Jonathan London - Những nguy cơ và những cơ hội

  • Bởi Hồ Gươm
    16/05/2014
    7 phản hồi

    Jonathan London

    Hai hôm qua, tình hình trong nước đã rất tồi tệ, nguy hiểm và đáng sợ. Nói thế có quá đáng không? Tôi nghĩ là không. Bạo lực ở Hà Tĩnh đã quá nguy hiểm và nếu cứ có những vụ như thế có thể sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Cái đã làm cho tôi rất nhiều là khi hôm qua đã có những thông tin (chưa được kiểm chứng) rằng nhiều người (tới cả 20 người TQ) đã thiệt mạng. Tôi thấy thật may số này có vẻ làm không đúng. Nhưng, việc đã có hơn 150 người riêng ở Hà Tĩnh bị thương là một sự kiện quá xấu rồi, chưa nói gì đến Bình Dương cả. Rất tiếc phải nói, hai, ba hôm qua là thực sự một thảm hoạ trong quan hệ quần chúng của Việt Nam mà không giúp Việt Nam đề cập vấn đề chủ quyền đâu.

    Nhưng trong câu chuyện này, bạo động phải xếp hàng thứ yếu, chính thức lại là năng lực, hay nói cách khác là thiếu năng lực lãnh đạo. Đã đến lúc phá vỡ sự im lặng từ chính quyền Hà Nội. Xin lỗi các Ông bà, những gì đã được nói, tuyên bố, gửi qua SMS còn chưa đủ đâu và đã quá muộn. Tôi hy vọng rằng Việt Nam có thể vượt qua tình hình này trong thời gian sớm nhất có thể. Trong bài này, tôi sẽ thảo luận những bước cụ thể cần làm.

    Cho các bạn Việt Nam biét, hôm kia tôi đã quyết định viết một blog bằng tiếng Anh để giúp cho thế giới hiểu tình trạng của Việt Nam đối với những hành động của Trung Quốc. Hôm qua, tôi bắt đầu đăng bài trên blog bằng việc gọi tình hình hiện nay ở Việt Nam là một cuộc khủng hoảng, được hiểu là tình trạng mà toàn bộ quan điểm chiến lược của Việt Nam đang được chất vấn từ nhiều hướng, và rằng, đi cùng với khủng hoảng là cả nguy cơ và cơ hội. Trong vòng 24 giờ qua khủng hoảng đã sâu sắc hơn, trong tất cả ba khía cạnh. Nhưng, vẫn còn những cơ hội.

    Ngày hôm nay, thế giới đang xôn xao về bạo động diễn ra tại Bình Dương và còn tiếp tục xôn xao với những diễn biến không kém phần căng thẳng về những cuộc bạo động gây quan ngại ở tỉnh Hà Tĩnh. Những bức ảnh bạo loạn ở Hà Tĩnh lan truyền trên mạng cho thấy những bạo hành thể xác. Chưa biết hôm này sẽ thế nào nhưng riêng hôm qua tôi tấy mọi chuyện đã trở nên đáng sợ, thưa mọi người. Tình trạng náo loạn đã chấm dứt, nhưng hậu quả thì chưa thể thấy ngay được.

    Vì lí do này, những cuộc bạo loạn nên đặt vào hàng thứ yếu. Cái chính là năng lực lãnh đạo, hoặc thiếu năng lực lãnh đạo từ các cấp. Thực ra thì chưa đến mức phải gọi là khủng hoảng lãnh đạo. Tôi chỉ hy vọng Việt Nam rằng có thể vượt qua tình hình này trong thời gian sớm nhất.

    (Xin các bạn biết, một số người dung ở dưới đã được viết cho một đọc giả quốc tế mà biết rất ít hay hiểu Việt Nam một cách sai lầm và vì thế những nội dung dưới cũng có thể có những cái tất nhiên rồi. Mặt khác, cũng có nội dung mới, liên quan đến mọi người. Cuối cùng, có một số quan điểm có lẽ sẽ được thấy là tranh cãi. Vâng, biết. Xin chỉ biết những quan điểm này phản ánh những nỗ lực của tôi để hiểu và giải thích những gì đang tiếp diễn ở Việt Nam)

    Giới lãnh đạo

    Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự hào về đường lối nhất trí của mình. Ví dụ như Hồ Chí Minh, thường bị hiểu nhầm là “người lãnh tụ vĩ đại” của Việt Nam, trong khi thực tế ông là một biểu tượng của sự nhất trí. Trong khi đường lối nhất trí của Việt Nam đã tỏ ra hữu ích ở nhiều thời điểm, thì ở những thời điểm khác nó đã đẩy đất nước vào tình trạng bế tắc kéo dài, như đã xảy ra dưới thời Lê Duẩn (từ giữa thập niên 60 cho đến 1986) (nhất trí phục tùng) đã làm nên đặc trưng của giới lãnh đạo Việt Nam trong khoảng một thập kỉ vừa qua (bế tắc bất thường).

