Học giả Trung Quốc phản biện những lập luận của Việt Nam về Công hàm Phạm Văn Đồng?

  • Bởi Mắt Bão
    31/05/2014
    98 phản hồi

    1. Luận điểm 1 của phía Việt Nam: Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ thừa nhận chủ quyền 12 hải lí của Trung Quốc, mà không hề thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Bời vậy, về cơ bản, công hàm không đề cập đến vấn đề lãnh thổ, không đề cập đền quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

    Phản luận của Ngô: Đoạn thứ nhất trong “Tuyên bố lãnh hải”, mà chính phủ Trung Quốc đã công bố vào tháng 9 năm 1958, đã nói rất rõ rằng, phạm vi bao quát trong 12 hải lí của lãnh hải Trung Quốc là thích dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

    Công hàm Phạm Văn Đồng đã rất rõ ràng “ghi nhận và tán thành” với tuyên bố về lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì trước hết chính là thừa nhận và tán thành chủ trương về lãnh thổ của Trung Quốc, bởi vì chủ trương về lãnh hải có gốc là chủ quyền lãnh thổ, lãnh thổ không tồn tại thì lãnh hải cũng không có căn cứ.

    Công hàm Phạm Văn Đồng không đưa ra bất cứ quan điểm bất đồng hay ý kiến bảo lưu nào về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì theo lô-gich, là cho thấy chính phủ Việt nam tán thành với toàn bộ nội dung của Tuyên bố Lãnh hải do chính phủ Trung Quốc đưa ra, trong đó, có bao gồm cả chủ trương “quần đảo Tây Sa, quần đảo Nam Sa thuộc vào lãnh thổ Trung Quốc”

    2. Luận điểm 2 của phía Việt Nam: Vào thập niên 1950, quan hệ giữa Trung Quốc và nước Mĩ là xấu, hạm đội 7 của hải quân Mĩ đóng giữ tại eo biển Đài Loan, uy hiếp sự an toàn của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố lãnh hải là để cảnh cáo nước Mĩ không được xâm phạm đến lãnh hải Trung Quốc. Công hàm Phạm Văn Đồng là nghĩa cử của chính phủ Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc dựa trên tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp, ý nguyện đó không có liên quan đến lãnh thổ.

    Phản luận của Ngô: Vào thời gian này, tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp là sự thực, nước Mĩ lại là kẻ thù chung của hai nước Việt – Trung, Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc trên trường quốc tế chính là lí do tình cảm đó. Thế nhưng, trong vấn đề không thể hàm hồ là giao thiệp về chủ quyền lãnh thế như thế, cứ tự nói “ý nguyện” là thế này thế kia, để mà lật lại câu “ghi nhận và tán thành” rành rành trên giấy trắng mực đen, thì trong quan hệ quốc tế vốn trọng chứng cớ văn bản, sẽ không được người ta tin tưởng và công nhận đâu !

    3. Luận điểm 3 của phía Việt Nam: Lúc đó, Việt Nam đang ở vào giai đoạn chiến tranh, Trung Quốc là nước viện trợ chính cho Việt Nam, để có được chiến thắng, Việt Nam không thể không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc.

    Phản luận của Ngô: Cách biện luận này có ngầm ý sau: nếu không ở vào hoàn cảnh chiến tranh, nếu không cần sự viện trợ của Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc, không phát sinh (sự kiện) công hàm Phạm Văn Đồng. Thế nhưng, loại biện luận như thế này chỉ là miêu tả lại một sự thực đã xảy ra, không thể, dù một chút xíu, phủ định được hiệu lực của công hàm Phạm Văn Đồng.

    Thêm nữa, không có bất cứ chứng cớ nào chứng minh việc Trung Quốc đã lợi dụng Việt Nam ở vào hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của Trung Quốc để dồn ép chính quyền Việt Nam phải nuốt bồ hòn làm ngọt mà thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Bản thân công hàm đã gửi cho chính phủ Trung Quốc và nội dung của nó cho thấy: tất cả đều là quyết định tự chủ tự nguyện của chính phủ Việt Nam.

    Nói ngược lại, giả như ở vào thời điểm đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, thì từ lập trường dân tộc chủ nghĩa vững chắc và nhất quán của người Việt Nam, chính phủ Phạm Văn Đồng sẽ không gửi công hàm đó cho Trung Quốc, hoặc chí ít thì trong công hàm sẽ bỏ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa ra bên ngoài.

    Lại thêm nữa, cộng với chứng cớ là việc trước năm 1975, trong nhiều trường hợp (nói chuyện giữa nhân viên ngoại giao với nhau, bản đồ, sách giáo khoa), Việt Nam đều chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc, thì có thể chứng minh rằng, việc thừa nhận trong công hàm Phạm Văn Đồng rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ vốn có của Trung Quốc chính là cách suy nghĩ thực sự của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    4. Luận điểm 4 của phía Việt Nam: Ở thời điểm đó (1954-1958), căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ thì, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đều thuộc phạm vi quản lí của nước Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam), tranh chấp lãnh thổ là giữa Trung Quốc và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chính quyền miền Bắc là bên thứ ba ở ngoài không liên quan đến tranh chấp, chính quyền miền Bắc không có quyền xử lí đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, vì vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

    Phản luận của Ngô: Trước năm 1975, tức là trước khi chính quyền miền Bắc giành chiến thắng để thống nhất hai miền Nam Bắc, miền Bắc một mực tuyên bố mình là chính thống, là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt nam, và gọi chính quyền miền Nam là “bù nhìn”, là “chính quyền ngụy” phi pháp, cần phải tiêu diệt. Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh). Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ những sự thực lịch sử không thể chối cãi đó, chính phủ Việt Nam hiện nay chính là nhà nước kế tục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, sau khi chiến thắng và thống nhất hai miền Nam Bắc, lẽ ra phải giữ vững chuẩn tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, cũng tức là tín nghĩa cho nền chính trị của quốc gia, giữ vững lập trường quốc gia trước sau như một, đằng này, tại sao lại vì lợi ích vốn không nên có, mà “qua cầu rút ván”, bội tín phản nghĩa ? !

    Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay “chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

    5. Luận điểm 5 của phía Việt Nam: Căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều là chính quyền lâm thời, cần phải có cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc mới có thể đưa đến một chính quyền hợp pháp. Trong tình trạng chưa có được chính phủ hợp pháp thông qua tổng tuyển cử trên toàn quốc, chính quyền lâm thời không có quyền quyết định vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bởi vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

    Phản luận của Ngô: Tháng 7 năm 1954, các nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ đã kí Hiệp định đình chiến cho Việt Nam, trong Hiệp định có qui định rằng “thông qua bầu cử phổ thông tự do, thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc”. Thế nhưng, chính quyền miền Bắc lấy lí do rằng hiệp định này được kí kết dưới sự dàn xếp của chính phủ Trung Quốc, đã làm tổn hại đến lợi ích của Việt Nam, không đại diện cho lập trường của miền Bắc, cho nên ngay từ đầu đã không muốn tuân thủ hiệp định. Tiến triển lịch sử về sau này cũng cho thấy cả chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều không hề có ý tiến hành cuộc tổng tuyển cứ phổ thông tự do trên toàn quốc thông qua các cuộc tiếp xúc, cũng không đạt được bến bất cứ thỏa thuận làm việc nào, mà cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là “chính thống”, qua đó cho mình trở thành chính quyền “mang tính vĩnh cửu” mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ.

    Luận điểm số 5 ở trên đã bị sự thực lịch sử phủ định, không còn sức thuyết phục nữa.

    6. Luận điểm 6 của phía Việt Nam: Theo nguyên tắc của hiến pháp, tất cả tuyên bố về với chủ quyền lãnh thổ mà chính phủ đưa ra đều phải có được phê chuẩn của quốc hội thì mới có hiệu lực. Công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội để được phê chuẩn, cho nên không có hiệu lực về pháp luật.

    Phản luận của Ngô: Có học giả Việt Nam cho rằng đây là chỗ quan yếu nhất để chứng minh công hàm Phạm Văn Đồng vô hiệu, do đó, đây cũng là lí do không thể bác bỏ. Thế nhưng, ở bài này, tôi cho rằng, sự việc thảy đều không chắc như đinh đóng cột như họ nói đâu, có thể phản luận từ hai phương diện: lô-gich pháp luật, sự thực lịch sử.

