Tâm Don - Vì sao Việt Nam vẫn chưa có sự kiện Thiên An Môn?

  • Bởi Hồ Gươm
    06/06/2014
    5 phản hồi

    Tâm Don

    Sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc mãi mãi là khúc ca bi tráng về khát vọng tự do, dân chủ của nhân dân Trung Quốc nói chung, và của tầng lớp trí thức-sinh viên Trung Quốc nói riêng. Nếu một ngày nào đó, dân chủ và tự do được thiết lập ở Trung Quốc, cần minh xác một điều rằng, chính sự kiện Thiên An Môn là tác nhân quan trọng đầu tiên xác lập thiết chế dân chủ và tự do đó.

    Tại sao Việt Nam, một đất nước, một chính thể có rất nhiều nét tương đồng với Trung Quốc chuyên chế lại chưa nổ ra một sự kiện Thiên An Môn tương tự? Và, bao giờ Việt Nam bùng phát một Thiên An Môn long trời lở đất để có thể dẫn đến một sự thay đổi tích cực?

    Đối với câu hỏi thứ nhất, không thể dùng các luận thuyết ưu việt của thể chế dân chủ để trả lời. Việt Nam trong thời hiện đại có những hoàn cảnh lịch sử éo le và bi đát hơn Trung Quốc láng giềng, và xa hơn là các nước tuân theo ý thức hệ cộng sản ở Đông Âu. Vì thế chỉ có thể giải đáp câu hỏi thứ nhất bằng chính những hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.

    Giai đoạn trước năm 1975, trong khi người dân miền Nam Việt Nam đã được thụ hưởng những thành quả đầu tiên của nền dân chủ sơ khai, thì nhân dân miền Bắc Việt Nam với não bộ được tẩy xóa đậm đặc vẫn tuyệt đối tin tưởng vào ánh hào quang của chủ nghĩa Marx-Lenin bách chiến bách thắng, vào ảo vọng của những huyền thoại vu vơ. Dưới sự lãnh đạo và cai trị cứng rắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân miền Bắc Việt Nam quá bận bịu với cuộc chiến ý thức hệ - cuộc nội chiến Bắc – Nam, họ hoàn toàn không bận bịu về các giá trị tự do và dân chủ. Một Thiên An Môn đã không diễn ra ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1955-1975 là một điều dễ hiểu.

    Năm 1975, sau khi miền Bắc đánh bại thể chế dân chủ miền Nam, Việt Nam bước vào một thời kỳ khổ đau không kém các đau khổ quằn quại trong cuộc chiến vừa chấm dứt không lâu. Giai đoạn này có thể được phân ra 10 năm với mốc 1976-1986. Với sự giáo điều mù quáng của lý luận Marx-Lenin, với sự cứng rắn đến cực đoan và tàn bạo, chính thể cộng sản Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp phi nhân trên toàn miền Nam như thực hiện chính sách cải tạo, đánh tư sản và xóa tan các định ước kinh tế thị trường đầy sức sống để thay vào đó bằng nền kinh tế tập thể-nhà nước vô trách nhiệm. Các đau đớn và quằn quại liên tiếp xuất hiện, bất hạnh nối tiếp bất hạnh.

    Nhưng, một Thiên An Môn vẫn không xuất hiện trên toàn cõi Việt Nam. Vì sao? Vì, đối với những người cộng sản và những người có liên quan mật thiết đến cộng sản ở Việt Nam, họ vẫn còn bị huyễn hoặc về các chiến thắng chống Pháp, chống Mỹ, chống PolPot và Khmer đỏ, chống bành trướng Trung Quốc. Các chiến thắng đó với sự tô vẽ và tô hồng của một bộ máy tuyên truyền khổng lồ đã làm cho đa phần người dân Việt Nam, nhất là người dân miền Bắc vẫn có một niềm tin lớn vào lý tưởng cộng sản, tin vào các giá trị và phẩm chất của Đảng Cộng sản Việt Nam dù nhiều người dân, nhiều trí thức đã phần nào nhận ra những sai lầm của đảng cộng sản, nhưng đối với họ đó là những sai lầm mang tính nhất thời và giai đoạn.