    Cụ thể hơn, đặc điểm của giới cầm quyền Việt Nam là bế tắc giữa các lãnh đạo cấp cao. Một mặt là sự bế tắc đại diện là đầu óc cải cách của Nguyễn Tấn Dũng (người gián tiếp liên quan đến những bê bối tham nhũng quy mô lớn) và tập thể cử tri chính trị gồm giới doanh nghiệp quốc doanh chóp bu địa phương và trung ương.

    Mặt khác là tam đầu chế của chính quyền gồm Tổng bí thư (Nguyễn Phú Trọng), Chủ tịch nước (Trương Tấn Sang) và Chủ tịch Quốc hội (Nguyễn Sinh Hùng) – những người nhìn chung bị coi là bảo thủ và thiếu tự tin (tôi không sử dụng từ “trung thành”) đối với Trung Quốc. Trong nước, lòng trung thành của họ hướng về nhau, về Đảng, về hiện trạng với sự tôn trọng những định chế cốt lõi của Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, lòng trung thành của họ (làm sao tôi có thể dùng từ này một cách lịch sự đây?) với ảo tưởng vĩnh viễn rằng Bắc Kinh là đối tác. Trong khi việc tranh chấp hiện nay đã làm câm bặt những ý kiến như vậy, những người tham gia cuộc chơi này chưa phát triển tài hùng biện thích hợp và có lẽ điều này giải thích tại sao họ không lên tiếng.

    Nhìn chung, sự kết hợp những xu hướng cải cách không đủ mạnh và bị hoen ố bởi tham nhũng cộng với tư duy bảo thủ giáo điều lưỡng lự là cái khiến nền kinh tế chính trị thị trường kiểu Lenin của Việt Nam phát triển chậm hơn khả năng của nó. Trong khi đó, người dân phải đối mặt với những điểm yếu xã hội và kinh tế lớn hơn nhiều.

    Vài năm nay, những nhà phân tích Việt Nam có tư tưởng đổi mới biết rằng Việt Nam đã xin chính phủ để có những cải cách mang tính đột phá, nhưng điều này đã không diễn ra. Sao phải dẫn nhập dài dòng thế? Vì cuộc khủng hoảng Việt Nam ngày nay phải đối mặt trên phương diện quốc nội và quốc tế có thể đã không được hiểu rành mạch rằng đó là khủng hoảng chính trị của Việt Nam. Việt Nam gần như không có cơ hội thoát khỏi khủng hoảng lành lặn nếu sự bế tắc này không được gọi đúng tên của nó. Đáng chú ý là tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 khóa XI đang diễn ra, theo như tôi biết, vụ xung đột với Trung Quốc gần như không được đề cập đến một cách đáng kể.

    Sự im lặng đến chối tai

    Một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất của sự bế tắc và do dự kéo dài để đoạn tuyệt với Bắc Kinh là sự im lặng đến chối tai từ Quảng trường Ba Đình, nơi tọa lạc của chính quyền Đảng Cộng sản Việt Nam và là nơi 69 năm về trước Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập với trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ – nỗ lực thất bại cuối cùng nhằm nhận được sự công nhận của Washington. Đã đúng một tuần từ khi Trung Quốc thách thức chủ quyền Việt Nam, một tuần mà phương tiện truyền thông đại chúng rất ấn tượng của Việt Nam được bật đèn xanh để công kích Trung Quốc, một tuần mà không gian mạng trở nên gay gắt và hiện tại thì, biểu tình trở nên điên cuồng, còn người dân Việt nam chưa nghe được bất kỳ tuyên bố nào từ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước hay Chính phủ. Không một lời!