    Thứ nhất, công hàm Phạm Văn Đồng không phải là điều ước ngoại giao, cũng không phải là tuyên bố đơn phương từ bỏ chủ quyền lãnh thổ, nên không cần sự phê chuẩn của quốc hội. Năm 1958, chính phủ Trung Quốc công bố Tuyên bố Lãnh hải, mục đích của nó không phải là tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc chỉ riêng cho một mình Việt Nam. Chính phủ Việt Nam và ông Phạm Văn Đồng đã giao công hàm này cho phía Trung Quốc, cũng không phải là từ bỏ chủ quyền lãnh thổ của nước mình, mà là, từ xác tín trong nội tâm, đã “ghi nhận và tán thành” chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc. Bởi vì nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ đầu đã thừa nhận “quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc”, về cơ bản, không có vấn đề Việt Nam từ bỏ chủ quyền lãnh thổ của mình.

    Vào thời điểm đó, giữa Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có tranh chấp lãnh thổ, công hàm Phạm Văn Đồng là xác nhận sự thực của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là xác nhận ngoại giao về văn bản mà Trung Quốc đã đưa ra, là thuộc phạm vi quyền hạn ngoại giao của chính phủ Việt Nam, không cần có sự phê chuẩn của quốc hội.

    Thứ hai, Việt Nam lúc đó không có quốc hội chính thức, cũng không có hiến pháp chính thức. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành bầu cử toàn dân tại vùng mà mình quản lí được, đưa tới sự ra đời của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” mang tính lâm thời, soạn ra hiến pháp. Thế nhưng, do quân xâm lược Pháp đang từ Hải Phòng tiến về uy hiếp Hà Nội, thời gian ngắn của hòa bình tạm thời đã bị phá bỏ, lại bắt đầu chiến tranh kháng Pháp, dự thảo hiến pháp tuy đã được thông qua nhưng chưa được đem ra công bố. Sau khi sứ mệnh soạn hiến pháp của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” đã hoàn thành, nếu quốc hội chính thức được sinh ra một cách trái luật, thì hoạt động bình thường của quốc hội ấy sẽ càng không có gì để nói đến nữa. Do đó mới có “Quốc hội giao quyền cho chính phủ căn cứ theo nguyên tắc đã xác định của hiến pháp mà thực thi quyền lập pháp”. Tình trạng này kéo dài đến năm 1960. Sau này, phía Việt Nam xác định nhiệm kì của Quốc hội khóa I là từ năm 1946 đến năm 1960, với độ dài nhất là 14 năm, đủ để chứng minh là thời kì bất thường: (quốc hội) tồn tại tương đối khó khăn, chính quyền chưa thể thực hiện được các hoạt động một cách bình thường. Hiến pháp chính thức đầu tiên của Việt Nam là Hiếp pháp năm 1959.

    Thông qua khảo sát về lịch sử hiến pháp và quốc hội của Việt Nam, có thể nghiêm túc nói rằng, trước và sau năm 1958, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa có hiến pháp, cũng chưa có quốc hội. Chính phủ căn cứ vào qui định của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” mang tính lâm thời mà có được quyền lập pháp, điều đó có nghĩa, trên thực tế, chính phủ có cả quyền lực của quốc hội. Việc chính phủ của ông Phạm Văn Đồng gửi công hàm đó cho chính phủ Trung Quốc là hoàn toàn nằm trong phạm vi quyền hạn hợp pháp của chính phủ.

    Ngô Viễn Phú

    Bài này Dân News tổng hợp trên các trang mạng. Được biết ông Ngô Viễn Phú hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam (Đại học Dân tộc Quảng Tây), từng là du học sinh của Đại học Quốc gia Việt Nam. Ngô Viễn Phú cho biết ông từng theo học chương trình tiến sĩ luật học tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam, từ năm 2001 đến năm 2006.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    98 phản hồi

    Phản hồi: 

    [quote=Dương Danh Huy]

    Tôi cũng cho là chỉ có một đất nước Việt Nam, nhưng từ 54 đến 76 có 2 quốc gia.

    Tất cả những điểm bác đưa ra dưới đây, không có điểm nào có nghĩa từ 54 đến 76 chỉ có một quốc gia.[/quote]

    Đất nước là quốc gia đó bác à! Không ai lại nói một đất nước (= quốc gia) có hai quốc gia cả! Một đất nước 3 chính quyền thì có; mà cũng có một đất nước 4 chính quyền nữa :-). Một China, ba chính quyền ở Bắc Kinh, Hồng Kông và Ma Cao (chính thức). Và theo China (không chính thức), một China, bốn chính quyền ở Bắc Kinh, Hồng Kông, Ma Cao và Đài Bắc! (Và chừng nào có 5 chính quyền đây?!) - Phần sau là đùa tí thôi nhe bác Huy!

    Bác cứ tự nhiên thoải mái cho rằng "Tất cả những điểm bác đưa ra dưới đây, không có điểm nào có nghĩa từ 54 đến 76 chỉ có một quốc gia", chờ ra toà án quốc tế xem Trung Quốc và toà án sẽ nói gì!

    Phản hồi: 

    [quote=visitor]Bác ui, mấy người này mỗi khi thấy có người chứng minh 'CH PVĐ công nhận HS và TS là của TQ' là họ nhảy vào tung hô kiểu 'Đấy nhá tôi đã bảo mà, CH PVĐ rõ ràng là bán nước mà, CS thì chỉ xấu xa như vậy thôi'. Họ không bao giờ có mong muốn tìm lí luận để có thể vô hiệu hóa hay ít nhất cũng là giảm thiểu tác hại của CH này đâu. Thật buồn. Chỉ vì muốn chống cộng họ sẵn sàng vui mừng chấp nhận mất HS-TS nếu có thể lật đổ được CQ VN hiện nay.[/quote]

    Thế tác hại của CH này là gì? Ai là tác giả của cái công hàm có tai hại này? Có phải bác, đảng và nhà nước CSVN buộc Phạm Văn Đồng ký và gởi (sao ngu thế nhỉ) cho Tàu không? Vậy thì nên thẳng thắn, công bình và tự trọng viết lên điều này trước khi đặt bút phê phán bất kỳ ai bất bình với cái công hàm tai hại này nhé!

    Phản hồi: 

    Tôi nghĩ về mặt luật pháp thì chứng cớ phải là giấy trắng mực đen rõ ràng chứ những 'chứng cớ' suy diễn dù rất có lí đi chăng nữa cũng không thể làm bằng chứng cho một vụ án được.

    Phản hồi: 

    [quote=Hà Hiển][quote=Khách68]Bài này trừ điểm số 5 có vẻ hơi yếu ra, đã nói được toàn bộ cách nhìn của tôi về công hàm PVĐ. Ý tôi là, nếu có người thứ ba đứng nghe thì nhiều khả năng họ sẽ nghiêng về phía TQ, vì những lập luận của TQ dễ hiểu và hợp logic hơn nhiều so với kiểu lập luận lắt léo và có vẻ nguỵ biện từ phía VN. Chỉ có điều tôi không muốn nói, vì nói thì thể nào những cái đầu nóng trên này cũng nhảy vào xỉa xói rằng sao lại đi "vạch áo cho người xem lưng". Nhưng không biết lý lẽ của kẻ thù thì làm sao đấu lại họ trước toà. Đây là thời đại nào rồi mà còn đóng cửa tự khen nhau thế.

    Như vụ hòn đảo giữa Sing và Malay, cuối cùng Malay phải thua dù đã có chứng cứ hàng trăm năm lịch sử chỉ vì một câu nói của Bộ trưởng Ngoại giao.[/quote]

    Trước hết, tôi rất hoan nghênh Dân Luận đã cho đăng lại những ý kiến như thế này của người Trung Quốc vì nó cần thiết cho mọi người Việt Nam, nhất là Nhà nước, biết lý lẽ của kẻ thù để tìm giải pháp đấu tranh lại sao cho hiệu quả.

    Vấn đề khiến tôi ngạc nhiên là ở chỗ nhiều người Việt Nam lại nêu ra đúng những lý lẽ ấy của các học giả TQ chỉ để lên án ông PVĐ và nhà nước VNDCCH là chính mà không nêu ra ý kiến - mà đây lẽ ra mới là quan trọng nhất - rằng với lý lẽ của TQ như thế thì làm thế nào để "đấu lại họ trước toà" như bác đề cập.

    Còn việc lên án ông PVĐ và nhà nước VNDCCH, nếu các bác thấy cần thiết, thì cũng chưa cần thiết vào lúc này. Việc cần thiết vào lúc này lại càng không phải khen quan điểm của TQ là đúng và có lý mà là đưa ra các giải pháp, nghĩ ra cách nào đúng và có lý để đấu tranh với họ.

    Còn nếu chỉ nêu lại ý kiến của TQ rồi khen họ nói đúng thì cần gì các bác phải nói phụ họa thêm vào khi các học giả TQ đã nói đầy ra rồi.

