Học giả Trung Quốc phản biện những lập luận của Việt Nam về Công hàm Phạm Văn Đồng?

  • Bởi Mắt Bão
    31/05/2014
    98 phản hồi

    1. Luận điểm 1 của phía Việt Nam: Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ thừa nhận chủ quyền 12 hải lí của Trung Quốc, mà không hề thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Bời vậy, về cơ bản, công hàm không đề cập đến vấn đề lãnh thổ, không đề cập đền quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

    Phản luận của Ngô: Đoạn thứ nhất trong “Tuyên bố lãnh hải”, mà chính phủ Trung Quốc đã công bố vào tháng 9 năm 1958, đã nói rất rõ rằng, phạm vi bao quát trong 12 hải lí của lãnh hải Trung Quốc là thích dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

    Công hàm Phạm Văn Đồng đã rất rõ ràng “ghi nhận và tán thành” với tuyên bố về lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì trước hết chính là thừa nhận và tán thành chủ trương về lãnh thổ của Trung Quốc, bởi vì chủ trương về lãnh hải có gốc là chủ quyền lãnh thổ, lãnh thổ không tồn tại thì lãnh hải cũng không có căn cứ.

    Công hàm Phạm Văn Đồng không đưa ra bất cứ quan điểm bất đồng hay ý kiến bảo lưu nào về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì theo lô-gich, là cho thấy chính phủ Việt nam tán thành với toàn bộ nội dung của Tuyên bố Lãnh hải do chính phủ Trung Quốc đưa ra, trong đó, có bao gồm cả chủ trương “quần đảo Tây Sa, quần đảo Nam Sa thuộc vào lãnh thổ Trung Quốc”

    2. Luận điểm 2 của phía Việt Nam: Vào thập niên 1950, quan hệ giữa Trung Quốc và nước Mĩ là xấu, hạm đội 7 của hải quân Mĩ đóng giữ tại eo biển Đài Loan, uy hiếp sự an toàn của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố lãnh hải là để cảnh cáo nước Mĩ không được xâm phạm đến lãnh hải Trung Quốc. Công hàm Phạm Văn Đồng là nghĩa cử của chính phủ Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc dựa trên tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp, ý nguyện đó không có liên quan đến lãnh thổ.

    Phản luận của Ngô: Vào thời gian này, tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp là sự thực, nước Mĩ lại là kẻ thù chung của hai nước Việt – Trung, Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc trên trường quốc tế chính là lí do tình cảm đó. Thế nhưng, trong vấn đề không thể hàm hồ là giao thiệp về chủ quyền lãnh thế như thế, cứ tự nói “ý nguyện” là thế này thế kia, để mà lật lại câu “ghi nhận và tán thành” rành rành trên giấy trắng mực đen, thì trong quan hệ quốc tế vốn trọng chứng cớ văn bản, sẽ không được người ta tin tưởng và công nhận đâu !

    3. Luận điểm 3 của phía Việt Nam: Lúc đó, Việt Nam đang ở vào giai đoạn chiến tranh, Trung Quốc là nước viện trợ chính cho Việt Nam, để có được chiến thắng, Việt Nam không thể không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc.

    Phản luận của Ngô: Cách biện luận này có ngầm ý sau: nếu không ở vào hoàn cảnh chiến tranh, nếu không cần sự viện trợ của Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc, không phát sinh (sự kiện) công hàm Phạm Văn Đồng. Thế nhưng, loại biện luận như thế này chỉ là miêu tả lại một sự thực đã xảy ra, không thể, dù một chút xíu, phủ định được hiệu lực của công hàm Phạm Văn Đồng.

    Thêm nữa, không có bất cứ chứng cớ nào chứng minh việc Trung Quốc đã lợi dụng Việt Nam ở vào hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của Trung Quốc để dồn ép chính quyền Việt Nam phải nuốt bồ hòn làm ngọt mà thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Bản thân công hàm đã gửi cho chính phủ Trung Quốc và nội dung của nó cho thấy: tất cả đều là quyết định tự chủ tự nguyện của chính phủ Việt Nam.