    Trong khi đó lãnh đạo trong nước bàn tán sôi nổi về phát biểu mạnh mẽ của Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị thượng đỉnh tuần trước, thì thực ra, ASEAN không phải là giải pháp cho những vấn đề của Việt Nam, mà chính Việt Nam mới là giải pháp cho vấn đề của mình. (Tôi không nói hội nghị ASEAN là một thất bại bởi ít nhất thì một số ít quốc gia thành viên đã bị mua chuộc trong khi các thành viên khác sợ Trung Quốc hoặc không đủ can đảm). Vấn đề là giới lãnh đạo Việt Nam, tôi rất buồn khi phải nói rằng, đang trong tình trạng tê liệt.

    Trong thời điểm mà Bắc Kinh được ghi nhận là đang xâm phạm chủ quyền Việt Nam và quy tắc ứng xử quốc tế, sự im lặng của giới lãnh đạo Việt Nam thể hiện rằng họ không có tiếng nói và thậm chí gần đây còn không mở ra được thành những thảo luận mang tính toàn cầu.

    Việc thiếu vắng tiếng nói chặt chẽ, rõ ràng từ Hà Nội đang gây ra những tổn thất nghiêm trọng. Thay vì liên lạc với thế giới với sự tự tin đáng có, Hà Nội đang trên bờ vực khủng hoảng quan hệ công chúng thậm chí còn khiến các quan chức hãng hàng không Malaysia hổ thẹn. Quả thực, tình hình dường như xác nhận những gì mà đồng nghiệp của tôi Adam Forde đã nói trong một cuộc phỏng vấn với AFP (trích ở đây), rằng hiện tại Việt Nam thể hiện là một “chế độ không xác lập được trật tự hoặc đường lối lãnh đạo khả thi để đem lại những nỗ lực cần thiết” nhằm đối phó với Trung Quốc. Liệu Hà Nội có thể chứng minh điều ngược lại?

    Bạo loạn

    Bây giờ hãy chuyển sang các vụ bạo loạn. Như đã ghi chép, ngày hôm qua, bạo loạn phản ánh sự phẫn nộ của nhân dân nhưng cũng cho thấy mức độ nguy hiểm của sự nhiệt tình mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa được tung ra, đặc biệt là ở những môi trường đàn áp như Việt Nam. Đa số (tôi nhấn mạnh) đa số người Việt, gồm những người chỉ trích Đảng-nhà nước kịch liệt, lên án những hành động như vậy, khi họ mạo hiểm đặt Việt Nam vào tình huống xấu trong lúc chủ quyền đất nước đang bị đe dọa trực tiếp từ bên ngoài. Chúng ta có thể mong nhà cầm quyền trấn áp với sự khẩn cấp và lực lượng tối đa. Than ôi, bạo động dường như là hậu quả của một nỗ lực chắp vá để biểu tình có trật tự.

    Trong khi bằng chứng còn hiếm, bạo loạn dường như là kết quả của biểu tình quy mô nhỏ được lên kế hoạch bất cẩn và khởi xướng bởi các công ty do nhà nước quản lý hoặc đầu tư đã nổ ra nhanh chóng sau đó. Tình hình cho thấy bản chất sâu sắc của những thách thức mà Hà nội phải đối mặt để giải quyết khủng hoảng.

    Trong khi gần như tất cả sự chú ý của truyền thông tập trung vào Bình Dương, những diễn biến ở Vũng Áng – tỉnh Hà Tĩnh, phía bắc Huế còn đáng lo hơn, vì có vẻ liên quan đến bạo lực và bốn người không rõ quốc tịch thiệt mạng (chưa kiểm chứng). Khi những bức ảnh của sự kiện này được đưa ra (tôi đã xem) chúng ta có thể chắc chắn rằng căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục xấu đi.

    Những người ủng hộ xã hội dân sự có tiếng (như Nguyễn Quang A) nhấn mạnh rằng hỗn loạn không phải là câu trả lời, đồng thời, giữ quan điểm đúng đắn rằng một vai trò mang tính xây dựng xã hội dân sự trong cuộc khủng hoảng hiện tại yêu cầu việc bảo vệ nhân quyền mà cho đến giờ Hà Nội chỉ nói đãi bôi. Bạo động là việc không may. Nỗi bực tức của người dân Việt Nam có thể thông cảm được do hành động của Bắc kinh nhưng họ đang gây thiệt hại lớn.