    Tong chuyện này, "vạch áo cho người xem lưng" theo ý tôi là ở khía cạnh ấy, là những người như bác đã cho TQ thấy một tinh thần bạc nhược như thế nào ở các học giả VN, cho TQ thấy bản thân người VN cũng thấy vô vọng rồi. "Bí mật quốc gia" mà có bác mỉa mai không phải là bản thân các lý lẽ ấy được chính các bác nói ra - vì không cần các bác "tiết lộ" thì các học giả TQ cũng nói ra nhiều rồi, họ còn nói giỏi hơn các bác - cái "bí mật quốc gia" mà các bác tiết lộ là người Việt Nam cũng đã có sẵn tâm lý đầu hàng rồi, công nhận chúng mày (TQ) đúng rồi, chúng tao thua rồi. Chứng minh sự cao thấp về lý lẽ, trình độ mà chỉ dẫn đến một kết luận như thế thì chúng tôi thà nghe các học giả TQ nói chứ không cần đến kiến thức của các bác. Thắng thua trong một vụ kiện là điều có thể xảy ra. Nhưng khả năng thua sẽ càng cao hơn nếu ngay từ đầu đã có cái tâm lý như thế. Nếu bác bảo không phải thế thì nào, xin mời bác - bác đã biết rõ "lý lẽ của kẻ thù" như vậy rồi thì bây giờ bác hãy cho ý kiến vàng ngọc của bác là làm sao để "đấu lại họ trước toà" đi.

    Xin nói lại, điều cần ở bác hơn là đối với những quan điểm ấy của người TQ thì giải pháp của bác là thế nào. Còn nếu chỉ nhắc lại những ý kiến của họ rồi khen họ có lý lắm, đúng lắm thì không cần đến bác mà rất nhiều người TQ đã nói rồi.Điều ấy sẽ phân biệt bác khác với người TQ.

    Còn nếu bác đúng là người TQ thật thì xin rút lại ý kiến trên và xin thành thực cám ơn bác đã cho chúng tôi thấy "lý lẽ của kẻ thù" như thế nào để người Việt Nam chúng tôi đừng "tự khen nhau" mà phải lo mà chuẩn bị trước.

    Xin góp ý thêm với bác về văn hóa tranh luận - Dù quan điểm có khác nhau như nước với lửa thì chúng ta cũng không nên dùng các từ ngữ ngoa ngoắt dành cho người tranh luận (như "nhảy vào xỉa xói") vì nó có tính chất công kích cá nhân, không làm cho những ý kiến của mình thuyết phục hơn. Ở khía cạnh này thì tôi thấy đầu bác hơi "nóng" (chữ dùng của bác) một cách không cần thiết.[/quote]

    Bác ui, mấy người này mỗi khi thấy có người chứng minh 'CH PVĐ công nhận HS và TS là của TQ' là họ nhảy vào tung hô kiểu 'Đấy nhá tôi đã bảo mà, CH PVĐ rõ ràng là bán nước mà, CS thì chỉ xấu xa như vậy thôi'. Họ không bao giờ có mong muốn tìm lí luận để có thể vô hiệu hóa hay ít nhất cũng là giảm thiểu tác hại của CH này đâu. Thật buồn. Chỉ vì muốn chống cộng họ sẵn sàng vui mừng chấp nhận mất HS-TS nếu có thể lật đổ được CQ VN hiện nay.

    Phản hồi: 

    Bài phản biện này của một du sinh Trung Quốc thật đáng khen vì đã dẫn rõ những lập luận yếu kém của phía VN…
    ĐCSVN đang loay hoay tìm lối thoát mà du sinh họ Ngô lại đâm một nhát vào tim như thế này thì….
    Thay vì chỉ trích nhau, tại sao quý vị không phản biện lại những điếu mà Ngô Viễn Phú đã nêu ?
    CH PVĐ có ghi câu nào VN bất đồng về lãnh hải của TQ? có đúng là giấy trắng mực đen “ghi nhận và tán thành” ? vào thời điểm đó (1958), North VN (NVN) có chứng cớ nào chứng minh việc TQ đã lợi dụng NVN ở vào hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của TQ nên đã bị giăng bẫy chủ quyền lãnh thổ ?
    v.v….
    Dẫn chứng CHXHCNVN là thừa kế của VNDCCH và VNCH chưa xong, nào là CHXHCNVN không bị ràng buột bởi tuyên bố của VNDCCH..bla bla…bây giờ phải lôi ra thêm CHMNVN, họ Ngô thừa biết CHMNVN chỉ là bù nhìn (quý vị cũng biết thế mà, phải không?).
    Thật ra, xét tại thời điểm 7.9.1951, tại hội nghị San Francisco (Mỹ), tuyên bố của Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên 02 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” là đại diện cho Quốc Gia Việt Nam, một thực thể chính trị tồn tại trong giai đoạn 1949-1956, xin hỏi CHNDTH và VNDCCH làm sao mà không biết ông Hữu đã tuyên bố như vậy?
    (có vị lại nêu ý kiến là thời điểm đó, CP VNDCCH không biết 02 quần đảo này ở đâu, của ai v.v... thì hết thuốc chữa ! TQ có đính kèm theo bản đồ mà, khi dễ không một ai trong “bộ sậu” biết xem bản đồ ư?)
    Năm 1958 CHPVD ra đời oái ăm ở chỗ đó, do sự thỏa thuận giữa 02 CP TQ và NVN….CP North VN từng căm ghét CP South VN ra sao chắc cũng dễ đoán…!
    Giải pháp hôm nay ?
    Tôi và toàn thể quý vị đều nhất trí 100% KIỆN TQ ra Tòa, tuy nhiên thái độ của CP CHXHCNVN ra sao quý vị cũng đoán được, phải không ?
    (Cá nhân tôi chỉ tiếc 01 điều duy nhất, 01 điều thôi : giá như thời đó CP VNCH và toàn dân VN biết được PVD đã đặt bút kí một bản CH như thế…)
    Phủ nhận cũng không được, công nhận cũng không xong, quý vị chắc cũng không hình ra được rằng tất cả luận cương, sách lược của Đảng, và Lịch Sử VN hôm nay phải viết lại như thế nào đâu...

    Phản hồi: 

    [quote=FNguyen]Có một điều tôi thấy chưa ai nêu ra, tôi sẽ nêu ra đây nếu có bị ném đá thì cũng xin chịu.

    Đó là: có thể ông Phạm văn Đồng (và có thể cả bộ sậu ông Hồ Chí Minh) vào lúc đó không biết Nam Sa và Tây Sa là gì, ở đâu; hoặc biết mà cứ nghĩ đó là của TQ, nên mới cho ra cái công hàm như vậy. Chứ nếu biết Nam Sa và Tây Sa là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thì lời lẽ của bức công hàm có thể khác đi rất nhiều.

    Tôi nêu lên điều nghi ngờ trên là có dẫn chứng hẳn hoi chứ không nói vô cớ. Bởi vì sau cái công hàm này VN còn lập lại sai lầm HS-TS là Nam Sa và Tây Sa trên sách giáo khoa dạy học trò của miền Bắc. Muốn kiểm chứng chuyện sách giáo khoa này thì xin vào facebook của ông Hoàng Ngọc Diêu.

    Chuyện lãnh đạo các nước không biết hoặc mù mờ về lịch sử, địa lý của nước mình thì không có gì ngạc nhiện, trên thế giới chuyện này xảy ra thường. Nhưng các nước khác họ còn có ban cố vấn, có quốc hội, có báo chí, có bao nhiêu con mắt trông vào để tìm ra những sai lầm trước khi đưa ra những quyết định hệ trọng. Còn chuyện công hàm của ông Phạm văn đồng dường như chỉ có một vài người cấp cao nhất lúc đó biết chuyện.

    Nhân chuyện này tôi cũng nhắc lại một nghi ngờ của riêng tôi về việc ông Hồ ký Hiệp Định Sơ Bộ. Tôi cho rằng ông Hồ cũng mù mờ về địa lý chính trị của nước VN vào thời ấy mà ký hiệp ước này với Pháp, đồng ý "nước VNDCCH" nằm trong "Liên Bang Đông Dương". Kết cục là sau trận chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Hồ đã phải cay đắng chấp nhận nước VNDCCH của ông ta cũng chỉ từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc, y như những gì đã ký trong HĐSB.

    Tôi đoán rằng ông Ngô cũng có thể vào trong DL mà đọc bài. Tôi xin đưa ra một giải pháp để ông đem về mà nghiên cứu, bàn bạc với nhóm của ông. Đó là, khi người dân VN nổi dậy, lật đổ chế đổ CS hiện tại, xoá bỏ toàn bộ các hiệp ước bất lợi cho VN do chính quyền CS tạo ra, thì lúc đó nước VN tự do sẽ đàng hoàng đòi lại TS và HS từ TQ, đòi lại bằng pháp lý, ôn hoà, nhưng nếu cần thì vũ lực cũng phải dùng.

