Nguyễn Văn Tuấn - Tranh luận trên EurasiaReview (về vụ giàn khoan HD-981)

  • Bởi Admin
    11/06/2014
    3 phản hồi

    Nguyễn Văn Tuấn

    Một tranh luận rất thú vị trên EurasiaReview.com về vụ giàn khoan HD-981. Một bên là Sam Bateman, cựu thiếu tướng hải quân của Úc, và nay là Senior Fellow (chức danh cũ của tôi) thuộc Trường Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore). Bên kia là chuyên gia IT Dương Danh Huy và Nhà hoá học Phạm Quang Tuấn thuộc Đại học New South Wales. Cả hai người là bạn tôi. Tôi tóm lược tranh luận dưới đây để các bạn theo dõi và học theo.

    Một cách ngắn gọn, Bateman cho rằng Trung Quốc triển khai giàn khoan HD-981 nằm trong lãnh hải của Trung Quốc vì nó cách Hoàng Sa 14 hải lí và cách đảo Woody 80 hải lí. Mà, Trung Quốc cho rằng Hoàng Sa là của họ và Woody thì đã bị Trung Quốc chiếm đóng, nên giàn khoan HD-981 là hợp lí (1).

    Nhưng tác giả Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn chỉ ra rằng phát biểu của Bateman là sai (2). Bằng cách sử dụng chứng cứ pháp lí và khoa học cùng với lập luận chặt chẽ, hai nhà khoa học VN chỉ ra rằng Bateman đã sai về dữ liệu và sai về suy luận. Chẳng hạn như giàn khoan cách Tri Tôn [thuộc quần đảo Hoàng Sa] 14 hải lí (chứ không phải 17), và cách đảo Woody hay Phú Lâm 103 hải lí (chứ không phải 80). Tất cả những con số đó, thoạt đầu mới nhìn chỉ là sai sót nhỏ, nhưng có ý nghĩa lớn về pháp lí. Bateman nói rằng Trung Quốc “claim” Hoàng Sa là của họ, nhưng Bateman không nói rằng Việt Nam cũng claim Hoàng Sa. Như vậy, Bateman thiên vị (biased). Ngoài ra, hai nhà khoa học VN còn chỉ ra một sai lầm cơ bản: đó là Bateman lẫn lộn giữa khái niệm sovereigntysovereign rights, nên có phát biểu rất ngô nghê về vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)!

    Bị phê phán và bị vạch trần sai lầm, Bateman có vẻ… nóng. Bateman hồi đáp bằng một bài ngắn nói rằng ông không muốn tranh cãi về những con số! Nhưng trong một đoạn văn khác, Bateman thừa nhận ông đã sai lầm khi dựa vào nguồn thứ phát (secondary source) nên trình bày sai con số. Ông tự mâu thuẫn. Còn sai lầm về sovereignty và sovereign rights thì Bateman không trả lời được. Bateman kết thúc bài hồi đáp bằng một câu có vẻ thành tâm rằng ông chỉ muốn đóng góp vào hoà bình trong khu vực và kêu gọi hợp tác giữa các bên, chứ không có ý nào khác (3). Mô Phật!

    Nhưng hai học giả VN vẫn không tha Bateman. Trong phần trả lời hồi đáp của Bateman, hai học giả VN có vẻ lên lớp Bateman rằng trong tranh luận học thuật những con số và dữ liệu rất quan trọng, chứ không thể nói một cách vội vàng rằng chăm chú vào chi tiết là phản tác dụng (4). Sau đó, hai học giả này chỉ ra rằng cội nguồn của xung đột hiện nay là Tàu cộng đã bất chấp các qui tắc UNCLOS và các qui chế pháp lí về lãnh hải. Đó là điểm mà Bateman né tránh trong cả hai bài viết. Do đó, hai tác giả đề nghị cách giải quyết vấn đề là tuân thủ theo UNCLOS. Cần nói thêm rằng UNCLOS là Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển.

    Đây là một tranh luận thú vị. Ông Bateman là một chuyên gia về hàng hải, nhưng cả hai Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn thì đều là dân... “tay ngang”. Một người là tiến sĩ vật lí nhưng làm về IT, một người là nhà hoá học. Tuy là tay ngang, nhưng bằng tư duy khoa học và kiến thức về UNCLOS, họ có thể tranh luận một cách sòng phẳng và chuyên nghiệp với các chuyên gia trong ngành. Ngay cả Gs Tonnesson (một chuyên gia của Na Uy từng tranh luận với anh Phạm Quang Tuấn) cũng công nhận lí lẽ của Huy và anh Tuấn là thuyết phục, còn ông Bateman thì phạm quá nhiều sai lầm. Xem qua lí lịch khoa học của ông Bateman tôi thấy thành tích khoa học của ông này có vẻ rất rất khiêm tốn, nhưng chẳng hiểu sao leo lên chức Senior Fellow. Có lẽ chỉ là Fellow của Nanyang thôi, chứ ở Úc thì với lí lịch như thế ông sẽ chẳng bao giờ thành Senior Fellow được.

