Học giả Trung Quốc phản biện những lập luận của Việt Nam về Công hàm Phạm Văn Đồng?

  • Bởi Mắt Bão
    31/05/2014
    98 phản hồi

    1. Luận điểm 1 của phía Việt Nam: Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ thừa nhận chủ quyền 12 hải lí của Trung Quốc, mà không hề thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Bời vậy, về cơ bản, công hàm không đề cập đến vấn đề lãnh thổ, không đề cập đền quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

    Phản luận của Ngô: Đoạn thứ nhất trong “Tuyên bố lãnh hải”, mà chính phủ Trung Quốc đã công bố vào tháng 9 năm 1958, đã nói rất rõ rằng, phạm vi bao quát trong 12 hải lí của lãnh hải Trung Quốc là thích dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

    Công hàm Phạm Văn Đồng đã rất rõ ràng “ghi nhận và tán thành” với tuyên bố về lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì trước hết chính là thừa nhận và tán thành chủ trương về lãnh thổ của Trung Quốc, bởi vì chủ trương về lãnh hải có gốc là chủ quyền lãnh thổ, lãnh thổ không tồn tại thì lãnh hải cũng không có căn cứ.

    Công hàm Phạm Văn Đồng không đưa ra bất cứ quan điểm bất đồng hay ý kiến bảo lưu nào về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì theo lô-gich, là cho thấy chính phủ Việt nam tán thành với toàn bộ nội dung của Tuyên bố Lãnh hải do chính phủ Trung Quốc đưa ra, trong đó, có bao gồm cả chủ trương “quần đảo Tây Sa, quần đảo Nam Sa thuộc vào lãnh thổ Trung Quốc”

    2. Luận điểm 2 của phía Việt Nam: Vào thập niên 1950, quan hệ giữa Trung Quốc và nước Mĩ là xấu, hạm đội 7 của hải quân Mĩ đóng giữ tại eo biển Đài Loan, uy hiếp sự an toàn của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố lãnh hải là để cảnh cáo nước Mĩ không được xâm phạm đến lãnh hải Trung Quốc. Công hàm Phạm Văn Đồng là nghĩa cử của chính phủ Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc dựa trên tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp, ý nguyện đó không có liên quan đến lãnh thổ.

    Phản luận của Ngô: Vào thời gian này, tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp là sự thực, nước Mĩ lại là kẻ thù chung của hai nước Việt – Trung, Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc trên trường quốc tế chính là lí do tình cảm đó. Thế nhưng, trong vấn đề không thể hàm hồ là giao thiệp về chủ quyền lãnh thế như thế, cứ tự nói “ý nguyện” là thế này thế kia, để mà lật lại câu “ghi nhận và tán thành” rành rành trên giấy trắng mực đen, thì trong quan hệ quốc tế vốn trọng chứng cớ văn bản, sẽ không được người ta tin tưởng và công nhận đâu !

    3. Luận điểm 3 của phía Việt Nam: Lúc đó, Việt Nam đang ở vào giai đoạn chiến tranh, Trung Quốc là nước viện trợ chính cho Việt Nam, để có được chiến thắng, Việt Nam không thể không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc.

    Phản luận của Ngô: Cách biện luận này có ngầm ý sau: nếu không ở vào hoàn cảnh chiến tranh, nếu không cần sự viện trợ của Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc, không phát sinh (sự kiện) công hàm Phạm Văn Đồng. Thế nhưng, loại biện luận như thế này chỉ là miêu tả lại một sự thực đã xảy ra, không thể, dù một chút xíu, phủ định được hiệu lực của công hàm Phạm Văn Đồng.

    Thêm nữa, không có bất cứ chứng cớ nào chứng minh việc Trung Quốc đã lợi dụng Việt Nam ở vào hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của Trung Quốc để dồn ép chính quyền Việt Nam phải nuốt bồ hòn làm ngọt mà thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Bản thân công hàm đã gửi cho chính phủ Trung Quốc và nội dung của nó cho thấy: tất cả đều là quyết định tự chủ tự nguyện của chính phủ Việt Nam.

    Nói ngược lại, giả như ở vào thời điểm đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, thì từ lập trường dân tộc chủ nghĩa vững chắc và nhất quán của người Việt Nam, chính phủ Phạm Văn Đồng sẽ không gửi công hàm đó cho Trung Quốc, hoặc chí ít thì trong công hàm sẽ bỏ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa ra bên ngoài.

    Lại thêm nữa, cộng với chứng cớ là việc trước năm 1975, trong nhiều trường hợp (nói chuyện giữa nhân viên ngoại giao với nhau, bản đồ, sách giáo khoa), Việt Nam đều chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc, thì có thể chứng minh rằng, việc thừa nhận trong công hàm Phạm Văn Đồng rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ vốn có của Trung Quốc chính là cách suy nghĩ thực sự của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    4. Luận điểm 4 của phía Việt Nam: Ở thời điểm đó (1954-1958), căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ thì, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đều thuộc phạm vi quản lí của nước Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam), tranh chấp lãnh thổ là giữa Trung Quốc và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chính quyền miền Bắc là bên thứ ba ở ngoài không liên quan đến tranh chấp, chính quyền miền Bắc không có quyền xử lí đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, vì vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

    Phản luận của Ngô: Trước năm 1975, tức là trước khi chính quyền miền Bắc giành chiến thắng để thống nhất hai miền Nam Bắc, miền Bắc một mực tuyên bố mình là chính thống, là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt nam, và gọi chính quyền miền Nam là “bù nhìn”, là “chính quyền ngụy” phi pháp, cần phải tiêu diệt. Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh). Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ những sự thực lịch sử không thể chối cãi đó, chính phủ Việt Nam hiện nay chính là nhà nước kế tục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, sau khi chiến thắng và thống nhất hai miền Nam Bắc, lẽ ra phải giữ vững chuẩn tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, cũng tức là tín nghĩa cho nền chính trị của quốc gia, giữ vững lập trường quốc gia trước sau như một, đằng này, tại sao lại vì lợi ích vốn không nên có, mà “qua cầu rút ván”, bội tín phản nghĩa ? !

    Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay “chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

    5. Luận điểm 5 của phía Việt Nam: Căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều là chính quyền lâm thời, cần phải có cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc mới có thể đưa đến một chính quyền hợp pháp. Trong tình trạng chưa có được chính phủ hợp pháp thông qua tổng tuyển cử trên toàn quốc, chính quyền lâm thời không có quyền quyết định vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bởi vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

    Phản luận của Ngô: Tháng 7 năm 1954, các nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ đã kí Hiệp định đình chiến cho Việt Nam, trong Hiệp định có qui định rằng “thông qua bầu cử phổ thông tự do, thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc”. Thế nhưng, chính quyền miền Bắc lấy lí do rằng hiệp định này được kí kết dưới sự dàn xếp của chính phủ Trung Quốc, đã làm tổn hại đến lợi ích của Việt Nam, không đại diện cho lập trường của miền Bắc, cho nên ngay từ đầu đã không muốn tuân thủ hiệp định. Tiến triển lịch sử về sau này cũng cho thấy cả chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều không hề có ý tiến hành cuộc tổng tuyển cứ phổ thông tự do trên toàn quốc thông qua các cuộc tiếp xúc, cũng không đạt được bến bất cứ thỏa thuận làm việc nào, mà cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là “chính thống”, qua đó cho mình trở thành chính quyền “mang tính vĩnh cửu” mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ.

    Luận điểm số 5 ở trên đã bị sự thực lịch sử phủ định, không còn sức thuyết phục nữa.

    6. Luận điểm 6 của phía Việt Nam: Theo nguyên tắc của hiến pháp, tất cả tuyên bố về với chủ quyền lãnh thổ mà chính phủ đưa ra đều phải có được phê chuẩn của quốc hội thì mới có hiệu lực. Công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội để được phê chuẩn, cho nên không có hiệu lực về pháp luật.

    Phản luận của Ngô: Có học giả Việt Nam cho rằng đây là chỗ quan yếu nhất để chứng minh công hàm Phạm Văn Đồng vô hiệu, do đó, đây cũng là lí do không thể bác bỏ. Thế nhưng, ở bài này, tôi cho rằng, sự việc thảy đều không chắc như đinh đóng cột như họ nói đâu, có thể phản luận từ hai phương diện: lô-gich pháp luật, sự thực lịch sử.

    Thứ nhất, công hàm Phạm Văn Đồng không phải là điều ước ngoại giao, cũng không phải là tuyên bố đơn phương từ bỏ chủ quyền lãnh thổ, nên không cần sự phê chuẩn của quốc hội. Năm 1958, chính phủ Trung Quốc công bố Tuyên bố Lãnh hải, mục đích của nó không phải là tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc chỉ riêng cho một mình Việt Nam. Chính phủ Việt Nam và ông Phạm Văn Đồng đã giao công hàm này cho phía Trung Quốc, cũng không phải là từ bỏ chủ quyền lãnh thổ của nước mình, mà là, từ xác tín trong nội tâm, đã “ghi nhận và tán thành” chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc. Bởi vì nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ đầu đã thừa nhận “quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc”, về cơ bản, không có vấn đề Việt Nam từ bỏ chủ quyền lãnh thổ của mình.

    Vào thời điểm đó, giữa Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có tranh chấp lãnh thổ, công hàm Phạm Văn Đồng là xác nhận sự thực của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là xác nhận ngoại giao về văn bản mà Trung Quốc đã đưa ra, là thuộc phạm vi quyền hạn ngoại giao của chính phủ Việt Nam, không cần có sự phê chuẩn của quốc hội.

    Thứ hai, Việt Nam lúc đó không có quốc hội chính thức, cũng không có hiến pháp chính thức. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành bầu cử toàn dân tại vùng mà mình quản lí được, đưa tới sự ra đời của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” mang tính lâm thời, soạn ra hiến pháp. Thế nhưng, do quân xâm lược Pháp đang từ Hải Phòng tiến về uy hiếp Hà Nội, thời gian ngắn của hòa bình tạm thời đã bị phá bỏ, lại bắt đầu chiến tranh kháng Pháp, dự thảo hiến pháp tuy đã được thông qua nhưng chưa được đem ra công bố. Sau khi sứ mệnh soạn hiến pháp của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” đã hoàn thành, nếu quốc hội chính thức được sinh ra một cách trái luật, thì hoạt động bình thường của quốc hội ấy sẽ càng không có gì để nói đến nữa. Do đó mới có “Quốc hội giao quyền cho chính phủ căn cứ theo nguyên tắc đã xác định của hiến pháp mà thực thi quyền lập pháp”. Tình trạng này kéo dài đến năm 1960. Sau này, phía Việt Nam xác định nhiệm kì của Quốc hội khóa I là từ năm 1946 đến năm 1960, với độ dài nhất là 14 năm, đủ để chứng minh là thời kì bất thường: (quốc hội) tồn tại tương đối khó khăn, chính quyền chưa thể thực hiện được các hoạt động một cách bình thường. Hiến pháp chính thức đầu tiên của Việt Nam là Hiếp pháp năm 1959.

    Thông qua khảo sát về lịch sử hiến pháp và quốc hội của Việt Nam, có thể nghiêm túc nói rằng, trước và sau năm 1958, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa có hiến pháp, cũng chưa có quốc hội. Chính phủ căn cứ vào qui định của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” mang tính lâm thời mà có được quyền lập pháp, điều đó có nghĩa, trên thực tế, chính phủ có cả quyền lực của quốc hội. Việc chính phủ của ông Phạm Văn Đồng gửi công hàm đó cho chính phủ Trung Quốc là hoàn toàn nằm trong phạm vi quyền hạn hợp pháp của chính phủ.