    Đối với riêng tôi, tôi không mong mỏi NN VN hiện tại đưa TQ ra toà án quốc tế, bởi vì cái thua là cầm chắc 80 - 90% trong tay. Mà thua thì mất hết đời sau chẳng thể đòi được, thắng thì không có lực để thi hành án lệnh. Và cái NN này tôi cũng đoán là sẽ không kiện bởi vì TQ đang nắm thóp của họ.[/quote]

    Ý kiến của bạn FNguyen cũng không phải hoàn toàn vô lý. Tôi không tin là người khác sẽ ném đá bạn bởi vì bạn nói ra với tất cả THIỆN CHÍ và lòng ĐAU XÓT, THƯƠNG YÊU Tổ quốc CHUNG của chúng ta. Điều đáng buồn là nếu nước CHXHCNVN hiện nay còn tồn tại, thì dù có đưa hay không đưa (khả năng không đưa, theo tôi, là RẤT CAO) vụ Hoàng Sa ra trước một tòa án quốc tế, nước VN ta cũng chỉ bị THUA THIỆT mà thôi, vì khả năng thắng rõ ràng là quá THẤP. Tôi cũng đoán như bạn là CHXHCNVN sẽ không đưa vụ HS ra tòa án quốc tế.

    Phản hồi: 

    Tôi cũng cho là chỉ có một đất nước Việt Nam, nhưng từ 54 đến 76 có 2 quốc gia.

    Tất cả những điểm bác đưa ra dưới đây, không có điểm nào có nghĩa từ 54 đến 76 chỉ có một quốc gia.

    "Quốc gia" ở đây là theo định nghĩa của Công ước Montevideo.

    Lập luận bác nói tới dưới đây, tôi đã liệt kê trong bài này từ năm 2011

    http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/vietnam-54-75-ddh-p1-09132...
    http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/vietnam-54-75-ddh-p2-09132...

    Nó là một trong 3 trường hợp có lợi cho VN:

    [quote=Bài trên RFA]
    Các trường hợp có lợi: 2-N-K, 1-N, 1-X

    Các trường hợp có lợi cho Việt Nam là 2-N-K, 1-N và 1-X. Nếu Việt Nam khẳng định được một trong ba trường hợp này trước toà, khả năng là Việt Nam sẽ thắng Trung Quốc trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.

    Xác suất trường hợp 1-N được chính phủ Việt Nam ngày nay chọn là thấp. Như vậy, trong 6 trường hợp đã nêu ra, 2-N-K và 1-X là vừa có lợi cho Việt Nam, vừa khả thi trên diện chính trị. Lựa chọn cho Việt Nam là giữa hai trường hợp này.

    Nếu Việt Nam cho rằng VNDCCH và VNCH không phải là hai Quốc gia, thì Việt Nam phải khẳng định trường hợp 1-X. Để khẳng định 1-X, Việt Nam có thể lập luận rằng trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, quốc hội VNDCCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Nam, và nghị viện VNCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Bắc, cho nên mỗi chính phủ VNCH hay VNDCCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để làm thay đổi danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Nếu lập luận đó được chấp nhận thì Việt Nam sẽ thắng. Trước khi có thể chọn 1-X, chúng ta phải xác định khả năng tòa sẽ chấp nhận quan điểm “mỗi chính phủ VNDCCH và VNCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để thay đổi về danh nghã chủ quyền đối với Hoàng Sa, trường Sa” hay không.

    Sách trắng của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa lập luận rằng trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, VNCH luôn khẳng định chủ quyền Việt Nam. Như vậy có thể hiểu được là thừa nhận rằng VNCH là một Quốc gia, vì trong luật quốc tế sự khẳng định chủ quyền phải là của Quốc gia mới có giá trị. Ngoài ra, có thể cho rằng quan điểm trên hình thức của VNDCCH về Cộng Hoà Miền Nam và Chính phủ Lâm thời Mặt trận Giải phóng Miền Nam là hình thức công nhận miền Nam là một Quốc gia khác biệt.

    Phần lớn các luật gia quốc tế nổi tiếng nhất cho rằng VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia. Trong quyển “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”, giáo sư luật quốc tế Monique Chemillier-Gendreau cũng dùng quan điểm đó. Trong sách dựa trên luận văn tiến sĩ của mình, giáo sư Nguyễn Hồng Thao cũng dùng quan điểm đó. Lập luận trong sách trắng của Việt Nam cũng dựa trên quan điểm đó.
    [/quote]

    Nhưng tôi thấy trong 3 trường hợp đó, trường hợp "2 quốc gia" là phù hợp nhất với luật quốc tế.

    [quote=TQVN]Theo tôi, lập luận rằng trước 1975 Việt Nam chỉ có một nước, VNDCCH và VNCH là hai chính phủ "de facto" tạm quản lý hai vùng của nước Việt Nam là có thể đúng nhất, vì:

    1. VNDCCH và VNCH đều không được nhận là thành viên của Liên Hợp Quốc.

    2. Quốc Gia Việt Nam với Hoàng đế Bảo Đại chống lại và không ký vào Hiệp Định Genève 1954.

    3. Phe các nước cộng sản thì công nhận VNDCCH là đại diện duy nhất của Việt Nam; phe các nước tự do thì công nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất.

    4. Cả hai chính phủ VNDCCH và VNCH đều "tuyên bố" mình là đại diện duy nhất của nước Việt Nam.[/quote]

    Phản hồi: 

    Có một điều tôi thấy chưa ai nêu ra, tôi sẽ nêu ra đây nếu có bị ném đá thì cũng xin chịu.

    Đó là: có thể ông Phạm văn Đồng (và có thể cả bộ sậu ông Hồ Chí Minh) vào lúc đó không biết Nam Sa và Tây Sa là gì, ở đâu; hoặc biết mà cứ nghĩ đó là của TQ, nên mới cho ra cái công hàm như vậy. Chứ nếu biết Nam Sa và Tây Sa là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thì lời lẽ của bức công hàm có thể khác đi rất nhiều.

    Tôi nêu lên điều nghi ngờ trên là có dẫn chứng hẳn hoi chứ không nói vô cớ. Bởi vì sau cái công hàm này VN còn lập lại sai lầm HS-TS là Nam Sa và Tây Sa trên sách giáo khoa dạy học trò của miền Bắc. Muốn kiểm chứng chuyện sách giáo khoa này thì xin vào facebook của ông Hoàng Ngọc Diêu.

    Chuyện lãnh đạo các nước không biết hoặc mù mờ về lịch sử, địa lý của nước mình thì không có gì ngạc nhiện, trên thế giới chuyện này xảy ra thường. Nhưng các nước khác họ còn có ban cố vấn, có quốc hội, có báo chí, có bao nhiêu con mắt trông vào để tìm ra những sai lầm trước khi đưa ra những quyết định hệ trọng. Còn chuyện công hàm của ông Phạm văn đồng dường như chỉ có một vài người cấp cao nhất lúc đó biết chuyện.

    Nhân chuyện này tôi cũng nhắc lại một nghi ngờ của riêng tôi về việc ông Hồ ký Hiệp Định Sơ Bộ. Tôi cho rằng ông Hồ cũng mù mờ về địa lý chính trị của nước VN vào thời ấy mà ký hiệp ước này với Pháp, đồng ý "nước VNDCCH" nằm trong "Liên Bang Đông Dương". Kết cục là sau trận chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Hồ đã phải cay đắng chấp nhận nước VNDCCH của ông ta cũng chỉ từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc, y như những gì đã ký trong HĐSB.

    Tôi đoán rằng ông Ngô cũng có thể vào trong DL mà đọc bài. Tôi xin đưa ra một giải pháp để ông đem về mà nghiên cứu, bàn bạc với nhóm của ông. Đó là, khi người dân VN nổi dậy, lật đổ chế đổ CS hiện tại, xoá bỏ toàn bộ các hiệp ước bất lợi cho VN do chính quyền CS tạo ra, thì lúc đó nước VN tự do sẽ đàng hoàng đòi lại TS và HS từ TQ, đòi lại bằng pháp lý, ôn hoà, nhưng nếu cần thì vũ lực cũng phải dùng.

    Đối với riêng tôi, tôi không mong mỏi NN VN hiện tại đưa TQ ra toà án quốc tế, bởi vì cái thua là cầm chắc 80 - 90% trong tay. Mà thua thì mất hết đời sau chẳng thể đòi được, thắng thì không có lực để thi hành án lệnh. Và cái NN này tôi cũng đoán là sẽ không kiện bởi vì TQ đang nắm thóp của họ.