    Việt Nam rất cần những người như Huy và anh Tuấn. Họ tuy ở nước ngoài như tôi, nhưng đã hơn 20 năm qua, lúc nào cũng đau đáu quan tâm đến quê nhà. Ngay từ thập niên 1990s, họ đã tham gia Quĩ nghiên cứu Biển Đông vì thấy trước tranh chấp và mối đe doạ của Tàu cộng, nhưng lúc đó ít ai quan tâm đến vấn đề Biển Đông. Trước đó, Bs Ngô Thế Vinh cũng từng viết hẳn một cuốn sách "Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng" để cảnh báo về nguy cơ xung đột ở Biển Đông. Đến khi xung đột xảy ra và leo thang, họ cùng các bạn khác trong Quĩ đã có những đóng góp vô giá. Ts Dương Danh Huy từng viết bài trên báo chí Phi Luật Tân và Mĩ để trình bày lẽ phải của VN trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa.

    Một chút ghi chú cá nhân: tôi biết tính của hai anh bạn tôi về tranh luận. Dương Danh Huy là người rất radical và khách quan đến lạnh lùng, lúc nào cũng có những suy nghĩ khác người nhưng logic. Còn anh Phạm Quang Tuấn là người nổi tiếng về tranh luận và tính tình thẳng thắn. Anh ấy là người có thể nói trước mặt bạn rằng “mày là một thằng tồi”, nhưng rồi không bao giờ nhắc đến nữa và vẫn xem bạn là bạn. Thời còn trẻ ở New Zealand, tôi nghe nói anh từng tranh luận với bạn bè từ sáng hôm nay đến sáng hôm sau, đến khi nào phần thắng thuộc về anh ấy! Do đó, Bateman mà đụng độ với hai nhà khoa học VN này, tôi e ngại cho sức khoẻ của ông ấy quá.

    Trong phần dưới của mỗi bài, người đọc có thể viết bình luận (comment). Tôi đã tóm lược vài ý chính, nếu các bạn muốn vào bình luận ủng hộ “gà nhà” hay phê bình ông Úc Bateman thì cứ theo những đường link dưới đây mà viết.

    Có một chi tiết sai là báo EurasiaReview.com viết rằng anh Tuấn là “Assistant Professor”, nhưng trong thực tế Úc không có chức danh này. Anh ấy là “Associate Professor”, và ở Úc, chức danh Associate Professor cao hơn Assistant Professor của Mĩ một bậc khá xa.

    ________________

    (1) Bài của Bateman: http://www.eurasiareview.com/15052014-new-tensions-south-china-sea-whose-sovereignty-paracels-analysis

    (2) Bài hồi đáp của Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn: http://www.eurasiareview.com/27052014-sovereignty-paracels-article-lets-beijing-lightly-analysis

    (3) Bateman trả lời phê bình: http://www.eurasiareview.com/27052014-whose-sovereignty-paracels-response

    (4) Phạm Quang Tuấn và Dương Danh Huy lên lớp: http://www.eurasiareview.com/05062014-haiyang-981-confrontation-danger-convoluting-everything-sovereignty-disputes
    See Translation

    * * *

    An Điền - Vạch trần luận điệu theo đuôi Trung Quốc

    Hai nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra những lập luận chặt chẽ, thuyết phục về tính phi pháp của việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trước nhận định sai lầm của một chuyên gia nước ngoài.


    Các tàu hải cảnh của Trung Quốc gần khu vực hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 - Ảnh: Reuters

    Sau khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trong vùng biển Việt Nam, tiến sĩ (TS) Sam Bateman, một chuyên gia kinh nghiệm về biển Đông (Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore) đã có bài phân tích biện hộ cho động thái phi pháp này. Ngay sau đó, TS Dương Danh Huy (một nhà nghiên cứu về biển Đông sống tại Anh) và TS Phạm Quang Tuấn (Đại học New South Wales, Úc) đã có bài phản biện phủ nhận những luận điểm vô lý trong phân tích của ông Bateman. Mỗi bên đã đưa ra 2 bài phân tích.

    Trả lời Thanh Niên, các chuyên gia trung lập đều có chung nhận xét: Lập luận từ phía hai nhà nghiên cứu Việt Nam mang tính thuyết phục rất cao. Giáo sư Stein Tonnesson (Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế, Na Uy) nói với Thanh Niên: “Trong hai bài phân tích của hai tác giả Việt Nam, tôi không tìm thấy bất kỳ một lỗi nhỏ nào liên quan đến các luận cứ hay cách diễn giải luật pháp quốc tế. Trong khi đó, TS Sam Bateman đã mắc phải một số lỗi trong phân tích của mình cũng như đưa ra những nhận định dễ gây hiểu lầm”.

    Chủ quyền của ai?

    Đây cũng chính là tựa đề bài phân tích đầu tiên của TS Bateman, trong đó ông viện dẫn Công ước LHQ về luật Biển 1982 (UNCLOS) để cho rằng giàn khoan Hải Dương-981 hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc, đồng thời bỏ qua sự thật rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, hiện bị Trung Quốc chiếm đóng phi pháp.

    Trong phần phản biện, TS Huy và TS Tuấn đã chỉ ra những sai sót của vị chuyên gia quốc tế, từ những lỗi sơ đẳng nhất cho tới những cái sai cố tình thiên vị cho Bắc Kinh. Thứ nhất, khoảng cách từ giàn khoan tới đảo Tri Tôn là 17 hải lý chứ không phải 14 hải lý như ông Bateman viết; đồng thời, khoảng cách từ Hải Dương-981 đến đảo Phú Lâm là 103 hải lý chứ không phải 80 hải lý. Ở bài viết phản biện, chính ông Bateman cũng thừa nhận cái sai này.

    Thế nhưng, điểm mấu chốt là việc TS Bateman cố tình diễn giải sai hoặc chưa đầy đủ UNCLOS để từ đó trao cho Trung Quốc cái gọi là chủ quyền ở khu vực hạ đặt giàn khoan. Thậm chí ngay cả trong trường hợp phi lý là Hoàng Sa được quốc tế xem như thuộc Trung Quốc, thì mặc dù đảo Tri Tôn gần với giàn khoan hơn nhưng vì diện tích quá nhỏ nên theo điều 121 của UNCLOS, không đủ tiêu chuẩn để xét EEZ, và do vậy Tri Tôn không có cơ sở nào để xem xét ở đây, theo TS Huy và TS Tuấn.

    Tiếp theo, nếu ông Bateman đem đảo Phú Lâm ra làm cơ sở để cho rằng Hải Dương-981 nằm trong EEZ của Trung Quốc, thì sẽ không có một phiên tòa quốc tế nào công nhận điều này. Đó là do khoảng cách từ giàn khoan đến vùng đất liền Việt Nam (120 hải lý) cũng không lớn hơn khoảng cách giàn khoan với đảo Phú Lâm (103 hải lý) là bao và theo các án lệ quốc tế, giàn khoan Hải Dương-981 phải nằm trong EEZ của Việt Nam, theo hai nhà nghiên cứu Việt Nam phân tích.

    Giáo sư Tonnesson ủng hộ lập luận này. Ông nói: “Thậm chí ngay cả trong trường hợp Phú Lâm đủ chuẩn để xác lập EEZ theo điều 121.3 của UNCLOS thì phiên tòa quốc tế cũng phải xác định giàn khoan đang nằm trong vùng biển Việt Nam, bởi lẽ: Theo UNCLOS, bờ biển thuộc Phú Lâm ngắn hơn rất nhiều so với các bờ biển thuộc vùng đất liền của Việt Nam; và do vậy việc hạ đặt giàn khoan của Trung Quốc là phi pháp”.

    Không thể thụ động

    Ông Bateman cũng đề cập đến công thư năm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng để nói Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với “Tây Sa” (Hoàng Sa) và “Nam Sa” (Trường Sa). Và luận điểm này cũng đã bị các nhà nghiên cứu Việt Nam dễ dàng bác bỏ do nó không có giá trị pháp lý trong vấn đề chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa.

    Các chuyên gia độc lập cũng đồng thuận với luận điểm của TS Huy, TS Tuấn về việc Trung Quốc, mặc dù là nước ký UNCLOS nhưng lại tự đặt mình ra ngoài mọi cơ chế giải quyết bất đồng cũng như không chịu tuân thủ công ước này. GS Zachary Abuza, chuyên gia về khoa học chính trị và đối ngoại khu vực Đông Á thuộc Đại học Simmons (Mỹ) nói với Thanh Niên: “Lập luận cho rằng không một nước có tranh chấp trên biển Đông nào, ngoại trừ Trung Quốc đang đẩy căng thẳng leo thang thông qua các hành vi bất chấp luật pháp quốc tế, là hoàn toàn chính xác”. Ngay cả ông Bateman, ngay phần mở đầu trong bài viết đầu tiên của mình cũng đã thừa nhận: “Tuy nhiên, Trung Quốc lẽ ra đã có thể xử lý tình huống theo phương thức ngoại giao thay vì hành động đơn phương theo cái cách mà tất yếu cũng sẽ làm gia tăng căng thẳng”.