    Ngô Viễn Phú

    Bài này Dân News tổng hợp trên các trang mạng. Được biết ông Ngô Viễn Phú hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam (Đại học Dân tộc Quảng Tây), từng là du học sinh của Đại học Quốc gia Việt Nam. Ngô Viễn Phú cho biết ông từng theo học chương trình tiến sĩ luật học tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam, từ năm 2001 đến năm 2006.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    98 phản hồi

    Kính mời quý vị tham gia hội luận với radio TNT và DienDan HoiLuan PhongVan HienTinh VietNam thuộc hệ thống Paltalk.
    Thời gian: Thứ Bảy ngày 21 tháng 06, lúc 7h30 Cali - 16h30 Paris - 21h30 VietNam
    Diễn Giả: Giáo Sư Nguyễn Khắc Mai
    Đề Tài: Từ Gạc Ma đến Biển Đông
    Cách cài đặt Paltalk: http://cachmanghoalai2012.blogspot.be/2013/07/huong-dan-cach-cai-at-paltalk.html

    Nguyễn Jung

    Như đi vào một khu rừng tối tăm, rậm rạp, chẳng còn biết đi về hướng nào nữa. Ông Trần Công Trực cho đó chỉ là "bức thư" thôi (mà thư sao lại đóng dấu quốc huy, chính phủ nhỉ?)
    http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Tien-si-Tran-Cong-Truc-vach-mat-cac-bang-chung-cua-Trung-Quoc-post145953.gd
    Tôi đồng ý với bạn gì đó trên danluan nói từ "công thư" không có trong từ điển

    Carom viết:
    CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

    Cho dù những suy diễn về ý nghĩa của Công thư 1958 có đi xa như thế nào, cũng như phía Trung Quốc có đưa thêm bất kỳ bằng chứng gì để vu cáo Việt Nam, thì những gì liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa xảy ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước 24.6.1976 không hề ràng buộc CHXHCNVN. Với tư cách là quốc gia thừa kế của VNDCCH và CHMNVN, những gì liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa nếu có sự mâu thuẩn giữa hai quốc gia tiền bối thì những hành động (hơn nữa, đó là những hành động rõ ràng, kiên quyết và phù hợp với luật pháp quốc tế) của CHMNVN và Chính phủ tiền nhiệm của nó là VNCH, người thực sự quản lý hai quần đảo này một cách hợp pháp, sẽ có hiệu lực ràng buộc đối với CHXHCNVN. Điều này được luật pháp quốc tế quy định rõ ràng. Xương máu bao đời của cả dân tộc Việt nam đã đổ ra để bảo vệ chủ quyền hai quần đảo sẽ không bao giờ trở thành vô ích.
    http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140620/chxhcn-viet-nam-co-bi-rang-buoc-boi-cong-thu-1958.aspx

    Cái thói lươn lẹo của những kẻ chuyên lừa dối vẫn không thay đổi.

    Thay chữ Công Hàm để mị dân trong và ngoài nước liệu có ích gì khi chữ tài liệu chuyển ngữ thành Anh/Pháp ngữ vẫn như nhau, hởi đảng và nhà nước Việt cộng?

    CHXHCN Việt Nam có bị ràng buộc bởi công thư 1958?

    Cho dù những suy diễn về ý nghĩa của Công thư 1958 có đi xa như thế nào, cũng như phía Trung Quốc có đưa thêm bất kỳ bằng chứng gì để vu cáo Việt Nam, thì những gì liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa xảy ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước 24.6.1976 không hề ràng buộc CHXHCNVN. Với tư cách là quốc gia thừa kế của VNDCCH và CHMNVN, những gì liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa nếu có sự mâu thuẩn giữa hai quốc gia tiền bối thì những hành động (hơn nữa, đó là những hành động rõ ràng, kiên quyết và phù hợp với luật pháp quốc tế) của CHMNVN và Chính phủ tiền nhiệm của nó là VNCH, người thực sự quản lý hai quần đảo này một cách hợp pháp, sẽ có hiệu lực ràng buộc đối với CHXHCNVN. Điều này được luật pháp quốc tế quy định rõ ràng. Xương máu bao đời của cả dân tộc Việt nam đã đổ ra để bảo vệ chủ quyền hai quần đảo sẽ không bao giờ trở thành vô ích.
    http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140620/chxhcn-viet-nam-co-bi-rang-buoc-boi-cong-thu-1958.aspx

    Hà Hiển viết:
    Dương Danh Huy viết:
    Nếu ra tòa về HSTS, cả VN và TQ đều có khả năng thua.

    Nếu không có CH PVĐ, và nếu VNDCCH đã nói HSTS là của VN thì gần như chắc chắn là VN thắng (tuy cũng có rủi ro về HS vì Pháp chậm phản đối).

    CH PVĐ và sự im lặng của VNDCCH đã làm cho VN từ gần như chắc thắng thành có khả năng thua.

    Nhưng nó cũng không làm cho TQ chắc thắng.

    TQ sẽ không ngu dại gì ra tòa.

    Vì vậy, cuộc chiến là cuộc chiến tuyên truyền.

    Đồng ý với phân tích của bác. Việc thắng thua tất nhiên phụ thuộc chủ yếu vào cuộc chiến pháp lý (cụ thể là tranh tụng tại toà). Nhưng nếu đã thừa nhận thua ngay trong cuộc chiến tuyên truyền - nghĩa là công khai bảo ta thua rồi, nó thắng rồi, thì kết quả gần như đã an bài mà không cần thiết cuộc chiến pháp lý nữa. Toà án chỉ xử nếu 2 bên muốn tranh tụng. Nếu tôi là quan toà mà một bên đã thừa nhận lý lẽ của bên kia là đúng thì tôi chẳng mất công xử làm gì, chỉ chứng thực cái sự thừa nhận này là xong.

    Dương Danh Huy viết:
    Nhưng một số người Việt lại nói "CSVN đã bán HSTS cho TQ rồi", "CHXHCNVN chưa hề thừa kế HSTS, bây giờ phải làm thủ tục kèn trống thì mới thừa kế", "Hiện nay VN không có CQ với HSTS, phải lật đổ chế độ CS, thay chế độ mới thì mới có" ... thì còn tuyên truyền cái gì nữa.

    Tôi hiểu đây cũng là một cuộc chiến tuyên truyền. Cuộc chiến tuyên truyền này hướng đến một mục tiêu trước mắt khác như là một điều kiện tiên quyết trước khi bàn đến một cuộc chiến pháp lý về chủ quyền đối với TS, HS.... Và những người cổ vũ chiều hướng này dường như có quan điểm rằng đây mới là vấn đề mấu chốt, nếu không giải quyết được thì bất kể cuộc chiến pháp lý nào cũng đưa đến kết quả là vô vọng cho VN.

    Giải pháp này hay dở ra sao? Rất mong bác Dương Danh Huy đi sâu phân tích thêm. Thà rằng các bác có ý này thì cứ nói huỵch toẹt ra như thế để mọi người cùng luận bàn. Chán nhất là có một số bác chắc cũng có ý thế nhưng nói thẳng ra một cách mạch lạc, cũng không đưa ra các giải pháp gì, thay vào đó chỉ cổ vũ cho lý lẽ của TQ, rằng ta thua rồi, nó thắng là cái chắc rồi, rồi sáng tác đủ thứ "chuyện vui", "chuyện hài" mang phong cách ám chỉ, mỉa mai, giễu cợt hoặc chỉ để thể hiện kiến thức, chữ nghĩa, chứng tỏ cái sự thông minh, hài hước, thâm thuý v.v... của cá nhân mình.

    Tôi trộm nghĩ: Có cái "ngu ngơ" đúng lúc đúng chỗ thì lại đắc dụng. Còn sự hiểu biết được thể hiện nhầm nơi thì chắc chắn còn tệ hại hơn cả cái sự không biết gì.

    Vì gõ vội nên trong cái còm trên thiếu một chữ "KHÔNG" trong câu:

    "Chán nhất là có một số bác chắc cũng có ý thế nhưng nói thẳng ra một cách mạch lạc..."

    Xin được bổ sung là:

    "Chán nhất là có một số bác chắc cũng có ý thế nhưng KHÔNG nói thẳng ra một cách mạch lạc..."

    Dương Danh Huy viết:
    Nếu ra tòa về HSTS, cả VN và TQ đều có khả năng thua.

    Nếu không có CH PVĐ, và nếu VNDCCH đã nói HSTS là của VN thì gần như chắc chắn là VN thắng (tuy cũng có rủi ro về HS vì Pháp chậm phản đối).

    CH PVĐ và sự im lặng của VNDCCH đã làm cho VN từ gần như chắc thắng thành có khả năng thua.

    Nhưng nó cũng không làm cho TQ chắc thắng.

    TQ sẽ không ngu dại gì ra tòa.

    Vì vậy, cuộc chiến là cuộc chiến tuyên truyền.

    Đồng ý với phân tích của bác. Việc thắng thua tất nhiên phụ thuộc chủ yếu vào cuộc chiến pháp lý (cụ thể là tranh tụng tại toà). Nhưng nếu đã thừa nhận thua ngay trong cuộc chiến tuyên truyền - nghĩa là công khai bảo ta thua rồi, nó thắng rồi, thì kết quả gần như đã an bài mà không cần thiết cuộc chiến pháp lý nữa. Toà án chỉ xử nếu 2 bên muốn tranh tụng. Nếu tôi là quan toà mà một bên đã thừa nhận lý lẽ của bên kia là đúng thì tôi chẳng mất công xử làm gì, chỉ chứng thực cái sự thừa nhận này là xong.

    Dương Danh Huy viết:
    Nhưng một số người Việt lại nói "CSVN đã bán HSTS cho TQ rồi", "CHXHCNVN chưa hề thừa kế HSTS, bây giờ phải làm thủ tục kèn trống thì mới thừa kế", "Hiện nay VN không có CQ với HSTS, phải lật đổ chế độ CS, thay chế độ mới thì mới có" ... thì còn tuyên truyền cái gì nữa.

    Tôi hiểu đây cũng là một cuộc chiến tuyên truyền. Cuộc chiến tuyên truyền này hướng đến một mục tiêu trước mắt khác như là một điều kiện tiên quyết trước khi bàn đến một cuộc chiến pháp lý về chủ quyền đối với TS, HS.... Và những người cổ vũ chiều hướng này dường như có quan điểm rằng đây mới là vấn đề mấu chốt, nếu không giải quyết được thì bất kể cuộc chiến pháp lý nào cũng đưa đến kết quả là vô vọng cho VN.

    Giải pháp này hay dở ra sao? Rất mong bác Dương Danh Huy đi sâu phân tích thêm. Thà rằng các bác có ý này thì cứ nói huỵch toẹt ra như thế để mọi người cùng luận bàn. Chán nhất là có một số bác chắc cũng có ý thế nhưng nói thẳng ra một cách mạch lạc, cũng không đưa ra các giải pháp gì, thay vào đó chỉ cổ vũ cho lý lẽ của TQ, rằng ta thua rồi, nó thắng là cái chắc rồi, rồi sáng tác đủ thứ "chuyện vui", "chuyện hài" mang phong cách ám chỉ, mỉa mai, giễu cợt hoặc chỉ để thể hiện kiến thức, chữ nghĩa, chứng tỏ cái sự thông minh, hài hước, thâm thuý v.v... của cá nhân mình.

    Tôi trộm nghĩ: Có cái "ngu ngơ" đúng lúc đúng chỗ thì lại đắc dụng. Còn sự hiểu biết được thể hiện nhầm nơi thì chắc chắn còn tệ hại hơn cả cái sự không biết gì.

    Trích dẫn:
    DDH
    Trong post dưới đây bác dịch Observer thành QSVTT là sai. Observer chỉ là QSV thôi. Permanent Observer mới là QSVTT.

    Bác DDH ạ! Tôi đã trích nguyên văn từ BBC và chua trong ý kiến mình: "Previously, the PLO only had 'permanent observer' status".

    Ngoài ra, trong trang mạng của UN, phần Permanent Observers, (http://www.un.org/en/members/intergovorg.shtml) có ghi rõ những tổ chức nào là permanent và không là permanent.