    Nói ngược lại, giả như ở vào thời điểm đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, thì từ lập trường dân tộc chủ nghĩa vững chắc và nhất quán của người Việt Nam, chính phủ Phạm Văn Đồng sẽ không gửi công hàm đó cho Trung Quốc, hoặc chí ít thì trong công hàm sẽ bỏ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa ra bên ngoài.

    Lại thêm nữa, cộng với chứng cớ là việc trước năm 1975, trong nhiều trường hợp (nói chuyện giữa nhân viên ngoại giao với nhau, bản đồ, sách giáo khoa), Việt Nam đều chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc, thì có thể chứng minh rằng, việc thừa nhận trong công hàm Phạm Văn Đồng rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ vốn có của Trung Quốc chính là cách suy nghĩ thực sự của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    4. Luận điểm 4 của phía Việt Nam: Ở thời điểm đó (1954-1958), căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ thì, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đều thuộc phạm vi quản lí của nước Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam), tranh chấp lãnh thổ là giữa Trung Quốc và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chính quyền miền Bắc là bên thứ ba ở ngoài không liên quan đến tranh chấp, chính quyền miền Bắc không có quyền xử lí đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, vì vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

    Phản luận của Ngô: Trước năm 1975, tức là trước khi chính quyền miền Bắc giành chiến thắng để thống nhất hai miền Nam Bắc, miền Bắc một mực tuyên bố mình là chính thống, là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt nam, và gọi chính quyền miền Nam là “bù nhìn”, là “chính quyền ngụy” phi pháp, cần phải tiêu diệt. Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh). Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ những sự thực lịch sử không thể chối cãi đó, chính phủ Việt Nam hiện nay chính là nhà nước kế tục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, sau khi chiến thắng và thống nhất hai miền Nam Bắc, lẽ ra phải giữ vững chuẩn tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, cũng tức là tín nghĩa cho nền chính trị của quốc gia, giữ vững lập trường quốc gia trước sau như một, đằng này, tại sao lại vì lợi ích vốn không nên có, mà “qua cầu rút ván”, bội tín phản nghĩa ? !

    Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay “chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

    5. Luận điểm 5 của phía Việt Nam: Căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều là chính quyền lâm thời, cần phải có cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc mới có thể đưa đến một chính quyền hợp pháp. Trong tình trạng chưa có được chính phủ hợp pháp thông qua tổng tuyển cử trên toàn quốc, chính quyền lâm thời không có quyền quyết định vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bởi vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

    Phản luận của Ngô: Tháng 7 năm 1954, các nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ đã kí Hiệp định đình chiến cho Việt Nam, trong Hiệp định có qui định rằng “thông qua bầu cử phổ thông tự do, thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc”. Thế nhưng, chính quyền miền Bắc lấy lí do rằng hiệp định này được kí kết dưới sự dàn xếp của chính phủ Trung Quốc, đã làm tổn hại đến lợi ích của Việt Nam, không đại diện cho lập trường của miền Bắc, cho nên ngay từ đầu đã không muốn tuân thủ hiệp định. Tiến triển lịch sử về sau này cũng cho thấy cả chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều không hề có ý tiến hành cuộc tổng tuyển cứ phổ thông tự do trên toàn quốc thông qua các cuộc tiếp xúc, cũng không đạt được bến bất cứ thỏa thuận làm việc nào, mà cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là “chính thống”, qua đó cho mình trở thành chính quyền “mang tính vĩnh cửu” mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ.

    Luận điểm số 5 ở trên đã bị sự thực lịch sử phủ định, không còn sức thuyết phục nữa.

    6. Luận điểm 6 của phía Việt Nam: Theo nguyên tắc của hiến pháp, tất cả tuyên bố về với chủ quyền lãnh thổ mà chính phủ đưa ra đều phải có được phê chuẩn của quốc hội thì mới có hiệu lực. Công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội để được phê chuẩn, cho nên không có hiệu lực về pháp luật.

    Phản luận của Ngô: Có học giả Việt Nam cho rằng đây là chỗ quan yếu nhất để chứng minh công hàm Phạm Văn Đồng vô hiệu, do đó, đây cũng là lí do không thể bác bỏ. Thế nhưng, ở bài này, tôi cho rằng, sự việc thảy đều không chắc như đinh đóng cột như họ nói đâu, có thể phản luận từ hai phương diện: lô-gich pháp luật, sự thực lịch sử.