    Những lập luận thuyết phục từ hai nhà nghiên cứu Việt Nam đã giúp dư luận thế giới có được một góc nhìn khách quan, chính xác về những gì đang diễn ra trên biển Đông. Thế nhưng, còn cần rất nhiều những tiếng nói như thế từ phía Việt Nam để tiếp tục bảo vệ lẽ phải. TS Dương Danh Huy nói với Thanh Niên: “Chúng ta phải nói cho chúng ta chứ không thể thụ động chờ người khác nói cho mình. Hơn nữa, chắc chắn Trung Quốc sẽ tăng cường tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc, lừa bịp các chuyên gia nước ngoài, cho nên chúng ta phải luôn đấu tranh, phải xây dựng lực lượng cho cuộc đấu tranh trong đó kẻ địch có lợi thế số đông, phương tiện và tài chính”.

    An Điền
    Nguồn: Thanh Niên

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Nguyễn Văn Tuấn viết:

    - Xem qua lí lịch khoa học của ông Bateman tôi thấy thành tích khoa học của ông này có vẻ rất rất khiêm tốn, nhưng chẳng hiểu sao leo lên chức Senior Fellow. Có lẽ chỉ là Fellow của Nanyang thôi, chứ ở Úc thì với lí lịch như thế ông sẽ chẳng bao giờ thành Senior Fellow được.
    - Có một chi tiết sai là báo EurasiaReview.com viết rằng anh Tuấn là “Assistant Professor”, nhưng trong thực tế Úc không có chức danh này. Anh ấy là “Associate Professor”, và ở Úc, chức danh Associate Professor cao hơn Assistant Professor của Mĩ một bậc khá xa.

    Giáo sư NGUYỄN VĂN TUẤN nói rất đúng. Chức danh ASSOCIATE PROFESSOR (ở Úc) của Tiến sĩ PHẠM QUANG TUẤN cao hơn chức danh ASSISTANT PROFESSOR của Mỹ.

    Theo tôi biết, chức danh SENIOR FELLOW được dùng ở Úc tại một số Viện Đại học (thí dụ như Đại học Quốc gia Úc, ANU, chẳng hạn) có giá trị ngang với chức danh ASSOCIATE PROFESSOR, nhưng dành cho những người làm việc trong các Trung tâm nghiên cứu (Research Center) của Viện. Chức danh này chú trọng việc làm nghiên cứu (hơn là cả nghiên cứu và giảng dạy như chức danh ASSOCIATE PROFESSOR). Chức danh SENIOR FELLOW ngang hàng với chức danh READER (sử dụng tại Viện Đại học SYDNEY chẳng hạn) và cũng dành cho những người chuyên về nghiên cứu (dù họ cũng có giảng dạy).

    NANYANG (Nam Dương trong tiếng Việt) là một trường đại học hạng XOÀNG, thua xa trường Đại học quốc gia của SINGAPOR (Tân Gia Ba).

    Để biết thế giới có thể nghĩ gì về lý lẽ của hai phía VN và TQ trong tranh chấp về HS và TS kính mời Giáo sư NGUYỄN VĂN TUẤN và quý vị đọc ý kiến dưới đây của Tiến sĩ Stein Tonnesson (vài chỗ in đậm là do tôi muốn nhấn mạnh). Tôi xin lỗi là không kịp dịch ra tiếng Việt để mọi người theo dõi dễ hơn.

    THE TWO SOVEREIGNTY CLAIMS

    Since the economic importance of the Paracels is so limited, and their strategic value can only be realised in an offensive strategy, the main driving force behind the sovereignty dispute is probably national pride. In addition, the Chinese and Vietnamese governments must concern themselves with the fact that the Paracels may be used as a basis for making extensive claims to a continental shelf and economic zone. National pride and the desire for maritime space keep the sovereignty dispute alive and incite the parties to build exaggerated views of the islands’ significance. In 1996, China illegitimately drew a so-called ‘archipelagic baseline’ around the whole of the Paracels, thus subsuming the waters within the group as internal Chinese waters. The main purpose was probably to make it possible to claim an extensive continental shelf and economic zone measured from baselines around the Paracels.