    "Intergovernmental organizations having received a standing invitation to participate as observers in the sessions and the work of the General Assembly and maintaining permanent offices at Headquarters."

    Có hai permanent observer states là Vatican và Palestine. Còn những QSV khác phần lớn chỉ là organizations.

    Tôi không rành về những lãnh vực thuộc đề tài đang bàn thảo nhưng mà cũng không đến nổi dịch "ba xàm" đến mức như vậy. :)

    Theo tôi hiểu và kiểm tra thì hàng chục tổ chức đó (không phải qg) được tư cách Quan sát viên (Observer) chứ không phải Quan sát viên thường trực (Permanent Observer).

    Trong post dưới đây bác dịch Observer thành QSVTT là sai. Observer chỉ là QSV thôi. Permanent Observer mới là QSVTT.

    Khách mn viết:
    Trích dẫn:
    Dương Danh Huy:
    Trích dẫn:
    cang

    Nếu chỉ tồn tại mỗi câu trích dẫn trên liên quan đến status của 'permanent observer' thì hoàn toàn cũng có thể giả định rằng bất cứ tổ chức nào cũng có thể đệ đơn để xin làm quan sát viên thường trực của LHQ, chứ không cứ phải là 'state', sẽ chẳng có mâu thuẫn gì cả !

    Cà khịa vớ vẩn. Cứ đi tìm xem LHQ có QSVTT nào không phải là quốc gia, hay tài liệu luật nào nói có thể có chuyện đó, rồi ta nói chuyện tiếp.

    Tôi không rành mấy thứ định nghĩa và lập luận trong đề tài này nên chỉ biết trơ mắt ... đọc, chứ ko dám tham gia.:) Dù sao, tôi công nhận bác DDH hiểu biết rất nhiều về lãnh vực này.

    Tuy nhiên, chỉ mới vài năm trước (2012) tổ chức PLO của dân Palestine đã được "nâng cấp" thành một QSVTT quốc gia (On 29 November 2012, the United Nations General Assembly voted to upgrade the status of the Palestinians to that of a "non-member observer state"). Trước đây PLO được nhận làm QSVTT (như một tổ chức - organization) thôi (Previously, the PLO only had "permanent observer" status).

    Ngoài ra, tìm hiểu thêm thì thấy có vô số (vài chục) các tổ chức cũng được nhận làm QSVTT tại LHQ. Có thể google để xác minh.

    Cũng nói thêm là ý kiến đóng góp này chỉ nhầm hoàn hảo một đề tài quan trọng, cùng kiểm tra lại trí nhớ kém cỏi của mình. Tôi không có thời gian tìm hiểu sâu xa hơn đề tài này, nên có thể thiếu sót. :)

    Trích dẫn:
    Dương Danh Huy:
    Trích dẫn:
    cang

    Nếu chỉ tồn tại mỗi câu trích dẫn trên liên quan đến status của 'permanent observer' thì hoàn toàn cũng có thể giả định rằng bất cứ tổ chức nào cũng có thể đệ đơn để xin làm quan sát viên thường trực của LHQ, chứ không cứ phải là 'state', sẽ chẳng có mâu thuẫn gì cả !

    Cà khịa vớ vẩn. Cứ đi tìm xem LHQ có QSVTT nào không phải là quốc gia, hay tài liệu luật nào nói có thể có chuyện đó, rồi ta nói chuyện tiếp.

    Tôi không rành mấy thứ định nghĩa và lập luận trong đề tài này nên chỉ biết trơ mắt ... đọc, chứ ko dám tham gia.:) Dù sao, tôi công nhận bác DDH hiểu biết rất nhiều về lãnh vực này.

    Tuy nhiên, chỉ mới vài năm trước (2012) tổ chức PLO của dân Palestine đã được "nâng cấp" thành một QSVTT quốc gia (On 29 November 2012, the United Nations General Assembly voted to upgrade the status of the Palestinians to that of a "non-member observer state"). Trước đây PLO được nhận làm QSVTT (như một tổ chức - organization) thôi (Previously, the PLO only had "permanent observer" status).

    Ngoài ra, tìm hiểu thêm thì thấy có vô số (vài chục) các tổ chức cũng được nhận làm QSVTT tại LHQ. Có thể google để xác minh.

    Cũng nói thêm là ý kiến đóng góp này chỉ nhầm hoàn hảo một đề tài quan trọng, cùng kiểm tra lại trí nhớ kém cỏi của mình. Tôi không có thời gian tìm hiểu sâu xa hơn đề tài này, nên có thể thiếu sót. :)

    Tôi nghĩ Greg Austin đã sai ở điểm này

    "The DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam, including the territory controlled by the RVN, and the international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments, and the split between recognition was basically along ‘party lines’ with the communist states recognising the DRV and the non-communist states recognising the RVN"

    1. Theo quan điểm chính thức vào lúc đó thì ít nhất là từ khi CP CMLT ra đời cho đến khi thống nhất năm 1976, DRV không cho mình là "the sole legitimate government of the whole of Vietnam", mà cho CP CMLT là legitimate government của miền Nam.

    Tôi nói đó là nói về quan điểm chính thức thôi nhé.

    2. Greg Austin nói "international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments" chỉ đúng trước 30/4/1975. Sau 30/4/1975 thì rất nhiều quốc gia công nhận cả 2 VNDCCH và CHMNVN.

    Cảm ơn bác Khác Kẹt Đường,

    Greg Austin viết

    "In 1975, the Government of the Republic of Vietnam (RVN) was replaced by the Provisional Revolutionary Government which joined with the Democratic Republic of Vietnam (DRV) in 1976 to form the Socialist Republic of Vietnam (SRV). The SRV implies that when the RVN as an independent, internationally recognised state joined the unified SRV, the RVN brought with it its territory and rights in territorial disputes. For the SRV to succeed in such a contention, it would have to show the RVN was an internationally recognised, independent state prior to its joining with the DRV in 1976 to form the SRV, thus bringing to the new international entity all the territory and rights in territorial disputes that the former RVN possessed. "

    Theo tôi, CHMNVN là giải đáp cho bài toán Greg Austin đưa ra.

    Theo giải đáp này thì ngày 30/4/1975 quốc gia phía nam vĩ tuyến 17 (tức là VNCH) bị/được "regime change" và đổi tên thành CHMNVN, nhưng vẫn là cùng 1 QG.

    Không thể chối cãi được là từ 30/4/1975 đế 1976 CHMNVN được ít nhất là 75 nước công nhận, được LHQ cho tư cách QSVTT, được LHQ cho tiếp tục vị trí của VNCH trong một số tổ chức của LHQ.

    Như vậy sẽ giải đáp được bài toán Greg Austin đưa ra.

    Điều cản trở giải đáp "CHMNVN" không phải là luật quốc tế mà là nhận thức chính trị của một số người Việt.

    Nhưng nếu không giải đáp được bài toán đó, thì khả năng là Greg Austin đã nói đúng: VN đã mất chủ quyền vào tay TQ.

    Và các bác nên biết rằng nếu đã mất chủ quyền rồi thì bây giờ có "change regime" cũng không lấy lại được - đừng mơ tưởng điều đó.

    Nhân các bạn bàn về việc liệu có hai quốc gia, VNCH và VNDCCH, trên lãnh thổ lịch sử của VN (từ Nam Quan đến Cà Mâu) hay không, tôi xin mạn phép post lên đây chương POST WAR ISSUES (CÁC VẤN ĐỀ HẬU CHIẾN) trong cuốn China’s Ocean Frontier xuất bản năm 1988, của Tiến sĩ Úc GREG AUSTIN, để quý vị tham khảo thêm, nếu cần. Trong phần bàn về State succession, ông AUSTIN có thảo luận về tư cách pháp lý của quốc gia VNCH (và VNDCCH, dù ông không nói trực tiếp về VNDCCH). Rất tiếc là bản dịch Việt ngữ trong computer đã bị hỏng (corrupted) vì converter không hoạt động, tôi không lấy ra để post lên đây được.

    POST-WAR ISSUES

    The two claimants, the PRC and the SRV, have raised explicitly or alluded to some issues arising from the period after 1945 that might influence a judgement on which country has a superior claim to the Paracel Islands: the effect of post-war treaties, the right of self-determination, and the question of state succession. The last two issues are closely linked in the case of the dispute over the Paracel Islands.

    The years immediately after the war saw a brief coexistence between French and Chinese forces in the Paracel Islands until 1950. Secondary sources differ as to the exact sequence of events relating to French and Chinese presence in the islands. In March 1946, according to the PRC and some other sources, the ROC sent officials in warships to take possession of the islands where in December 1946 take-over ceremonies were held, stone tablets erected and troops garrisoned. In January 1947, the ROC announced the formal occupation of the Paracel Islands in a communiqué published in Paris by the Chinese Embassy. In May 1950, ROC troops were withdrawn from the Paracel Islands to Taiwan.[80] For its part, France sent forces to the islands for a reconnaissance in March 1946, and occupied at least one of them from January 1947. On 15 October 1950, France officially ceded control of the islands to the RVN, although French troops apparently remained stationed there until late 1956.[81] Accounts differ as to the date of the first arrival of PRC forces – 1950, 1955, or 1956.[82]

    In 1951, both the PRC and the Saigon-based government in Vietnam asserted their claims to the Paracel Islands in connection with deliberation by the San Francisco Peace Conference about their status. While the PRC was not represented at the Conference, the Prime Minister, Zhou Enlai, issued a statement asserting PRC sovereignty over the Paracel Islands at a plenary session of the conference one day before the San Francisco Treaty was signed in September 1951.[83] (Since 2 September 1945, a separate Vietnamese state had existed, called the Democratic Republic of Vietnam, based in Hanoi. It remained silent on the question of sovereignty over the islands even though it was in control of the territory of Annam and could be seen as a direct successor state to Annam in this respect.)
    One could propose, based on the events of 1951, that the critical date in the dispute between the PRC and the SRV over the sovereignty of the Paracel Islands should not be 1931, nor sometime in the 1930s, but some time after World War II, probably 1951. Such a conclusion could only be reached if the evidence of a dispute between Annam and China in the nineteenth century and between France and China in the 1930s were to be completely disregarded. Some of the implied positions of both the SRV and the PRC appear to favour acceptance of a critical date after 1951. (In fact, PRC and SRV public documents ignore any explicit consideration of the concept of critical date.).

