí chưa kể giá trị sử dụng đất đó có thể phải ở mức khởi tố hình sự. Nghĩ kỹ thì như thế, nhưng với một sự nghiệp, một ngành mà vị “tư lệnh” đã giải thích số vốn 34.000 tỷ đồng cho một chương trình chuẩn bị hơn một năm, được Bộ đệ trình chờ chỉ còn một bước là thông qua, là sai sót vì nguyên nhân kỹ thuật thì mọi lãng phí đều khả dĩ.

    Vậy nên, vừa rồi có một đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh xe pháo hùng hậu đến làm việc với trường Đại học Phạm Văn Đồng, nếu họ không đến thị sát những rừng cỏ ngập lút những công trình xây dựng hoàn thành song chưa sử dụng thì cũng là chuyện bình thường. Chỉ có tiền dân, những người dân bán vé số thu nhập cao như đánh giá của ông Bộ trưởng Giàng Seo Phử, những người dân “chỗi đây!”, “mài dao mài kéo tra cán dao!”, những người dân trồng ớt mới 2 tháng trước được xem là mô hình sản xuất tốt thì lúc này khóc mếu vì thương nhân Trung Quốc không mua, mới bị phơi thôi. Ngày xưa có anh giả dạng học trò đi thi, nhờ phơi giấy loại ướt mà lấy được con gái phú hộ; bây giờ phơi tiền của dân, cũng khối anh nhờ đó mà thăng quan tiến chức.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi