Nguyễn Quốc Vương - "Tuổi trẻ nên tự giác ngộ và tìm lấy đường mà đi"

  • Bởi Admin
    16/06/2014
    14 phản hồi

    Tân Dân thực hiện

    Câu chuyện được bắt đầu từ những thảo luận trên Facebook về tình hình Biển Đông và thế nước trước hiểm hoạ lệ thuộc. Nguyễn Quốc Vương, một nhà giáo trẻ, đã tiếp tục cuộc trao đổi đó bằng email. Nước Nhật, được Vương dẫn giải không chỉ vì đó là nơi Vương đang làm nghiên cứu sinh chuyên ngành giáo dục lịch sử - mà còn bằng cảm hứng mạnh mẽ từ Thoát Á luận.

    131358_quan.jpg

    Nguyễn Quốc Vương là người dịch Cải cách giáo dục Nhật Bản (Ozaki Mugen).

    Đối mặt với một đối thủ không cân sức như Trung Quốc, nhiều ý kiến đề cập đến yêu cầu phải làm cho nước mạnh. Mạnh, thường được nghĩ ngay đến khả năng về kinh tế, quân sự... của đất nước. Là một người dạy sử, theo ông, liệu có cách tiếp cận nào khác không để nói về sức mạnh của một nước?

    Đây có lẽ là cách hiểu thông thường và phổ biến nhất. Cách tiếp cận đó cũng hợp lý nhưng có lẽ trong thời đại toàn cầu hoá, khi thế giới dường như nhỏ lại và khoảng cách về không gian không còn nhiều trở ngại, chúng ta nên tiếp cận rộng hơn, toàn diện và đa chiều hơn. Một nước mạnh có lẽ không chỉ nên nhìn ở bình diện kinh tế, quân sự. Nước mạnh phải gắn với dân và những giá trị phổ quát của thế giới. Nước mạnh nhưng dân không giàu, không được sống cuộc sống phong phú và hạnh phúc thì sao? Nước mạnh nhưng cộng đồng quốc tế không tôn trọng và ủng hộ thì sao?

    Câu hỏi này cũng làm tôi liên tưởng đến nước Nhật. Nước Nhật từ thời Minh Trị cho đến khi bại trận năm 1945 là một nước rất mạnh về quân sự và kinh tế. Sau cải cách Minh Trị, với ưu thế nước giàu, binh mạnh, Nhật Bản đã lao vào vô số các cuộc chiến tranh giành thuộc địa đẫm máu: Nhật - Thanh (1894-1895), Nhật - Nga (1904-1905), rồi hai cuộc đại chiến thế giới. Nhật Bản đã trượt khỏi đường ray "khai sáng” và rơi vào con đường phát xít hoá.

    Trong suốt thời gian ấy, nước Nhật là "liệt cường” khiến phương Tây cũng phải e ngại, nhưng đổi lại người dân Nhật đã phải trả giá đắt. Cái giá cay đắng đó đương thời không nhiều người nhận ra. Nó chỉ được đông đảo người Nhật nhận ra khi nước Nhật được dân chủ hoá sau 1945. Người Nhật khi đó mới bàng hoàng nhận ra một sự thật cay đắng: "Tại sao trong suốt thời gian nước Nhật chiến tranh, tiếng nói phản đối chiến tranh lại yếu ớt đến thế?”

    Suy ngẫm từ lịch sử nước Nhật, tôi cho rằng nước mạnh phải luôn gắn liền với dân chủ và dân sinh. Một quốc gia mạnh thực sự phải là quốc gia bảo vệ được chủ quyền, đảm bảo cho người dân có cuộc sống hạnh phúc và được quốc tế tôn trọng.

    Có người nhận xét Việt Nam là một dân tộc chưa "trưởng thành”? Nhìn vào "mặt bằng” thời đại, ông thử nêu cách hiểu của mình về một dân tộc trưởng thành.

    Xã hội chúng ta mong ước không thể là xã hội mà sự tốt đẹp chỉ tồn tại dựa vào các anh hùng. Một xã hội mà tất thảy mọi sự tốt đẹp đều phải dựa vào các anh hùng là xã hội sẽ rất mong manh. Mỗi người công dân bằng khả năng của mình phải tạo ra sự thay đổi tốt đẹp để tác động vào cộng đồng xung quanh bản thân mình.

    Thẳng thắn mà nói thì đây là vấn đề nhạy cảm. Nhạy cảm không phải là cấm kỵ mà được hiểu theo nghĩa nó dễ làm dấy lên những tình cảm bị tổn thương. Phê phán một cá nhân đã khó, "phản tỉnh” về những gì gắn với "dân tộc” là điều càng khó bội phần. Rất có thể khi phản tỉnh, chúng ta sẽ vấp phải những phản ứng dữ dội của chính những người cũng yêu nước, thiết tha với dân tộc như chúng ta nhưng lại khác biệt trong cách nhìn và thiếu vắng tinh thần khoan dung.

    Tôi không dám nhận xét dân tộc mình là một dân tộc chưa trưởng thành nhưng là người có chút ít hiểu biết về lịch sử Nhật Bản, tôi cảm thấy buồn và đau đớn khi thấy dường như trên con đường lịch sử Việt Nam luôn lỡ bước.

    Giữa thế kỷ 19, cả Nhật Bản và Việt Nam đều đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi thực dân phương Tây. Nhưng sự lựa chọn và số phận thật khác biệt. Pháp nổ súng đánh vào Đà Nẵng rồi dần dần nuốt trọn Việt Nam, ép triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng, biến Việt Nam thành thuộc địa. Còn Nhật Bản tuy phải mở cảng biển và ký các hiệp ước bất bình đẳng nhưng không bị biến thành thuộc địa.

    Sẽ có nhiều cách giải thích khác nhau cho kết cục này. Nhưng tôi chú ý đến một điều, đó là thái độ đối với văn minh phương Tây của giới cầm quyền, giới có học của Nhật Bản và Việt Nam lúc đó.

    Rất ít người Việt Nam kể cả giới tinh hoa khi đó nhận ra sức mạnh và ưu thế của nền văn minh phương Tây và bản thân có động cơ thôi thúc mãnh liệt tìm hiểu nó, học hỏi nó. Những suy nghĩ của Nguyễn Trường Tộ khi ấy rất lạc lõng và cô đơn. Trái lại ở Nhật Bản, cho dù trong thời Edo có bế quan nhưng Nagasaki vẫn trở thành "con mắt” của Nhật Bản nhìn ra thế giới. Ngay cả trước cải cách Minh Trị, những trí thức của nước Nhật đã tiếp cận với các cuốn sách viết bằng chữ Hà Lan từ đó tiếp nhận học thuật phương Tây.

    Điều đáng chú ý là các trí thức này không dùng những gì nghiên cứu được để làm công cụ tiến thân, tiếp cận Mạc phủ mong lấy một chức quan để vinh hoa phú quý. Họ viết sách, dịch sách, mở trường học, lập nhà xuất bản, công ty, khuyến khích thanh niên học tập văn minh phương Tây. Họ đã hướng tâm sức và trí tuệ vào quảng đại quốc dân thay vì hướng vào trung tâm quyền lực. Hay nói cách khác, họ thông qua sức mạnh của học thuật và sự tiến bộ của quốc dân được khai sáng để làm chuyển động bộ máy quyền lực.

    Trong cải cách Minh Trị, nước Nhật có cả một tầng lớp trí thức đảm nhận vai trò "bắc cây cầu văn minh Đông-Tây”. Quốc dân Nhật được khai sáng và nước Nhật cận đại hoá nhanh chóng một phần lớn nhờ vào vai trò tiên phong của những trí thức này. Fukuzawa Yukichi và nhóm Minh lục xã (Meirokusha) là một ví dụ tiêu biểu.

    Chúng ta lại lỡ hẹn lần hai vào năm 1945 khi Việt Nam trở thành quốc gia độc lập. Vào thời điểm đó, nước Nhật đang ở vào tình thế gần như là đối ngược. Nước Nhật phát xít bị bại trận, hai thành phố bị ném bom nguyên tử. Thiên hoàng vốn được coi như thần thánh và bất khả xâm phạm phải tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện.

    Nước Nhật bị quân Đồng minh chiếm đóng. Khó khăn lớn của nước Nhật không chỉ là sự thiệt hại về vật chất mà còn là sự hụt hẫng về tinh thần do sụp đổ lý tưởng. Nhưng rồi người Nhật đã bắt nhịp rất nhanh với công cuộc cải cách dân chủ hoá thời hậu chiến khởi đầu bằng Hiến pháp 1946 để rồi 10-15 năm sau, Nhật Bản có nền kinh tế phát triển thần kỳ, khôi phục chủ quyền và đạt thành tích đáng nể ở mọi phương diện. Việt Nam không bao lâu sau ngày độc lập đã phải đối mặt với những cuộc chiến tranh dài dằng dặc…

    Vậy theo ông, điều gì đã làm cho Nhật không bị "lỡ bước”? Ông nghĩ, giáo dục ở đâu trong sự vận động khai sáng đó?

    Trong sự vận động và chớp lấy thời cơ để chuyển mình của Nhật Bản, giáo dục đóng vai trò vô cùng lớn. Nói cách khác cải cách giáo dục đã xuất phát từ nhu cầu thay đổi của dân tộc. Như tôi đã trình bày ở bài viết Nhật Bản cải cách giáo dục như thế nào trên báo VnExpress cách giáo dục ở Nhật Bản thời Minh Trị và hậu chiến đều xuất phát từ nhu cầu thay đổi mô hình xã hội.

    Cải cách giáo dục ở Nhật Bản giống như một cuộc cách mạng trong hoà bình. Chính giáo dục đã tạo ra hệ giá trị mới với những con người mới. Những con người có khả năng xây dựng và bảo vệ xã hội mới. Đầu thời Minh Trị là các quốc dân có tinh thần độc lập, tự cường và thực nghiệp. Thời hậu chiến là những công dân có tri thức, phẩm chất, năng lực, thái độ phù hợp với xã hội "hoà bình, dân chủ và tôn trọng nhân quyền”.

    Gần đây giới trí thức trong nước cũng thường đề cập đến thuyết "thoát Á” từ kinh nghiệm lịch sử của Nhật Bản. Theo ông có gì khác biệt giữa bối cảnh thoát Á của Nhật trước đây và Việt Nam hiện tại?

    Những năm gần đây Thoát Á luận của Fukuzawa Yukichi được nhiều người Việt Nam chú ý. Tuy nhiên, thế kỷ 21 rất khác với thế kỷ 19. Cải cách Minh Trị cũng giống như Thoát Á luận thường được người Việt tiếp cận ở khía cạnh "tích cực” đơn thuần. Chẳng hạn như Thiên hoàng Minh Trị được coi như một minh quân đã kịp thời cải cách giúp nước Nhật ra khỏi vũng lầy lạc hậu để bước vào thế giới văn minh. Tuy nhiên sự thật là khi Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi ông mới có 16 tuổi. Trên thực tế, Minh Trị là "điểm gặp gỡ” giữa phái chủ trương chuyển quyền lực về Thiên hoàng và phái cải cách.

    Cải cách Minh Trị thành công là nhờ vào lực lượng võ sĩ bậc dưới, bậc trung với các nhân vật đầy tài năng ở hai phiên Satsuma và Choshu cùng với vai trò của giới trí thức "bắc cây cầu Đông-Tây”. Áp lực của dân chúng cũng là một chìa khoá quan trọng để đảo Mạc thành công khi lòng dân không còn hướng về Mạc phủ. Khi đã củng cố quyền lực bằng Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản (1889), Minh Trị trở thành "bạo chúa” thẳng tay loại bỏ các sách "khai sáng” khỏi trường học (bao gồm cả sách của Fukuzawa Yukichi) và phục hồi Nho giáo, trấn áp những người đối lập.

    Thoát Á luận cũng tương tự. Luận điểm "thoát Á” để đứng vào "liệt cường” phương Tây về sau bị chính người Nhật chỉ trích. Cái tinh thần chúng ta nên học từ Thoát Á luận là quyết tâm vượt thoát ra khỏi những thứ giáo điều đã ràng buộc trong tư duy, nỗi ám ảnh bởi quá khứ và nỗi "sợ hãi” văn minh phương Tây để hướng tới những giá trị phổ quát của thế giới. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải duy trì tốt mối liên hệ hữu nghị với các nước trong khu vực ASEAN, tạo dựng quan hệ bình đẳng và chủ động với Trung Quốc.

    Thêm nữa, Thoát Á luận nhấn mạnh nhiều đến quốc gia còn chúng ta, ở thời điểm thế kỷ 21, chúng ta không bao giờ được quên những điều mà các trí thức đầu thế kỷ 20 đã nhắc nhở là dân quyền và dân sinh. Giữa quốc dân và quốc gia có mối quan hệ tương tác chặt chẽ. Muốn "thoát” được phải có lực kéo và lực đẩy. Lực đẩy sẽ là gì đây ngoài sức mạnh của quốc dân được khai sáng?

    Có vẻ ông hay đề cập đến những giá trị từng được các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu từ đầu thế kỷ 20 cổ vũ. Các tiền bối ấy đã từng tha thiết với sự nghiệp chấn dân khí. Theo ông, dân khí của bối cảnh Duy Tân, Đông Du có gì khác với hiện nay? Trải nghiệm của chính ông về điều đó từ vị trí một nhà giáo, một nghiên cứu sinh về giáo dục lịch sử?

    Đọc các tác phẩm của những trí thức Việt Nam đầu thế kỷ 20 như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh bằng tâm thế của một công dân, chắc hẳn nhiều người cũng như tôi sẽ có sự đồng cảm sâu sắc. Dân khí có mạnh, nước mới không yếu hèn. Tôi nhớ hai cụ Phan trong những trang viết không ít lần day dứt trước tình cảnh nhiều người bàng quan trước nỗi đau khổ của đồng bào và thờ ơ trước sự yếu hèn của đất nước.

    Hơn lúc nào hết, trong giai đoạn này tinh thần Duy Tân và Đông Du cần được tiếp tục để tái khai sáng quốc dân và hoà nhập thế giới văn minh. Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, dân tộc cần được nhận thức bằng cái nhìn sâu xa thay vì tư duy nhăm nhăm tìm kiếm lợi lộc vật chất, chức vụ hay hư danh vị kỷ.

    Với riêng tôi, đọc, viết và dạy học là những công việc tôi yêu thích. Nghiên cứu giáo dục Nhật Bản và sâu hơn là giáo dục lịch sử ở Nhật Bản là công việc nặng nhọc nhưng thú vị. Trong quá trình nghiên cứu, tôi sẽ cố gắng chia sẻ với cộng đồng những gì tôi thu nhận được. Tôi nghĩ chúng sẽ có ích cho Việt Nam hiện tại và tương lai.

    Có cách gì để thay đổi từ chính thế hệ của ông?

    Tôi nghĩ muốn có những điều tốt đẹp, bản thân mỗi người đều phải thật tâm cố gắng. Đất nước sẽ không thay đổi nếu bản thân chúng ta không thay đổi và chủ động tạo ra thay đổi. Xã hội chúng ta mong ước không thể là xã hội mà sự tốt đẹp chỉ tồn tại dựa vào các anh hùng. Một xã hội mà tất thảy mọi sự tốt đẹp đều phải dựa vào các anh hùng sẽ rất mong manh. Mỗi công dân bằng khả năng của mình phải tạo ra sự thay đổi tốt đẹp để tác động vào cộng đồng xung quanh bản thân mình. Việc đó dễ mà khó.

    Những người đi tiên phong thường là những người dũng cảm và có trái tim nhiệt thành. Buồn thay, họ lại thường là những người hay bị thiệt thòi và chịu nhiều hy sinh theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nếu chúng ta chưa làm được gì nhiều và lớn lao như họ thì trước hết hãy biết ơn họ và cố gắng cao nhất ở phạm vi mình có thể.

    Thế hệ chúng tôi sinh ra sau chiến tranh, có điều kiện tiếp cận với thế giới bên ngoài cùng nhiều nguồn thông tin phong phú, nhưng cũng nếm trải cảm giác bơ vơ và mất mát. Trong khi trải nghiệm cảm giác bơ vơ và mất mát ấy, tôi nghĩ tuổi trẻ nên tự giác ngộ và tìm lấy đường mà đi. Tôi thích câu này của Lỗ Tấn: "Trên thế giới làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Để có thể đi trên con đường đó, tư duy độc lập và tinh thần tự do là thứ người trẻ tuổi nên có. Hãy chọn một nghề gì đó lương thiện và hữu ích để theo đuổi không kể sang hèn. Nông dân, kỹ sư, người bán hàng, thợ cắt tóc… đều tốt cả. Cái quan trọng là làm nó bằng tấm lòng thành thực và hướng tới mục tiêu lớn xây dựng nước Việt Nam dân chủ, hoà bình và hạnh phúc.

    Nguyễn Quốc Vương sinh năm 1982 tại Tân Yên - Bắc Giang.

    Tốt nghiệp khoa Lịch sử - đại học Sư phạm Hà Nội năm 2004.

    Giảng viên khoa Lịch sử đại học Sư phạm Hà Nội từ 2006 đến nay.

    Giáo viên thỉnh giảng trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành (trường thực hành trực thuộc đại học Sư phạm Hà Nội).

    Hiện là nghiên cứu sinh chuyên ngành giáo dục lịch sử tại đại học Kanazawa (Nhật Bản).

    Tác phẩm đã xuất bản: Cải cách giáo dục Nhật Bản (Ozaki Mugen, người dịch: Nguyễn Quốc Vương, Thaihabooks và nhà xuất bản Lao Động - 2014).

    Theo Tân Dân/Người đô thị

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    14 phản hồi

    Chị Ngữ bàn vể yếu tố tinh thần tập thể của ngưởi Nhật là một nỗ lực đáng trân trọng trong việc tìm cho ra nguyên nhân sự thành công của Nhật trước thách thức thực dân phương Tây giữa thế kỷ 19.

    Nói tới tinh thần của một dân tộc là nói tới văn hóa, niềm tin hay quan niệm ứng xử chung của 1 dân tộc. Ở đây là của người Nhật.

    Giống VN và Hàn quốc, người Nhật du nhập Khổng giáo và Phật giáo từ Trung quốc. Hai tôn giáo này ảnh hưởng sâu sắc lên tư tưởng và lối sống Nhật trước thời Minh Trị. Trường dạy tư tưởng thánh hiền của Tàu hay chùa nghiên cứu kinh Phật; triều đình tổ chức như Trung hoa, chữ viết lấy Hán tự mà biến cải. Tuy nhiên khác với VN các học giả Nhật phê phán những giới hạn như sự gò ép của Khổng giáo và họ đề nghị Nhật nên trở về với Thần đạo (Shinto), một tôn giáo địa phương coi con người và thiên nhiên liên đới với nhau qua các vị thần: thần sông, thần gió, thần lúa etc. Học giả Nhật cũng phê phán tư tưởng thoát ly cũa Phật giáo. Những động não, phãn kháng này nói lên tinh thần độc lập tư tưởng của giới tinh hoa Nhật có từ thế kỷ 15, 16. Sự phản biện này giới tinh hoa của VN hay Trung Hoa trong cùng thời điểm không có. Không riêng giới trí thức, dân thường Nhật nhìn vào kỹ thuật làm kiếm cho samurai cùng tinh thần: xét cái hay đang có, phê phán, cải tiến để có thanh kiếm sắc bén nhất vùng Đông Á.

    Nói chung tiếp thu cái hay của người, phê phán, chọn lọc và cải tiến làm nên cái rất Nhật ngày nay chế tạo xe hơi hay hơn Hoa kỳ vì bền hơn, tiết kiệm hơn hay TV rõ hơn, đẹp hơn. Đó là nét độc đáo của văn hóa Nhật. Gốc của thành công Nhật.

    Nguyễn Quốc Vượng viết:
    Tôi không dám nhận xét dân tộc mình là một dân tộc chưa trưởng thành nhưng là người có chút ít hiểu biết về lịch sử Nhật Bản, tôi cảm thấy buồn và đau đớn khi thấy dường như trên con đường lịch sử Việt Nam luôn lỡ bước.

    Giữa thế kỷ 19, cả Nhật Bản và Việt Nam đều đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi thực dân phương Tây. Nhưng sự lựa chọn và số phận thật khác biệt. Pháp nổ súng đánh vào Đà Nẵng rồi dần dần nuốt trọn Việt Nam, ép triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng, biến Việt Nam thành thuộc địa. Còn Nhật Bản tuy phải mở cảng biển và ký các hiệp ước bất bình đẳng nhưng không bị biến thành thuộc địa.

    Sẽ có nhiều cách giải thích khác nhau cho kết cục này. Nhưng tôi chú ý đến một điều, đó là thái độ đối với văn minh phương Tây của giới cầm quyền, giới có học của Nhật Bản và Việt Nam lúc đó.

    Tôi không có chuyên môn về sử học và về Nhật Bản nên tôi không đi vào chi tiết. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm xã hội học, khi so sánh thành tựu của các quốc gia thì cần tính đến các yếu tố địa lý, dân số, chính trị, kinh tế, văn hóa v.v. Mặc dù VN và Nhật Bản cùng đứng trước nguy cơ xâm lược bởi phương tây, về mặt tổng quát có rất nhiều khác biệt giữa VN và Nhật Bản về vị trí điạ lý, lịch sử chiến tranh, và có thể các yếu tố khác mà tôi chưa được biết.

    Tôi nghĩ tác giả đề cao sự tích cực của quan điểm và văn hoá phương tây là chưa hợp lý bởi vì chủ thuyết Marxist-Leninist và sau này Stalinist mà các lãnh đạo của miền Bắc VN trước đây và của nhà nước CHXHCNVN ngày nay dùng làm kim chỉ nam cũng xuất phát từ phương tây. Trong khi đó Nhật Bản không nhất thiết đi theo phương tây hoàn toàn. Một trong những đặc điểm nổi bật của Nhật Bản thường được các học giả phương tây nói đến là tinh thần tâp thể (collectivism), vốn đối nghịch với chủ nghĩa cá nhân (individualism) của phương tây. Tuy nhiên cần nhấn mạnh là collectivism ở đây rất khác với tinh thần tâp thể của các nước theo Marxist Leninist.

    Về lãnh vực luật pháp của Nhật mà tôi chút hiểu biết, sau thế chiến thứ hai, do áp lực cũng như ảnh hưởng của Hoa Kỳ (khi đó chiếm đóng Nhật để giải giới) luật pháp ở Nhật, đăc biệt là luật trẻ em (juvenile law), được sửa đổi và mô phỏng gần giống như luật trẻ em của Mỹ. Tuy nhiên, khoảng 20 năm sau, Nhật đã sửa đổi luật trẻ em để có sắc thái riêng biệt, phản ánh văn hoá và truyền thống của Nhật Bản.

    Ngày nay hệ thống và tổ chức pháp luật của Nhật cũng đăt trên tinh thần tập thể, mọi người trong xã hội đêu cảm thấy có trách nhiệm và tích cực tham gia vào các hoạt động nhằm baỏ đảm an ninh trật tự cho khu vực họ đang sống. Thí dụ, những công dân lớn tuổi thường tích cực tham gia với nhân viên ngành tư pháp trong việc giáo dục các phạm nhân sau khi họ được tạm tha (parole) hay hưởng án treo (probation). Họ cũng tích cực tham gia vào việc giữ gìn trật tự lưu thông và giám sát các hành vi của trẻ em dù không phải là con em của họ. Một thí dụ thường được nói đến là người lớn đi ngoài đường gặp trẻ em cầm điếu thuốc lá có thể giựt điếu thuốc lá vất đi mà không ai phàn nàn. Tinh thần tập thể còn thể hiện ở sự đối xử hoà nhã giữa các thành phần trong xã hội, tránh đối đầu (avoid confrontation) và khi có vấn để mâu thuẫn thì tìm cách hoà giải (mediation) thay vì lôi nhau ra toà theo kiểu văn hoá phương tây.

    Nói chung, theo nhận xét của tôi, cái mạnh của Nhật Bản là sự lưạ chọn những cái hay của phương tây phù hợp với xã hội, lịch sử và con người ở Nhật để kết hợp với những giá trị cổ truyền của Nhật. Đó là lý do tại sao tôi không hào hứng với những hô hào "thoát Á" ồn ào trong thời gian gần đây.

    Khác với những ý kiến tỏ ý tiếc rằng VN đã từng bỏ lỡ biết bao cơ hội, tôi cho rằng hiện tình VN ngày nay là kết quả tất yếu đối với một quốc gia mà trong suốt chiều dài lịch sử, thời gian có chiến tranh dài hơn thời gian có hoà bình. Ở đây, tôi không phân tích tai sao có chiến tranh, mà tôi chỉ biết thương dân VN đã phải chiụ đựng chiến tranh trong bao nhiêu thế hê.

    Cái mà tôi đau đớn nhất là khi đất nước đã thống nhất cách đây gần 40 năm mà VN vẫn chưa có cơ hội phát triển vì cả nước lại rơi vào chế độ độc tài đảng trị, một cơ chế có tác dụng kìm hãm tất cả những nổ lực để phát triển. Không phải chỉ có văn hoá Á đông mới là lực ngăn cản phát triển. Độc tài độc đảng theo văn hoá phương tây hay Á đông đều là kẻ thù của phát triển. Do đó thay vì hô hào "thoát Á," tôi hô hào "thoát khỏi độc tài đảng trị."

    Tác giả viết:

    "Tôi không dám nhận xét dân tộc mình là một dân tộc chưa trưởng thành nhưng là người có chút ít hiểu biết về lịch sử Nhật Bản, tôi cảm thấy buồn và đau đớn khi thấy dường như trên con đường lịch sử Việt Nam luôn lỡ bước.

    Giữa thế kỷ 19, cả Nhật Bản và Việt Nam đều đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi thực dân phương Tây. Nhưng sự lựa chọn và số phận thật khác biệt. Pháp nổ súng đánh vào Đà Nẵng rồi dần dần nuốt trọn Việt Nam, ép triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng, biến Việt Nam thành thuộc địa. Còn Nhật Bản tuy phải mở cảng biển và ký các hiệp ước bất bình đẳng nhưng không bị biến thành thuộc địa.

    ...

    Chúng ta lại lỡ hẹn lần hai vào năm 1945 khi Việt Nam trở thành quốc gia độc lập. Vào thời điểm đó, nước Nhật đang ở vào tình thế gần như là đối ngược."

    ==> Hai lần mà tác giả gọi là "lỡ hẹn" ấy của VN (giữa thế kỷ 19 và 20) chúng đều là kết quả tất yếu (nhân-quả) của một nền tảng văn hóa dân tộc mà ở đó cả quan trí và dân trí đều dựa trên những cảm xúc thiếu lý trí (tham, sợ, ích kỷ, sĩ, đa nghi, vọng Tàu...).

    Như thế thì nền văn hóa của dân tộc ta đến khi đó đâu có hẹn hò gì với phát triển tư tưởng và tri thức của thế giới (giữa thế kỷ 19) và quá trình cải cách dân chủ (giữa thế kỷ thứ 20), mà tác giả nói là "lỡ hẹn"?

    Thực ra, với văn hóa dân tộc như thế, chúng ta đã đồng lòng đánh nhau với Pháp, để rồi thua và làm nô lệ trăm năm mà chẳng học được chút gì từ sai lầm và thất bại đó. Cũng như thế, hầu như cả dân tộc Việt(từ vua Bảo Đại đến các quan đại thần, đến dân đen...) đã đồng lòng chọn theo cộng sản (của bọn trí thức dốt+tham+manh động+thân Tàu=lưu manh) để đánh Pháp lần nữa (những năm 40s và 50s thế kỷ 20) để giành lại độc lập dân tộc đã mất do sai lầm trước, và kết quả là gây bao đổ máu và rồi vẫn bị Tàu dắt mũi vào nô lệ Tàu còn đáng sợ hơn nhiều...

    Không học được bài học mất nước vào tay Pháp giữa thế kỷ 19 nên tạo ra sự mất nước mới tồi tệ hơn vào tay Tàu từ giữa thế kỷ 20, thì là trẻ con chưa học xong những bài cơ bản làm người lớn để sống còn là gì? Chỉ biết hành động theo cảm xúc mà mất lý trí ở cấp độ cả dân tộc thì dân tộc đó không có tâm thức của trẻ con thì là tân thức gì?

    "Lõ bước", "lỡ hẹn"... vẫn là cách nói ngụy biện trẻ con tiếp của "trí thức" Việt (kiểu như nói: "Tôi học tài, thi phận"), không dám nhìn thẳng vào sự thật là trình độ văn hóa, tư tưởng quá thấp kém của dân tộc mình mà các Cụ Phan đã nhìn ra chỉ ra, thì lớp trẻ hôm nay hơn gì các thế hệ trước? Các thế hệ trước cũng đã nói hai cụ Phan đã "hơi quá lời" về dân tộc mình, và kết quả là gì?