    Nhưng, trong giai đoạn 1976-1986 này, nhiều người dân miền Nam Việt Nam đã nhận thức đúng đắn về những cay đắng mà chính thể cộng sản đã mang đến cho họ. Họ đã phản kháng bằng những cuộc di cư bi phẫn và đau đớn, đó là phong trào thuyền nhân - vượt biên bi thảm nhất của nhân loại với khoảng 700 ngàn người chết đói - chết khát và chết đuối trên biển. Cuộc di cư bi phẫn đi tìm tự do và dân chủ chứ không phải đi tìm những ham muốn đời thường và bản năng đã làm cho thế giới văn minh bàng hoàng và chính thể Việt Nam bối rối.

    Tuy nhiên, trong giai đoạn này, sự hả hê của những người sở hữu súng đạn và sự buồn đau của những người sở hữu khát vọng tự do dân chủ đã không thể trở thành đồng minh để có thể làm nên một Thiên An Môn.

    Giai đoạn 1987-1993 ở Việt Nam là buổi giao thời đầy dông bão. Đa phần người dân Việt Nam tin tưởng vào công cuộc cải tổ và đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Kết quả bước đầu của công cuộc đổi mới đã phần nào xoa dịu vết thương lòng của người dân. Từ đói khổ cùng cực, người dân đã có đủ miếng cơm tấm áo, họ tạm thời quên đi những cay đắng tột cùng do ý thức hệ cộng sản mang lại, họ tạm hài lòng với cuộc sống.

    Nhưng trong giai đoạn này ở Việt Nam, ý thức phản kháng, ý thức phản tỉnh của người dân Việt Nam đã tăng lên đáng kể bằng các phương thức bất mãn, yếm thế và trào lộng. Trong giai đoạn này đã ghi nhận sự phản kháng mang tính hệ thống và khoa học của một trào lưu tư tưởng mới mẻ thể hiện qua các bài viết, bài nói chuyện được lưu hành và lưu truyền bí mật của các nhà cấp tiến Trần Phương, Trần Độ, Nguyễn Minh Cần, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Hộ, Hà Sĩ Phu…Những con người dũng cảm này sẵn sàng chia tay ý thức hệ, sẵn sàng dắt tay nhau đi dưới ánh sáng chỉ đường của ngọn cờ trí tuệ( mượn chữ của Hà Sĩ Phu). Đây là buổi giao thời của nhận thức, của những định đoán về giá trị thực sự của dân chủ tự do và chủ nghĩa cộng sản. Có vẻ như, trong giai đoạn này, tầng lớp tinh hoa của Việt Nam đã nhận thức được rằng, dân chủ là đích đến của loài người nói chung và Việt Nam nói riêng trong khi đại đa số người dân Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho một cuộc chia tay ý thức hệ. Vì lẽ trên, một Thiên An Môn đã không diễn ra.

    Trong giai đoạn 1994-2005, Việt Nam có những thành tựu to lớn, vượt bậc về phát triển kinh tế với tăng trưởng GDP hàng năm đạt mức cao, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) đạt mức cao và hợp lý, thu nhập bình quân trên đầu người tăng mạnh…., đã phần nào làm dịu lại mọi hoài nghi về bản chất của chủ nghĩa cộng sản và nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, về vai trò độc tài-độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Nhưng sự hội nhập quốc tế đã mở toang cánh cửa nhận thức. Trong giai đoạn này, người dân Việt Nam lần đầu tiên được mở rộng tầm nhìn qua các chuyến xuất ngoại (theo dạng du lịch, thăm thân nhân, giao thương….) đã tự nhiên đặt ra nhiều câu hỏi: Tại sao Việt Nam lại quá nghèo so với Thailand, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore lân cận, chưa kể là quá nghèo và bất hạnh so với Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Thực tiễn sống động đã đưa đến cho người dân Việt Nam một nhận thức quan trọng: chỉ có giá trị và phẩm chất của thể chế dân chủ mới tạo nên sự thịnh vượng, hạnh phúc và hùng mạnh, còn ảo tưởng chủ nghĩa cộng sản-chủ nghĩa xã hội chỉ đưa đến đói nghèo-bất hạnh và đau đớn.

    Nhưng, Thiên An Môn của Việt Nam vẫn không xảy ra trong giai đoạn này vì nhận thức chân lý diễn ra không đồng đều giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng dân số địa lý Bắc – Nam, vì các chính sách “bàn tay sắt” được lồng ghép thâm độc với các trò mị dân của chính quyền, vì sự hài lòng với hiện trạng no ấm của người dân.

    Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013, Việt Nam sôi sục lên trong các vấn đề kinh tế-chính trị và xã hội. Về kinh tế, hết sức bất ổn với tăng trưởng GDP thấp, lạm phát cao, thu nhập bình quân trên đầu người giảm xuống thấp, tiêu thụ sụt giảm mạnh. Tình trạng xã hội có nhiều bất an, tội phạm tàn độc tăng trưởng đột biến, tham nhũng tràn lan, khoảng cách giàu nghèo được kéo dãn vô cùng. Về chính trị, có vẻ như nhà cầm quyền đã phần nào nhận thấy sự lúng túng về phương pháp luận của một ý thức hệ đã lỗi thời kéo theo đó là sự xung khắc của các nhóm quyền lực, các nhóm lợi ích, các nhóm cấp tiến và bảo thủ…Lòng người Việt Nam xáo động và bất an hơn bao giờ hết.

    Trong giai đoạn này, sự phát triển như vũ bão của các công nghệ mới, của Internet, của các mạng truyền thông xã hội đã có tác động tích cực đến nhận thức của người dân, từ tinh hoa đến cấp tiến và phần nào là tầng lớp bình dân. Thực tại cuộc sống khó khăn trăm bề và nhận chân giá trị về dân chủ-cộng sản đã tạo nên những giá trị mới, những đòi hỏi mới về dân sinh-dân chủ-dân quyền-thoát Trung-thoát Cộng. Người dân Việt Nam đã nhận thức được rằng, họ không thể mãi sống trong một thể chế lạc hậu đã bao năm đưa đến đói nghèo và bất hạnh, và, mơ ước lớn nhất của họ là được sống trong một xã hội dân chủ.

    Những tù nhân lương tâm đang ngày đêm khổ đau trong chốn lao tù, những cuộc biểu tình uất nghẹn chống Red China, những trang mạng được nhiều người tìm đọc là Bauxite Việt Nam và Ba Sàm là biểu hiện sinh động của mơ ước ấy.

    Vậy, tại sao trong giai đoạn này Việt Nam vẫn không có một Thiên An Môn?

    Con sóng mạnh bao giờ cũng phải tích lũy năng lượng. Theo qui luật này, con sóng Thiên An Môn của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tích lũy năng lượng để có thân sóng dài, chân sóng rộng, đỉnh sóng cao và bước sóng dài vô tận. Có thể con sóng này chỉ xuất hiện một lần, và nhấn chìm tất cả bọt bèo.

    Nhưng, quan trọng nhất, nguyên nhân đến từ phía chính quyền. Không thể phủ nhận một thực tế rằng, trong nhiều năm qua, chính quyền Việt Nam đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển dân chủ ở Việt Nam bằng các biện pháp kiên quyết và tàn độc. Chính quyền triệt để ngăn cấm và đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa, dùng các biện pháp hạ tiện và lưu manh để không chế và phá vỡ các mối liên kết của những người khát khao dân chủ. Một lần nữa, chính quyền lại thắng và người dân lại thua, khác với các thể chế dân chủ là người dân luôn luôn thắng và chính quyền luôn luôn thua.

    Bên cạnh đó, để đàn áp khát vọng dân chủ, chính quyền Việt Nam đã mua chuộc sự trung thành của các lực lượng chuyên chế như công an, quân đội bằng cách ban phát cho hai lực lượng này các đặc quyền đặc lợi khủng khiếp. Nhà nước Việt Nam cũng tiến hành mua chuộc sự trung thành của giới công chức bằng cách làm ngơ hoặc xử lý nhẹ các hành vi nhũng nhiễu và tham nhũng của giới này. Nhà nước Việt Nam còn áp dụng biện pháp chống “diễn biến hòa bình” có một không hai trên thế giới là tạo ra những lực lượng bán chuyên nghiệp có các chức năng không rõ ràng như tổ khu phố, thanh niên tình nguyện, lực lượng dân phòng, lực lượng quản lý đô thị, lực lượng dư luận viên….Tất cả các lực lượng nàyvốn ngốn ngân sách mạnh như ngựa hủy diệt đồng cỏ, thực sự là nỗi ám ảnh, mối đe dọa với những người khát khao dân chủ.