    Post-war treaties

    The PRC seeks to rely on two treaties signed after World War II to buttress its claims to the Paracel Islands – the San Francisco Peace Treaty of 1951 and the ROC-Japan Treaty of 1952. The PRC also relies on these treaties in respect of its claims to the Spratly Islands. In the 1951 treaty, which included the terms of the peace settlement between Japan and the Alied powers, Japan surrendered all right to the Paracel and Spratly Islands which it had occupied during the war. The renunciation in both treaties to ‘all rights, title and claim’ to the Paracel Islands was not made in favour of any countrỵ[84]

    An argument could be made that the Japanese renunciation in 1951 was understood by the Japanese at least to have been a tacit reversion of sovereignty to China. The only basis for this argument would seem to be that the Paracel and Spratly Islands were listed in the article of the ROC-Japan treaty of 1952 that Japan had insisted would refer only to those territories related to the ROC.[85]

    This interpretation of the 1951 treaty is not borne out by the way in which the various territories renounced by Japan were listed in the article in question. A number of the dispostions in Article 2 have an unambiguous, specific neneficiary in favour of whom Japan renounced sovereignty, while the Paracel and Spratly Islands were relegated to Article 2(f) with no country named or implied. For example, Article 2(a) declared Korea as independent. Article 2(b) noted tha Japan denounced all right to Taiwan and the Pescadores. While China was not named as the beneficiary, the disposition of the territory can only be interpreted as having been made in favour of China because this was agreed between the Alies in the Potsdam Declaration and because there were no other claimants. Article 2(c) noted Japan’s renunciation of all right to territory acquired from Russia by the Treaty of Portsmouth in 1905. That disposition was obviously in favour of the Union of Soviet Socialist Republics as there were no other claimants. Had the Peace Conference intended China to see itself as the beneficiary of Japan’s renunciation of the Paracel and Spratly Islands, it seems likely that they would have been included in Article 2(b) with Taiwan and the Pescadores.
    Other evidence demonstrates that the signatories of the 1951 San Francisco had no common understanding of Article 2(f) as disposing of the Paracel and Spratly Islands in favour of China. In the Peace Conference which formulated the 1951 treaty, France had explicitly moved to exclude any reference to a country in the clause referring to the Paracel and Spratly Islands.[86] A counter proposa; by the USSR to indicte specifically in the treaty the reversion or devolution of sovereignty of the Paracel Islands to the PRC was rejected by 46 of the 55 countries represented.[87] The rejection does not itself indicate a consensus against China claim and in favour of France. It may have been related more to the intense disagreement at the Conference over whether the PRC or the ROC was the legitimate government of China than to opposition to the suggestion that Paracel Islands were Chinese territory. Moreover, both the PRC and the then Republic of Vietnam had made their views known, and while Vietnam was represented at the Conference, neither the PRC nor the ROC was present because of a disagreement between the UK and USA over which government should be recognised. The Peace Conference may have wanted to avoid taking sides, either between the two Chinas, between China and France, or between France and Vietnam.

    It is also of some interest that the San Francisco Peace Treaty listed the Paracel and Spratly Isalnds as sixth in a list of territories to be surrendered by Japan: Korea, Formosa and the Pescadores, the Kuril Islands and parts of Sakhalin, former trust territories of Japan in the Pacific, parts of Antartica subjected to Japanese activity, and then the Spratly and Paracel archipelagos.[88] This order may suggest that the majority view among participants at the San Francisco Conference was that the two island groups in the South China Sea were less related to sovereignty territory of another state than even Antarctica.

    In any event, in the 1952 treaty Japan could not pretend to devolve upon a country of its choosing sovereignty over the Paracel Islands because by then it had already renounced any claims to them. Any mention of them in the ROC-Japan treaty has no legal effect as far as an imputed intention of Japan is concerned, because Japan had no rights to the islands. A state cannot transfer more rights than it itself possesses.[89]

    In the absence of further evidence, it is unlikely that the two treaties can be interpreted as having made a definitive disposition of the Paracel or Spratly Islands in favour of China. In fact, the 1951 treaty is silent on the issue and leaves it entirely open. The 1952 treaty is simply not relevant.

    Self-determination

    The question has been raised whether an Annamese title of the first half of the nineteenth century could have survived during the period of the protectorate status of Annam according to the peremptory norm of self-determination.[90] As diccussed in Appendix I, a new peremptory norm of self-determination can override pre-existing treaty arrangements or other legal dispositions of territory which conflict with that norm. The suggestion is that the norm might protect from France’s colonialist depredations the pre-existing territorial rights of the colonised Annamese people; that France’s failure as protecting power of Annam after 1884 to maintain the superior territorial rights of Annam in the Paracel Islands established in 1816 and subsequently should not be taken as a surrender of those rights by the Annamese people; that the new norm of self-determination should provide some remedy for the modern state of Vietnam in its territorial dispute with the PRC.

    This view would suggest that the critical date for the dispute might be sometime after 1945, when the process of decolonisation and self-determination began in Vietnam and when the Vietnamese people could speak for themselves for the first time to protect their pre-existing rights. Where the peremptory norm of self-determination has been applied to a specific territorial dispute by the ICJ, in an advisory option in the Western Sahara case, the court regarded historical institutions and legal relationships as less definitive than the modern aspirations of the population of the Western Sahara for decolonisation.[91] The ICJ held that regardless of the legal status of the links between these communities and other entities (the political communities of modern Mauritania and Morocco) immediately prior to colonisation, the peremptory norm demanded recognition of the aspirations of the people of Western Sahara to participate in an act of self-determination.

    But there is a very large difference between the circumstances of the Western Sahara and the Paracel Islands. The former, which was in its entirety the teritory under dispute, was a populated territory with organised political communities before colonisation and had remained populated by the same communities. By contrast, the Paracel Islands had no permanent population, and the main population for most of the time since 1945 has been military personnel, so the question of self-determination of the dispute territory does not arise. The self-determination norm is essentially a human rights norm, and not a norm to redress all territorial dispositions during the period of colonisation.

    State succession

    Even if an international tribunal were to find the circumstances of the Paracel Islands warranted application of the peremptory norm of self-determination, and thereby restored or remedied the territorial rights of the Annamese state in the Paracel Islands before 1931, it would still be necessary to show that after the exercise of self-determination by the Vietnamese people, these rights were transferred to or taken over by the sucessor states, and never surrendered. A strong case can be made that these rights were surrendered, as discussed below, but this depends very much on an interpretation of succession of rights and duties between parts of divided states through the process of colonisation, decolonisation, civil war, and reunification.

    This consideration applies equally to China and to Vietnam in principle. In practice, quite different legal effects can arise in each case as the result of the specific actions of various governments in these two countries, and the responses of the international community of states. As discussed in chapter one, the contemporary view of the PRC and ROC as parts of one multi-state system was not commonly held for several decades. For example, along with other scholars in the 1960s and 1970s, the ROC legal specialist, Hungdah Chiu, argued for the view that a putative unitary China could not be the beneficiary of acts by both governments. For him, since the ROC was denied legitimacy by the PRC, the latter could not therefore rely in international law in any way on the acts of the ROC. He observed: ‘Clearly the PRC can no more claim benefits through a group it does not recognise as legal than it can through a document it has declared null and void’.[92]
    Yet the PRC in its claim to the Paracel Islands sees itself as able to rely on the actions of the ROC in respect of the territorial sovereignty of one China regardless of the fact that it has consistently refused to recognise the ROC. The SRV has never had a rival government of Vietnam since it was formed after the formal unification of North and South Vietnam in 1976, but between 1945 and 1976 there were rival governments in Vietnam which consistently refused to recognise each other in exactly the same way as the PRC and ROC refused to.

    In 1945, the DRV was established in the north of the country, while France continued to rule the south as an integral part of the French Union, that is, as French territory. The French-occupied territory in the south achieved its independence from France by a gradual process from 1948 to 1954. In 1948, France recognised the independence of a Vietnam associated with the French Union. In 1949, the government of Bao Dai in Vietnam south of 16oN was granted full internal sovereignty and permitted to maintain a national army while France effectively retained the foreign affair power. In 1950, the Bao Dai government received virtually full control over its foreign trade and financial apparatus. Beginning in 1951, the Bao Dai government began to sign treaties in its own name, began to join international organisations, and was recognised by a number of states. In 1954, France granted the RVN full independence.[93]
    In 1975, the Government of the Republic of Vietnam (RVN) was replaced by the Provisional Revolutionary Government which joined with the Democratic Republic of Vietnam (DRV) in 1976 to form the Socialist Republic of Vietnam (SRV). The SRV implies that when the RVN as an independent, internationally recognised state joined the unified SRV, the RVN brought with it its territory and rights in territorial disputes. For the SRV to succeed in such a contention, it would have to show the RVN was an internationally recognised, independent state prior to its joining with the DRV in 1976 to form the SRV, thus bringing to the new international entity all the territory and rights in territorial disputes that the former RVN possessed. If the RVN was not an internationally recognised state, then actions of its governing authorities in respect of territory dispute with a recognised independent state (for example, RVN protests at PRC actions) could have no weight on international plane.

    There is some authority for the contention that the RVN was an independent, internationally recognised state. It possessed all the attributes of statehood: a permanent population, a defined territory, a government, and the capacity to enter into relations with other states. The RVN in 1968 had been recognised by about 60 states, was a member of twelve specialised agencies of the United Nations, and was a member of 30 international organisations. Two UN General Assembly resolutions (in 1952 and 1957) described the state of Vietnam (the RVN) as a peace-loving state within the meaning of Article 4 of the UN Charter and, therefore, as eligible for membership.[94]

    Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts. The SRV is not only legally the successor to the DRV but is in many respects the same government by another name. The DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam, including the territory controlled by the RVN, and the international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments, and the split between recognition was basically along ‘party lines’ with the communist states recognising the DRV and the non-communist states recognising the RVN.[95]

    If the DRV continually rejected the legality of the existence of the RVN, then the SRV, as essentially the same government as the DRV, is placed in the same legal position as the PRC with regard to the effect given to actions of the rival government – as argued by Chiu and mentioned above. In as much as the PRC may not be able to claim teritorial sovereignty over Taiwan, the SRV may be denied any benefits in international law over territories it has never physically controlled. In any case, the SRV was not a union of the DRV and RVN, but union of the DRV and the Provisional Revolutionary Government of south Vietnam – a fact which further attenuates any SRV succession to RVN rights.

    Footnotes
    [80] ‘China’s Indisputable Sovereignty’, pp. 18-19; Heinzig, Disputed Islands in the South China Sea, pp. 22-23; Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 76-7.
    [81] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, pp. 110-11.
    [82] Samuels, Contest for the South China Sea, p. 77, suggests 1950; David G. Muller, China as a Maritime Power, Westview Press, Boulder CO, 1983, p. 80, suggests 1955; Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 111 suggests 1956.
    [83] Samuels, Contest for the South China Sea, pp. 78-9.
    [84] ibid. p. 77.
    [85] ibid. p. 78. Samuels cites the ‘Minutes of Sino-Japanese Peace Negotiations’, initialled on 5 March 1952.
    [86] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 114.
    [87] ibid.
    [88] Gerardo M.C. Valero, ‘Spratly Archipelago Dispute: Is The Question of Sovereignty Still Relevant?’, Marine Policy, vol. 18, no. 4, July 1994, p. 331n.
    [89] Compare, Island of Palmas case, p.96.
    [90] Chemillier-Gendreau, La souveraineté sur les archipels Paracel et Spratleys, p. 102.
    [91] S. James Anaya, Indigenous Peoples in International Law, Oxford University Press, New York, 1966, p. 84, citing the Western Sahara case, p. 69.
    [92] Hungdah Chiu, ‘The Question of Taiwan in Sino-American Relations’, in Hungdah Chiu, ed., China and the Taiwan Issue, Praeger, New York, 1979, p. 165.
    [93] See R. Hull and J. Novogrod, Law and Vietnam, Oceana, Dobbs Ferry NY, 1968, pp. 55-6.
    [94] ibid. pp. 57, 64-6. See also Nguyen Huu Tru, Quelques Problèmes de succession d’Etats concernant le Viet-Nam, Etablissements Emile Bruylant, Brussells, 1970, pp. 137-9.
    [95] See R. Hull and J. Novogrod, Law and Vietnam, pp. 56-8.

    Tôi đồng ý với bác này. CSVN là người có quyền (nắm chính quyền và được quốc tế công nhận, ai biểu các anh làm mất chủ quyền cho nó?). Giờ nó có quyền bán đất nếu nó muốn. Chi bằng các anh im miệng hoặc xem lại hợp đồng bán đất của nó, có điều khoản nào gỡ gạc được không. Còn muốn đuổi nó thì làm một cách đàng hoàng, và tách ra khỏi chuyện này. Chứ anh cứ lu loa đất đã bán rồi thì khác gì anh đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền đất của mình.

    Dương Danh Huy viết:
    Nếu ra tòa về HSTS, cả VN và TQ đều có khả năng thua.

    Nếu không có CH PVĐ, và nếu VNDCCH đã nói HSTS là của VN thì gần như chắc chắn là VN thắng (tuy cũng có rủi ro về HS vì Pháp chậm phản đối).

    CH PVĐ và sự im lặng của VNDCCH đã làm cho VN từ gần như chắc thắng thành có khả năng thua.