    Phải nhớ rằng người Việt Nam gần như không có kinh nghiệm trong việc tham gia bất cứ các hình thức chính trị thực sự nào, ít nhất là các cuộc biểu tình được tổ chức lỏng lẻo. Việt Nam là một quốc gia có năng lực trong nhiều lĩnh vực, như di tản lũ lụt và có một mạng lưới truyền thông quốc gia với những người dân được kết nối. Do vậy, từng bước giải quyết bạo động phải được tiến hành. Tuy nhiên, đe dọa dân chúng kiểu cũ rích sẽ không hữu ích. Người Việt lo lắng về tương lai đất nước mình. Đàn áp sẽ không giải quyết được vấn đề.

    Con đường phía trước

    Nếu Việt Nam muốn đương đầu với cuộc khủng hoảng hiệu quả, kiểm soát được tình hình và giải quyết được những vấn đề cơ bản về chủ quyền, cần phải triển khai như sau:

    1. Sớm nhất có thể, hi vọng là trong 24 giờ tới, Hà Nội phải ra tuyên bố. NHƯNG KHÔNG PHẢI LÀ TUYÊN BỐ THÔNG THƯỜNG. Tuyên bố này nên được lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước hay Chính phủ trình bày trực tiếp qua truyền hình. Quan điểm của tôi là, nhà nước nên cân nhắc hai tuyên bố, một bằng tiếng Việt do một nguyên thủ quốc gia, như Nguyễn Tấn Dũng (người có kinh nghiệm quốc tế tốt nhất) và một bằng tiếng Anh, đưa ra bởi một quan chức cấp cao phù hợp trong Đảng, Nhà nước hoặc Chính phủ và thành thạo Anh ngữ. Nguyễn Thiện Nhân, một ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo của một tổ chức quần chúng quan trọng cũng có thể là một ứng viên phù hợp. Những tuyên bố này sẽ nêu ra những mức độ trong nước và quốc tế của tình hình: nhắm đến ổn định tình hình bằng việc tuyên bố những điều khoản rõ ràng nhất có thể Hà Nội dự định để giải quyết khủng hoảng trong quan hệ với Trung Quốc qua các phương tiện ngoại giao, hợp pháp và sáng tạo/hợp tác vốn chưa được thảo luận (chẳng hạn như cùng phát triển, chia sẻ chủ quyền trên vùng đệm, vv)

    Để xử lý vấn đề ở những cơ sở đã bị phá hoại, như đã được đề nghị:

    • Đến thăm 02 chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị thiệt hại lớn nhất trong vụ bạo loạn vừa qua: một doanh nghiệp có vốn của Trung Quốc và một doanh nghiệp có vốn của nước ngoài khác (Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore). Xin lỗi các nhà đầu tư này vì chính quyền Việt Nam đã không ngăn được bạo lực đối với doanh nghiệp của họ.
    • Cam kết chính quyền Việt Nam sẽ khắc phục hậu quả và tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp của họ trở lại hoạt động bình thường, đảm bảo sẽ không có việc tái diễn như vậy đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và kiên quyết sẽ tìm ra, trừng trị những kẻ kích động gây bạo lực.
    • Gặp một doanh nghiệp có vốn đầu tư của Trung Quốc đang hoạt động có hiệu quả tại Việt Nam, tôn trọng pháp luật Việt Nam, đối xử tốt với công nhân Việt Nam. Tôi khẳng định Việt Nam hoan nghênh các doanh nghiệp có vốn đầu tư Trung Quốc làm ăn theo pháp luật Việt Nam và nhận trách nhiệm bảo vệ họ trong mọi trường hợp.
    • Gặp những công nhân Việt Nam (những công nhân trực tiếp lao động chân tay) để nghe họ trình bày về nguyện vọng và tâm tư, tình cảm của họ. Giải thích quan điểm của Nhà nước Việt Nam về Biển Đông, giàn khoan HD 981 cũng như ghi nhận tinh thần yêu nước của công nhân. Yêu cầu chính quyền địa phương chú ý và cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân và giải thích công nhân tôn trọng và bảo vệ các chủ đầu tư cũng chính là tôn trọng và bảo vệ việc làm của mình.