    Phản hồi: 

    Chỉ có luận điểm Việt Nam vẫn liên tục thi hành chủ quyền (thông qua chế độ VNCH và CHMNVN) là có giá trị pháp lý, còn những luận điểm khác như "Quốc hội chưa phê chuẩn" hay "Do thời kỳ chiến tranh" chỉ để hiểu thêm thôi. VNDCCH không công nhận VNCH nhưng CHXHCNVN vẫn kế thừa cả 2 nhà nước. Sau này khi một nhà nước khác thay CHXHCNVN và không công nhận DCSVN cũng không thay đổi ý nghĩa đó (Google thêm về quyền kế thừa nhà nước). Cũng giống như Bắc Kinh không công nhận nhưng vẫn kế thừa các tuyên bố chủ quyền của Quốc Dân Đảng, và sau này nếu họ xâm lược thì phải kế thừa nhà nước Đài Loan (ví dụ, nợ nước ngoài, hay các hiệp định chủ quyền của Đài Loan với Nhật, vv). Quan điểm chính thức của VN trong họp báo ngày 23/5/2014 cũng chỉ nhắc duy nhất 1 luận điểm này.

    Nhưng nếu Trung Quốc muốn dùng công hàm PVD thì phải đồng ý cùng mang ra phân xử. Nhưng rõ ràng TQ không dám làm vậy, nên công hàm PVD cũng chỉ xếp xó, lâu lâu mang chửi cho đã tức thôi. Bây giờ VN chỉ có thể đơn phương kiện TQ về việc dùng vũ lực, hay về việc giải thích quần đảo hoàng sa có đặc quyền kinh tế hay không, chứ toà án sẽ không thụ lý xem xét chủ quyền của anh nào. Vì vậy dù muốn hay không thì công văn PVD không có liên quan trực tiếp đến giải pháp cho vấn đề giàn khoan.

    Phản hồi: 

    Theo tôi, lập luận rằng trước 1975 Việt Nam chỉ có một nước, VNDCCH và VNCH là hai chính phủ "de facto" tạm quản lý hai vùng của nước Việt Nam là có thể đúng nhất, vì:

    1. VNDCCH và VNCH đều không được nhận là thành viên của Liên Hợp Quốc.

    2. Quốc Gia Việt Nam với Hoàng đế Bảo Đại chống lại và không ký vào Hiệp Định Genève 1954.

    3. Phe các nước cộng sản thì công nhận VNDCCH là đại diện duy nhất của Việt Nam; phe các nước tự do thì công nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất.

    4. Cả hai chính phủ VNDCCH và VNCH đều "tuyên bố" mình là đại diện duy nhất của nước Việt Nam.

    Phản hồi: 

    Cảm ơn bác TQVN.

    Ngô Viễn Phú đã phản biện chính xác một số lập luận yếu kém của chúng ta.

    Nhưng theo nhận xét của tôi thì phản biện của NVP vẫn không lập luận pháp lý nào đáng kể để phản biện lập luận "có 2 quốc gia và 2 quốc gia đó thống nhất khi CHMNVN và VNDCCH thống nhất năm 1976".

    [quote=TQVN][quote=Dương Danh Huy]

    Bác Trần Cư chủ quan, khinh địch vừa vừa thôi.

    Trung Hoa thì từ thập niên 30 đã có thẩm phán ở Tòa án Công lý Quốc tế Thường trực, và TQ hiện nay có thẩm phán ở TACLQT, Tòa Trọng tài QT về Luật Biển (ITLOS). Chúng nó có nhiều GS luật quốc tế ở Âu Mỹ, ĐH Hongkong, PhD luật quốc tế từ đại học Âu Mỹ.

    Và "sĩ phu Việt Nam" chứ không phải "sỉ phu Việt nam" ... viết tên nước mình, viết mình là gì (sĩ phu), viết cũng không đúng thì khoan chê địch là một phường bát nháo.[/quote]

    Thấy bác Huy "xuất hiện ở đây" tôi chú ý theo dõi luận điểm của bác về bài nầy của tác giả Ngô Viễn Phú mà không/chưa thấy, trong khi bác chỉ chú tâm đến "sĩ phu" với "sỉ phu" của độc giả tự nhận mình là "sĩ phu" thì đáng tiếc cho cả hai!

    Vậy xin bác hãy viết một bài "phản bác" lại có logic hơn, thuyết phục cộng sản Trung Quốc hơn của tác giả Ngô Viễn Phú. (Hy vọng bác Hà Hiển không cho rằng tôi cùng 'một giuộc với bọn' "vạch áo cho người xem lưng", vì có mặc áo đâu mà vạch!) - Và đặc biệt bác cho ý kiến về "Giải pháp VNCH" của nhóm GSTS Nguyễn Thanh Liêm (http://tiengnoinguoivietquocgia.com/?p=1696).

    Ghi chú: cũng xin bác cho ý kiến xem nếu sau nầy khi người Tây Tạng phục quốc được thì Đạt Lai Lạc Ma hay hậu duệ của ông ấy có quyền đòi lại những thứ bị kẻ cướp (Trung Quốc) đã cướp trước kia không?[/quote]

    Phản hồi: 

    Nhiều chiến sỹ đòi phục hồi lại VNCH để giành lại Hoàng Sa!!!

    1. Liệu thế giới có công nhận 1 VNCH "hồi sinh" không???

    2. Thế giới làm gì với CHXHCN VN??? CHXHCN VN là thành viên Liên Hiệp Quốc, thành viên ASEAN, WTO...!!!

    3. Nếu VN có thể "khôi phục" VNCH để lấy lại Hoàng Sa, liệu Đức có thể "khôi phục" lại Đế Chế thứ 3, lấy ráo lại các lãnh thổ bị mất sau WW2 được không??? (chắc chắn sẽ làm nhiều nước sợ vãi nhái!!!)

    VN "làm được", tại sao Đức lại không được phép làm??? Rồi thì Ba Lan, Ukraine...v...v...!!!???

    PS.:

    Hải chiến HS: http://www.danluan.org/tin-tuc/20130119/le-van-thu-su-that-ve-tran-hai-c...

    Phản hồi: 

    Phản luận của Ngô không đề cập đến MTGPMNVN :

    Ngày 30/4/1975 CPCMLT CHMNVN tuyên bố

    “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt-nam hiện nay thực hiện chủ quyền trên toàn vẹn lãnh thổ của mình trên toàn bộ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt-Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt-nam.”[

    https://www.danluan.org/tin-tuc/20140209/vi-sao-can-ban-ve-tinh-quoc-gia...

    Dương Danh Huy gửi lúc 19:56, 12/02/2014 - mã số 110742

    Vì vậy, ngày 30/4/1975 khi CP VNCH bị lật đổ và CP CMLT lên thay thì CQ lãnh thổ vẫn là của quốc gia phía nam vĩ tuyến 17. CP CMLT có đổi trên QG đó từ VNCH thành CHMNVN thì cũng như Burma đổi tên thành Myanmar, không thay đổi gì về CQ lãnh thổ.

    Vì vậy sau 30/4/1975 quốc gia phía nam vĩ tuyến 17 vẫn có mọi chủ quyền lãnh thổ như trước 30/4/1975, trừ khi CP CMLT tuyên bố từ bỏ CQ của mình, hay tuyên bố công nhận CQ của nước khác. Và CP CMLT đã không hề làm hai điều đó.

    Phản hồi: 

    Trình TQVN còi quá, Đạt lai lạt ma, chứ không phải là Lạc Ma.

    Dân VN trong hay ngoài nước gì trình đều còi như nhau, thế này mà còn lật lọng, đổi trắng thay đen lịch sử, phủ nhận công hàm Phạm Văn Đồng, lại còn đòi đấu với TQ. Đúng là KHÔNG BIẾT XẤU HỔ.

    Phản hồi: 

    Nhất trí với bác TQVN.

    [quote=TQVN][quote=Dương Danh Huy]

    Bác Trần Cư chủ quan, khinh địch vừa vừa thôi.

    Trung Hoa thì từ thập niên 30 đã có thẩm phán ở Tòa án Công lý Quốc tế Thường trực, và TQ hiện nay có thẩm phán ở TACLQT, Tòa Trọng tài QT về Luật Biển (ITLOS). Chúng nó có nhiều GS luật quốc tế ở Âu Mỹ, ĐH Hongkong, PhD luật quốc tế từ đại học Âu Mỹ.

    Và "sĩ phu Việt Nam" chứ không phải "sỉ phu Việt nam" ... viết tên nước mình, viết mình là gì (sĩ phu), viết cũng không đúng thì khoan chê địch là một phường bát nháo.[/quote]

    Thấy bác Huy "xuất hiện ở đây" tôi chú ý theo dõi luận điểm của bác về bài nầy của tác giả Ngô Viễn Phú mà không/chưa thấy, trong khi bác chỉ chú tâm đến "sĩ phu" với "sỉ phu" của độc giả tự nhận mình là "sĩ phu" thì đáng tiếc cho cả hai!