    Nhưng nó cũng không làm cho TQ chắc thắng.

    TQ sẽ không ngu dại gì ra tòa.

    Vì vậy, cuộc chiến là cuộc chiến tuyên truyền.

    Nhưng một số người Việt lại nói "CSVN đã bán HSTS cho TQ rồi", "CHXHCNVN chưa hề thừa kế HSTS, bây giờ phải làm thủ tục kèn trống thì mới thừa kế", "Hiện nay VN không có CQ với HSTS, phải lật đổ chế độ CS, thay chế độ mới thì mới có" ... thì còn tuyên truyền cái gì nữa.

    Khách Kẹt Đường viết:
    Levan viết:
    Xin quí ông bà nào đó khẳng định “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” trả lời dùm thắc mắc sau : “nếu đúng như vậy” TẠI SAO TRONG SUỐT 40 NĂM NAY TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ ??? Vì “nếu đúng như vậy” TQ sẽ thắng kiện, và khi đó nếu VN không chịu trả TS cho TQ thì TQ có quyền đem quân đánh “giải phóng” để thu hồi TS, đố ai dám phản đối chứ đừng nói là ngăn cản.
    Thực tế là TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ, cho nên nói “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” là NÓI BẬY.
    Vậy,CHÍNH PHỦ NƯỚC CHXHCN VN ĐÃ HOÀN TOÀN ĐÚNG KHI KHẲNG ĐỊNH “CÔNG THƯ PVĐ KHÔNG HỀ CÔNG NHẬN HS-TS LÀ CỦA TQ”

    Đây là một câu hỏi thông minh và lý thú. Tôi xin mạn phép được trả lời bạn theo sự hiểu biết hạn hẹp của cá nhân tôi. Tôi là một trong những người tin rằng, nếu dựa trên văn bản (cả Công hàm PVĐ ngày 14/09/1958 và bản Tuyên bố về lãnh thổ của TQ ngày 04/09/1958) thì rõ ràng là VNDCCH đã thừa nhận và tán thành HS và TS là của TQ. Câu hỏi tại sao trong 40 năm qua TQ không đưa Công hàm PVĐ ra tòa án quốc tế để đòi VN trả nốt Trường Sa cho họ, thì theo tôi, trên trường quốc tế, mọi nước đều luôn luôn hành động theo lối ĂN CHẮC MẶC BỀN, không ai chịu chơi trò MAY RŨI như CỜ BẠC. Nhất là với một nước LỚN và MẠNH như TQ. Bô vì, khi đưa vụ TS ra tòa án quốc tế, TQ phải chấp thuận tuân thủ PHÁN XÉT của tòa án. Và kết luận không chắc 100% là họ thắng, dù họ có TIN TƯỞNG bao nhiêu đi nữa về giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ. Ngoài ra, nếu TQ đưa ra tòa quốc tế vụ TS, phía VN cũng không NGU DẠI gì mà không đòi toà án xử cùng lúc cả chủ quyền trên HS và TS. Hoàng Sa hiện đang nằm trong tay TQ, họ không dại gì đem ra phân xử chủ quyền trên nó với VN, nhất là bằng chứng về chủ quyền của VN ở HS rất dồi dào và vững chắc. Ngoài ra, TS còn được các nước KHÁC như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia và Brunei đòi chủ quyền một phần. Liệu TQ có chịu chấp nhận cái RŨI RO để đưa ra tòa như bạn nói, để có thể mất cả chì lẫn chài, phải trả lại HS cho VN, mất luôn TS nếu THUA KIỆN, hay là họ chỉ việc dùng Công hàm PVĐ như một vũ khí tuyên truyền và pháp lý, cùng lúc sử dụng vũ lực (của một nước lớn) để gậm nhấm TỪ TỪ cả HS và TS như họ đang làm hiện nay?

    cang viết:
    Nếu chỉ tồn tại mỗi câu trích dẫn trên liên quan đến status của 'permanent observer' thì hoàn toàn cũng có thể giả định rằng bất cứ tổ chức nào cũng có thể đệ đơn để xin làm quan sát viên thường trực của LHQ, chứ không cứ phải là 'state', sẽ chẳng có mâu thuẫn gì cả !

    Cà khịa vớ vẩn. Cứ đi tìm xem LHQ có QSVTT nào không phải là quốc gia, hay tài liệu luật nào nói có thể có chuyện đó, rồi ta nói chuyện tiếp.

    Nếu ra tòa về HSTS, cả VN và TQ đều có khả năng thua.

    Nếu không có CH PVĐ, và nếu VNDCCH đã nói HSTS là của VN thì gần như chắc chắn là VN thắng (tuy cũng có rủi ro về HS vì Pháp chậm phản đối).

    CH PVĐ và sự im lặng của VNDCCH đã làm cho VN từ gần như chắc thắng thành có khả năng thua.

    Nhưng nó cũng không làm cho TQ chắc thắng.

    TQ sẽ không ngu dại gì ra tòa.

    Vì vậy, cuộc chiến là cuộc chiến tuyên truyền.

    Nhưng một số người Việt lại nói "CSVN đã bán HSTS cho TQ rồi", "CHXHCNVN chưa hề thừa kế HSTS, bây giờ phải làm thủ tục kèn trống thì mới thừa kế", "Hiện nay VN không có CQ với HSTS, phải lật đổ chế độ CS, thay chế độ mới thì mới có" ... thì còn tuyên truyền cái gì nữa.

    Khách Kẹt Đường viết:
    Levan viết:
    Xin quí ông bà nào đó khẳng định “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” trả lời dùm thắc mắc sau : “nếu đúng như vậy” TẠI SAO TRONG SUỐT 40 NĂM NAY TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ ??? Vì “nếu đúng như vậy” TQ sẽ thắng kiện, và khi đó nếu VN không chịu trả TS cho TQ thì TQ có quyền đem quân đánh “giải phóng” để thu hồi TS, đố ai dám phản đối chứ đừng nói là ngăn cản.
    Thực tế là TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ, cho nên nói “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” là NÓI BẬY.
    Vậy,CHÍNH PHỦ NƯỚC CHXHCN VN ĐÃ HOÀN TOÀN ĐÚNG KHI KHẲNG ĐỊNH “CÔNG THƯ PVĐ KHÔNG HỀ CÔNG NHẬN HS-TS LÀ CỦA TQ”

    Đây là một câu hỏi thông minh và lý thú. Tôi xin mạn phép được trả lời bạn theo sự hiểu biết hạn hẹp của cá nhân tôi. Tôi là một trong những người tin rằng, nếu dựa trên văn bản (cả Công hàm PVĐ ngày 14/09/1958 và bản Tuyên bố về lãnh thổ của TQ ngày 04/09/1958) thì rõ ràng là VNDCCH đã thừa nhận và tán thành HS và TS là của TQ. Câu hỏi tại sao trong 40 năm qua TQ không đưa Công hàm PVĐ ra tòa án quốc tế để đòi VN trả nốt Trường Sa cho họ, thì theo tôi, trên trường quốc tế, mọi nước đều luôn luôn hành động theo lối ĂN CHẮC MẶC BỀN, không ai chịu chơi trò MAY RŨI như CỜ BẠC. Nhất là với một nước LỚN và MẠNH như TQ. Bô vì, khi đưa vụ TS ra tòa án quốc tế, TQ phải chấp thuận tuân thủ PHÁN XÉT của tòa án. Và kết luận không chắc 100% là họ thắng, dù họ có TIN TƯỞNG bao nhiêu đi nữa về giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ. Ngoài ra, nếu TQ đưa ra tòa quốc tế vụ TS, phía VN cũng không NGU DẠI gì mà không đòi toà án xử cùng lúc cả chủ quyền trên HS và TS. Hoàng Sa hiện đang nằm trong tay TQ, họ không dại gì đem ra phân xử chủ quyền trên nó với VN, nhất là bằng chứng về chủ quyền của VN ở HS rất dồi dào và vững chắc. Ngoài ra, TS còn được các nước KHÁC như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia và Brunei đòi chủ quyền một phần. Liệu TQ có chịu chấp nhận cái RŨI RO để đưa ra tòa như bạn nói, để có thể mất cả chì lẫn chài, phải trả lại HS cho VN, mất luôn TS nếu THUA KIỆN, hay là họ chỉ việc dùng Công hàm PVĐ như một vũ khí tuyên truyền và pháp lý, cùng lúc sử dụng vũ lực (của một nước lớn) để gậm nhấm TỪ TỪ cả HS và TS như họ đang làm hiện nay?

    Levan viết:
    Xin quí ông bà nào đó khẳng định “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” trả lời dùm thắc mắc sau : “nếu đúng như vậy” TẠI SAO TRONG SUỐT 40 NĂM NAY TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ ??? Vì “nếu đúng như vậy” TQ sẽ thắng kiện, và khi đó nếu VN không chịu trả TS cho TQ thì TQ có quyền đem quân đánh “giải phóng” để thu hồi TS, đố ai dám phản đối chứ đừng nói là ngăn cản.
    Thực tế là TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ, cho nên nói “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” là NÓI BẬY.
    Vậy,CHÍNH PHỦ NƯỚC CHXHCN VN ĐÃ HOÀN TOÀN ĐÚNG KHI KHẲNG ĐỊNH “CÔNG THƯ PVĐ KHÔNG HỀ CÔNG NHẬN HS-TS LÀ CỦA TQ”

    Tôi không nhớ rõ lắm. Hình như khi người Nhật được hỏi tại sao lại không kiện TQ về chủ quyền của đảo đang tranh chấp. Người Nhật trả lời rằng đảo đó thuộc về Nhật không có gì phải kiện cáo.

    Levan viết:
    Xin quí ông bà nào đó khẳng định “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” trả lời dùm thắc mắc sau : “nếu đúng như vậy” TẠI SAO TRONG SUỐT 40 NĂM NAY TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ ??? Vì “nếu đúng như vậy” TQ sẽ thắng kiện, và khi đó nếu VN không chịu trả TS cho TQ thì TQ có quyền đem quân đánh “giải phóng” để thu hồi TS, đố ai dám phản đối chứ đừng nói là ngăn cản.
    Thực tế là TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ, cho nên nói “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” là NÓI BẬY.
    Vậy,CHÍNH PHỦ NƯỚC CHXHCN VN ĐÃ HOÀN TOÀN ĐÚNG KHI KHẲNG ĐỊNH “CÔNG THƯ PVĐ KHÔNG HỀ CÔNG NHẬN HS-TS LÀ CỦA TQ”

    Đây là một câu hỏi thông minh và lý thú. Tôi xin mạn phép được trả lời bạn theo sự hiểu biết hạn hẹp của cá nhân tôi. Tôi là một trong những người tin rằng, nếu dựa trên văn bản (cả Công hàm PVĐ ngày 14/09/1958 và bản Tuyên bố về lãnh thổ của TQ ngày 04/09/1958) thì rõ ràng là VNDCCH đã thừa nhận và tán thành HS và TS là của TQ. Câu hỏi tại sao trong 40 năm qua TQ không đưa Công hàm PVĐ ra tòa án quốc tế để đòi VN trả nốt Trường Sa cho họ, thì theo tôi, trên trường quốc tế, mọi nước đều luôn luôn hành động theo lối ĂN CHẮC MẶC BỀN, không ai chịu chơi trò MAY RŨI như CỜ BẠC. Nhất là với một nước LỚN và MẠNH như TQ. Bô vì, khi đưa vụ TS ra tòa án quốc tế, TQ phải chấp thuận tuân thủ PHÁN XÉT của tòa án. Và kết luận không chắc 100% là họ thắng, dù họ có TIN TƯỞNG bao nhiêu đi nữa về giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ. Ngoài ra, nếu TQ đưa ra tòa quốc tế vụ TS, phía VN cũng không NGU DẠI gì mà không đòi toà án xử cùng lúc cả chủ quyền trên HS và TS. Hoàng Sa hiện đang nằm trong tay TQ, họ không dại gì đem ra phân xử chủ quyền trên nó với VN, nhất là bằng chứng về chủ quyền của VN ở HS rất dồi dào và vững chắc. Ngoài ra, TS còn được các nước KHÁC như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia và Brunei đòi chủ quyền một phần. Liệu TQ có chịu chấp nhận cái RŨI RO để đưa ra tòa như bạn nói, để có thể mất cả chì lẫn chài, phải trả lại HS cho VN, mất luôn TS nếu THUA KIỆN, hay là họ chỉ việc dùng Công hàm PVĐ như một vũ khí tuyên truyền và pháp lý, cùng lúc sử dụng vũ lực (của một nước lớn) để gậm nhấm TỪ TỪ cả HS và TS như họ đang làm hiện nay?