    2. Giới lãnh đạo chính trị Việt Nam và các lãnh đạo của xã hội dân sự đang phát triển, các thành phần ở cả trong và ngoài nước, cần đi vào thảo luận. Những người này nên bao gồm đại diện của giới lãnh đạo tối cao của nhà nước, đại diễn Nhóm kiến nghị 72 (để cải cách hiến pháp, sự tập hợp lỏng lẻo các trí thức và những người người có liên hệ lâu dài với Đảng); các thành viên cấp cao của các tổ chức xã hội dân sự hàng đầu. Đây quả là chiến lược hứa hẹn nhất và có thể hiểu được duy nhất cho Hà Nội để kiểm soát tường thuật trong nước và đạt được kiểu đoàn kết “lều lớn” cần thiết để tham gia vào trường quốc tế một cách hiệu quả đồng thời loại bỏ hỗn loạn nội tại. Tôi không tự tin nhiều vào biểu tình phi chiến lược hiện tại, vốn mô phỏng nhiều cuộc họp của tầng lớp chính trị gia địa phương trong nhiều thành phố trên cả nước; những cuộc biểu tình được tổ chức kém và việc đưa tin báo chí rộng rãi về cuộc đối đầu trên biển; Các lãnh đạo xã hội dân sự phải lần lượt thực hành quyền lãnh đạo của họ, bằng việc lặp lại và phát sóng rộng rãi nhất có thể qua tất cả các phương tiện hiện có để thể hiện nhu cầu cần phải kiềm chế bạo lực và hỗn loạn; niềm tin của xã hội dân sự và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế có thể được tăng cường bởi sự phóng thích những người bất đồng chính kiến dưới một bộ quy tắc để được đàm phán. (Xin các bạn từ phía nhà nước Việt Nam thông cảm, tôi rất ủng hộ Việt Nam và như vậy xin phép nói thẳng thắn như vậy với nỗ lực để có một cách tiếp cận xây dựng nhất!)

    3. Việt Nam cần bước vào một cuộc thảo luận quốc gia và tranh luận dựa trên tất cả các ý kiến của thảo luận đó. Đất nước và khu vực không đủ sức đương đầu với một xung đột quân sự và phải tránh xung đột bằng mọi giá. Hiển nhiên là, các cuộc thảo luận đang diễn ra trong giới lãnh đạo Việt Nam, và tôi công nhận là các cuộc thảo luận mức độ cao hiếm khi công khai. Như đã nói, đất nước sẽ có lợi từ thảo luận công khai và tranh luận để có thể đóng góp vào các cuộc thảo thuận đó và thảo luận rộng hơn, tôi xin chia sẻ vài suy nghĩ cuối cùng:

    Hôm qua, tôi trao đổi với học giả và trí thức Mỹ danh tiếng Amitai Etzioni, người ủng hộ chiến lược “Kiềm chế lẫn nhau” trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Tôi hỏi về quan điểm của ông đối với trường hợp của Việt Nam, mà ông đã đưa ra những ý kiến sau, tôi xin chia sẻ tại đây:

    Không quốc gia nào nên sử dụng ngoại giao cưỡng ép, bằng việc thiết lập những sự đã rồi như một cách để thay đổi hiện trạng. Mọi thứ nên được thay đổi thông qua đàm phán, phân xử hay tòa án IR. Đây là những gì tôi phát biểu trong Kiềm chế lẫn nhau và những gì đồng nghiệp của tôi phát biểu trong position paper on MAR. (Những thay đổi hiện trạng nên thực hiện qua đàm phán giữa các bên liên quan; qua phân xử, hòa giải, hoặc các cơ quan quốc tế và tòa án; hoặc tìm các giải pháp mới mang tính sáng tạo như chia sẻ chủ quyền.)

    Những quốc gia leo thang tình trạng sẵn sàng chiến đấu nên chú ý là leo thang dễ hơn xuống thang rất nhiều và phải tự hỏi là hành động đó sẽ dẫn đến đâu. Tất cả các quốc gia liên quan đều có nhu cầu quốc nội, dịch vụ cho những nhu cầu đó sẽ phải gánh chịu nhiều hậu quả nếu họ đầu tư nhiều hơn vào khí tài. Điều đó cũng sẽ đe dọa ổn định chế độ của họ.