    Tại sao không ai dám treo lên vai hai cụ Phan để nhìn mà đi tiếp - thế mới là hậu sinh của các cụ chứ? (Cộng sản thì chỉ đạp đổ hai Cụ và bước qua xác hai cụ để đi lên phương Bắc...)

    Tôi tin vào thế hệ trẻ, các bạn có thể có trí thức của cả Nhân loại trong tay - điều mà chế độ CS này muốn như không thể cướp đi của các bạn (dù đã cố nhồi sọ các bạn 12 năm rồi 4-5 năm nữa), để tự học hỏi và tự tìm lấy đường mà đi.

    Nhưng điểm xuất phát vẫn là những bài học từ lịch sử của dân tộc, từ bài học của hai cụ Phan. Và con đường thì Nhân loại đã tìm ra rồi, đừng mất công "phát minh lại cái bánh xe", đó là Con đường Dân chủ mà nước Nhất đã bước lên với tư thế kẻ bại trận sau 1945 nhưng với tâm thế của người có hẹn hò với Tương lai...

    Hiện nay, đầu thế kỷ 21 này, cơ hội thứ ba đang đến với dân tộc Việt Nam. Các bạn trẻ VN hãy cùng cả dân tộc giành lấy cơ hội vươn lên Tự do này cho Dân tộc.

    Tôi tin rằng 20-30 năm nữa, khi nhìn lại những ngày này, các bạn trẻ của chúng ta sẽ không phải nói: Dân tộc Việt Nam lại một lần nữa lỡ hẹn với Lịch sử...

    PCT

    mai trâm viết:
    Chị Mai Trâm viết quyết định của người Tàu và người Nhật -khác nhau, một đối đầu, một nhân nhượng. Nhưng tại sao hai xứ này chọn lựạ như thế hay tại sao Nhật chọn thỏa hiệp trong khi Tàu đối đầu trước áp lực phương Tây?

    Có ba bốn lý do:

    Một là Trung Quốc như một nền văn minh lâu đời tại Á châu luôn coi mình là cái rốn vũ trụ coi dân tộc khác mình là man di mọi rợ. Nhật không có cái tự hào mù lòa này nên họ dễ chấp nhận thực tế!

    Hai là cuộc chiến Á phiện xảy ra tại Quảng Đông, Trung hoa đưa tới sự thua trận của Tàu và những thỏa ước rất nhục nhã là bài học cho Nhật. Perry vào Nhật sau biến cố chiến tranh nha phiến tại Tàu cả hơn con giáp. Nhật may mắn có cái gương thua trận của Tàu đi trước mà soi. Thỏa hiệp hay thất bại, đương nhiên người ta chọn cái ít xấu hơn.

    Ba là từ đầu thế kỷ 18 Nhật đã có cơ quan dịch sách của các nước phương Tây trong Mạc phủ và nhiều trường dạy tiếng Hòa lan. Trong khi học giả Tàu chỉ biết tứ thư, ngũ kinh. Vua và quan lại mù trước thay đổi tại châu Âu sau cuộc cách mạng kỹ nghệ- một thay đổi cấu trúc làm phương Tây bỏ xa Trung Hoa. Người Nhật nắm bắt thông tin nên họ đem cả ý niệm chính trị vào hệ thống cầm quyền: một Hiến pháp của Nhật tạo nên cơ chế đại nghị thời Minh Trị Thiên Hoàng.

    Bốn là và chót cùng hệ thống trung ương tập quyền của Trung hoa ngăn cản đa nguyên trong khi cơ chế quyền lực của Nhật thực tế là tản quyền: vua tại trung ương trên danh nghĩa nhưng tại các địa phương Chúa (shogun), giai cấp đại điền chủ và samurai (võ sĩ) quản lý. Trong cơ chế đối lập quyền lực: vua và mạc phủ dân Nhật đứng lên lật đổ Mạc phủ trao quyền cho Thiên Hoàng. Cũng may vị chúa cuối cùng từ nhiệm tránh đổ máu. Tàu không có hệ thống trao quyền như Nhật.

    1: Đúng

    2: Khi cuộc chiến Á phiện xẩy ra tại Quảng Đông, TG chưa có Internet, Nhật và Tàu cách nha một Đại dương. Nước Nhật có thể chưa biết đến trận chiến này, chưa biết TQ đã thua để xem đó là tấm gương để HỌC.
    Vấn đề là, nếu thật sự Nhật đã biết để HỌC để có một lựa chọn khác. Còn ta sau bao thất bại của TQ ngày đó, ở sát bên KHÔNG HỌC, và khi khối Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, ta cũng không chịu học?

    3. Tại sao "từ đầu thế kỷ 18 Nhật đã có cơ quan dịch sách của các nước phương Tây trong Mạc phủ và nhiều trường dạy tiếng Hòa lan."?
    Tôi lập lại, thế kỷ thư 18, thông tin không như bây giờ để có thể nắm bắt được.
    Dù có thể đã nắm bắt, như bây giờ, TK 21 "ta" nắm bắt, nhưng tại sao người Nhật đã CHỊU dịch sách để HỌC người khác, còn "ta" đến bây giờ vẫn CHƯA?

    4: Đúng, nhưng hệ thống xã hội VN bây giờ có khác nước Nhật ngày đó:
    "cơ chế quyền lực của Nhật thực tế là tản quyền: vua tại trung ương trên danh nghĩa nhưng tại các địa phương Chúa (shogun), giai cấp đại điền chủ và samurai (võ sĩ) quản lý."????

    Nguyễn Jung

    Tinh Linh viết:
    thực ra thì quan điểm của ông Nguyễn Quốc Vương không sai, tuy nhiên, khi phán xét về bất cứ điều gì về sự phát triển và cải cách của 1 đất nước cũng phải dựa trên yếu tố lịch sử, văn hóa của nó. cho dù cùng là ở châu á nhưng chúng ta không giống với nhật bản, cả về dặc điểm địa lý lẫn lịch sử, văn hóa, đặc biệt là trong giai đoạn thế kỉ XVII đến tận bây h. nếu thật sự muốn việt nam được dân chủ, hòa bình, hạnh phúc thì mỗi người dân nên có ý thức hơn nữa cả trong công việc lẫn trong cuộc sóng, trong cách dối nhân xử thế.