    Không hẳn là vô bổ đâu bác Huy. Bác phải nhắm đến target audience ở DL là tất cả mọi người, chứ không phải chỉ chuyên gia về một vài khía cạnh

    Site của công chúng bình dân là Wikipédia cũng nêu :

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Pays
    Pays, État et nation : une question de vocabulaire
    Un pays est une désignation géographique, une nation désigne le peuple tandis qu'un État désigne les institutions fonctionnant sur un territoire.

    Tạm dịch :
    Một đất nước là một chỉ định địa lý, một nation (gọi là gì ?) là dân tộc trong khi một nhà nước là tổ chức hoạt động trong một vùng lãnh thổ.

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Liste_des_pays_du_monde
    De nombreuses publications donnent une liste des pays du monde, mais elles n'utilisent pas toutes les mêmes critères pour inclure ou non un pays. Un critère courant mais flou est la reconnaissance du pays par la communauté internationale

    Tạm dịch :
    Nhiều ấn phẩm công bố cung cấp một danh sách các nước trên thế giới, nhưng không phải tất cả sử dụng cùng một tiêu chí để bao gồm hoặc không phải là một đất nước. Một tiêu chí chung nhưng mơ hồ là sự ghi nhận của đất nước bởi cộng đồng quốc tế

    Dương Danh Huy viết:
    Như tôi đã nói, nếu nói chuyện "1 hay 2 QG" mà lẫn lộn "QG" (=State/État) với "nước" (country/pays) là trật đường rầy ngay từ đầu, càng nói càng vô bổ.

    Trước hết phải biết "QG" được định nghĩa thế nào trong lqt, và những người nói chuyện phải cùng dùng 1 định nghĩa thì mới có thể nói chuyện "1 hay 2 QG".

    NGT viết:
    TQVN viết:
    Dương Danh Huy viết:

    Về LHQ nói chung thì tôi nghĩ là như sau:

    Chắc chắn phải là 1 QG mới được vào LHQ.

    Members khác (xa) Observers bác à!

    Bác hãy xem kỹ website tôi dẫn, năm 1945 Đức (và cả Triều Tiên và Việt Nam) không là thành viên (member) của LHQ. Năm 1973 có hai nước (state) Đức (Germany) là thành viên. Năm 1991 có hai nước Triều Tiên (Korea) là thành viên. Cambodia và Laos là thành viên từ năm 1955.

    http://www.un.org/en/members/growth.shtml

    Khá rắc rối.

    Theo Điều 1 "Công ước Montevideo" thì theo tôi VNCH và VNDCCH đều có quyền được coi là hai nước (quốc gia).
    Taiwan cũng được coi là một quốc gia mặc dù từ sau 1971 không còn trong ONU vì có khoảng 23 nước trong ONU có quan hệ chính thức.

    Danh sách ONU dùng chữ Etat (state) chứ không dùng Pays (country)

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Liste_des_pays_du_monde

    Cette liste comprend les 197 États reconnus par l’Organisation des Nations unies :

    ses 193 États membres ;
    ses 2 États observateurs permanents : le Vatican, représenté par le Saint-Siègenote 2, et l’État de Palestine ;
    2 États ni membres ni observateurs permanents mais membres à part entière de plusieurs agences spécialisées de l’ONU : les Îles Cook et Niue

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Convention_de_Montevideo

    Điều 1

    Một quốc gia là một chủ thể của luật quốc tế nên đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về: dân cư ổn định, lãnh thổ xác định, chính phủ và khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế.

    Trích dẫn:
    Bác xem thử LHQ định nghĩa Quan sát viên Thường trực thế nào nhé:

    http://www.un.org/en/members/aboutpermobservers.shtml

    "Non-Member States of the United Nations, which are members of one or more specialized agencies, can apply for the status of Permanent Observer. The status of a Permanent Observer is based purely on practice, and there are no provisions for it in the United Nations Charter. The practice dates from 1946, when the Secretary-General accepted the designation of the Swiss Government as a Permanent Observer to the United Nations. Observers were subsequently put forward by certain States that later became United Nations Members, including Austria, Finland, Italy, and Japan. Switzerland became a UN Member on 10 September 2002."

    Tức là phải là quốc gia (State) thì mới được là Permanent Observer.

    Đến đây thì xin lỗi phải nói rằng đ/c DDH này rất dẻo miệng, dưng chả có lô gích gì cả :)

    Đoạn trích dẫn ở trên chỉ là một phát biểu về đặc tính, khả năng, quyền của Non-Member States (quốc gia không phải là thành viên LHQ) là

    "Non-Member States of the United Nations, which are members of one or more specialized agencies, can apply for the status of Permanent Observer."

    chứ chả phải là nói về đặc tính của Permanent Observer (Quan sát viên thường trực của LHQ), chả có ăn nhậu gì cả với cái gọi là định nghĩa về Permanent Observer, theo như cái 'tức là' của đ/c DDH ở cuối đoạn quote trên. Nhấn mạnh sự xuất hiện của chữ States trong câu trích dẫn trên (bằng cách tô đậm) nhằm cố 'kết dính' chữ 'state' với các chữ 'permanent observer' nhằm 'định hình' cho mối tương quan ngữ nghĩa giữa hai khái niệm này, để rồi đột ngột phán xanh rờn

    "Tức là phải là quốc gia (State) thì mới được là Permanent Observer"

    là rất lơ ngơ, trật lất về lô gích, hoặc cố tình vận dụng một thứ 'fuzzy' logic :)

    Nếu chỉ tồn tại mỗi câu trích dẫn trên liên quan đến status của 'permanent observer' thì hoàn toàn cũng có thể giả định rằng bất cứ tổ chức nào cũng có thể đệ đơn để xin làm quan sát viên thường trực của LHQ, chứ không cứ phải là 'state', sẽ chẳng có mâu thuẫn gì cả ! Tỉ dụ, nói rằng đứa nào mạnh máu dê cũng có thể đăng kỳ trở thành thành viên của club XXX-men, điều đó chẳng mâu thuẫn gì cả với chuyện club XXX-men vẫn sẵn sàng kết nạp những tên thiếu máu dê nhưng thừa 'máu mặt' làm thành viên. Tức là, không cứ phải có máu dê thì mới được là thành viên của club XXX-men, thành viên của XXX-men club vẫn có thể yếu xìu như thường :))

    Xin quí ông bà nào đó khẳng định “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” trả lời dùm thắc mắc sau : “nếu đúng như vậy” TẠI SAO TRONG SUỐT 40 NĂM NAY TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ ??? Vì “nếu đúng như vậy” TQ sẽ thắng kiện, và khi đó nếu VN không chịu trả TS cho TQ thì TQ có quyền đem quân đánh “giải phóng” để thu hồi TS, đố ai dám phản đối chứ đừng nói là ngăn cản.
    Thực tế là TQ KHÔNG DÁM KIỆN VN RA TÒA ÁN QT ĐỂ BẮT VN TRẢ NỐT TRƯỜNG SA VỀ LẠI CHO TQ, cho nên nói “công thư PVĐ đã công nhận HS-TS là của TQ” là NÓI BẬY.
    Vậy,CHÍNH PHỦ NƯỚC CHXHCN VN ĐÃ HOÀN TOÀN ĐÚNG KHI KHẲNG ĐỊNH “CÔNG THƯ PVĐ KHÔNG HỀ CÔNG NHẬN HS-TS LÀ CỦA TQ”

    TQVN viết:
    Dươnh Danh Huy viết:

    Như vậy không có chuyện LHQ có giấy tờ nói năm 1975 VN là 1 QG.

    Đây là post cuối cùng của tôi về vấn đề nầy:

    Như vậy không có chuyện LHQ có giấy tờ nói trước năm 1977 VN có 2 QG!

    Trên thực tế có giấy tờ của LHQ trong đó VNDCCH và CHMNVN được cư xử như 2 QG.

    Eg, việc LHQ cho mỗi chính thể VNDCCH và CHMNVN một ghế Quan sát viên Thường trực là cư xử như đó là 2 QG.

    Bác xem thử LHQ định nghĩa Quan sát viên Thường trực thế nào nhé:

    http://www.un.org/en/members/aboutpermobservers.shtml

    "Non-Member States of the United Nations, which are members of one or more specialized agencies, can apply for the status of Permanent Observer. The status of a Permanent Observer is based purely on practice, and there are no provisions for it in the United Nations Charter. The practice dates from 1946, when the Secretary-General accepted the designation of the Swiss Government as a Permanent Observer to the United Nations. Observers were subsequently put forward by certain States that later became United Nations Members, including Austria, Finland, Italy, and Japan. Switzerland became a UN Member on 10 September 2002."

    Tức là phải là quốc gia (State) thì mới được là Permanent Observer.

    Dươnh Danh Huy viết:

    Như vậy không có chuyện LHQ có giấy tờ nói năm 1975 VN là 1 QG.

    Đây là post cuối cùng của tôi về vấn đề nầy:

    Như vậy không có chuyện LHQ có giấy tờ nói trước năm 1977 VN có 2 QG!

    Thấy bài hay trên facebook, trích lại, các bác đọc và cho ý kiến.

    """"""""""""""""""
    Chuyện vui cuối tuần: Công hàm... làm cong hàm!!!
    -----
    Sáu Quỷnh Hố Nai