    Vậy xin bác hãy viết một bài "phản bác" lại có logic hơn, thuyết phục cộng sản Trung Quốc hơn của tác giả Ngô Viễn Phú...[/quote]

    Phản hồi: 

    [quote=Dương Danh Huy]

    Bác Trần Cư chủ quan, khinh địch vừa vừa thôi.

    Trung Hoa thì từ thập niên 30 đã có thẩm phán ở Tòa án Công lý Quốc tế Thường trực, và TQ hiện nay có thẩm phán ở TACLQT, Tòa Trọng tài QT về Luật Biển (ITLOS). Chúng nó có nhiều GS luật quốc tế ở Âu Mỹ, ĐH Hongkong, PhD luật quốc tế từ đại học Âu Mỹ.

    Và "sĩ phu Việt Nam" chứ không phải "sỉ phu Việt nam" ... viết tên nước mình, viết mình là gì (sĩ phu), viết cũng không đúng thì khoan chê địch là một phường bát nháo.[/quote]

    Thấy bác Huy "xuất hiện ở đây" tôi chú ý theo dõi luận điểm của bác về bài nầy của tác giả Ngô Viễn Phú mà không/chưa thấy, trong khi bác chỉ chú tâm đến "sĩ phu" với "sỉ phu" của độc giả tự nhận mình là "sĩ phu" thì đáng tiếc cho cả hai!

    Vậy xin bác hãy viết một bài "phản bác" lại có logic hơn, thuyết phục cộng sản Trung Quốc hơn của tác giả Ngô Viễn Phú. (Hy vọng bác Hà Hiển không cho rằng tôi cùng 'một giuộc với bọn' "vạch áo cho người xem lưng", vì có mặc áo đâu mà vạch!) - Và đặc biệt bác cho ý kiến về "Giải pháp VNCH" của nhóm GSTS Nguyễn Thanh Liêm (http://tiengnoinguoivietquocgia.com/?p=1696).

    Ghi chú: cũng xin bác cho ý kiến xem nếu sau nầy khi người Tây Tạng phục quốc được thì Đạt Lai Lạc Ma hay hậu duệ của ông ấy có quyền đòi lại những thứ bị kẻ cướp (Trung Quốc) đã cướp trước kia không?

    Phản hồi: 

    Tôi thấy luận điểm 4 của phía Việt Nam là chí lí nhất : CHVN và VNDCCH là 2 quốc gia riêng biệt theo định nghĩa của quốc tế. Mỗi quốc gia được một số nước công nhận hệt như hệt như Đông Đức Tây Đức ngày trước, Bắc Hàn, Đại Hàn, Trung Quốc Cộng sản và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) bây giờ. Có thể nói, trước khi Nixon công nhận Trung Cộng,so với VNCH,số nước công nhận CHNDTH còn ít hơn VNCH nhiều. Còn giữa 2 nước Việt Nam thù địch nhau, phỉ báng nhau một bên là ngụy, một bên là giặc cộng, thì cũng chả khác gì giữa Bắc Triều Tiên và Đại Hàn bây giờ hay như giữa CHND của Mao và THDQ của Tưởng giới Thạch.

    Phản hồi: 

    Trước 1975 tại miền Nam Việt nam thì Ông Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy nước Việt nam cọng hòa cũng không bao giờ có thể làm công hàm nói rằng tôi trao Vịnh Hạ Long ở Bắc Việt Nam cho Hoa Kỳ được.

    Kể từ năm 1954 Việt nam theo công pháp quốc tế đã ký kết bởi Hiệp định quốc tế Geneve thì Việt nam chia đôi thành hai quốc gia tại hai miền Bắc và Nam riêng biệt. Lấy vĩ tuyến 17 làm biên giới giữa hai miền, giữa hai nước với hai lảnh thổ và hai chủ quyền hoàn toàn khác nhau.

    Do vậy ông Thủ tướng Phạm Van Ðồng không có tư cách gì về đảo Hoàng Sa của Việt nam cọng hòa cũng như các ông Tổng Thống của Việt nam cọng hòa cũng không có chủ quyền gì về lảnh thổ miền Bắc Việt nam.

    Phản hồi: 

    Một cách khách quan mà nói, thì những phản bát của học giả Trung Quốc cũng là những điều có lý dựa trên quan điểm là ông Phạm Văn Đồng, người đại diện chính thức của nước VNDCCH, đã ghi nhận và tán thành tuyên bố lãnh hải của TQ. Cho nên việc thắng kiện về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của VN khi đem ra Liên Hiệp Quốc của nhà nước CHXHCHVN hiện nay không phải là điều dễ dàng.

    Một đề nghị cũng có lý của ông Trần Trung Đạo về việc khôi phục lại chế độ VNCH trên nguyên tắc dân chủ và tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng của nó, để dành lại chủ quyền của HS và TS thì có cơ hội thắng kiện nhiều hơn.

    Một giải pháp khác là nhà cầm quyền VN có thể tuyên bố giải thể và tổ chức một cuộc tổng tuyển cử có quốc tế giám sát để có một chính quyền mới theo đúng nghĩa của Hiệp định Giơ-ne-vơ, "chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều là chính quyền lâm thời, cần phải có cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc mới có thể đưa đến một chính quyền hợp pháp". Cuộc tổng tuyển cử nầy chưa từng xảy ra và nếu làm bây giờ thì nó cũng là điều chính đáng để thể hiện ý chí của toàn dân.
    Một chính quyền mới sẽ vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng và sẽ dễ dàng hơn cho việc thắng kiện của chúng ta.

    Phản hồi: 

    Để phản đối cái công hàm này thì ông Đồng nên "gánh thêm tội", đẳng nào TQ cũng ghi công ông từ lâu rồi.

    ===============
    Tuyên bố công hàm của ông Đồng là vô giá trị vì ông Đồng "lạm quyền". Trên thực tế CH 1958 không được quốc hội thông qua và quyền hạn của TT VNDCCH năm 1958 (kể cả bây giờ) không có quyền thảo luận về lãnh thổ qua mặt quốc hội. Như vậy ông Đồng bị oan vì thực tế công hàm 1958 là được bộ sậu VNDCCH "ngầm công nhận" TUY VẬY không có "giấy trắng mực đen"

    Phản hồi: 

    Nếu nhận đồ viện trợ của nó, rồi chiếm được cái hang B, C thì cái hang A mang cho cũng có vấn đề gì đâu.

    Nó chiếm cái hang A trước chẳng qua là nó muốn có deposit thôi. Mấy cái phản biện kiểu này không có gì là lạ cả, dân VN cũng thừa hiểu.

    Sĩ với chẳng phu, có mà sĩ hão.

    [quote=Khách Trần Cư]VẪN CHUYỆN HỌC GỈA HỌC THIỆT

    Ðừng tung hỏa mù trên diển đàn này. Ðừng làm tay sai cho giặc Tàu đang hung hản.

    Ðừng bắt lổi chính tả chuyện con nít. Người viết đây đang ở ngoài Việt nam ba thập niên.

    Cho dù Thủ tướng của nước Việt nam dân chủ cọng hòa ( tức cọng sản Bắc Việt) có ngu ngốc viết rằng cái món hang A ấy tôi trao cho anh.
    Nhưng thực tế và theo công pháp quốc tế về chủ quyền thì Ông Phạm văn Ðồng không có món hang A ấy thì ông lấy gì mà cho . Chắc ông Phạm văn Ðồng cho Trung quốc không khí chăng.

    Thật buồn cười. Cái loại học giả ngớ ngẩn.

    Vấn đề tiếp theo là Trung quốc có chánh án ở tòa án quốc tế cũng là chuyện ruồi bu vì công lý là công lý và kết qủa phán quyết phải minh bạch căn cứ vào bằng chứng vụ án.

    Sỉ phu Việt nam
    Chuyên gia Trần Cư
    http://siphuvietnam.wordpress.com[/quote]

    Phản hồi: 

    VẪN CHUYỆN HỌC GỈA HỌC THIỆT

    Ðừng tung hỏa mù trên diển đàn này. Ðừng làm tay sai cho giặc Tàu đang hung hản.

    Ðừng bắt lổi chính tả chuyện con nít. Người viết đây đang ở ngoài Việt nam ba thập niên.