    Tôi hoàn toàn ủng hộ những ý kiến này và tin rằng Việt Nam nên theo đuổi những con đường này một cách sát sao. Etizioni đã đề cập đến những vấn đề khác về chính sách hiện tại của Việt Nam mà tôi sẽ trình bày trong những ngày tới. Trong khi đó, Hà Nội cần khôi phục trật tự bằng việc:

    Vượt qua sự bế tắc của chính mình (người dân Việt Nam cần và đáng được hưởng sự lãnh đạo, địa phương cần sự lãnh đạo, ngay bây giờ);

    1. Chấm dứt sự im lặng của giới lãnh đạo cấp cao qua trao đổi rõ ràng với khán giả Việt Nam và quốc tế (đến T6 còn quá ít, và quá muộn),

    2. Bước vào các cuộc thảo luận với thành viên xã hội dân sự ở cả trong lẫn ngoài nhà nước (kể cả cộng đồng hải ngoại) để đạt được trật tự và tính hợp pháp cần thiết hòng dẫn đất nước từ vị thế nguy hiểm hiện nay đến một tương lai hứa hẹn hơn

    3. Cách hứa hẹn nhất để giải quyết khủng hoảng hiện tại là kết hợp những điều trên cùng với cam kết nghiêm túc với cộng đồng quốc tế và các cuộc thảo luận đang diễn ra về các giải pháp tối ưu để đạt được và duy trì trật tự khu vực trong ổn định và thịnh vượng.

    Jonathan London

    Ghi chú: Xin lỗi vì bất cứ sơ suất, cường điệu hay xúc phạm nào trong quá trình biểu đạt. Tôi không có nhiều thời gian và muốn kết thúc bài viết này.

    Từ khóa: Jonathan London

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Trích dẫn:
    Trong khi việc tranh chấp hiện nay đã làm câm bặt những ý kiến như vậy, những người tham gia cuộc chơi này chưa phát triển tài hùng biện thích hợp và có lẽ điều này giải thích tại sao họ không lên tiếng.

    Cách giải thích của bác London đúng một phần. Tôi thì cho là cách làm việc của Đảng Cộng Sản Việt Nam tù mù. Nhìn ở ngoài vào Bộ Chính trị như một căn nhà mù mịt khói thuốc phiện của những anh nghiện. Chúng ta không biết các anh nghiện đang bàn bạc hay chỉ "phê" với nhau trong cuộc khủng hoảng hiện hay. Chúng ta chờ đợi mãi chỉ mong có anh nào hết say bước ra nói vài câu mê sảng.

    Trích dẫn:
    2. Giới lãnh đạo chính trị Việt Nam và các lãnh đạo của xã hội dân sự đang phát triển, các thành phần ở cả trong và ngoài nước, cần đi vào thảo luận.

    Giới lãnh đạo chính trị Việt Nam với não trạng hiện tại của họ sẽ đặt câu hỏi này: Tại sao khi sơn hà có biến thì chính phủ của "ngọn cờ đầu" của dân tộc lại đi nói chuyện với thành phần tội phạm hình sự tiềm năng ("ở VN không có tù chính trị mà chỉ có tù nhân phạm tội hình sự")?

    Họ còn lâu mới ra khỏi các rào cản ý thức hệ và bắt đầu quan niệm là các lực lượng khác trong xã hội đều có thể đóng góp cho đất nước, không cứ gì chỉ có "đảng quang vinh" của họ mới được độc quyền làm điều đó.

    Ông London có nhiều lời khuyen hay lời dạy khá lý thú và có ích nếu như những người lãnh đạo của ta với tinh thàn thực sự càu thị gạn lọc và làm theo. Thế nhưng các vị lãnh đạo của ta biết nhưng không làm. Vì lý do gì thì đó lại là vấn đề "nhạy cảm" hay "tế nhị" gì gì đó thì khó mà biết được.

    Có điều này tôi nói thì có lẽ hơi quá, nhưng đó là sự thật diễn ra ở các nước CS mà chả biết ông London có nắm được không? Đó là khi vì một mục đích gì đó mà làm thì những người CS (Trung quốc cũng vậy và Việt Nam cũng thế) cứ bịt tai àm làm bất cháp dư luận, bất cháp lẽ phải, bát cháp pháp luật, bát chấp đạo lý. Chí có điều khác nhau giữa hai nước CS là Trung quốc thì làm những điều đó với Việt Nam, còn chính phủ Việt Nam thì làm những điều đó(bất chấp tất cả) đối với người dân Việt Nam. Trung quốc cũng thừa biết đánh chiém Hoàng Sa của Việt Nam trước kia là ăn cướp, nay họ cũng biết đặt dàn khoan HD981 trên hải phận Việt Nam là vi phạm luật pháp quốc tế và những điều khoản nhiều nước đã ký kết về cách ứng xử ở biển Đông, nhưng vì lợi ích của họ nên họ phớt lờ tất cả mà cứ làm.