    What are the main strengths and weaknesses of the rival sovereignty claims? Archaeological findings and ancient historical sources are often evoked by both sides in support of their view that the islands have belonged to them for hundreds, if not thousands of centuries. These arguments will not be repeated here. They are hardly valid in modern international law. The fact that subjects of the Chinese or Vietnamese dynasties visited the Paracels or harvested feathers or turtles there in ancient times does not give ground for a sovereignty claim today. The fact that geographers knew of and described the islands as a danger to shipping also does not help to establish a sovereignty claim. It must furthermore be remembered that for long periods historically much of today’s Vietnam was either a part of China (until 1000 AD) or had a status as a tributary state to China (until the Franco-Chinese treaty of 1887). This makes it even more complicated to use ancient historical evidence to decide whether the islands are Chinese or Vietnamese. The most valid arguments must be found in modern history.

    Vietnam may advance the following arguments:[18]

    - Nguyen emperor Gia Long officially claimed the Paracels in 1816, and emperor Minh Mang sent an expedition to set up a marker and build a pagoda there in 1835.[19]
    - A Qing dynasty official, the “Vice-Roy of Canton”, allegedly stated to a British official in 1898 that China carried no responsibility in connection with the looting of two ships who
    had stranded in the Paracels, since the islands had been abandoned and belonged neither to China nor to Annam, and no police authority existed there. The statement may be claimed to represent an estoppel of previous Chinese claims, if there were any.[20]
    - After the Qing dynasty sent expeditions to the Paracels in 1902 and 1908 or 1909, and stated a claim to the Paracels, subsequent Chinese governments did little to follow it up through effective utilisation or occupation.[21]
    - The French protectorate Annam revived the Nguyen dynasty’s claim in 1931, and permanently occupied the islands from 1938 to 1945 (alongside a Japanese presence).
    - Franco-Vietnamese forces re-established their presence in a part of the Paracels in 1947, and at each stage of Vietnam’s road to independence from colonial rule, France and Vietnam agreed that the Paracels were part of the Vietnamese territory.[22] A statement to the effect that the Paracels were under Vietnamese sovereignty was made by the Vietnamese delegation at the San Francisco peace conference in 1950. (At the conference, Japan surrendered its
    claim to sovereignty in Taiwan, the Paracels, Spratlys and other South China Sea islands, but the peace treaty did not say to whom Japan surrendered this claim.)
    - Between 1950 and 1955 Vietnam continuously occupied the western part of the Paracels, while no Mainland Chinese troops replaced the nationalist Chinese garrison after it had been withdrawn in 1950. Only in December 1955 did the PRC establish a regular military presence in the eastern Paracels.[23]
    - The PRC took the western Paracels in January 1974 by force. This renders the acquisition invalid because of the prohibition against the use of force in international law.
    - Since the unification of Vietnam in 1975-76, the Socialist Republic of Vietnam has consistently upheld the Republic of Vietnam’s claim to the Paracels through numerous official statements.

    China could possibly use the following arguments:

    - In the 19th and 20th centuries, fishermen operating from Hainan inhabited the Paracels for major parts of the year. They were Chinese subjects. The visits by Vietnamese fishermen were much less frequent.
    - When the Qing dynasty sent expeditions to the Paracels in 1902 and 1908 or 1909, hoisting the Chinese flag, and the Guangdong government officially stated the island group to be under Chinese sovereignty, more than half a century passed since any state had laid claim to it. The Vietnamese Nguyen dynasty did not follow up its former claim through effective utilisation or occupation, not even through official statements. That claim may therefore be
    said to have lapsed. Also, France did not issue a protest against the Chinese claim.[24]
    - In the 1920s, when Japanese companies were established to extract guano in the Paracels, concessions were sought from both French and Chinese (Guangdong) authorities. The French refused to issue any concessions and did not state that the islands were under French
    sovereignty, so operations were based on Chinese concessions.[25]
    - In the interwar period, Britain considered the Paracels to be Chinese.[26]
    - When a French garrison was established in the Paracels in 1938, France diplomatically informed China that this was only meant to counter Japanese expansionism and would in no
    way prejudice the sovereignty dispute between China and France (on behalf of Annam).[27]
    - In early 1947, Chinese naval forces established a garrison on Woody Island, the largest of the Paracels. Later in the month, when French naval forces arrived and tried to persuade the Chinese to leave, the Chinese commander refused. The French then left Woody Island in the Amphitrite Group and established counter-presence on Pattle Island in the Crescent Group.
    A diplomatic crisis ensued during which France proposed to send the dispute to international arbitration. French diplomatic sources reveal that France was also contemplating in this connection the possibility of recognising Chinese sovereignty to the Paracels in return for a Chinese concession in another area.[28]
    - After the Chinese nationalist troops left the Paracels in 1950, France did not proceed to occupy the eastern Paracels, and fishermen from the PRC, using the PRC flag, continued to inhabit the islands during much of the year until a proper PRC garrison was established in 1955-56.
    - Officials of the Democratic Republic of Vietnam (DRV, North Vietnam) on several occasions issued statements in support of the PRC claim to the Paracel group, which was considered by all the socialist countries to belong to China. So did the official press of North Vietnam. These statements probably amount to an estoppel of any previous Vietnamese claim to the Paracels.[29] Today’s Socialist Republic of Vietnam is a successor state to the DRV and the Provisional Revolutionary Government of South Vietnam (PRG), not to the Republic of Vietnam, and is therefore legally bound by statements made by officials of the DRV government during the 1950s and 1960s. The sovereignty claims of the Republic of Vietnam lapsed with the fall of that regime in 1975.
    - When the PRC forces ousted the South Vietnamese forces from the western Paracels in 1974, the purpose was to reinstate the order from December 1946, when Chinese sovereignty to the whole of the Paracels was upheld through occupation of Woody Island (the largest of the islands in the archipelago) and the erection of markers in other islands.
    - Since 1974 the whole of the Paracels has been under permanent occupation and utilisation by the PRC.

    There thus seem to be some good arguments on both sides, and it is not evident that one or the other has a superior claim. A decision will depend on what is seen to be the critical date. If the Paracels could be considered as a number of individual islands (or two groups) rather than one entity, then a compromise solution where China gains sovereignty to the eastern part and Vietnam to the western part is conceivable. It does, however, seem unrealistic to expect China to cede any part of its alleged sovereignty in an area where it is in full military and administrative control. The most likely scenario of conflict resolution is one where Vietnam gives up its claim in return for a Chinese concession in another area, just as France considered doing in 1947.