    Thứ nhất, công hàm Phạm Văn Đồng không phải là điều ước ngoại giao, cũng không phải là tuyên bố đơn phương từ bỏ chủ quyền lãnh thổ, nên không cần sự phê chuẩn của quốc hội. Năm 1958, chính phủ Trung Quốc công bố Tuyên bố Lãnh hải, mục đích của nó không phải là tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc chỉ riêng cho một mình Việt Nam. Chính phủ Việt Nam và ông Phạm Văn Đồng đã giao công hàm này cho phía Trung Quốc, cũng không phải là từ bỏ chủ quyền lãnh thổ của nước mình, mà là, từ xác tín trong nội tâm, đã “ghi nhận và tán thành” chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc. Bởi vì nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ đầu đã thừa nhận “quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc”, về cơ bản, không có vấn đề Việt Nam từ bỏ chủ quyền lãnh thổ của mình.

    Vào thời điểm đó, giữa Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có tranh chấp lãnh thổ, công hàm Phạm Văn Đồng là xác nhận sự thực của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là xác nhận ngoại giao về văn bản mà Trung Quốc đã đưa ra, là thuộc phạm vi quyền hạn ngoại giao của chính phủ Việt Nam, không cần có sự phê chuẩn của quốc hội.

    Thứ hai, Việt Nam lúc đó không có quốc hội chính thức, cũng không có hiến pháp chính thức. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành bầu cử toàn dân tại vùng mà mình quản lí được, đưa tới sự ra đời của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” mang tính lâm thời, soạn ra hiến pháp. Thế nhưng, do quân xâm lược Pháp đang từ Hải Phòng tiến về uy hiếp Hà Nội, thời gian ngắn của hòa bình tạm thời đã bị phá bỏ, lại bắt đầu chiến tranh kháng Pháp, dự thảo hiến pháp tuy đã được thông qua nhưng chưa được đem ra công bố. Sau khi sứ mệnh soạn hiến pháp của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” đã hoàn thành, nếu quốc hội chính thức được sinh ra một cách trái luật, thì hoạt động bình thường của quốc hội ấy sẽ càng không có gì để nói đến nữa. Do đó mới có “Quốc hội giao quyền cho chính phủ căn cứ theo nguyên tắc đã xác định của hiến pháp mà thực thi quyền lập pháp”. Tình trạng này kéo dài đến năm 1960. Sau này, phía Việt Nam xác định nhiệm kì của Quốc hội khóa I là từ năm 1946 đến năm 1960, với độ dài nhất là 14 năm, đủ để chứng minh là thời kì bất thường: (quốc hội) tồn tại tương đối khó khăn, chính quyền chưa thể thực hiện được các hoạt động một cách bình thường. Hiến pháp chính thức đầu tiên của Việt Nam là Hiếp pháp năm 1959.

    Thông qua khảo sát về lịch sử hiến pháp và quốc hội của Việt Nam, có thể nghiêm túc nói rằng, trước và sau năm 1958, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa có hiến pháp, cũng chưa có quốc hội. Chính phủ căn cứ vào qui định của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” mang tính lâm thời mà có được quyền lập pháp, điều đó có nghĩa, trên thực tế, chính phủ có cả quyền lực của quốc hội. Việc chính phủ của ông Phạm Văn Đồng gửi công hàm đó cho chính phủ Trung Quốc là hoàn toàn nằm trong phạm vi quyền hạn hợp pháp của chính phủ.

    Ngô Viễn Phú

    Bài này Dân News tổng hợp trên các trang mạng. Được biết ông Ngô Viễn Phú hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam (Đại học Dân tộc Quảng Tây), từng là du học sinh của Đại học Quốc gia Việt Nam. Ngô Viễn Phú cho biết ông từng theo học chương trình tiến sĩ luật học tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam, từ năm 2001 đến năm 2006.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    98 phản hồi

    Phản hồi: 

    [quote=dan ha]Cứ đưa sự việc ra tòa án Quốc Tế. Nên công khai hóa để nhận sự ủng hộ ở bên ngoài. Cãi qua cãi lại vô ích mà chỉ mất đảo rồi lại đến mất nước thôi.[/quote]