    Sau hai vòng đàm phán không chính thức với mục đích nếu không đạt được Hiệp ước Liên minh Quân sự với Hoa Kỳ thì ít ra cũng được phép mua vũ khí từ Mỹ, Đại diện CSVN đành về nước tay không với gói quà 18 triệu đô viện trợ cho Cảnh sát Biển.
    Hôm trước khi ra sân bay về nước, Đại diện CSVN có ngõ lời mời người đối tác phía Mỹ một buổi cơm tối thân mật tại một nhà hàng Tàu trong vùng Virginia. Nhà hàng này nổi tiếng với món Vịt Bắc Kinh và có rất nhiều Tổng thống Mỹ ghé qua ăn và chụp hình lưu niệm. Vừa bước vô cửa người đại điện Mỹ nói chào một cách dí dỏm:
    - Ông cũng khéo chọn lựa chứ? Mỹ gặp Việt trong nhà hàng Trung Quốc?
    Đại diện CSVN cười và giải thích:
    - Nhà hàng này có chủ là người Đài Loan. Cứ xem như kẻ thù của kẻ thù là bạn.
    Đại diện Mỹ buột miệng ra một câu tiếng Việt:
    - Thế ra là nhà hàng của “Thế lực THÙ (của) ĐỊCH” à?
    Đại diện CSVN phá lên cười:
    - Gớm. Ông cũng rành tiếng Việt đấy chứ?
    - Tôi học tiếng Việt ở Mỹ, học tiếng lóng tiếng láy ở Sài Gòn khi còn làm tùy viên văn hóa bên đó trước năm 1975. Sau này vẫn theo dõi thời sự và trao đổi trên Facebook. Chúng ta có thể thảo luận bằng tiếng Việt để khỏi mất thì giờ. Ông muốn gặp tôi lần cuối chắc là có câu hỏi gì cho tôi?
    Đại diện CSVN vào thẳng vấn đề:
    - Hai vòng đàm phán qua ông đã kết luận chúng tôi không thể có Liên minh Quân sự với Mỹ vì Trung Quốc sẽ cản trở. Chúng tôi không có đủ ngân sách để mua vũ khí tự túc. Xem ra giải pháp quân sự lúc này với Trung Quốc không khả thi. Thế thì giải pháp pháp lý, ông nghĩ có khả thi hay không? Ý tôi muốn nói rằng đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế để kiện như Philipines đang làm thì có khả thi không?
    - Cơ hội rất ít, thưa ông. Và các ông nên cân nhắc cẩn thận về các bằng chứng trình trước tòa. Vì nếu tòa phán quyết các ông THUA thì con đường tương lại còn gian nan hơn nữa. Phán quyết mới nhất của tòa cấp quốc tế xem ra là bản án tử hình cho các ông tại Biển Đông. Khi ấy các ông bị đẩy ra bên lề mọi tranh chấp sau này của các nước trong vùng đối với Biển Đông.
    - Nhưng nếu chúng tôi liên kết kiện với Phi hay các nước khác?
    - Tôi cũng nhận thấy các ông đang có hướng này. Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ghé thăm Phi hôm qua. Nhưng khả năng Phi liên kết với ông trong vụ kiện rất thấp vì khi Phi kiện các ông không ủng hộ. Bây giờ các ông tham gia với BẰNG CHỨNG BẤT LỢI hơn thì dĩ nhiên Phi khó chấp nhận.
    - Chúng tôi có đầy đủ các bằng chứng THUẬN LỢI từ thời Thực dân Pháp đến Việt Nam Cộng Hòa rằng Việt Nam có đã xác định chủ quyền trên hai quần đảo này liên tục cả trăm năm cơ mà. Sao ông lại nói BẤT LỢI?
    - Các ông đang trưng dẫn bằng chứng của những chế độ đã qua mà không hề có bằng chứng xác nhận chủ quyền cấp quốc tế từ chế độ của các ông. Xem ra khó thuyết phục tòa án. Các ông có thể trưng dẫn hình ảnh thời thơ ấu trong một căn nhà, những câu chuyện tuổi thơ ở đó, trong khi người ta trình ra GIẤY BÁN NHÀ của bố các ông, thì dĩ nhiên tòa án không thể cho các ông vào nhà được.
    - Ý ông muốn nói đến Công Hàm Phạm văn Đồng năm 1958?
    - Đúng. Các ông biết Công Hàm này đã lâu nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy các ông cố NÉ TRÁNH nó. Trong khi ngược lại gần đây Trung Quốc lại trưng công hàm này ra trước quốc tế. Xem ra họ có nắm đàng cán về vụ này!
    Đại diện CSVN cười sặc sụa:
    - Công hàm đó KHÔNG CÓ HIỆU LỰC ông ơi. Phạm văn Đồng dù có nói thẳng là “giao Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Quốc” thì cũng không có hiệu lực. Đó chỉ là ĐÒN NGOẠI GIAO … KHÔN NGOAN của chúng tôi để nhận viện trợ từ Trung Quốc mà đánh Mỹ. Năm 1958 chúng tôi không có chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.
    Chờ cho người đại diện CSVN cười xong, uống một ngụm nước, thì đại diện Mỹ mới từ tốn lên tiếng:
    - Đối với luật pháp Tây Phương chúng tôi thì chúng tôi phân biệt rất rõ sự tách biệt giữa “khế ươc buôn bán” và “chủ quyền”.
    - Ý ông nói là các ông có thể bán những gì các không có cơ à. Thật là HOANG ĐƯỜNG và TRẺ CON.
    - Chuyện có thật ông à. Khế ước buôn bán là giao kết giữa hai hay nhiều bên về chuyển nhượng một cái gì đó nó có thể trong hiện tại hay trong tương lai để đổi lấy giá trị tiền bạc hay vật chất có thể giao hôm nay hay giao vào một thời điểm trong tương lai. Như vậy vào năm 1958 các ông hứa bán một cái gì đó các ông không có ngay lúc đó, và lời hứa sẽ giao hàng ngay khi các ông có. Vấn đề là phía Trung Quốc tin như vậy và ủng hộ các ông biến điều đó thành hiện thực. Đổi lại họ cung cấp viện trợ cho các ông gần cả tỉ đô la về vật chất và con người để tiến hành chiến tranh chống chúng tôi.
    Năm 1958 các ông không có CHỦ QUYỀN nhưng các ông đã làm KHẾ ƯƠC, thì khi các ông có chủ quyền các ông phải thực hiện khế ước buôn bán đó.
    - Thế các ông có trường hợp buôn bán kiểu đó trong thực tế không?
    - Có chứ ông. Trong sở hữu chứng khoán, thị trường thế giới có cái gọi là “future options”. Ông không dám mua chứng khoán đó vì ông sợ thua lổ, ông có thể trả tiền với LỜI HỨA sẽ mua và công ty đó phải giao “chủ quyền” chứng khoán đó cho ông trước thời điểm nào đó, dù nó lên hay xuống thấp hơn giá trị ông trả. Rồi ông cần tiền ông vẫn có thể bán LỜI HỨA đó cho người khác và cứ thế cho đến khi thời điểm hứa đó đến thì người cuối cùng phải … THỰC HIỆN. Cái đó là buôn bán thứ ông không có chủ quyền …
    Đại diện CSVN nghiêm mặt lại biện hộ:
    - Nhưng ông không đọc thấy trong ngôn từ Thủ Tướng Phạm văn Đồng rất KHÔN NGOAN không hề đề cập để chuyện “giao chủ quyền” như cái ví dụ mà ông nêu. Ông ta chỉ nói …
    “có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”
    Đại diện Mỹ cười rồi nói:
    - Các ông đã có lịch sử CÔNG NHẬN công hàm này. Đó là vào năm 1974 khi Trung Quốc tấn công Hoàng Sa thuộc chủ quyền VNCH. Các ông đã “tôn trọng hải phận của Trung Quốc trong mọi quan hệ trên mặt biển” nên các ông hoàn toàn để mặc cho Trung Quốc hành động chiếm chủ quyền … TƯƠNG LAI của các ông. Thế thì sao các ông có thể biện minh trước tòa rằng một văn bản không hiệu lực lại được tôn trọng?
    - Chúng tôi cũng như các ông thôi. Hạm đội 7 các ông nằm đó đâu có động tĩnh gì!
    - Hoa Kỳ bị ràng buộc bỡi Thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc và Hiệp định Paris, phải rút quân và trả lại quyền tự quyết cho VNCH.
    Đại diện Mỹ ngừng một lát rồi nói tiếp:
    - Tôi xem công hàm Phạm văn Đồng nhiều lần và phải công nhận vào thời điểm năm 1958, ông Đồng hay ai đó soạn cho ông Đồng ký công hàm này là “khôn liền” ngay lúc đó mà không có … “khôn lâu”.
    - Ý ông là?
    - Ngôn từ trong công hàm này vào năm 1958 rất là KHÔN NGOAN. Vì các ông BÁN VỊT TRỜI mà thu được gần cả tỉ đô la viện trợ của Trung Quốc cho một món hàng tương lai không biết có chiếm được hay không. Ví như một người muốn đi cướp nhà người khác không có súng, không có tiền, đi hứa với thằng cướp khác “khi nào tao cướp được nhà đó thì tao tôn trọng quyền của mày được trồng rau ở sân sau”. Khi cướp được thì phải thực hiện lời hứa đó.
    Đại diện CSVN mỉa mai:
    - Nếu “khôn lâu” như ông trong trường hợp đã lỡ ký LỜI HỨA đó thì ông phải làm sao?
    - Nếu tôi là các ông mà tôi bắt buộc phải viết công hàm đó để có viện trợ thì tôi vẫn viết như thế …
    - Huề tiền!
    - Tôi vẫn nhận gần cả tỉ đô la để đánh Hoa Kỳ và kéo nó đến bàn Hội Nghị Paris năm 1973 để nó phải rút quân …
    Đại diện CSVN phá liên cười:
    - Ông khôi hài quá, thế mà lại “dạy ngoại luộc trứng”
    Đại diện Mỹ vẫn từ tốn nói tiếp:
    - CSVN ký công hàm Phạm văn Đồng là khôn liền ngay năm 1958 nhưng ai đó quyết định xé hiệp định Paris chiếm Miền Nam năm 1975 là ĐẠI NGU để Trung Quốc nó …. (xin lỗi tôi hay có tật nói lái)
    Chiếm Miền Nam là biến công hàm đó thành hiện thực và đối diện gần 1 tỉ đô la nợ Trung Quốc, là từ bỏ 4 đến 6 tỉ đô la bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ … Việt Nam bỏ cơ hội thành một nước Đức và nước Nhật sau thế chiến thứ hai.
    Đại diện CSVN hết kiên nhẫn ngắt lời:
    - Ông có khiếu kể chuyện cổ tích. Xin phép trở lại trọng tâm. Thế thì có giải pháp nào cho chúng tôi trong bế tắc này không?
    Đại diện Mỹ nhìn quanh rồi pha trò:
    - Có tình báo Hoa Nam Cục ở đây không?
    Rồi ông nói tiếp:
    - Theo tôi thì các ông phải tuân thủ công hàm Phạm văn Đồng vì 1974 các ông đã tuân thủ thì hôm nay phải tuân thủ để yên cho Trung Quốc đặt giàn khoan.
    - Không còn cách nào hết sao?
    - Chỉ còn cách mà tôi đã nói với các ông hôm đầu tiên.
    - Cách gì ông nhắc lại đi.
    - Một cách vô cùng giản dị, không cần viện trợ của Hoa Kỳ, chẳng cần ủng hộ của thế giới, mà lại đoàn kết, hòa hợp hòa giải với mọi thành phần người Việt trong và ngoài nước và quan trọng là vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.
    - Làm cách nào?
    - Ngay ngày mai ...
    Đổi lại tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa.
    Lấy lại tên Sài Gòn và dời thủ đô về đó
    Lấy CỜ VÀNG làm quốc kỳ

    Có như thế thì trước diễn đàn thế giới. VNCH chỉ VẮNG MẶT … 39 năm chứ KHÔNG CHẾT. Công hàm Phạm văn Đồng chỉ là tờ “giấy lộn” vì tên cướp có vô nhà nhưng chủ nhà về lại và đã đuổi cổ nó ra … Trời Việt lại … HỪNG ĐÔNG.
    Đại diện CSVN vuốt mồ hôi lạnh trên trán:
    - Chỉ đơn giản thế thôi sao?
    Vịt Bắc Kinh trên bàn đã NGUỘI LẠNH, lớp mỡ trắng đã bắt đầu đóng viền quanh dĩa vì không ai còn đoái hoài đến nó.
    Đại diện Mỹ vỗ vai đại diện CSVN nói một câu tiếng Anh:
    - All roads lead to Rome (Đường nào cũng về La Mã)
    Hãy trả cho Ceazar những gì của Ceazar.
    Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH … cầm bài chi lâu cho nó … ƯỚT.
    Nguồn: http://diendancongnhan.blogspot.com/2014/05/chuyen-cuoi-tuan-cong-ham-lam-cong-ham.html

    Như tôi đã nói, nếu nói chuyện "1 hay 2 QG" mà lẫn lộn "QG" (=State/État) với "nước" (country/pays) là trật đường rầy ngay từ đầu, càng nói càng vô bổ.

    Trước hết phải biết "QG" được định nghĩa thế nào trong lqt, và những người nói chuyện phải cùng dùng 1 định nghĩa thì mới có thể nói chuyện "1 hay 2 QG".

    NGT viết:
    TQVN viết:
    Dương Danh Huy viết:

    Về LHQ nói chung thì tôi nghĩ là như sau:

    Chắc chắn phải là 1 QG mới được vào LHQ.