    Stein Tonnesson

    Footnotes

    [18]The list of arguments here is not exhaustive, and it must be emphasised that the present author has no legal training. Two books that treat the question exhaustively and end up with the view that the Vietnamese claim is superior are Monique Chemillier-Gendreau’s book (cited above) and an exhaustive, well-researched doctoral thesis by the Vietnamese legal scholar Nguyen Hong Thao. Le Vietnam face aux problèmes de l'extension maritime dans la mer de Chine mériodinale. Villeneuve d'Ascq: Presses Universitaires du Septentrion, 1998 (2 volumes). The Australian international affairs analyst Greg Austin reaches the opposite conclusion in China’s Ocean Frontier, pp. 98-130 (the chapter on the Paracels).
    [19] Marwyn Samuels. Contest for the South China Sea. New York: Methuen, 1982, p. 61.
    [20] Le Gouverneur Général de l’Indochine (Pasquier) à Ministre des Colonies, 20 mars 1930, annexe 5 dans Monique Chemillier-Gendreau. La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys. Paris: l’Harmattan, 1996, pp. 157-162. (An English translation is now available: Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. The Hague: Kluwer Law International, 2000.)
    [21] Samuels. Contest for the South China Sea, pp. 53-54. According to Samuels, the expedition took place in 1908, while French sources place it in 1909.
    [22] By contrast to the Spratlys. Fiche sur la situation juridique des Paracels, Forces Maritimes d’Extrême Orient, 2ème Bureau, Saigon 16.9.54, dos. P01, UU-Sup 2, SHM.
    [23] Note d’Information, signée par le Vice-Amiral Jozan, Commandant les Forces Maritimes d’Extrême-Orient, No. 3/EM2, Saigon 7.1.56, dos. “Activités des forces maritimes...”, UU-Sup. 32, SHM. Briefing prepared for internal use in the Foreign Office, 1956, FC1082/4, FO 371/120937, PRO.
    [24] The French Consul in Guangzhou recommended to the French Foreign Minister that France turn its eyes the other way and refrain from issuing a protest, since “Une intervention de notre part serait susceptible de faire surgir un nouveau mouvement de chauvinisme qui nous ferait peut être plus de mal que ne vaudrait la possession reconnue des îles Paracels.”
    Beauvais (Canton) à MAE No. 92, 4.5.09, dos. 312, sous-série Chine, série Asie 1918-1929, Ministère des Affaires Étrangères, Paris. (Also printed as annexe 13 in Chemillier-Gendreau. La souveraineté sur les archipels..., pp. 196-197.)
    [25] Marwyn Samuels. Contest for the South China Sea. New York: Methuen, 1982, pp. 55ff. Steven Kuan-Tsyh Yu. “Who Owns the Paracels and Spratlys?” in Hill, R. D., Norman G. Owen and E.V. Roberts (eds.). Fishing in Troubled Waters. Proceedings of an Academic Conference on Territorial Claims in the South China Sea. Hong Kong: University of Hong Kong, Centre of Asian Studies Occasional Papers and Monographs no. 97, 1991, p. 51.
    [26 ]“His Majesty’s Government have regarded China as having the best claim to the Paracel Islands.” Minute by C.G. Jarrett for the Head of Military Branch, 1.3.39, ADM 1/9951, Public Record Office (London).
    [27] “en Juillet 1938 le Gouvernement français avait averti le Gouvernement chinois de l’envoi d’un détachement dans l’archipel en précisant que cette opération n’avait pas pour objet d’affecter les positions juridiques de la Chine et de la France vis-à-vis de ces iles ou d’être préjudiciable à un règlement satisfaisant de la question. Par un mémorandum remis au Département le 18 Juillet de la même année, l’Ambassade de Chine avait pris note au nom de son Gouvernement de ces indications, se bornant à réserver les droits de souveraineté de son pays.” Ministre des Affaires Étrangères (signé Chauvel) à M. Meyrier, Ambassadeur de France à Nankin, no. 87 à 90, 24 janvier 1947, marqué PB/LD, c.a.d. conçu par Philippe Baudet, dossier 214, sous-série Chine, fonds Asie-Océanie 1944–1955, Ministère des Affaires Étrangères (Paris).
    [28] “…il convient de rappeler que sur ce dernier terrain notre position a toujours été considérée comme assez incertaine”, a French Foreign Ministry study said. It emphasised that Chinese authorities had manifested their claim to the Paracels on several occasions between 1909 and 1931 while France had not made any representations concerning Annam’s claim before 1931. Note pour le Secrétaire Général a.s. Iles Paracels, MAE Asie-Océanie, marquée RB/MP, 18.3.47, dos. 215, s/s. Chine, série Asie-Océanie 1944-1955, MAE.
    [29] A summary of these statements may be found in Greg Austin. China’s Ocean Frontier, pp. 126-130. The most important was an official communication from Vietnamese Prime Minister Pham Van Dong in 1956 in support of the PRC’s territorial sea declaration. The declaration mentioned the Paracels as Chinese territory. The DRV’s estoppel of the Vietnamese claim forms one of the two premises for Greg Austin’s conclusion that China has a superior claim to the Paracels. The other main premise is that France failed to uphold the former Annamese claim in the period 1885-1931.
    [30] An English translation of the treaty on fishery cooperation, including a discussion of it, can be found in Zou Keyuan. “Sino-Vietnamese fishery agreement in the Gulf of Tonkin”. East Asia Institute Working Paper, no. 77. Singapore: 23 May 2001. The treaty on the maritime border has unfortunately not yet been publicised, and the Agreement on fishery cooperation, which is linked to the delimitation agreement, has not yet entered into force. The Agreement is stipulated to have a duration of 12 years.

    Nguyễn Văn Tuấn viết:

    Đây là một tranh luận thú vị. Ông Bateman là một chuyên gia về hàng hải, nhưng cả hai Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn thì đều là dân... “tay ngang”. Một người là tiến sĩ vật lí nhưng làm về IT, một người là nhà hoá học. Tuy là tay ngang, nhưng bằng tư duy khoa học và kiến thức về UNCLOS, họ có thể tranh luận một cách sòng phẳng và chuyên nghiệp với các chuyên gia trong ngành. Ngay cả Gs Tonnesson (một chuyên gia của Na Uy từng tranh luận với anh Phạm Quang Tuấn) cũng công nhận lí lẽ của Huy và anh Tuấn là thuyết phục, còn ông Bateman thì phạm quá nhiều sai lầm. Xem qua lí lịch khoa học của ông Bateman tôi thấy thành tích khoa học của ông này có vẻ rất rất khiêm tốn, nhưng chẳng hiểu sao leo lên chức Senior Fellow. Có lẽ chỉ là Fellow của Nanyang thôi, chứ ở Úc thì với lí lịch như thế ông sẽ chẳng bao giờ thành Senior Fellow được.