    Việt Nam chưa có một Thiên An Môn trong quá khứ không đồng nghĩa với Việt Nam sẽ không có một Thiên An Môn trong tương lai. Có lẽ, cơn bão đang đến gần. Có lẽ, con sóng lừng đáng sợ nhất đang ngày đêm miệt mài tích lũy năng lượng để có thân sóng dài nhất, chân sóng lớn nhất, đỉnh sóng cao nhất và bước sóng dài nhất để có thể quét sách mọi rác rưởi.

    Cơn bão ấy, con sóng ấy đang được định hình trong những phong trào dân oan đòi đất, trong những người tù nhân lương tâm đã không nuối tiếc tự do của mình, trong những mảnh đời bần hàn và bất hạnh, trong những cuộc biểu tình ngắn ngủi chống Red China để thoát Cộng, trong những trang web lừng danh như Ba Sàm - Bauxit Việt Nam mỗi ngày thu hút hàng triệu lượt truy cập, trong những ước muốn khôn nguôi đòi hỏi phải hiện thực hóa các quyền lợi cơ bản của con người.

    Sài Gòn, 05-6-2014

    Tâm Don

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    CHXHCNVN từ ngày lập quôc´ cho tơí nay không thể tự lập mà luôn dựa vào viện trợ nươc´ ngoài . Sau 1990 không còn khôí COMECON (liên minh các quôc´gia cộng sản Đông Âu) viện trợ không điêù kiện như trươc´ , khi xay qua xin viện trợ và nhờ vào sự giúp đỡ của các nươc´ dân chủ Tây Phương, thì chính phủ CHXHCNVN bị buộc không được xử băn´ tù chính trị . Nêú mà đàn áp nhân dân quá nhiêù, ngày nay vơí internet và các phương tiện truyền thông tin ra nươc´ ngoài thì việc đàn áp có thể bại lộ và chính phủ cộng sản VN sẽ bị giảm viện trợ . Nêú tô´ cáo ra, nhân dân các nươc´ dân chủ sẽ không thâý lý do gì mà phí tiền thuê´ của mình để viện trợ cho một chê´ độ quá tàn bạo . Ngoài ra các du khách cũng sẽ không thích vào các khu du lịch của ngươì cộng sản VN . Thiêú ngoại hôí để trả nợ nươc´ ngoài, chê´ độ cộng sản VN sẽ sụp đổ .

    Tâm Don viết: "Dưới sự lãnh đạo và cai trị cứng rắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân miền Bắc Việt Nam quá bận bịu với cuộc chiến ý thức hệ - cuộc nội chiến Bắc – Nam, họ hoàn toàn không bận bịu về các giá trị tự do và dân chủ. Một Thiên An Môn đã không diễn ra ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1955-1975 là một điều dễ hiểu."

    Về lý luận thì như thế (chỉ có thể đúng với một só ít người "bôn sệt" tức mù quáng tin vào CNCS trong đó có cán bộ miền Bắc và những người miền Nam tập kết ra Bắc thôi), còn trong thực tế thì nó là do chính quyền CS dùng vũ khí lương thực đánh vào dạ dầy người dân, 80% thời gian con người dành cho việc lo hai bữa ăn, còn hơi sức đâu mà nghĩ đến ý thức hệ, còn hơi sức đâu mà nghĩ đến Thiên An Môn với Địa An Môn. Điều này cũng giống Trung quốc thôi, cái gì cũng phân phối, tem phiếu, làm cho dân đói thì nhu cầu quan trọng nhất, cấp thiết nhất là ăn. Hồi đó con người miền Bắc chỉ hơn con vật tí chút là còn có cái che thân còn "nhân phẩm không bằng thực phẩm" và "lương tâm không bằng lương thực". Ai sống ở Hà Nội hồi chiến tranh xẩy thì được chứng kiến người dân xếp hàng trước các cửa hàng ăn mậu dịch dài dằng dặc, khi máy bay Mỹ đến, còi thành phố báo động thì người ta không xuống hàm trú ẩn mà cứ xếp hàng, lý do không phải là anh đũng bất chấp bom đạn của quân thù mà sợ xuống hầm thì mất chỗ chờ mua một suất cơm giá có 3 hào (Ođ30) kèm theo 225 gram tem gạo. Lại còn chuyện có anh bộ đội ở chiến trường không sợ bom rơi đạn nổ, nhưng về hậu phương thì chỉ sợ mất sổ gạo. Người dân thì chẳng có ý thức hệ nào hết, dan chỉ biết "DĨ THỰC VI TIÊN THÔI", sống dưới chế độ nào cũng được, cứ dễ sống thì thôi, đây là điều toàn cầu đấy, thế nhưng cái nhu cầu tối thiểu ấy của người dân cũng bị chế độ CS dã man cướp mất. CS có nhồi nhét lý tưởng nọ lý tưởng kia thì cũng chỉ lừa dối được một thời gian, một số người trẻ tuổi mà thôi.