    Còn về phái Việt Nam thì thử nêu ra một cau hỏi: Liệu các hình thức đấu tranh cảu Viẹt Nam như đã tiến hành gàn hai tuần qua thì liệu Trung quốc có rút dàn khoan của họ ra khỏi lãnh hải việt Nam hay không? Đố ông quan chức nào cảu Việt Nam tra lời chỉ một câu là "Có" hoặc "không", chắc chắn họ sẽ trả lời ấm ớ hội tề, có không ra có, khồng chẳng ra không. HIẹn nay ván đề này là ván đề trọng tam đối với người dan Việt Nam, còn các vấ đề khác thì tạm gác lại.

    Ông London cũng chưa nắm rõ thực tình về những cuộc biểu tình ở Bình Dương và Hà Tĩnh, nhìn bề ngoài thì có vẻ biểu tình quá khích và dãn đến bạo động, nhưng thực chất thế nào thì phải chờ công an điều tra và công bố đã. Ông London không biết rằng trong khi đối đầu với Trung quốc ở biển Đông hay ở biên giới phía Bắc thời gian qua thì Việt Nam thua, nhưng nội bộ thì chính quyền Việt Nam bao giờ cũng thắng người dân Việt Nam. Nếu như có tới 10 nghìn người biểu tình đòi lật đổ chính quyền của hơn 10 ông ở Bộ chính trị thì chính quyền cũng chỉ ra tay nửa ngày là dẹp yên ngay. Vĩ khí chính phủ mua về trang bị cho quan đội và công an thì chưa khai hỏa với ngoại bang, nhưng đã làm cho máu người dân việt Nam đổ rồi.

    Có người nêu ý kiến là Viẹt Nam và Trung quốc đang đối đầu với nhau cũng có thể ví như hai người đang va chạm, một người yếu thế thì cứ nỏ mồm lèm bèm toàn nêu lý thuyết nọ, lý thuyết kia, còn một người khỏe thì không thèm nói mà cứ ra tay tát lấy tát để, tát cái nào sái mặt cái ấy. Đài báo của phía Viẹt Nam chỉ nêu ý kiến quan chức của ta trong khi đối thoại với Trung quốc nhưng

    CHƯA HỀ NÊU Ý KIẾN PHIÁ TRUNG QUỐC TRẢ LỜI.

    Có thể là Trung quốc lờ đi không thèm trả lời.

    Cái sai lầm của các nhà lãnh đạo Việt Nam thì đã có từ lâu, khi tình hình thế giới thay đổi thì Việt Nam là nước nhỏ yếu nhưng lại không tìm cách thích ứng mà cứ khư khư tự mãn với những thắng lợi của quá khứ nên khó chiếm được cảm tình của thế giới, nay Việt Nam hầu như không có đồng minh trong vụ việc dàn khoan của Trung quốc đặt trong phạm vi biển của Việt Nam. Trong khi cả phe XHCN mà Liên xô là "thành trì vững chắc" đổ sụp thì nhiều nước Đông Âu thoát ngay ra khỏi cái lồng sắt CS, còn Việt Nam lai bấu víu vào Trung quốc để họ giữ hộ cái lồng ấy cho chặt trong khi mình ở trong lồng. Đây là cái dở nhất của những nhà lãnh đạo CS Việt Nam. Nay có nước nhìn hai nước CS thịt lẫn nhau mà không bênh vực phía nào cả, họ nói thẳng thừng, chẳng cần e dè gì cả, Mỹ cũng vậy mà Nga cũng vậy thôi. Việt Nam và Trung quốc mâu thuẫn cực kỳ nặng thì phe CS sẽ yếu đi, điều làm các nước tư bản khoái chí, họ vỗ tay nhìn hai thằng cướp nện nhau.