    Tôi đã có đặt câu hỏi là các bác có đọc được tài liệu nào của các tác giả EU, Mỹ, Úc, Canada bàn về công hàm của Phạm Văn Đồng hay chưa ? Nếu có thì đưa lên cho mọi người cùng tham khảo để bác Hà Hiển không phải lo lắng việc vạch áo cho người xem lưng vì có muốn kín tiếng cũng không được

    Tôi thì chưa. Laurent GARNIER, Chargé d’études au CESM, cũng không/chưa thấy đề cập đến công hàm PVĐ. Còn bà Monique Chemillier-Gendreau thì thế nào ?

    Tôi nghĩ nên đưa TQ ra tòa án quốc tế về các việc xâm phạm lãnh hải, quy chế vùng đặc quyền của các đảo đá vùng biển Đông và trên thế giới

    Tụi Tàu luôn né tránh tranh luận đa phương, ắt hẳn nó lo sợ bị đuối lý đấy vì các đảo HS-TS đang là vùng tranh chấp đa phương cho nên Tàu nó sợ Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng chỉ là song phương, không chịu đề cập đến các nước khác trong việc tranh chấp

    Một tòa án công bằng, chỉ vì sự trung thực và công lý, sẽ bắt buộc chỉ có giá trị khi tranh luận đa phương cho các bên liên quan như HS-TS

    VNCH đưa ra hội đồng bảo an LHQ đều bị tụi Tàu dùng veto power ngăn cản. Giống như tụi Nga đối với Ukrain. Dẹp quách cái quyền veto power của thành viên thường trực trong hội đồng bảo an LHQ đi. Đi cướp đất như tụi Tàu, Nga mà đòi tự xóa tội, coi sao được !

    [quote]
    Les Sud-Vietnamiens protestèrent amèrement auprès des Nations unies, mais furent incapables de mener une action pour un examen public : la Chine, munie de son droit de veto au Conseil de sécurité des Nations unies, bloqua tous leurs efforts pour créer un débat sur le problème. Le 25 janvier, le Président du Conseil de sécurité, Gonzalo Facio Segreda, conseilla publiquement au Sud-Vietnam de renoncer, parce qu'il ne pouvait pas « rassembler les suffrages suffisants » (NYT, 26 janvier 1974).

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Bataille_des_%C3%AEles_Paracels

    [/quote]

    Phản hồi: 

    [quote=Uỷ viên Trung ương]Bài này quá hay, đập tan những luận điệu nguỵ biện bịp bợm của người Việt trong và ngoài nước để cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá trị.

    Lại càng hay hơn khi bài này được viết bởi một người Trung Quốc từng học tại VN, đã có 5 năm làm luận án tiến sĩ luật học bằng tiếng Việt ngay tại Đại học quốc gia Hà Nội. Sự thật công hàm của chính phủ VN công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo là rõ ràng, không có gì để tranh cãi. Sự thật mãi mãi là sự thật.

    Việc thay đổi quan điểm càng cho thế giới thấy sự tráo trở lật lọng, bỉ ổi vô sỉ của VN. Tấm hình này nói lên rất nhiều điều. Nó đã diễn ra ở Hồng Kong ngày 19/5/2014, khi người Hong Kong lên án VN là "KHÔNG BIẾT XẤU HỔ".

    [/quote]

    Các từ ngữ mà ông "Ủy viên trung ương" này dùng như "đập tan những luận điệu nguỵ biện bịp bợm của người Việt trong và ngoài nước,...sự tráo trở lật lọng, bỉ ổi vô sỉ của VN" đã cho thấy ông này là ai rồi. Người Việt không bao giờ lại chửi người Việt bằng những ngôn ngữ hạ cấp như vậy.

    Phản hồi: 

    [quote=Khách68]Bài này trừ điểm số 5 có vẻ hơi yếu ra, đã nói được toàn bộ cách nhìn của tôi về công hàm PVĐ. Ý tôi là, nếu có người thứ ba đứng nghe thì nhiều khả năng họ sẽ nghiêng về phía TQ, vì những lập luận của TQ dễ hiểu và hợp logic hơn nhiều so với kiểu lập luận lắt léo và có vẻ nguỵ biện từ phía VN. Chỉ có điều tôi không muốn nói, vì nói thì thể nào những cái đầu nóng trên này cũng nhảy vào xỉa xói rằng sao lại đi "vạch áo cho người xem lưng". Nhưng không biết lý lẽ của kẻ thù thì làm sao đấu lại họ trước toà. Đây là thời đại nào rồi mà còn đóng cửa tự khen nhau thế.