    Một lý do nữa có lẽ gần hơn là người dân mình hèn, cả trí thức lẫn trí ngủ, thà rằng sống khổ sống nhục còn hơn là chết, trừ những người bị bắt ép ra chiến trường làm bia đỡ đạn, không đánh nhau không được.
    Cái khốn nạn và tàn bạo của chế độ này là người dân sợ chế độ, không dám chống đối, chỉ tìm đường vượt biên ra nước ngoài thì bị đuổi bắt như thời trung cổ đuổi bắt nô lệ.

    Tác giả lại viết: "Việt Nam chưa có một Thiên An Môn trong quá khứ không đồng nghĩa với Việt Nam sẽ không có một Thiên An Môn trong tương lai."

    Nhiều người cố tin và cố mong là như vậy, nhưng xem ra khó có thể xẩy ra. Vì sao ư? Hãy hỏi quân đội và bộ máy an ninh thì rõ nhất, hiện nay quân đội ta sinh ra là để "trung với Đảng" không phải để đánh giặc mà để đánh dân, vì

    CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN ĐANG MÂU THUÃN NẶNG NỀ VỚI ĐẢNG.

    Bộ máy an ninh thì tăng cường đủ mọi mặt cả người và phương tiện, một người dân thì có 3 thằng theo dõi, khó mà đi ra đường, thế thì tập hợp với nhau làm sao được.

    Chỉ bao giờ những người càm súng giác ngộ chính trị đẻ lợi ích của Tổ quốc và dan tộc lên trên Đảng thì cuộ đấu tranh với CS mới thắng lợi được. Nay có điều thuận lợi hơn trước là số đảng viên, kể cả đảng viên lão thành và đảng viên trẻ đương chức cũng nhận ra bộ mặt lừa dối tàn bạo và nhu hước trước kẻ thù của "Đảng CS Việt Nam quang vinh". Chế độ này nói là "của dân, vì dân và do dân" nhưng thực chất là

    CƯỚP CỦA DÂN, ĐÀN ÁP DÂN VÀ LỪA DỐI DÂN.

    Vì sao ư ?

    Dưới đây là đấnh giá của Viện Xã Hội Hoa Kỳ về con người VN để khuyến cáo công dân họ khi qua xứ này du lịch hoặc làm ăn,,, chúng ta thử cùng suy ngẫm trước khi bực bội :

    " 10 đặc tính của người VN cần biết " :

    1-Cần cù lao động cùng tâm lý thích hưởng thụ.
    2-Thông minh sáng tạo nhưng hay vội chống đối.
    3- Khéo léo nhưng thiếu kiên nhẫn nên ít thành công.
    4- Thực dụng xen lẫn mơ mộng, liều lĩnh xen lẫn nhút nhát.
    5- Ham học, tiếp thu nhanh nhưng vì không học kỹ và liên tục tới cuối nên thường bị mât căn bản. Mục đích học không phải để lập thân mà vì chiều lòng gia đình hoặc sỹ diện nên thiếu sự say mê sáng tạo.
    6- Vui tính nhưng chóng thay đổi.
    7- Tiết kiệm tiền xu nhưng hoang phí tiền triệu.
    8- Đoàn kết trong khó khăn nhưng khi xong việc thì không còn được như trước.
    9- Thích cảnh thanh bình nhưng lại hiếu chiến do tính hiếu thắng và tự ái vặt.
    10- Ưa tụ tập nhưng nặng tính đàn đúm phe phái chứ thiếu sự chung sức đồng lòng. Khi ít người thì làm việc tốt hơn khi đông người.