    Members khác (xa) Observers bác à!

    Bác hãy xem kỹ website tôi dẫn, năm 1945 Đức (và cả Triều Tiên và Việt Nam) không là thành viên (member) của LHQ. Năm 1973 có hai nước (state) Đức (Germany) là thành viên. Năm 1991 có hai nước Triều Tiên (Korea) là thành viên. Cambodia và Laos là thành viên từ năm 1955.

    http://www.un.org/en/members/growth.shtml

    Khá rắc rối.

    Theo Điều 1 "Công ước Montevideo" thì theo tôi VNCH và VNDCCH đều có quyền được coi là hai nước (quốc gia).
    Taiwan cũng được coi là một quốc gia mặc dù từ sau 1971 không còn trong ONU vì có khoảng 23 nước trong ONU có quan hệ chính thức.

    Danh sách ONU dùng chữ Etat (state) chứ không dùng Pays (country)

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Liste_des_pays_du_monde

    Cette liste comprend les 197 États reconnus par l’Organisation des Nations unies :

    ses 193 États membres ;
    ses 2 États observateurs permanents : le Vatican, représenté par le Saint-Siègenote 2, et l’État de Palestine ;
    2 États ni membres ni observateurs permanents mais membres à part entière de plusieurs agences spécialisées de l’ONU : les Îles Cook et Niue

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Convention_de_Montevideo

    Điều 1

    Một quốc gia là một chủ thể của luật quốc tế nên đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về: dân cư ổn định, lãnh thổ xác định, chính phủ và khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế.

    TQVN viết:
    Dương Danh Huy viết:

    Về LHQ nói chung thì tôi nghĩ là như sau:

    Chắc chắn phải là 1 QG mới được vào LHQ.

    Members khác (xa) Observers bác à!

    Dĩ nhiên. Và tôi không hề nói Member = Observer.

    TQVN viết:
    Bác hãy xem kỹ website tôi dẫn, năm 1945 Đức (và cả Triều Tiên và Việt Nam) không là thành viên (member) của LHQ. Năm 1973 có hai nước (state) Đức (Germany) là thành viên. Năm 1991 có hai nước Triều Tiên (Korea) là thành viên. Cambodia và Laos là thành viên từ năm 1955.

    http://www.un.org/en/members/growth.shtml

    Bác lưu ý là bác nói

    TQVN viết:
    Biết rằng là một tổ chức có tính công lý dân sự quốc tế, nhưng Liên Hiệp Quốc (LHQ) vẫn có chính trị và "quyền lợi nhóm" thao túng. Tuy nhiên, tôi tin (cảm tính?) là toà án quốc tế vẫn dựa vào những gì đang có trên "giấy tờ": Member States of the United Nations vào thời điểm đó. Vào thời điểm năm 1975: Đức (Germany) có 2 quốc gia (state) - Trung Hoa (China) có 1 quốc gia - Triều Tiên (Korea) có 1 quốc gia (không có đại diện, open) - Việt Nam (Vietnam) có 1 quốc gia (không có đại diện, open). Vào thời điểm năm 2014 (hiện nay): Đức (Germany) có 1 quốc gia - Trung Hoa (China) có 1 quốc gia - Triều Tiên (Korea) có 2 quốc gia - Việt Nam (Vietnam) có 1 quốc gia.

    Và tôi hỏi bác

    DDH viết:
    Giấy tờ nào của LHQ nói vào thời điểm năm 1975 VN có 1 quốc gia vậy bác?

    Và cái website bác dẫn đâu có nói năm 1975 VN có 1 QG đâu.

    Như vậy không có chuyện LHQ có giấy tờ nói năm 1975 VN là 1 QG.

    TQVN viết:
    Dương Danh Huy viết:

    Về LHQ nói chung thì tôi nghĩ là như sau:

    Chắc chắn phải là 1 QG mới được vào LHQ.

    Members khác (xa) Observers bác à!

    Bác hãy xem kỹ website tôi dẫn, năm 1945 Đức (và cả Triều Tiên và Việt Nam) không là thành viên (member) của LHQ. Năm 1973 có hai nước (state) Đức (Germany) là thành viên. Năm 1991 có hai nước Triều Tiên (Korea) là thành viên. Cambodia và Laos là thành viên từ năm 1955.

    http://www.un.org/en/members/growth.shtml

    Khá rắc rối.

    Theo Điều 1 "Công ước Montevideo" thì theo tôi VNCH và VNDCCH đều có quyền được coi là hai nước (quốc gia).
    Taiwan cũng được coi là một quốc gia mặc dù từ sau 1971 không còn trong ONU vì có khoảng 23 nước trong ONU có quan hệ chính thức.

    Danh sách ONU dùng chữ Etat (state) chứ không dùng Pays (country)

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Liste_des_pays_du_monde

    Cette liste comprend les 197 États reconnus par l’Organisation des Nations unies :

    ses 193 États membres ;
    ses 2 États observateurs permanents : le Vatican, représenté par le Saint-Siègenote 2, et l’État de Palestine ;
    2 États ni membres ni observateurs permanents mais membres à part entière de plusieurs agences spécialisées de l’ONU : les Îles Cook et Niue

    http://fr.wikipedia.org/wiki/Convention_de_Montevideo

    Điều 1

    Một quốc gia là một chủ thể của luật quốc tế nên đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về: dân cư ổn định, lãnh thổ xác định, chính phủ và khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế.

    Dương Danh Huy viết:

    Về LHQ nói chung thì tôi nghĩ là như sau:

    Chắc chắn phải là 1 QG mới được vào LHQ.

    Members khác (xa) Observers bác à!

    Bác hãy xem kỹ website tôi dẫn, năm 1945 Đức (và cả Triều Tiên và Việt Nam) không là thành viên (member) của LHQ. Năm 1973 có hai nước (state) Đức (Germany) là thành viên. Năm 1991 có hai nước Triều Tiên (Korea) là thành viên. Cambodia và Laos là thành viên từ năm 1955.

    http://www.un.org/en/members/growth.shtml

    Tôi đang tìm hiểu xem có thể khẳng định tại thời điểm cụ thể nào thì VNCH và VNDCCH sẽ được coi là một quốc gia, thì đọc được những dòng này từ một tài liệu pháp lý được lưu hành trên trang web chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ:

    Legal personality is the main clause for the entities to function or in
    other words to allege and enforce a claim

    Fifty years ago it was generally admitted that "States are the only legal persons of the international law" (tầm khoảng năm 1970).

    Vậy nên nếu mà trong giai đoạn 54-75 mà ở Việt Nam không có chính phủ có tư cách pháp nhân trước luật quốc tế thì trong giai đoạn này, kể như Việt Nam không duy trì được danh nghĩa chủ quyền có giá trị pháp lý trước luật quốc tế.

    http://www.justice.gov.tr/e-journal/pdf/LW7081.pdf

    Trừ phi các bác tìm được một lập luận thuyết phục hơn có cơ sở pháp lý trong luật quốc tế, tôi nghĩ chúng ta không nên hoài công đi theo con đường trước 1975 chỉ có 1 quốc gia ở Việt Nam, trong khi đã có biết bao nhiêu bài viết đưa ra các sự kiện để có thể chứng minh trong giai đoạn này đã có 2 quốc gia.

    Xin tạm vậy đã.

    Dương Danh Huy viết:
    Về LHQ nói chung thì tôi nghĩ là như sau:
    • Chắc chắn phải là 1 QG mới được vào LHQ.
    • Nhưng nếu không được vào LHQ thì không có nghĩa không phải là 1 QG. Tiêu chuẩn để là QG là Công ước Montevideo chứ không phải LHQ.

    Về LHQ liên quan đến VN thì tôi nghĩ như sau:

    TQVN viết:
    Vào thời điểm năm 1975: Đức (Germany) có 2 quốc gia (state) - Trung Hoa (China) có 1 quốc gia - Triều Tiên (Korea) có 1 quốc gia (không có đại diện, open) - Việt Nam (Vietnam) có 1 quốc gia (không có đại diện, open).

    Giấy tờ nào của LHQ nói vào thời điểm năm 1975 VN có 1 quốc gia vậy bác?

    Sau 30/4/75 VNDCCH có 1 ghế Quan sát viên Thường trực (Permanent Observer) ở LHQ, CHMNVN có 1 ghế Quan sát viên Thường trực khác.

    Cho tôi hỏi:

    1. Chẳng lẽ LHQ bị điên, có 1 QG mà cho 2 ghế Quan sát viên Thường trực?
    2. Sau 30/4/1975 đã có nhiều chục nước tư bản, CS và trung lập công nhận cả VNDCCH lẫn CHMNVN. Chẳng lẽ họ ngu, VN chỉ là 1 QG mà họ công nhận cả hai VNDCCH và CHMNVN?
    3. Như vậy rõ ràng là sau 30/4/1975 có 2 QG. Nếu sau 30/4/1975 có 2 QG mà trước 30/4/1975 chỉ có 1 QG thì chẳng lẽ ngày 30/4/1975 là ngày chia đôi VN thành 2 QG? Khái niệm đó sẽ vô lý và phi thực tế.

    Sẽ hợp lý hơn nếu cho rằng từ trước 30/4/1975 đã có 2 QG rồi.

    Và câu hỏi cho chúng ta thì VN đã thành 2 QG năm nào? Đặc biệt là có trước CH PVĐ 1958 hay không.

    Tôi cho rằng việc VN thành 2 QG là một quá trình mà HĐ Genève đã vô hình chung bắt đầu (dù đó mục đích của HĐ không phải là chia VN thành 2 QG). Và trễ nhất là năm 1956, khi quá thời hạn cho việc bầu cử thống nhất đất nước trong HĐ, trên thực tế VN thành 2 QG.

    Nếu TQ tin chắc CH PVĐ là sự từ bỏ chủ quyền HS và TS của VNDCCH thì năm 1975 họ đã trước tiên gửi công hàm cho CP VNDCCH để 'đòi lại' TS rồi sau đó đem quân ra 'tiếp quản' TS rồi. Nếu TQ tin chắc như vậy thì sao họ không kiện VN ra toà án LHQ để đường đường chính chính xác lập chủ quyền của họ đối với Tây Sa và Nam Sa như họ tuyên bố.

    CH PVĐ chỉ là cái 'chứng cớ' duy nhất còn lại để TQ bám vào để hợp thức hoá việc cướp HS và TS của VN. VN cứ kiện ra toà án LHQ để cho thế giới biết VN có chủ quyền không tranh cãi đối với HS và TS dù TQ có chấp nhận hay không (tôi nghĩ TQ sẽ không đời nào trả lại cho VN dù LHQ có phán cho VN thắng).

    Bài viết của bác NNG dù có thiên kiến chống CQ VN nhưng cũng đã nêu ra được một số điểm đáng lưu ý. Một văn kiện mập mờ như tuyên bố về chủ quyền lãnh hải của CHNDTH (nó cũng mập mờ như đường 9 đoạn vậy) và một tuyên bố ủng hộ một văn kiện mập mờ thì không thể được dùng làm căn cứ xét xử được.

    thichkhach viết:

    Sự thật nào, hởi mợ beo dà cụ vi sít tò?
    Sự thật bán nước của công hàm phạm văn đồng, hay sự thật bọn tàu cưỡng chiếm Hoàng Sa?
    Cưỡng chiếm éo có nghĩa là dâng tặng nhá.

    Cái não trạng của một phường bán nước.

    Hahaha. Vậy là ít nhất có 3 khách visitor, gồm cả ông và bà.
    Tôi xin từ bỏ cái nick visitor (mà tôi đã dùng trước tiên) để dùng cái khác cho khỏi lẫn lộn. Chỉ sợ lại bị DL bắt chờ mỗi khi post vì cái nickname mới của tôi mà thôi.
    ---------------------
    Old-visitor

    Pages