    Như vụ hòn đảo giữa Sing và Malay, cuối cùng Malay phải thua dù đã có chứng cứ hàng trăm năm lịch sử chỉ vì một câu nói của Bộ trưởng Ngoại giao.[/quote]

    Trước hết, tôi rất hoan nghênh Dân Luận đã cho đăng lại những ý kiến như thế này của người Trung Quốc vì nó cần thiết cho mọi người Việt Nam, nhất là Nhà nước, biết lý lẽ của kẻ thù để tìm giải pháp đấu tranh lại sao cho hiệu quả.

    Vấn đề khiến tôi ngạc nhiên là ở chỗ nhiều người Việt Nam lại nêu ra đúng những lý lẽ ấy của các học giả TQ chỉ để lên án ông PVĐ và nhà nước VNDCCH là chính mà không nêu ra ý kiến - mà đây lẽ ra mới là quan trọng nhất - rằng với lý lẽ của TQ như thế thì làm thế nào để "đấu lại họ trước toà" như bác đề cập.

    Còn việc lên án ông PVĐ và nhà nước VNDCCH, nếu các bác thấy cần thiết, thì cũng chưa cần thiết vào lúc này. Việc cần thiết vào lúc này lại càng không phải khen quan điểm của TQ là đúng và có lý mà là đưa ra các giải pháp, nghĩ ra cách nào đúng và có lý để đấu tranh với họ.

    Còn nếu chỉ nêu lại ý kiến của TQ rồi khen họ nói đúng thì cần gì các bác phải nói phụ họa thêm vào khi các học giả TQ đã nói đầy ra rồi.

    Tong chuyện này, "vạch áo cho người xem lưng" theo ý tôi là ở khía cạnh ấy, là những người như bác đã cho TQ thấy một tinh thần bạc nhược như thế nào ở các học giả VN, cho TQ thấy bản thân người VN cũng thấy vô vọng rồi. "Bí mật quốc gia" mà có bác mỉa mai không phải là bản thân các lý lẽ ấy được chính các bác nói ra - vì không cần các bác "tiết lộ" thì các học giả TQ cũng nói ra nhiều rồi, họ còn nói giỏi hơn các bác - cái "bí mật quốc gia" mà các bác tiết lộ là người Việt Nam cũng đã có sẵn tâm lý đầu hàng rồi, công nhận chúng mày (TQ) đúng rồi, chúng tao thua rồi. Chứng minh sự cao thấp về lý lẽ, trình độ mà chỉ dẫn đến một kết luận như thế thì chúng tôi thà nghe các học giả TQ nói chứ không cần đến kiến thức của các bác. Thắng thua trong một vụ kiện là điều có thể xảy ra. Nhưng khả năng thua sẽ càng cao hơn nếu ngay từ đầu đã có cái tâm lý như thế. Nếu bác bảo không phải thế thì nào, xin mời bác - bác đã biết rõ "lý lẽ của kẻ thù" như vậy rồi thì bây giờ bác hãy cho ý kiến vàng ngọc của bác là làm sao để "đấu lại họ trước toà" đi.

    Xin nói lại, điều cần ở bác hơn là đối với những quan điểm ấy của người TQ thì giải pháp của bác là thế nào. Còn nếu chỉ nhắc lại những ý kiến của họ rồi khen họ có lý lắm, đúng lắm thì không cần đến bác mà rất nhiều người TQ đã nói rồi.Điều ấy sẽ phân biệt bác khác với người TQ.

    Còn nếu bác đúng là người TQ thật thì xin rút lại ý kiến trên và xin thành thực cám ơn bác đã cho chúng tôi thấy "lý lẽ của kẻ thù" như thế nào để người Việt Nam chúng tôi đừng "tự khen nhau" mà phải lo mà chuẩn bị trước.