    Quan điểm của bác CŨNG không sai.
    Chính vì giữa người nước Nhật và người nước Việt quá khác nhau nên nước Nhật, dù về mặt địa lý là một nước nhỏ, nhưng về các mặt khác là một nước hùng mạnh, được TG kính nể.

    Bác có thể nêu ra những vấn đề tích cực và tiêu cực của xã hội VN, của người VN, những sai, đúng để "mỗi người dân nên có ý thức hơn nữa cả trong công việc lẫn trong cuộc sống, trong cách dối nhân xử thế"?

    Những ý thức hơn nữa là những ý thức nào? Những ý thức nào cần được trân trọng, phát triển, những ý thức nào PHẢI đẩy lui, xoá bỏ?

    Cám ơn bác.

    Nguyễn Jung

    Chị Mai Trâm viết quyết định của người Tàu và người Nhật -khác nhau, một đối đầu, một nhân nhượng. Nhưng tại sao hai xứ này chọn lựạ như thế hay tại sao Nhật chọn thỏa hiệp trong khi Tàu đối đầu trước áp lực phương Tây?

    Có ba bốn lý do:

    Một là Trung Quốc như một nền văn minh lâu đời tại Á châu luôn coi mình là cái rốn vũ trụ coi dân tộc khác mình là man di mọi rợ. Nhật không có cái tự hào mù lòa này nên họ dễ chấp nhận thực tế!

    Hai là cuộc chiến Á phiện xảy ra tại Quảng Đông, Trung hoa đưa tới sự thua trận của Tàu và những thỏa ước rất nhục nhã là bài học cho Nhật. Perry vào Nhật sau biến cố chiến tranh nha phiến tại Tàu cả hơn con giáp. Nhật may mắn có cái gương thua trận của Tàu đi trước mà soi. Thỏa hiệp hay thất bại, đương nhiên người ta chọn cái ít xấu hơn.

    Ba là từ đầu thế kỷ 18 Nhật đã có cơ quan dịch sách của các nước phương Tây trong Mạc phủ và nhiều trường dạy tiếng Hòa lan. Trong khi học giả Tàu chỉ biết tứ thư, ngũ kinh. Vua và quan lại mù trước thay đổi tại châu Âu sau cuộc cách mạng kỹ nghệ- một thay đổi cấu trúc làm phương Tây bỏ xa Trung Hoa. Người Nhật nắm bắt thông tin nên họ đem cả ý niệm chính trị vào hệ thống cầm quyền: một Hiến pháp của Nhật tạo nên cơ chế đại nghị thời Minh Trị Thiên Hoàng.

    Bốn là và chót cùng hệ thống trung ương tập quyền của Trung hoa ngăn cản đa nguyên trong khi cơ chế quyền lực của Nhật thực tế là tản quyền: vua tại trung ương trên danh nghĩa nhưng tại các địa phương Chúa (shogun), giai cấp đại điền chủ và samurai (võ sĩ) quản lý. Trong cơ chế đối lập quyền lực: vua và mạc phủ dân Nhật đứng lên lật đổ Mạc phủ trao quyền cho Thiên Hoàng. Cũng may vị chúa cuối cùng từ nhiệm tránh đổ máu. Tàu không có hệ thống trao quyền như Nhật.

    lãng du viết:

    "Đọc xong bài này một số câu hỏi lớn hiện lên trong đầu:
    1.Tại sao cùng bị phương Tây đe dọa, Tàu, Nhật và Việt mà chỉ có Nhật bản thành công trong việc giữ trọn chủ quyền và công nghiệp hóa đất nước?"

    Theo tôi nhận định: đứng trước áp lực của phương Tây đòi mở cửa giao thương, người Nhật chọn lựa thương lượng và nhân nhượng khi ở thế yếu. Người Tàu và người Việt trong triều đình lúc đó cứng rắn, dùng vũ lực chống trả, bách hại giáo sĩ phương Tây, giết người Việt cải đạo Thiên chúa mà không lường được phản ứng đối phương và đánh giá đúng tương quan lực lượng. Giải pháp quân sự đối đầu trong trạng huống gươm đao chống tàu sắt súng đồng là sự tự sát tập thể. Chính sự lựa chọn nhầm lẫn này đưa các đất nước vừa kể đi trên hai đường rây khác nhau: sống còn để xây dựng thực lực và mất chủ quyền để sau này tốn xương máu giành lại.

    Nhìn xa ra hướng Tây Nam, cùng thời điểm có Thái lan, nước nhỏ nhưng không mất chủ quyền. Vương triều Thai thân thiện với Mỹ, Anh và Pháp, mở toang cửa để giao thương, gửi các công tôn hoàng tử đi du học nước ngoài. Kịp khi Nhật mạnh lên mượn đường Thái đánh Miến điện, Vua Thái vẫn thuận tình.

    Thế cho nên đánh giá đúng tình thế, lựa chọn phương án thích hợp mà không mù quáng lý tưởng kiểu Tàu hay Việt thời đó đã cứu Nhật, Thái.

    Tôi xin chỉ nêu ý kiến cá nhân liên quan đến câu hỏi đầu tiên:

    lãng du viết:
    Đọc xong bài này một số câu hỏi lớn hiện lên trong đầu:

    1.Tại sao cùng bị phương Tây đe dọa, Tàu, Nhật và Việt mà chỉ có Nhật bản thành công trong việc giữ trọn chủ quyền và công nghiệp hóa đất nước?