    Cho dù Thủ tướng của nước Việt nam dân chủ cọng hòa ( tức cọng sản Bắc Việt) có ngu ngốc viết rằng cái món hang A ấy tôi trao cho anh.
    Nhưng thực tế và theo công pháp quốc tế về chủ quyền thì Ông Phạm văn Ðồng không có món hang A ấy thì ông lấy gì mà cho . Chắc ông Phạm văn Ðồng cho Trung quốc không khí chăng.

    Thật buồn cười. Cái loại học giả ngớ ngẩn.

    Vấn đề tiếp theo là Trung quốc có chánh án ở tòa án quốc tế cũng là chuyện ruồi bu vì công lý là công lý và kết qủa phán quyết phải minh bạch căn cứ vào bằng chứng vụ án.

    Sỉ phu Việt nam
    Chuyên gia Trần Cư
    http://siphuvietnam.wordpress.com

    Phản hồi: 

    Cái ông học giả NGÔ VIỄN PHÚ người TQ ni quá rành tiếng Việt (từng du học ở VN mà) chắc đã thưòng xuyên vào đọc lén trang Web Dân Luận nên đã đọc được ý kiến của nhiều người Việt trong và ngoài nước bàn cãi và phê phán về Công hàm Phạm Văn Đồng. Nay ông ni chỉ việc CÓP PI và nói ra thôi, chứ có khó khăn cái chi mô. Nói chung thì những phản bác của ông cũng đúng Y CHANG như phản bác của nhiều người Việt mình. Rứa là sẽ có người trách người mình NGU, vạch áo cho người xem lưng, v.v… và v.v…

    Nói chơi cho vui thôi, chứ những phản bác của ông NGÔ cũng thường thôi và hiển nhiên (obvious) thôi, vì SỰ THẬT nó phải như rứa thôi. Người TÀU là bậc thầy của thiên hạ về những trò như ri, hơn nữa họ đông như trấu, nếu cha nó lú cũng có chú nó khôn, làm chi mà không thấy những lập luận nêu ra trong bài chủ này. Sự thật, người nước ngoài (không phải TÀU), cũng có người đã nói gần như ông NGÔ từ lâu rồi. Thí dụ như Tiến sĩ người Úc, GREG AUSTIN, tác giả cuốn CHINA’ S OCEAN FRONTIER: International Law, Military Force and National Development, xuất bản năm 1988 tại Úc, nhà xuất bản Allen & Unwin in association with the Department of International Relations and the Northeast Asia Program, Research School of Pacific and Asian Staudies, Australian National University, Canberra, ACT, cũng đã phân tích thiên về phía TQ, và ý kiến của ông AUSTIN nói chung ông NGÔ cũng đã sử dụng lại. Tôi đã từng dịch ra tiếng Việt những đoạn quan trọng của cuốn này liên hệ tới Công hàm PVĐ và đưa lên trang Web talawas nhiều năm trước đây. Về chủ quyền trên HS, kết luận của ông AUSTIN là những lý lẽ về chủ quyền của TQ mạnh hơn lý lẽ của VN vì cái Công hàm PVĐ này đấy.

    Người VN có khả năng nhất để BÁC BỎ những lập luận của ông NGÔ và bênh vực cho lập trường của CHXHCNVN, theo tôi, là không ai khác hơn học giả DƯƠNG DANH HUY. Tôi mong chờ được nghe những lập luận của ông HUY. Nói chung thì ông HUY chủ trương dùng lý lẽ rằng trước 1975 có hai quốc gia VN (trên lãnh thổ VN từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu), mỗi bên quản lý một nửa nước. Hai quốc gia đều độc lập có chủ quyền, được thế giới thừa nhận. Quốc gia VNDCCH quản lý phần phía bắc vĩ tuyến 17, trong khi quốc gia VNCH quản lý phần phía nam, gồm cả hai quần đảo HS và TS. Vì thế, VNDCCH không có thẩm quyền để THỪA NHẬN HS và TS thuộc về TQ (như đã viết trong Công hàm PVĐ). Cho nên Công hàm PVĐ không có giá trị pháp lý. Tiếc thay, lý luận như vậy là không thuyết phục, vì nó TRÁI NGƯỢC hoàn toàn với những sự thật lịch sử mà TQ là nước biết rõ và nắm giữ nhiều tài liệu nhất. SỰ THẬT mà ai đã sống qua thời 1954-1975 dù ở Miền Bắc hay Miền Nam (như tôi chẳng hạn) đều biết, là cả VNDCCH và VNCH đều khẳng định (trong hiến pháp và qua tuyên truyền rộng rãi khắp thế giới) rằng chính quyền của phía mình là đại diện HỢP PHÁP của toàn thể VN (từ Nam ra Bắc) chứ không chỉ trên nửa nước. Ngoài ra còn có vấn đề RẤT KHÓ NUỐT trong lý luận của ông HUY về sự kế thừa hợp pháp VNCH của CHXHCNVN. Nó cũng không được thuyết phục do những sự thật lịch sử khó chối cãi đã chứng minh rõ ràng là VNDCCH đã tấn công xóa bỏ VNCH bằng vũ lực, và đem nhập VNCH (qua cái tên ảo CHMNVN) vào VNDCCH vào năm 1976 một cách vội vả, thiếu suy xét. Ngay ông AUSTIN cũng tuyên bố trong sách ông câu sau đây mà tôi cho là ĐÚNG: Nước CHXHCNVN chỉ là nước VNDCCH đổi tên. Bằng cứ ư? Chỉ nhìn vào danh sách chính phủ của CHXHCNVN vào năm 1976 (sau ngày gọi là thống nhất) thì thấy ngay. Ông Thủ tướng cũng chính là ông PHẠM VĂN ĐỒNG, người đã là Thủ tướng VNDCCH nhiều năm, người ký cái Công hàm oan nghiệt 14/09/1958. Những nhân vật trong Chính phủ Cộng hòa Miền Nam VN, tất cả đều được giữ chức PHÓ, tên thủ đô SÀI GÒN của VNCH bị đổi thành tên của cố chủ tịch nước và chủ tịch ĐCSVN của VNDCCH. Thử hỏi trên thế giới có ai tin rằng hai quốc gia độc lập, bình đẵng, có chủ quyền lại thỏa thuận tự nguyện THỐNG NHẤT mà một bên chịu THUA đủ mọi mặt, bị sỉ vã, tước bỏ mọi điều kể cả quyền hành và danh dự, lòng tự hào, như nước VNCH chịu thống nhất với nước VNDCCH chăng? Nói LÁO cũng phải có giới hạn và chút sự thật, chứ đâu phải muốn nói hưu nói vượn gì cũng được.

    Cá nhân tôi cho rằng cách DUY NHẤT để vượt qua những TAI HẠI của Công hàm PVĐ, để thắng TQ trên mặt trận pháp lý, đòi lại (ít nhất trên công pháp quốc tế) HS và giữ TS, là phải can đảm VẤT BỎ chế độ bất hợp pháp, lạm quyền, phản quốc, bán nước VNDCCH (và CHXHCNVN, là nó đ ã đổi tên), khôi phục lại VNCH, kẻ thừa kế trực hệ và hợp pháp của Quốc gia VN (của vua Bảo Đại), hậu duệ của triều đại nhà Nguyễn, những người đã có công khám phá và thụ đắc HS và TS trong hòa bình từ thời các chúa Nguyễn. Chỉ khi nào toàn dân ta có can đảm và sáng suốt nhìn ra những kẻ BÁN NƯỚC, cương quyết gạt bỏ, không vinh danh thờ phụng những kẻ PHẢN QUỐC, VỌNG NGOẠI, tin tưởng mù quáng vào một chủ thuyết ngoại lai, để trở về với DÂN TỘC, thì may ra nước ta mới giữ được tên trên bản đồ thế giới, bảo toàn được lãnh thổ thiêng liêng do tiền nhân để lại. Bằng không, cứ loay hoay NHẮM MẮT BÓP M ÉO SỰ THẬT để cố cứu vãn cái đảng CSVN và cái nước CHXHCNVN thì dân tộc và tổ quốc sẽ mất toi tất cả vào tay TÀU.

    Phản hồi: 

    Nhiều người vẫn không phân biệt được tuyên truyền và thực tế.

    Bọn Việt cộng gọi VNCH là bù nhìn vì chúng muốn tuyên truyền cho dân chúng thế chứ VNCH mới thực sự đại diện cho Việt nam tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trước 4/75.

    Mình chỉ nên dùng lời lẽ tuyên truyền của bọn Việt cộng để cho thấy hành động bán nước của chúng qua công hàm Hồ Chí Minh và cộng đảng buộc Phạm Văn Đồng ký gởi Tàu cộng Chu Ân Lai chứ thực chất giá trị pháp lý của công hàm này còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố đó là liệu công hàm này và bản công bố của Chu Ân Lai có giá trị pháp lý về lãnh thổ theo công ước quốc tế hay không.