    Giá như trước kia CS VN dùng biện pháp hòa bình chỉ thuyết lý với chính quyền miền Nam thì đâu đến nỗi dân tộc Việt Nam rơi vào thảm kịch huynh đệ tương tàn, hàng triệu người bỏ nước ra đi. Còn bây giờ giá như chính quyền đối xử với dân chũng bằng cách dựa theo luật pháp, bắt bớ giam người đều theo pháp luật và với tinh nhân ái như quan chức nói mấy ngày qua thì thật phúc đức cho dân tộc này. Khốn nỗi chính quyền của mấy ông ở Bộ Chính trị toàn đùng vũ lực đàn áp bắt bớ người dân, nay lại đòi Trung quốc phải thực thi pháp luật, dùng loa bắc trên tàu kêu gọi Trung quốc rút dàn khoan thì thật ...buồn cười. Các quan chức thì kêu gọi người dân đoàn kết nhưng bản thân các ông ấy thì năm bè bẩy phái, đấu đá lẫn nhau đến nỗi quên cả họa mất nước. Ông London thật có lý khi nhận xét VN đang khủng hoảng trầm trọng, trong đó có cả khủng hoảng niềm tin thì ông chưa đề cập tới. Nếu chính quyền tạo được niềm tin thì chắc mọi khó khăn sẽ vượt qua, lịch sử của dân tộc Việt Nam đã chứng minh.

    Khương Việt viết:
    Những bạo động xảy ra ở Bình Dương khiến không khỏi hoài nghi rằng TQ, ngoài các áp lực trên Biển Đông, đang chuẩn bị để mở rộng việc tạo ra áp lực VN trên nhiều mặt; trong đó có mặt trận kinh tế, là nơi mà VN đang có mức khiếm khuyết mậu dịch (trade deficit)gần 15 tỉ dollars/năm.

    Nếu TQ mà điều khiển được cả CA khiến họ không làm ngơ không can thiệp, và không đáp ứng lời kêu cứu của các nhà máy thì . . . thôi rùi Lượm ơi.

    Những bạo động xảy ra ở Bình Dương khiến không khỏi hoài nghi rằng TQ, ngoài các áp lực trên Biển Đông, đang chuẩn bị để mở rộng việc tạo ra áp lực VN trên nhiều mặt; trong đó có mặt trận kinh tế, là nơi mà VN đang có mức khiếm khuyết mậu dịch (trade deficit)gần 15 tỉ dollars/năm.

    Nếu mọi người còn nhớ thì hồi 1997 khi giới tư bản tài chánh rút vốn tháo chạy, bắt đầu ở Thái Lan, sau đó lan sang HK, Đài Loan, Nam Hàn, v.v...đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế khiến các nước Á Châu, trừ Trung Quốc, rơi vào khủng hoảng, và các rồng Á Châu đã bị khựng lại trong nhiều năm, ngay như Thái Lan đến nay vẫn chưa hoàn toàn hồi phục.
    Indonesia, vào cuối thập niên 1970s cũng đã xảy ra tình trạng tương tự. Chính phủ và gia đình Shuharto, dựa vào thiểu số người Hoa, thu vén của cải lo làm giàu, gây ra tình trạng tham nhũng rộng khắp không khác gì VN hiện nay. Dân chúng phẫn uất vùng dậy, bạo động giết hại người Hoa. Chính quyền Shuharto sụp đổ, nhưng kinh tế Indonesia rơi vào khủng hoảng và kiệt quệ trong hàng chục năm. Đơn giản là vì nền kinh tế trước đó nằm trong tay thiểu số người Hoa, khi người Hoa bị đàn áp, tháo chạy, chuyển hầu hết vốn qua Singapore và qua các ngân hàng ngoại quốc.

    Với khả năng hiện nay, và do cơ cấu kinh tế yếu kém của VN, nhà cầm quyền Trung Quốc hoàn toàn có khả năng để gây nên một sự tháo chạy của giới tư bản Hoa Kiều ,ra khỏi VN, tương tự như đả xảy ra ở Indonesia.

    Vì vậy nhân dân , và nhà cầm quyền VN cần phải tỉnh táo ,sáng suốt, nhất quyết không để cho các cuộc bạo động kỳ thị tiếp tục xảy ra.Để đủ tỉnh táo nhận định có lẽ không gì dễ hơn là trước mỗi biến động xảy ra cần đặt một câu hỏi căn bản : Sự kiện đó có lợi cho ai? Cho VN hay cho TQ? , rồi bình tỉnh dùng lý luận, chứ không để bị chi phối bởi lối suy nghĩ cảm tính, tìm câu trả lời. Thiết nghĩ, có lẽ đó là điều nên làm.

    Rất trân trọng, Bác Jonathan London có tấm lòng với người Việt, quê huơng Việt, mọi đề nghị của bác không sai, nhưng bác đang nói chuyện với những anh điếc ở Ba Đình, chính vì những những anh này không tai, nên mọi giải pháp của bác để giúp VN thoái khỏi vũng lầy hiện nay trở nên lạc quan tếu.