    Xin góp ý thêm với bác về văn hóa tranh luận - Dù quan điểm có khác nhau như nước với lửa thì chúng ta cũng không nên dùng các từ ngữ ngoa ngoắt dành cho người tranh luận (như "nhảy vào xỉa xói") vì nó có tính chất công kích cá nhân, không làm cho những ý kiến của mình thuyết phục hơn. Ở khía cạnh này thì tôi thấy đầu bác hơi "nóng" (chữ dùng của bác) một cách không cần thiết.

    Phản hồi: 

    Cứ đưa sự việc ra tòa án Quốc Tế. Nên công khai hóa để nhận sự ủng hộ ở bên ngoài. Cãi qua cãi lại vô ích mà chỉ mất đảo rồi lại đến mất nước thôi.

    Phản hồi: 

    Bởi vì đó là những luận điểm của VNCS về công hàm PVĐ thì CSTQ sẽ dễ dàng bẻ gãy thôi, vì "Tao đẻ ra mày và tao bày cho mày cách viết công hàm PVĐ mà!" Và đó mới chỉ là lập luận của một luật sư TQ với tư cách cá nhân, chưa phải lập luận của cả chính phủ CSTQ được chuẩn bị từ trước 1958 đến nay và cò tiếp nữa...

    Và họ, CSTQ, còn chưa thèm dùng tới bảo bối thực sự trong tay họ mà CSVN vẫn đang giấu hơn mèo giấu cứt, giấu như giấu mả tổ của CSVN, đó là Thỏa thuận Thành Đô 1990...

    Nhưng nếu người sẽ đưa TQ ra tòa là nhà nước VN khác hậu CS, VN Dân chủ chả hạn, thì CSTQ sẽ khó "ní nuận" hơn và cơ may đòi lại Hoàng Sa của dân tộc VN sẽ lớn hơn nhiều, dù vẫn chưa là chắc chắn...

    PCT

    Phản hồi: 

    Bài này quá hay, đập tan những luận điệu nguỵ biện bịp bợm của người Việt trong và ngoài nước để cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá trị.

    Lại càng hay hơn khi bài này được viết bởi một người Trung Quốc từng học tại VN, đã có 5 năm làm luận án tiến sĩ luật học bằng tiếng Việt ngay tại Đại học quốc gia Hà Nội. Sự thật công hàm của chính phủ VN công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo là rõ ràng, không có gì để tranh cãi. Sự thật mãi mãi là sự thật.

    Việc thay đổi quan điểm càng cho thế giới thấy sự tráo trở lật lọng, bỉ ổi vô sỉ của VN. Tấm hình này nói lên rất nhiều điều. Nó đã diễn ra ở Hồng Kong ngày 19/5/2014, khi người Hong Kong lên án VN là "KHÔNG BIẾT XẤU HỔ".

    Phản hồi: 

    .... PVĐ chỉ " ... tán thành tuyên bố ... , quyết định về hải phận của TQ" (tức là phần tuyên bố này thôi).
    Điểm yếu nhất của TQ là không có minh chứng nào về lịch sử là HS và TS thuộc TQ cả.

    Phản hồi: 

    Bài này trừ điểm số 5 có vẻ hơi yếu ra, đã nói được toàn bộ cách nhìn của tôi về công hàm PVĐ. Ý tôi là, nếu có người thứ ba đứng nghe thì nhiều khả năng họ sẽ nghiêng về phía TQ, vì những lập luận của TQ dễ hiểu và hợp logic hơn nhiều so với kiểu lập luận lắt léo và có vẻ nguỵ biện từ phía VN. Chỉ có điều tôi không muốn nói, vì nói thì thể nào những cái đầu nóng trên này cũng nhảy vào xỉa xói rằng sao lại đi "vạch áo cho người xem lưng". Nhưng không biết lý lẽ của kẻ thù thì làm sao đấu lại họ trước toà. Đây là thời đại nào rồi mà còn đóng cửa tự khen nhau thế.

    Như vụ hòn đảo giữa Sing và Malay, cuối cùng Malay phải thua dù đã có chứng cứ hàng trăm năm lịch sử chỉ vì một câu nói của Bộ trưởng Ngoại giao.

    Pages