    Thời đó phương Tây cần các tài nguyên mà họ ở xứ ôn đới không có. Do đó ta có thể thấy hầu hết thuộc địa phương Tây đều nằm trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong khi đó Nhật nằm ở vùng ôn đới, chẳng có tài nguyên gì đáng giá. CQ Nhật lúc đó không phải là chế độ quân chủ tuyệt đối nên quan lại cũng có tiếng nói tương đối chứ không phải phục tùng tuyệt đối nhà vua. 'Bế quan toả cảng' ở Nhật cũng không đến nỗi quá khắc nghiệt như ở VN và TQ.

    thực ra thì quan điểm của ông Nguyễn Quốc Vương không sai, tuy nhiên, khi phán xét về bất cứ điều gì về sự phát triển và cải cách của 1 đất nước cũng phải dựa trên yếu tố lịch sử, văn hóa của nó. cho dù cùng là ở châu á nhưng chúng ta không giống với nhật bản, cả về dặc điểm địa lý lẫn lịch sử, văn hóa, đặc biệt là trong giai đoạn thế kỉ XVII đến tận bây h. nếu thật sự muốn việt nam được dân chủ, hòa bình, hạnh phúc thì mỗi người dân nên có ý thức hơn nữa cả trong công việc lẫn trong cuộc sóng, trong cách dối nhân xử thế.

    Tên tác giả viết:
    Cải cách giáo dục ở Nhật Bản giống như một cuộc cách mạng trong hoà bình. Chính giáo dục đã tạo ra hệ giá trị mới với những con người mới. Những con người có khả năng xây dựng và bảo vệ xã hội mới.

    Nhà nước CHXHCN VN cũng đã có những cái cách giáo dục "đáng kể, long trời lở đất" ngay khi chấm dứt chiến tranh năm 1975 và những năm sau đó tiếp đến bây giờ. Nền giáo dục của nhà nước "ta" cũng đã tạo ra hệ giá trị mới với những con người mới. Những con người này cũng có khả năng xây dựng và bảo vệ xã hội mới của họ.

    Các bác muốn ném đá tôi thì cứ việc. Nhưng đây là một sự thật đắng lòng!

    Tôi đồng ý hoàn toàn với bạn Nguyễn Quốc Vương.
    Mong sao VN ngày càng có nhiều những người trẻ như bạn, như Hạnh.....
    Và những người không còn trẻ nữa chịu thay đổi tư duy.

    Nguyễn Jung

    Phải Biết có một trái tim đang đập nhịp nhàng với hơi thở 24/7 thì mới có khả năng tự Giác Ngộ...!!!

    Phải Biết có một đôi chân là một phần của thân thể đang sử dụng phương tiện gì bây giờ thì mới có khả năng nhìn thấy một Đường để đi.

    Cho dù bạn đang thất nghiệp hay đang có việc làm; cho dù bạn đang giàu có muốn gì được nấy hay nghèo khó muốn ăn, muốn mặc cũng không đủ; cho dù bạn đang là quyền cao chức trọng hay thường dân chẳng ai biết... bạn vẫn luôn có một trái tim đang đập nhịp nhàng với hơi thở, nhưng bạn có hề Biết chăng...??? Nếu Biết, bạn đã Biết được bao lâu trong một ngày 24 giờ...???

    Bất kỳ con gì, khi sử dụng phương tiện gì thì sẽ có con đường dành cho phương tiện đó. Sử dụng đôi chân thì đi Đường Bộ Hành. Sử dụng đôi cánh thì đi Đường Không Trung. Sử dụng đôi vây thì đi Đường Sông Nước. Không có gì để sử dụng thì chỉ nằm yên mà nhúc nhíc...!!!

    Bạn đang sử dụng phương tiện gì cho cuộc sống thân thể của bạn...??? Con đường của bạn phải được sử dụng bởi phương tiện đó...!!! Nếu không bạn sẽ bị nghiền nát vì không đi đúng đường hoặc chỉ nằm yên nhúc nhích mà thôi.

    Đọc xong bài này một số câu hỏi lớn hiện lên trong đầu:

    1.Tại sao cùng bị phương Tây đe dọa, Tàu, Nhật và Việt mà chỉ có Nhật bản thành công trong việc giữ trọn chủ quyền và công nghiệp hóa đất nước?

    2.Yếu tố nào để Mạc phủ cuối cùng từ chức nhường quyền cai trị thực sự cho Nhật hoàng sau khi ký kết những thỏa ước bất bình đẳng với Thống đốc Perry của Mỹ? Phải chăng xã hội Nhật lúc đó phân tán quyền lực giữa Vua và Chúa giúp người ta dễ canh cải hơn sự tập trung quyền lực vào tay triều đình Trung ương của nhà Thanh (Tq) và nhà Nguyễn VN?

    3.Tại sao VN chỉ có một Nguyễn Trường Tộ? Mà không nhiều hơn? Mà ông này chỉ dâng sớ canh cải chứ không viết sách, lập trường dạy học trò như Fukuzawa Yukichi của Nhật? Nghĩ xa ra vai trò của trí thức VN so với Nhật cùng thời điểm khác nhau chỗ nào?

    4. Vai trò của giai cấp thương buôn của Nhật với người nước ngoài trước khi có canh cải Minh Trị thiên hoàng đã yểm trợ như thế nào cho phong trào canh tân và kỹ nghệ hóa Nhật?

    Tôi mong các bạn hiểu biết giai đoạn lịch sử này góp ý. Đa tạ trước!

    Tác giả viết:
    Tôi thích câu này của Lỗ Tấn: "Trên thế giới làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Để có thể đi trên con đường đó, tư duy độc lập và tinh thần tự do là thứ người trẻ tuổi nên có. Hãy chọn một nghề gì đó lương thiện và hữu ích để theo đuổi không kể sang hèn. Nông dân, kỹ sư, người bán hàng, thợ cắt tóc… đều tốt cả. Cái quan trọng là làm nó bằng tấm lòng thành thực và hướng tới mục tiêu lớn xây dựng nước Việt Nam dân chủ, hoà bình và hạnh phúc.

    Tôi đồng ý với bạn hết mình (de tout mon corps)!