    Tác giả Tâm Don viết:

    "Giai đoạn trước năm 1975, trong khi người dân miền Nam Việt Nam đã được thụ hưởng những thành quả đầu tiên của nền dân chủ sơ khai, thì nhân dân miền Bắc Việt Nam với não bộ được tẩy xóa đậm đặc vẫn tuyệt đối tin tưởng vào ánh hào quang của chủ nghĩa Marx-Lenin bách chiến bách thắng, vào ảo vọng của những huyền thoại vu vơ. Dưới sự lãnh đạo và cai trị cứng rắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân miền Bắc Việt Nam quá bận bịu với cuộc chiến ý thức hệ - cuộc nội chiến Bắc – Nam, họ hoàn toàn không bận bịu về các giá trị tự do và dân chủ. Một Thiên An Môn đã không diễn ra ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1955-1975 là một điều dễ hiểu."

    Nói thế mới đúng một chút xiu!

    Còn ba lý do chính và quan trọng nữa khiền không thể có một Thiên An Môn ở MB VN trước 1975 là:

    Thứ nhất, trong và sau cách mạng 1945-1946 và suốt cuộc "kháng chiến chống Pháp" đến 1954, đảng CSVN đã tuyệt diệt mọi thành phần dân chủ và có xu hướng dân chủ trong xã hội miền Bắc mà đầu tiên họ đã dựa vào để làm "cách mạng" tháng Tám, làm kháng chiến, rồi cướp công diệt khẩu... của CSVN.

    Thứ hai, ngay sau đó, khi đã dựa hoàn toàn vào CSTQ (mới ổn định sau 1953 - sau chiến tranh Bắc Hàn với Mỹ), CSVN đã bồ tiếp cho nhân dân Miền bắc ba cú đám tận diệt hơn chu di tam tộc của Tàu (ví đó chính là theo sách Tàu cộng) đối với mọi các nhân, thành phần dân tộc, dân chủ - tức chỉ có xu hướng khác và độc lập với cộng sản - còn lại, đó là: CCRĐ, là "Nhân văn Giai phẩm" và "Cải tạo công thương XHCN". Với ba cú tận diệt đó để chu di tâm tộc về kinh tế, văn hóa, tư tưởng dân chủ của CSVN, nhân dân Miền Bắc làm gì còn sức đâu mà "quá bận bịu với cuộc chiến ý thức hệ" nữa?

    Thứ ba, cuộc chiến ý thức hệ từ 1954 đến 1975 đó không phải là "của nhân dân Miền Bắc" mà là CSVN đã đẩy nhân dân MB vào đó dưới muôn sự lừa bịp và muôn họng súng vô hình khắp nơi trong cái đói khát tận cùng mà chế độ CSVN đã tạo ra, cùng các bài học nhãn tiền mà nhân dân MB vừa phải chứng kiến trên da thịt mình (nêu ở điểm thứ hai trên), thì việc nói nhân dân MB "bận bịu với cuộc chiến ý thức hệ" - tức là chủ động tham gia cuộc chiến đó, là mội sai lầm độc ác... Nói thế giống như nói nhân dân Bắc Hàn đang bận rộn xây dựng XHCN dưới sự lãnh đạo của giòng họ nhà Kim...

    PCT

    Sư canh cải kinh tế của Đặng tiểu Bình mở cửa cho khát vọng dân chủ hóa. Chính trong Bộ chính trị TQ đã có những người chủ trương dân chủ hóa bị mất chức trước biến cố Thiên An môn. Mọi chuyển dịch tại VN luôn đi sau Tq cả chục năm. Ví dụ ôm bám kinh tế thị trường của Tq xảy ra giữa thập niên 70, VN giữa 80.

    Một vấn đề khác cần lưu ý là phong trào dân chủ thoát Cộng tại Đông Âu đã thành công từ 5/3/1989 tại Balan- 60 ngày trước biến cố Thiên An Môn 4/6. Balan mùa xuân, Tq mùa hè. Ba lan mở đầu khí thế chấm dứt quá khứ với LX của các nước Đông Âu.

    VN thời điểm 89 chỉ mới quyết định đổi mới kinh tế 3 năm trước đó. Mọi ảnh hưởng của canh cải để thúc đẩy canh cải thể chế chưa thể có trong thời gian ngắn như vậy. Trừ phía Bộ Ngoại giao do Trần xuân Bách phụ trách chủ trương đa nguyên đa đảng nhưng bị thua cuộc. Bách bị kỷ luật tháng 3/1990.

    Tiếc thay Mùa Xuân Ba lan kéo theo sự tan rã củả Liên xô cũ làm Ba đình hoảng sợ. Hệ quà là xiết chặt mọi xu hướng cải cách thể chế.