    Dẫu cho công hàm này có hay không có giá trị pháp lý về lãnh thổ, đối với người dân và lịch sử Việt nam, công hàm này là một vết dơ cho thấy bọn Việt cộng sẵn sàng bán nước cho tham vọng làm bề tôi cho quốc tế cộng sản của chúng, như Hồ Chí Minh đến khi sắp chết cũng u sầu vì Nga Tàu không thuận thảo, làm cho giấc mộng thế giới đại đồng của ông ta tan thành mây khói.

    Phản hồi: 

    Bác Trần Cư chủ quan, khinh địch vừa vừa thôi.

    Trung Hoa thì từ thập niên 30 đã có thẩm phán ở Tòa án Công lý Quốc tế Thường trực, và TQ hiện nay có thẩm phán ở TACLQT, Tòa Trọng tài QT về Luật Biển (ITLOS). Chúng nó có nhiều GS luật quốc tế ở Âu Mỹ, ĐH Hongkong, PhD luật quốc tế từ đại học Âu Mỹ.

    Và "sĩ phu Việt Nam" chứ không phải "sỉ phu Việt nam" ... viết tên nước mình, viết mình là gì (sĩ phu), viết cũng không đúng thì khoan chê địch là một phường bát nháo.

    [quote=Khách Trần Cư]HỌC GỈA TRUNG QUỐC MỘT PHƯỜNG BÁT NHÁO
    Trung quốc mà có học gỉa cái nổi gì. Một phường bát nháo tiến sỉ đồ mả biết một mà không biết hai.

    Người đang ngồi viết đây dầu sao cũng là bậc thầy của cái gọi là học gỉa Trung quốc.

    Dưới chế độ cọng sản Trung quốc không có học gỉa mà là có những con vẹt bỉ ổi vô liêm sỉ trân tráo câu cơm mà thôi.
    ...
    Sỉ phu Việt nam
    Chuyên gia Trần Cư
    http://siphuvietnam.wordpress.com[/quote]

    Phản hồi: 

    -Tại sao TQ lại đơn phương chủ động gửi công hàm cho VN đòi công nhận lãnh hải cho họ? Việc này chưa có tiền lệ ở khu vực và thế giới nhất là hai nước CS đang giai đoạn tuần trăng mật hưởng hạnh phúc chủ nghĩa Mác Lê!
    - Nếu là biển đảo lãnh hải chính đáng của TQ thì việc gửi công hàm là thừa và chưa nước nào làm như vậy. Việc này bộc lộ mưu toan tham vọng chiếm trọn biển Đông một cách lộ liễu cho cả TG biết, khác gì "thưa ông tôi ở bụi này".
    - Đây là nhân chứng vật chứng xâm lược nước láng giềng bằng ngoại giao không cần bàn cãi...
    Chỉ tiếc rằng biết tin dữ sớm như thế mà lãnh đạo VN không xoay trục ngay để chống giặc phương Bắc. Thậm chí còn làm nhiều việc giúp họ có cơ hội thực hiện ý đồ thôn tính biển đảo biển Đông!
    Đúng là chỉ có tư duy mới là tồn tại!

    Phản hồi: 

    HỌC GỈA TRUNG QUỐC MỘT PHƯỜNG BÁT NHÁO

    Trung quốc mà có học gỉa cái nổi gì. Một phường bát nháo tiến sỉ đồ mả biết một mà không biết hai.

    Người đang ngồi viết đây dầu sao cũng là bậc thầy của cái gọi là học gỉa Trung quốc.

    Dưới chế độ cọng sản Trung quốc không có học gỉa mà là có những con vẹt bỉ ổi vô liêm sỉ trân tráo câu cơm mà thôi.

    Bọn gỉa bộ học gỉa này dùng công hàm Phạm văn Ðồng thủ tướng miềm bắc Việt nam mà cho rằng Hoàng Sa là của Trung quốc là đều bậy bạ ngu xuẩn.

    Thủ tướng miền bắc Việt nam trong chiến tranh Việt nam thì Phạm văn Ðồng viết bâng quơ tài lanh như vậy chứ thật ra vào năm 1958 thì Việt nam đã chia đôi rối và lằn ranh giữa quốc gia miền Bắc Việt nam và quốc gia miền Nam Việt nam là vĩ tuyến thứ 17.

    Hiệp ước quốc tế Geneve 1954 đã chia Việt nam thành hai quốc gia riêng biệt và mỗi quốc gia có chủ quyền và lảnh thổ riêng trên phương diện công pháp quốc tế.

    Ðảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngải thuộc chủ quyền của quốc gia miền Nam Việt nam tức là của nước Việt nam cọng hòa và bị Trung quốc dùng vỏ lực xâm lăng bất hợp pháp vào năm 1974.

    Cậu nào xưng danh là học gỉa Trung quốc thì nên đọc kỷ những hàng này mà học thêm về lịch sử biển đông cho chính xác.

    Sỉ phu Việt nam
    Chuyên gia Trần Cư
    http://siphuvietnam.wordpress.com

    Phản hồi: 

    [quote=NGT][quote=dan ha]

    ... Tôi đã có đặt câu hỏi là các bác có đọc được tài liệu nào của các tác giả EU, Mỹ, Úc, Canada bàn về công hàm của Phạm Văn Đồng hay chưa ? Nếu có thì đưa lên cho mọi người cùng tham khảo để bác Hà Hiển không phải lo lắng việc vạch áo cho người xem lưng vì có muốn kín tiếng cũng không được

    [/quote][/quote]

    Cám ơn bác. Nhưng tôi dùng cụm từ "vạch áo cho người xem lưng" không phải để ám chỉ việc có nói ra hay không nói ra những lý lẽ ấy (vì đó chính là lý lẽ của các học giả TQ và không còn lạ gì nữa, không cần người Việt phải mách nước cho họ thì họ mới biết)mà là thái độ tiếp cận đối với những lý lẽ ấy như thế nào mà một NGƯỜI VIỆT NAM cần phải có. Điều ấy tôi đã nói rõ trong cái còm ở dưới.

    Phản hồi: 

    Tên Uỷ viên Trung ương này có lẽ là tụi CSTQ.
    Đi lừa đảo, cướp đất nước khác là VNCH mà tụi CSTQ làm dám xài chữ "bảo người bị lừa phải biết xấu hổ" thì phải công nhận tụi CS Tàu này thuộc loại mặt dày

    Cứ ra tòa đi, rồi sẽ biết

    [quote=Hà Hiển][quote=Uỷ viên Trung ương]Bài này quá hay, đập tan những luận điệu nguỵ biện bịp bợm của người Việt trong và ngoài nước để cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá trị.

    Lại càng hay hơn khi bài này được viết bởi một người Trung Quốc từng học tại VN, đã có 5 năm làm luận án tiến sĩ luật học bằng tiếng Việt ngay tại Đại học quốc gia Hà Nội. Sự thật công hàm của chính phủ VN công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo là rõ ràng, không có gì để tranh cãi. Sự thật mãi mãi là sự thật.

    Việc thay đổi quan điểm càng cho thế giới thấy sự tráo trở lật lọng, bỉ ổi vô sỉ của VN. Tấm hình này nói lên rất nhiều điều. Nó đã diễn ra ở Hồng Kong ngày 19/5/2014, khi người Hong Kong lên án VN là "KHÔNG BIẾT XẤU HỔ".

    [/quote]

    Các từ ngữ mà ông "Ủy viên trung ương" này dùng như "đập tan những luận điệu nguỵ biện bịp bợm của người Việt trong và ngoài nước,...sự tráo trở lật lọng, bỉ ổi vô sỉ của VN" đã cho thấy ông này là ai rồi. Người Việt không bao giờ lại chửi người Việt bằng những ngôn ngữ hạ cấp như vậy.[/quote]

    Phản hồi: 

    [quote=Hà Hiển][quote=Khách68]
    Xin nói lại, điều cần ở bác hơn là đối với những quan điểm ấy của người TQ thì giải pháp của bác là thế nào. Còn nếu chỉ nhắc lại những ý kiến của họ rồi khen họ có lý lắm, đúng lắm thì không cần đến bác mà rất nhiều người TQ đã nói rồi.Điều ấy sẽ phân biệt bác khác với người TQ.

    Còn nếu bác đúng là người TQ thật thì xin rút lại ý kiến trên và xin thành thực cám ơn bác đã cho chúng tôi thấy "lý lẽ của kẻ thù" như thế nào để người Việt Nam chúng tôi đừng "tự khen nhau" mà phải lo mà chuẩn bị trước.
    [/quote]

    Tôi chia sẻ suy nghĩ của bác Hà Hiển.

    Pages