    Theo ngu ý của tôi, Giáo sư TONNESSON đúng trong trường hợp này. Nhưng, Giáo sư TUẤN nghĩ sao về nhận định dưới đây của ông TONNESSON về chủ quyền ở Hoàng Sa:

    Ý KIẾN CỦA TIẾN SĨ TONNESSON VỀ CHỦ QUYỀN Ở HOÀNG SA

    (Trích bài “THE PARACELS: THE ‘OTHER’ SOUTH CHINA SEA DISPUTE”, paper presented at the South China Sea Panel, International Studies Association, Hong Kong Convention, 26-28 July 2001 by Dr. Stein Tonnesson, International Peace Research Institute, Oslo (Prio), trang 11-12

    “HOÀNG SA : CUỘC TRANH CHẤP “KHÁC” Ở BIỂN ĐÔNG”, bài tham luận trình bày tại Nhóm Biển Đông, Hội Nghiên cứu Quốc tế, Hội nghị tại Hồng Kông, ngày 26-27/07/2001 của Tiến sĩ Stein Tonnesson, Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế, Oslo (Prio), trang 11-12).

    “- Một số quan chức của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH, Bắc Việt) đã trong vài trường hợp đưa ra những lời công bố ủng hộ chủ quyền của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND TH) trên quần đảo Hoàng Sa, mà lúc đó được tất cả các nước trong phe xã hội chủ nghĩa xem như là thuộc nước Trung Quốc. Cơ quan thông tấn nhà nước chính thức của Bắc Việt cũng tuyên bố như thế. Những tuyên bố này có lẽ đã gây ra một lỗi estoppel chống lại bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của Việt Nam trước đây trên quần đảo Hoàng Sa. [29]

    Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay là quốc gia kế tục của nước VNDCCH và của Chính phủ Lâm thời Giải phóng Nam Việt Nam (CPLTGPNVN), chứ không là hậu thân của nước Việt Nam Cộng Hòa, và do đó theo pháp luật phải bị ràng buộc bởi những lời tuyên bố do các quan chức của chính phủ VNDCCH trong những thập niên 1950 và 1960. Những tuyên bố về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị thất cách [nghĩa là bị vô hiệu hóa] cùng lúc với sự sụp đổ của chế độ này vào năm 1975”.

    Tiến sĩ Stein Tonnesson

    Cước chú:
    [29] Bản tóm tắt các lời tuyên bố này có thể tìm thấy trong sách của Greg Austin Biên giới Đại Dương của Trung Quốc, trang 126-130. Tuyên bố quan trọng nhất là công hàm của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng vào năm 1956 ủng hộ bản tuyên bố chủ quyền lãnh hải của nước CHND TH. Bản tuyên bố này nói rõ rằng Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Cái lỗi estoppel này của nước VNDCCH về phía Việt Nam là một trong hai tiền đề (premises) mà dựa theo đó Greg Austin đã đi tới kết luận rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa là ưu thắng (hơn Việt Nam). Tiền đề thứ hai là việc nước Pháp đã thất bại trong việc duy trì tuyên bố chủ quyền trước đây của An Nam trong giai đoạn 1885-1931.”

    Sau đây là nguyên văn tiếng Anh:

    (Trích “THE PARACELS: THE ‘OTHER’ SOUTH CHINA SEA DISPUTE”, paper presented at the South China Sea Panel, International Studies Association, Hong Kong Convention, 26-28 July 2001 by Dr. Stein Tonnesson, International Peace Research Institute, Oslo (Prio), trang 11-12)

    “- Officials of the Democratic Republic of Vietnam (DRV, North Vietnam) on several
    occasions issued statements in support of the PRC claim to the Paracel group, which was considered by all the socialist countries to belong to China. So did the official press of North Vietnam. These statements probably amount to an estoppel of any previous Vietnamese claim to the Paracels.[29]
    Today’s Socialist Republic of Vietnam is a successor state to the DRV and the Provisional Revolutionary Government of South Vietnam (PRG), not to the Republic of Vietnam, and is therefore legally bound by statements made by officials of the DRV government during the 1950s and 1960s. The sovereignty claims of the Republic of Vietnam lapsed with the fall of that regime in 1975.”

    Dr. Stein Tonnesson

    Footnote:
    [29] A summary of these statements may be found in Greg Austin China’s Ocean Frontier, pp. 126-130. The most important was an official communication from Vietnamese Prime Minister Pham Van Dong in 1956 in support of the PRC’s territorial sea declaration. The declaration mentioned the Paracels as Chinese territory. The DRV’s estoppel of the Vietnamese claim forms one of the two premises for Greg Austin’s conclusion that China has a superior claim to the Paracels. The other main premise is that France failed to uphold the former Annamese claim in the period 1885-1931.